Ktetaichinh’s Blog

December 28, 2009

Hàng trăm tàu đang mắc cạn trên sông Hồng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:41 pm
Tags: , ,
Thứ hai, 28/12/2009, 03:42 (GMT+7)
Khoảng 1-2 tuần trở lại đây, mực nước sông Hồng bắt đầu cạn kiệt nghiêm trọng, các mạch chảy ra sông Hồng đều khô trơ đáy, dẫn đến tình trạng hàng trăm con tàu lớn nhỏ đang bị mắc kẹt giữa dòng, quanh các bến cảng, chuyện làm ăn của chủ tàu cũng bị dở dang, lỡ độ, thiệt hại rất nhiều tiền của…

Cả đoàn tàu chở vật liệu đã phải nằm chết trên sông Hồng gần tháng nay vì không có đủ mớn nước.

Chủ tàu như ngồi trên lửa

Cả một vệt sông Hồng trải dài hàng trăm cây số từ tận Lào Cai về đến Hà Nội, hàng trăm bến đò, bến phà đang lâm tình cảnh đình đốn hoặc hoạt động cực khó khăn do các điểm khan cạn cứ ngày một nhô cao hơn khỏi mặt nước, các đảo cát cứ rộng dần ra, nhiều nơi cát đã trắng phau.

Người dân ở làng Vĩnh Thịnh (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc) cho biết, khoảng 1 tháng trở lại đây, không ngày nào không xảy ra hiện tượng phà Vĩnh Thịnh bị mắc kẹt vào doi cát ở sông Hồng. Đây là một bến phà lớn để trung chuyển khách từ Sơn Tây (Hà Nội) qua Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), Việt Trì (Phú Thọ) và ngược lại. Mỗi lần phà kẹt, hàng chục người lại phải nhảy xuống lòng sông “hò dô” đẩy phà ra khỏi doi cát. Nhưng nghiêm trọng nhất vẫn là đoạn sông Hồng thuộc Hà Nội.

Ông Cao Văn Định, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý đường sông số 6 (Bộ GT-VT) cho biết, chỉ trên một đoạn sông Hồng dài 70km từ Việt Trì (Phú Thọ) đến Bắc Biên (Hà Nội) đã xuất hiện 4 điểm khan cạn ngay từ đầu tháng 10. Trong khoảng 2-3 tuần trở lại đây, khi mực nước xuống áp sát mức 1m, nơi sâu nhất cũng chỉ khoảng 1,8-2m thì những tàu vận tải có mớn nước sâu hơn không thể nào đi lại được.

“Vả lại, luồng lạch thường xuyên thay đổi nên hiện tượng tàu mắc cạn, ùn ứ trên sông thường xuyên xảy ra”, ông Định nói.

Còn theo khảo sát của Trạm quản lý đường sông Hà Nội, từ đầu tháng 10-2009, do khô hạn nặng nên lượng hàng hóa vận chuyển trên sông Hồng (đoạn qua Hà Nội) đã giảm rõ rệt. Cụ thể, vào tháng 10-2009, chỉ còn 2.457 lượt/tháng, tương đương 856.000 tấn hàng hóa. Sang tháng 11-2009 chỉ còn 2.390 lượt/tháng, tương đương 813.600 tấn hàng hóa. Trong khi vào tháng 11 của năm 2008 vẫn đạt 3.013 lượt, tương đương trên 1 triệu tấn hàng hóa.

Anh Phan Đức Tiến, chủ tàu vận tải PT-6055, cho biết, đã bị mắc kẹt ở đây hơn 1 tháng. Anh kể: “Tôi vừa mua con tàu này giá 1,5 tỷ đồng để chở vật liệu xây dựng từ Tuyên Quang, Việt Trì về Hưng Yên, Nam Định. Làm ăn suôn sẻ thì mỗi chuyến cũng lãi được 1,5 triệu đồng. Nhưng cả tháng nay nước xuống quá mớn, tàu đành nằm chết một chỗ, chúng tôi cũng đành phải ở lại để coi tàu, coi hàng. Ngày lại ngày, sốt ruột trông ngóng nước”.

Không chỉ anh Tiến mà chỉ riêng một khúc sông Hồng đoạn gần ngã ba Bạch Hạc (Phú Thọ), hiện đang có khoảng 600 con tàu lớn bị mắc cạn.

Theo ông Trịnh Ngọc Toán, Trưởng Phòng kỹ thuật thuộc Công ty cổ phần Quản lý đường sông số 6, có ngày ở đoạn Bắc Biên (Hà Nội) có hơn 200 tàu và sà lan tự hành phải neo đậu vì cạn nước. Mặc dù vậy, ở đây lại không có đủ tàu để cứu hộ, cứu nạn.

“Mỗi khi tàu bè bị mắc cạn, các chủ tàu đều tự xoay xở, phải nhờ đến các công ty tư nhân giúp đỡ, gây mất trật tự trên tuyến giao thông đường thủy”- ông Toán nói.

Chưa kể, nhiều chủ tàu không đủ tiền để thuê cứu hộ cứu nạn hoặc vì làm ăn khó khăn nên không nhiệt tình với việc cứu hộ cứu nạn, cứ để mặc tàu mắc cạn giữa dòng, càng tăng thêm sự cản trở dòng chảy, ùn tắc giao thông đường thủy.

Nông dân cũng lo toát mồ hôi

Dưới sông thì hàng trăm tàu thuyền đang mắc cạn. Còn trên bờ thì hàng ngàn nông dân đang điêu đứng vì không lo được nguồn nước tưới. Tại khu vực bãi bồi ven sông thuộc xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm (Hà Nội), nơi người dân đang trồng hoa và rau để lo bán dịp Noel, Tết Dương lịch, Tết cổ truyền, từ trưa đến chiều, nông dân hớt hải gánh nước để tưới hoa.

Những năm trước, người trồng hoa ở xóm Bãi chỉ cần đi 50m là múc được nước nhưng từ tháng 11-2009 đến nay, bà con phải đi xa 1-2km.

Lão nông Nguyễn Văn Thìn, ở thôn Nội, xã Liên Mạc đang kẽo kẹt từng gánh nước tưới, lau vội mồ hôi trên mặt, cho biết, nước tưới hành phải “chắt” từng gáo nhỏ một ở con mương sột sệt bùn.

Mới đây, hợp tác xã phải nhờ bơm nước từ tận dòng sông Nhuệ về, nhưng nước đen ngòm, bốc mùi ô nhiễm nên hành chết như ngả rạ. Trong khi đó thời gian gần đây, do mực nước sông Hồng xuống quá thấp nên tại khu vực cống Chèm, nước sông Nhuệ còn chảy ngược ra sông Hồng. Mà sông Nhuệ thì nổi tiếng về ô nhiễm, màu nước đen ngòm do hàng trăm nhà máy ở huyện Từ Liêm xả ra.

Không có nước, nông dân cũng chẳng biết làm thế nào, đành chỉ biết cầu trời mưa cho một trận. Nhưng suốt cả đợt không khí lạnh vừa mới đây, trời cũng chỉ mưa lây rây vài hạt nhỏ, đành phải chờ phương án xả nước các hồ thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà của Bộ NN-PTNT và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Advertisements

Google- Baidu- Socbay

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:04 pm
Tags: , ,

Google nhu the nay “The need for search neutrality is particularly pressing because so much market power lies in the hands of one company: Google. With 71 percent of the United States search market (and 90 percent in Britain), Google’s dominance of both search and search advertising gives it overwhelming control. http://www.nytimes.com/2009/12/28/opinion/28raff.html?partner=rss&emc=rss

ma thang socbay dam turned down its offer, ma con compare voi Baidu nua chu, Baidu dc list vao SP 500 stock exchange market, that diec ko so sung http://dantri.com.vn/c119/s119-366914/socbay-viet-nam-tu-choi-sap-nhap-voi-google.htm

ha! biet tai sao socbay lai confident the roi, doc bai bao cua vietnam co hinh cua ong dung chinh giua, nhin wen lam, ma bao ko de cap den, doc cai nay , den doan ” Since IDG Group Chairman Patrick McGovern cut the ribbon to open IDG Vietnam in 2006, his firm, which made millions from investing in scores of China start-ups at an early stage, has backed 40 Vietnamese start-ups–including Socbay–from a $100 million fund”

Next stop: VinaGame, a $50 million, profitable business that runs the country’s leading gaming and social networking sites. It’s being geared to become Vietnam’s Tencent or Shanda, two runaway success stories from China’s early start-ups.

An avid gamer, Le Hong Minh, 32, started VinaGame in 2004 with other players after getting an undergrad degree in finance from Australia’s Monash University and giving up his investment banking career. His start-up, housed in a warehouse decorated with colorful posters of VinaGame’s blockbuster hits, is upbeat and reminds me of the funky spaces I’ve seen among leading Web businesses in China. The culture is based on Silicon Dragon entrepreneurship–it has venture capital funding, all employees have stock ownership and the team is like a family, even going on annual camping expeditions together.

Socbay isn’t profitable yet, and operates out of a spartan office in an unfinished building in Hanoi alongside home-made servers. Tai and his venture investors are betting that Socbay can break even within three years by focusing on search over the mobile Web–an area that Google doesn’t dominate in Vietnam–and by refining Vietnamese-language search as local content on the Internet expands.

http://www.forbes.com/2009/12/09/vietnam-google-socbay-intelligent-technology-fannin.html

thi ra la Nguyen Bao Hoang, con re^ cua TT Dung chung ta = )) http://take2tango.com/~/n3ws/chan-dung-con-re-nguyen-tan-dung-5904.aspx

here is about Baidu vs. Google http://brainstormtech.blogs.fortune.cnn.com/2009/12/28/google-v-baidu-which-company-will-win-china/?source=yahoo_quote

Baidu benefits from incumbent status (it formed in 2000, while Google China didn’t get going until 2006 –after Google sold a modest share in Baidu) and, its executives say, a set of tools that help Chinese users get information – not just search results. A tool called Baidu Post Bar it a bit like a social-networking application that allows users to tap other folks online for advice or comments as they are searching for, say, the best appliance to buy.

For now, though, Google must live with its second-banana status in China. According to various Chinese news outlets (we can’t find the original document online in English) Google China issued a news release listing the most popular searches in China in 2008.  The most searched term among Google users in mainland China? Baidu.

Vietcombank và “cổ đông ngoại”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:51 pm
Tags: ,

Monday, 28. December 2009, 08:20:47

hông tin phương án tăng vốn của Vietcombank (VCB) chưa được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận vì chưa có cổ đông chiến lược nước ngoài (CĐCLNN) đang đặt lại bài toán không có lời giải của VCB suốt từ thời cổ phần hóa, lên sàn cho đến nay.

Muốn tăng vốn, phải có CĐCLNN. Đó là yêu cầu của NHNN đối với VCB nếu muốn tăng vốn. Theo phương án dự kiến, VCB sẽ phát hành thêm 112,29 triệu cổ phần, tỷ lệ phát hành là 9,28%. Số lượng cổ phiếu phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, trong đó có cả cổ đông lớn nhất là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) sẽ được sử dụng cho 3 mục đích: đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, năng lực nhân sự; tăng cường tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn; tăng cường đầu tư, liên doanh, góp vốn. Nếu phương án này triển khai thành công sẽ nâng vốn điều lệ của VCB từ 12.100 tỷ đồng lên 13.223 tỷ đồng.

Tuy nhiên, NHNN đã không chấp thuận phương án tăng vốn này với yêu cầu, VCB phải tìm CĐCLNN trước khi tăng vốn. Có thể nói, việc chọn CĐCLNN của VCB là chuyện nóng bỏng nhất kể từ khi ngân hàng này chuẩn bị cổ phần hóa. Với vị thế, quy mô của mình, việc chọn CĐCLNN của VCB được kỳ vọng sẽ đưa ngân hàng này trở thành tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Nam, vươn ra ngoài khu vực và thế giới.

Thế nhưng, do đặt tiêu chí giá lên hàng đầu, VCB đã tự đưa mình vào tình trạng bế tắc. Còn nhớ thời điểm chuẩn bị cổ phần hóa cuối năm 2007, VCB “chấm” 3 ứng cử viên là Tập đoàn tài chính Nomura (Nhật), Goldman Sachs và General Electric của Mỹ. Từ 3 ứng viên này, ngân hàng sẽ lựa chọn 2 cổ đông chiến lược. Nhưng do không thỏa thuận được về giá bán cổ phần giữa hai bên (các tập đoàn này chỉ đưa ra mức giá từ khoảng 45.000 đồng – 60.000 đồng/cổ phần) nên VCB đã IPO mà không có CĐCLNN. Việc này càng đi vào bế tắc khi giá IPO của VCB sau đó được đẩy lên tới trên 100.000 đồng/cổ phiếu, cao gần gấp đôi giá các CĐCLNN trả.

Nghịch lý và bi đát hơn, ngay sau đó giá cổ phiếu VCB trên thị trường OTC liên tục lao dốc cùng với sự sụt giảm chung của thị trường chứng khoán, thời điểm thấp nhất chỉ còn khoảng 30.000 đồng/cổ phiếu. Bài toán chọn CĐCLNN của VCB không tìm được đáp án phù hợp. Bán với giá cao tất nhiên không được, nhưng nếu bán với giá thấp tương đương với giá cổ phiếu trên thị trường OTC thời điểm đó thì hóa ra “người nhà bị mua giá cao, người ngoài được mua giá thấp”.

Câu chuyện chọn CĐCLNN của VCB tạm thời được gác lại và chỉ rộ lên khi ngân hàng này chuẩn bị lên sàn hồi tháng 6/2009 vừa rồi. Nhưng cuối cùng, vì nhiều lý do, ngân hàng này vẫn chưa tìm được CĐCLNN.

Tiến sĩ Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Ngân hàng TP.HCM khẳng định, việc NHNN “ép” VCB phải tìm CĐCLNN là hoàn toàn đúng. “Không có CĐCLNN thì cổ phần hóa không có hiệu quả cao bởi một điều chắc chắn các CĐCLNN sẽ giúp các ngân hàng trong nước nâng cao quản trị, quản lý hệ thống, chiến lược kinh doanh…”, ông Dương giải thích thêm.

Trò chơi năng lượng ở Trung Á: TQ và Nga đều được, chỉ có phương Tây là mất?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:41 pm
Tags: , ,

Monday, 28. December 2009, 14:08:33

“Nếu có trò chơi một mất một còn thì: Trung Quốc được còn châu Âu mất, và Nga cũng được bởi vì châu Âu vẫn sẽ phụ thuộc vào khí của Nga”. Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev gần đây đã nói với các nhà đầu tư dầu và kim loại rằng những điều luật mới sẽ chỉ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chịu hợp tác với chương trình công nghiệp hóa của ông được khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản của nước này.

“Chúng tôi sẽ chỉ làm việc với những dự án giúp đỡ đa dạng hóa nền kinh tế của chúng tôi”, ông nói trong một hội thảo về đầu tư với các doanh nghiệp nước ngoài hàng đầu về khai khoáng. Với những đối tác không sẵn lòng làm việc này, “chúng tôi sẽ tìm kiếm những đối tác mới, tạo cho họ điều kiện và nguồn lực thuận lợi để hoàn thành dự án”.

Để minh họa, ông nói thêm rằng Bắc Kinh đã đề nghị Kazakhstan, một đất nước có diện tích bằng châu Âu nhưng dân số chỉ có 16 triệu người, cho phép nông dân Trung Quốc sử dụng 1 triệu ha đất của Kazakhstan để trồng trọt.

Những phần tử ủng hộ phương Tây trong nền chính trị Kazakhstan đã tổ chức tuần hành. Ngày 17/12, phát biểu trước một đám đông, đồng chủ tịch của đảng đối lập Azat đã vẽ ra một kịch bản đáng sợ: “Nếu ngày mai chúng ta trao cho họ 1 triệu ha đất của chúng ta, điều đó có nghĩa là cứ mỗi một ha sẽ có 15 người. Điều này có nghĩa sẽ có 15 triệu người Trung Quốc đến đây. Nếu cứ 1 trong số 15 người này đẻ con mỗi năm, đó sẽ là ngày tận thế. Trong vòng 50 năm, sẽ có 50 triệu người Trung Quốc ở Kazakhstan”.

Một đường ống dẫn thẳng tới trung tâm của châu Á

Bức thông điệp của ông Nazarbayev là rất rõ ràng: các nhà đầu tư phương Tây hãy giữ lại tiền của mình nếu chỉ quan tâm tới việc khai thác mỏ khoáng sản của Kazakhstan. Ông cũng nói về một sự kiện trọng yếu trong lịch sử và chính trị Trung Á: kế hoạch đầy tham vọng là phát triển một đường ống dài 7.000 km dẫn khí gas của khu vực tới các thành phố ở bờ biển phía đông Trung Quốc.

10 ngày sau phát biểu của ông Nazarbayev, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã thăm Trung Á để tham dự lễ khánh thành việc vận hành chính thức đường ống dài 1.833km dẫn khí gas từ Turkmenistan, Uzbekistan và Kazakhstan (và có thể là Nga) tới khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc.

Turkmenistan cho rằng chỉ riêng nước này có thể cung cấp 40 tỷ m3 gas mỗi năm cho đường ống này trong vòng 3 thập kỷ. Số lượng này đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ gas hàng năm của Trung Quốc.

Uzbekistan đã ký một thỏa thuận với Trung Quốc tháng 11 năm ngoái để xuất khẩu 10 tỷ m3 gas mỗi năm (trong khi lượng khí dự trữ của nước này là 1,8 nghìn tỷ m3). Kazakhstan cũng sẽ xuất khẩu 10 tỷ m3 qua một đường ống khác. Trung Quốc tiêu thụ 77,8 tỷ m3 gas trong năm ngoái, nhiều hơn một chút so với sản lượng khí sản xuất trong nước là 77,5 tỷ m3. Nhưng nước này sẽ thiếu khoảng 70-110 tỷ m3 khí vào năm 2009, theo báo cáo phát triển năng lượng 2009 của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.

Việc làm này trái ngược hẳn với dự đoán của phương Tây là Trung Quốc sẽ khó kiểm soát được khu vực Tân Cương bất ổn. “Trung Quốc đang đặt tất cả trứng vào một giỏ. Rất nhiều dầu và khí đang chạy qua một khu vực nhỏ hẹp”, một nhà ngoại giao Anh nói.

… và gửi một cú sốc tới Washington

Các chuyên gia Mỹ đã vẽ ra một kịch bản ảm đạm cho các đường ống của Trung Quốc. Trong bản phân tích của viện Trung Á và Caucasus thuộc Trường Đại học Johns Hopkins tháng 10 năm ngoái, Stephen Blank thuộc Trường Đại học chiến tranh Mỹ đã mô tả Tân Cương là một “cái bếp đầy sức nén” mà Bắc Kinh không thể kiểm soát nổi.

Những căng thẳng tại Washington về đường ống của Trung Quốc là hoàn toàn có thể hiểu được. Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã có phiên điều trần hiếm hoi hồi tháng 7 về cuộc tấn công địa chính trị của Trung Quốc ở Trung Á. Tại phiên này, Richard Morningstar, đặc sứ Mỹ về năng lượng đã nhấn mạnh rằng Mỹ cần phải có những chiến lược cạnh tranh năng lượng với Trung Quốc ở Trung Á.

Đây có lẽ là lần đầu tiên một quan chức cấp cao Mỹ đã nói công khai về việc coi Trung Quốc như đối thủ của Mỹ trong nền chính trị năng lượng ở Trung Á. Các chuyên gia Mỹ thường tập trung vào sức ảnh hưởng của Nga ở khu vực này và tìm mọi cách làm giảm sự hiện diện của Nga trong không gian hậu Xô Viết bằng cách ủng hộ cho dự án Xuyên Caspi bỏ qua lãnh thổ Nga. Trên thực tế, một số chuyên gia Mỹ trong khu vực thậm chí còn gợi ý rằng Trung Quốc có thể là một đồng minh tiềm tàng của Mỹ trong việc cô lập Nga.

Khi mà đường ống dẫn khí ở Turkmenistan sắp hoàn thành, Mỹ đã không thể ngồi yên được nữa. Morningstar đưa ra hai lựa chọn. Một, đưa ra một chiến lược để đối phó với chính sách của Trung Quốc và khuyến khích các công ty Mỹ đàm phán với người Turkmenistan. Thứ hai, Washington nên nghĩ về việc có nên để cho các công ty Mỹ hợp tác với Trung Quốc ở những nước như vậy hay không.

Khả năng hợp tác Trung – Mỹ đối với nguồn năng lượng Trung Á là rất hạn chế. Về mặt địa chính trị, có một cuộc xung đột lợi ích giữa hai nước. Một mục tiêu chính của Trung Quốc là khóa lại một nguồn năng lượng không phụ thuộc vào tuyến đường đi qua eo biển Malacca mà Mỹ đang kiểm soát và là điểm nhạy cảm một khi Trung Mỹ xảy ra đối đầu.

Bắc Kinh thu lợi

Tuy nhiên, người Mỹ cũng hiểu rằng không hề dễ để có thể đưa ra một chiến lược đối phó với Trung Quốc tại đây. Sự hiện diện của Trung Quốc ở đây không phải mới xảy ra ngày hôm qua. Từ năm 1997, Kazakhstan và Trung Quốc đã đồng ý xây dựng đường ống dẫn dầu thô dài 3.000km và sau đó năng sản lượng lên gấp đôi là 20 triệu tấn mỗi năm. Năm 2006, Trung Quốc mua cổ phần của công ty dầu Kazakh trị giá 2 tỷ USD ở mỏ dầu và khí Karazhanba (có trữ lượng hơn 340 triệu thùng) và đồng ý mua 30 tỷ m3 khí của Turkmenistan (sau đó tăng lên 40 tỷ m3), và cũng cam kết chi 210 triệu USD cho việc tìm kiếm dầu và khí ở Uzbekistan trong 5 năm. Tháng 4/2009, Trung Quốc đồng ý cho Kazakhstan vay 10 tỷ USD trong một thoả thuận “đổi tiền cho vay lấy dầu” và cũng đồng ý để công ty quốc doanh KazMunaiGas của Kazakhstan mua công ty sản xuất dầu MangistauMunaiGas với giá 3,3 tỷ USD. Năm 2009, Trung Quốc đồng ý cấp khoản vay 3 tỷ USD cho công ty quốc doanh gas lớn nhất Trung Á, South Iolotan, với trữ lượng 4 nghìn tỷ-14 nghìn tỷ m3 khí.

Thời điểm Mỹ bừng tỉnh nhận ra chiến lược năng lượng của Trung Quốc ở Trung Á thì chiến lược đó đã đi vào vận hành trơn tru. Tính toán của phương Tây sai lầm ở hai điểm. Thứ nhất họ cho rằng Trung Á sẽ quan ngại khi hợp tác với nước láng giềng khổng lồ mà thích Nga và phương Tây hơn. Thứ hai, họ đã tin một cách mù quáng rằng Nga sẽ coi việc Trung Quốc xâm nhập khu vực này như một mối đe dọa tới lợi ích chiến lược của họ và sẽ có biện pháp kiềm chế Bắc Kinh, do vậy cũng gián tiếp có lợi cho phương Tây.

Song, trước sự thất vọng của phương Tây, các quốc gia Trung Á không chỉ chào đón các dự án của Trung Quốc mà còn hồ hởi trút đi gánh nặng trong các vụ đàm phán khó khăn về giá cả khi làm ăn với các công ty phương Tây. Sự can dự của Trung Quốc ở đây đã trở nên toàn diện, không chỉ là khí và dầu, như Tổng thống Turkmenistan đã nói trước chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tới đây rằng quan hệ của nước ông với Trung Quốc đã trở nên “đa dạng nhiều mặt”. Thương mại Trung Quốc – Turkmenistan đã tăng 40 lần kể từ năm 2000, các công ty Trung Quốc chiếm lĩnh các lĩnh vực chính của kinh tế Turkmenistan như dầu và khí, viễn thông, giao thông, nông nghiệp, dệt, công nghiệp và và thực phẩm, y tế và xây dựng. Việc Trung Quốc tham gia đa dạng vào nền kinh tế chính trị của Turkmenistan khác hẳn cách tiếp cận của các công ty phương Tây là chỉ nhắm vào công nghiệp khai khoáng với sự nhiệt tình quá mức.

…nhưng lại không làm mất lòng Moscow

Khía cạnh thứ hai đáng lưu ý chính là khi Trung Quốc bắt đầu đường ống của mình ở Trung Á thì cũng là lúc việc Nga kiểm soát việc xuất khẩu khí gas từ Trung Á đã kết thúc. Các nhà bình luận Mỹ cố gắng khai thác khía cạnh này theo hướng Trung Quốc được và Nga mất. Nhưng việc này không hoàn toàn là trò chơi một mất một còn. Bắc Kinh đã thẳng thắn bàn về vấn đề nhạy cảm là liệu Trung Quốc có cạnh tranh với Nga đối với năng lượng ở Trung Á.

“Trung Quốc đang đa dạng hóa nguồn nhập khẩu năng lượng, trong khi các nước Trung Á muốn đa dạng hóa nguồn xuất khẩu”, Zhang Xiyuan, quan chức bộ ngoại giao Trung Quốc nói trong chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tới Ashgabat. Nói cách khác, Trung Quốc có thể là điểm đến nữa của dầu và khí Trung Á trong thời khủng hoảng tài chính và nhu cầu của các nước châu Âu đối với khí tự nhiên của khu vực đã giảm sút. Các quan chức Trung Quốc nhấn mạnh rằng việc Trung Quốc hợp tác về năng lượng cũng sẽ thúc đẩy các lĩnh vực phi năng lượng trong khu vực như hóa học, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng. Và điều đó cũng phục vụ lợi ích an ninh của Nga khi tỷ lệ thất nghiệp, nguồn cơn của sự bất ổn, giảm đi.

Điều cốt yếu mà Trung Quốc lập luận là dù đường ống dẫn khí của Turkmenistan-Uzbekistan-Kazakhstan có thể thâm nhập thị trường năng lượng châu Âu, nó cũng sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích của Nga. Lập luận này là có cơ sở. Thông qua một dự án khổng lồ như vậy, Bắc Kinh đã giành được cái mà Moscow khao khát bấy lâu. Cơ hội của EU trong vịêc giành được nguồn cung khí của Turkmenistan thông qua dự án đường ống Nabucco được Mỹ hậu thuẫn đã gần như bằng không. Moscow có thể thở hắt ra vì điều này bởi dự án Nabucco dự định là sẽ loại bỏ việc xuất khẩu khí của Nga sang châu Âu.

Vì vậy, nếu có trò chơi một mất một còn thì nó sẽ như thế này: Trung Quốc được còn châu Âu thì mất, và Nga cũng sẽ được bởi vì từ giờ nguồn khí của Nga sẽ vẫn là nguồn cung chính cho năng lượng châu Âu trong tương lai gần. Khỏi cần phải nói, việc châu Âu tiếp tục phụ thuộc vào năng lượng của Nga sẽ là một con bài tốt để Moscow có thể củng cố quan hệ với các nước lớn ở châu Âu. Hơn nữa, Nga có thể thoải mái xây dựng đường ống đầy tham vọng North Stream và South Stream tới châu Âu mà không phải lo cạnh tranh với đường ống xuyên Caspi do Mỹ hậu thuẫn như kiểu Nabucco.

Điều này có thể giải thích quan điểm hài lòng của Thủ tướng Nga Vladimir Putin khi được hỏi về đường ống khí Turkmenistan – Trung Quốc: “Việc xây dựng đường ống Turkmenistan – Trung Quốc không ảnh hưởng tới kế hoạch mở rộng đường ống của chúng tôi mà đường ống này có thể dẫn tới Trung Quốc. Tôi đang muốn nói đến lượng tiêu thụ năng lượng ngày càng lớn của Trung Quốc. Chúng tôi vẫn giữ liên hệ chặt chẽ với đồng nghiệp Trung Quốc về vấn đề này. Đường ống tới Turkmenistan không ảnh hưởng gì tới kế hoạch của chúng tôi”.

Tuy nhiên, cuộc “tấn công địa chính trị” của Trung Quốc ở Trung Á không phải là không có trở ngại. Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực này là rất mạnh mẽ. Hơn nữa, đối tác Nga của họ dường như luôn có thái độ “kép” khi nói về quan hệ của họ với NATO và việc nhất nút định hình lại quan hệ với Mỹ.

Hạnh Khuê (theo Asia Times)

Mở đường cho nông sản ĐBSCL ra biển

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:22 am
Tags: ,

Dự án sẽ giảm tải cho giao thông đường bộ, đường thủy TP.HCM và tạo bước đột phá cho ĐBSCL xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. Đầu tư hệ thống cảng biển Việt Nam hơn 360.000 tỉ đồng.

Ngày 27-12, tại xã Dân Thành, huyện Duyên Hải (Trà Vinh), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát lệnh khởi công dự án xây dựng luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu. Đây là dự án trọng điểm quốc gia với mục tiêu xây dựng luồng tàu biển ổn định hơn cho tàu có trọng tải 10.000 DWT đầy tải và tàu 20.000 DWT non tải ra vào các cảng trên sông Hậu…

Đây là luồng tàu biển mới, dựa trên việc nạo vét, cải tạo đoạn kênh Quan Chánh Bố (dài 19 km), luồng tàu biển (dài 6 km) hiện hữu và đào một đoạn kênh Tắt qua đất liền dài 9 km, nối hai đoạn luồng trên lại với nhau.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát lệnh khởi công. Ảnh: G.TUỆ

Giảm tải cho giao thông TP.HCM

Tại lễ khởi công, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Đây là một sự kiện rất quan trọng đối với sự phát triển của khu vực ĐBSCL nói chung và của ngành hàng hải nói riêng, đánh dấu bước quan trọng trong việc tìm đường ra biển cho hàng hóa xuất nhập khẩu. Việc khởi công dự án có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội và tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa của ĐBSCL. Khi sông Hậu được mở thông ra biển cho tàu biển trọng tải lớn là giảm tải giao thông cho TP.HCM, hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy từ TP.HCM đến các tỉnh ĐBSCL cũng sẽ được giảm tải. Hàng hóa xuất nhập khẩu không phải trung chuyển lên TP.HCM sẽ tiết kiệm chi phí vận chuyển, tăng sức cạnh tranh, tạo điều kiện để ĐBSCL phát triển mạnh hơn và việc hợp tác phát triển giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ thuận lợi. Đồng thời dự án tạo nền tảng để ĐBSCL thực hiện tốt chiến lược biển do Trung ương Đảng đã đề ra, thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế”.

Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Trà Vinh tiếp tục chỉ đạo chính quyền địa phương bảo đảm tốt công tác giải phóng mặt bằng, an ninh trật tự để thực hiện dự án. Bộ GTVT, Cục Hàng hải Việt Nam và các đơn vị liên quan tập trung nguồn lực hỗ trợ, chỉ đạo nhà thầu thực hiện dự án đúng tiến độ, an toàn, hiệu quả, chất lượng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và hoàn thành dự án đúng tiến độ.

Các phương tiện sẵn sàng nạo vét, thông luồng cho dự án. Ảnh: G.TUỆ

Tạo đà cho phát triển khu vực

Dự án do liên danh Portcoast (Việt Nam) – Nippon Koei (Nhật Bản) và thầu phụ DHI Đan Mạch tư vấn thiết kế. Dự án gồm các hạng mục công trình chính gồm: luồng tài một chiều dài 40 km, khu tránh tàu, đê biển, kè bảo vệ bờ, bến phà, bến xà lan 500T, cầu đường bộ qua kênh Tắt, đường ven luống, hệ thống phao tiêu báo hiệu và thiết bị thông tin hàng hải.

Toàn bộ luồng tàu tính từ sông Hậu ra đến cửa biển dài khoảng 40 km, đi qua địa bàn các xã Long Toàn, Long Khánh, Dân Thành, Long Vĩnh, Ngũ Lạc (huyện Duyên Hải) và các xã Định An, Đại An, Đôn Xuân, Đôn Châu (huyện Trà Cú).

Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ với tổng mức đầu tư khoảng 5.000 tỉ đồng do Cục Hàng hải làm chủ đầu tư. Dự kiến cuối năm 2011 sẽ đi vào khai thác, năng lực thông qua khoảng 22 triệu tấn hàng hóa/năm, phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa của vùng ĐBSCL và thu hút đầu tư.

Theo Bộ GTVT, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của vùng ĐBSCL khoảng 15 triệu tấn/năm nhưng hệ thống cảng sông, cảng biển chưa phát triển. Cảng Cái Cui, cảng Cần Thơ chỉ tiếp nhận tàu 3.000-5.000 tấn qua cửa biển Định An nhưng thường xuyên bị bồi lắng. Hằng năm, Cục Hàng hải phải chi khoảng 15 tỉ đồng để nạo vét cửa Định An nhưng chỉ khoảng 2-3 tháng sau lại bị bồi lắng. Chính vì không chuyển bằng đường biển nên 70%-80% lượng hàng hóa xuất khẩu của vùng ĐBSCL phải chuyển tiếp qua các cảng ở TP.HCM, Vũng Tàu bằng đường bộ. Và theo tính toán của các chuyên gia, khi trung chuyển hàng hóa lên các cảng, chi phí tăng thêm 170-180 USD/container hoặc 7-8 USD/tấn cho chi phí vận chuyển, lưu kho. Chưa hết, việc vận chuyển bằng đường bộ làm gia tăng áp lực giao thông trên quốc lộ 1A.

Theo Bộ, dự án là bước “đột phá khẩu” để đưa hàng hóa trong vùng ra nước ngoài nhanh hơn, thúc đẩy kinh tế-xã hội ĐBSCL phát triển bền vững.

Đầu tư hệ thống cảng biển Việt Nam hơn 360.000 tỉ đồng

Chính phủ đã có tầm nhìn chiến lược cho hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030.

Thủ tướng vừa phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Tổng kinh phí đầu tư của quy hoạch đến năm 2020 khoảng 360-440 ngàn tỉ đồng.

Dự kiến lượng hàng thông qua toàn bộ hệ thống cảng biển tại thời điểm 2015 vào khoảng 500-600 triệu tấn/năm; năm 2020 vào khoảng 900-1.100 triệu tấn/năm và tăng lên đến 2.100 triệu tấn/năm vào giai đoạn 2020.

Để đạt được con số này, trước mắt phải tập trung xây dựng một số cảng nước sâu cho tàu trọng tải lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt là cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong-Khánh Hòa để tiếp nhận được tàu container sức chở 9.000-15.000 TEU. Đồng thời, từ nay tới năm 2015 tập trung ưu tiên đầu tư các cảng: Khu bến Lạch Huyện cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; khu bến của lọc hóa dầu Nghi Sơn…

Trong quy hoạch cảng biển có phân định rõ: việc phát triển cảng biển trên cơ sở những điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của khu vực, có tính đến sự tương tác với các cảng biển lân cận. Điều này sẽ khắc phục được tình trạng địa phương nào cũng muốn phát triển cảng biển, tránh đầu tư lãng phí và sử dụng không đúng công năng của một số cảng biển. Với quy hoạch lần này sẽ hạn chế được bất cập kể trên.

Với 39 cảng biển phân bố tại các vùng miền khác nhau, dựa vào quy mô, chức năng, nhiệm vụ của từng cảng phân định thành ba loại: cảng tổng hợp quốc gia, cảng địa phương và cảng chuyên dùng.

Cảng tổng hợp quốc gia là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, gồm cảng trung chuyển quốc tế (Vân Phong-Khánh Hòa), cảng cửa ngõ quốc tế (Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu) và cảng đầu mối khu vực (Hòn Gai-Quảng Ninh, Nghệ An…).

Cụ thể, cảng Hải Phòng được xác định là cảng tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế với các khu chức năng khác nhau. Một số bến cảng chuyên dùng như Đình Vũ, Cái Lân… sẽ đảm nhận vai trò vệ tinh trong hệ thống cảng Hải Phòng.

Tại Bắc Trung Bộ, Nghệ An sẽ là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực, trong đó Cửa Lò, Sơn Dương, Vũng Áng sẽ là những bến chức năng. Lượng hàng hóa qua đây vào năm 2020 ước chừng 152 triệu tấn.

Đối với cảng Quy Nhơn (Bình Định) và Vân Phong (Khánh Hòa), chủ yếu phục vụ cho các khu công nghiệp và trung chuyển các sản phẩm dầu. Riêng cảng Nha Trang sẽ từng bước chuyển đổi công năng thành bến khách đầu mối du lịch biển, tiếp nhận tàu du lịch quốc tế.

Cảng Cần Thơ gồm các khu bến chức năng như Cái Cui, Trà Nóc-Ô Môn… chủ yếu làm hàng tổng hợp cho tàu từ 2 vạn DWT (tổng tải trọng của tàu) đến 10 vạn DWT.

Trong đề án quy hoạch có nêu rõ: nguồn vốn cho việc xây dựng các cảng biển rất lớn, cần huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển cảng biển. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là tham gia qua hình thức nhà nước-tư nhân đối với các cảng có quy mô lớn.

Quy hoạch này sẽ là cơ sở để phát triển hơn nữa lợi thế bờ biển dài, phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế của Việt Nam.

(Theo chinhphu.vn)

Thu phí tại xa lộ Hà Nội có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:21 am
Tags: ,
Lao Động số 296 Ngày 28/12/2009 Cập nhật: 8:17 AM, 28/12/2009
Nhiều xe không sử dụng đường Điện Biên Phủ vẫn bị thu phí khi qua trạm xa lộ Hà Nội
(LĐ) – Đại diện cho Hiệp hội Vận tải hàng hóa TPHCM và các doanh nghiệp vận tải, Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải vừa đề nghị các cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm việc thu phí sai tại trạm thu phí xa lộ Hà Nội.

Nếu Cty cổ phần đầu tư hạ tầng kỹ thuật TPHCM (CII) vẫn cố tình tiếp tục thu phí sai đối tượng, các doanh nghiệp vận tải sẽ tố cáo ban lãnh đạo CII có dấu hiệu vi phạm “tội cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Trái với Pháp lệnh Phí và Lệ phí

Như báo Lao Động đã thông tin trước đây, nhằm thu phí hoàn vốn đầu tư dự án mở rộng đường Điện Biên Phủ, từ 9.2001, thành phố cho đặt trạm thu phí trên xa lộ Hà Nội (XLHN) (vị trí cũ), do Cty Thanh niên Xung phong tổ chức thu. Đến cuối 8.2002, thành phố ký hợp đồng chuyển nhượng quyền thu phí cho CII được thu tại trạm XLHN. Sau đó từ 28.8.2009, thành phố cho CII dời trạm thu phí về vị trí mới cũng trên đường XLHN. Dù không sử dụng đường Điện Biên Phủ, song suốt nhiều năm qua vẫn bị nộp phí oan tại trạm XLHN đã khiến các doanh nghiệp vận tải và người dân rất bức xúc.

Trong các văn bản trả lời của các cơ quan chức năng của thành phố cho rằng, việc thu phí trên XLHN (tại vị trí cũ hay mới) đều đúng pháp luật. Tuy nhiên, theo phân tích của luật sư Trần Vũ Hải, thì việc trạm XLHN (vị trí cũ và mới) của CII thu phí giao thông đối với những xe không sử dụng đường Điện Biên Phủ mở rộng là trái pháp luật, cụ thể trái Pháp lệnh Phí và Lệ phí (có hiệu lực từ ngày 1.1.2002).

Bởi tại Điều 2 Pháp lệnh Phí và Lệ phí quy định: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong danh mục phí ban hành kèm theo pháp lệnh này”.

Nói cách khác chỉ trả tiền phí nếu sử dụng dịch vụ và không có nghĩa vụ trả tiền nếu không sử dụng dịch vụ đó. Hơn nữa, Điều 7 và Điều 34, khoản 2 của pháp lệnh phí cũng nghiêm cấm và xử lý mọi cá nhân, tổ chức thu phí trái pháp luật. Do việc chuyển nhượng quyền thu phí giữa TPHCM và CII diễn ra sau khi pháp lệnh phí có hiệu lực nên phải áp dụng pháp lệnh này đối với việc thu phí tại trạm XLHN của CII. Điều này có nghĩa, CII chỉ được thu phí của những người sử dụng đường Điện Biên Phủ.

Việc CII thu phí của những người không sử dụng đường Điện Biên Phủ là sai. Do đó, luật sư Trần Vũ Hải cho rằng, CII cần có ngay phương án trả lại cho các doanh nghiệp vận tải số tiền đã bị thu phí sai theo Điều 34, khoản 2 Pháp lệnh Phí về Lệ phí.

Đến nay, chỉ mới có xe ra vào cảng Cát Lái được hoàn phí ngay sau khi bị thu tạm tại trạm xa lộ Hà Nội.


Không thể ưu ái cho doanh nghiệp vi phạm luật

Sau khi HHVTHH nhiều lần kiến nghị, thành phố mới chỉ đạo CII không thu phí đối với những xe ra vào cảng Cát Lái khi qua trạm XLHN. Phương án trả lại tiền cho những xe đã tạm nộp phí trước đó khi qua trạm XLHN được thực hiện tại quầy đặt trên đường Nguyễn Thị Định (gần cảng Cát Lái, Q.2) từ ngày 11.11.2009.

Theo HHVTHH, với biện pháp hiện nay, mới chỉ tạo thuận lợi cho CII, trong khi đó lại gây khó khăn cho những lái xe (tăng thời gian đi lại, chờ đợi, tốn kém), làm lái xe nản lòng. Hơn nữa, phương án này, không giải quyết dứt điểm việc chấm dứt thu phí của những xe không sử dụng đường Điện Biên Phủ, vì thực tế còn rất nhiều xe của người dân, doanh nghiệp đóng dọc XLHN và những đường nhánh nối vào XLHN cũng bị thu phí oan.

“Không thể vì cái sai của doanh nghiệp này, bắt doanh nghiệp khác phải gánh chịu sự phiền hà, tốn kém, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Không thể ưu ái cho doanh nghiệp vi phạm pháp luật” – luật sư Hải nhấn mạnh.

Thay mặt cho Hiệp hội Vận tải hàng hóa TPHCM và doanh nghiệp vận tải, luật sư Trần Vũ Hải đề nghị CII chấm dứt ngay việc thu phí hoặc gây phiền hà đối với những người có xe ôtô không sử dụng đường Điện Biên Phủ mở rộng. Nếu CII cố tình tiếp tục thu phí của những người có xe không sử dụng đường Điện Biên Phủ mở rộng tại trạm XLHN mới, không loại trừ các doanh nghiệp vận tải sẽ sử dụng quyền tố cáo ban lãnh đạo CII có dấu hiệu vi phạm Điều 165 Bộ luật Hình sự “Tội cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Luật sư Trần Vũ Hải cũng đề nghị CII cần trả lời cho Hiệp hội Vận tải hàng hóa về việc có hoàn trả lại hay không số tiền đã thu phí sai của những doanh nghiệp vận tải tại trạm XLHN (vị trí mới và cũ). Trong trường hợp CII vì lợi ích cục bộ của mình vẫn không chấp thuận các ý kiến, đề nghị trên, Hiệp hội Vận tải hàng hóa và các doanh nghiệp vận tải sẽ đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền vào cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán việc thu phí tại trạm XLHN và truy cứu trách nhiệm các đơn vị, cá nhân liên quan (khi phát hiện sai phạm).

Trao đổi với PV Lao Động ngày 27.12, luật sư Trần Vũ Hải cho biết: Tính đến nay, đã có 6 doanh nghiệp vận tải ủy quyền cho tôi yêu cầu CII bồi hoàn lại số tiền mà CII đã thu phí sai đối với xe của các doanh nghiệp không sử dụng đường Điện Biên Phủ, nhưng vẫn bị thu phí tại trạm XLHN. Trước mắt, tôi đang củng cố hồ sơ, tài liệu yêu cầu CII bồi thường số tiền đã thu sai từ ngày 28.8.2009 (từ khi dời trạm XLHN ra vị trí mới) đến nay. Bước tiếp theo sẽ yêu cầu bồi hoàn số tiền đã thu sai tại trạm XLHN (vị trí cũ) kề từ năm 2001 đến trước ngày 28.8.2009.

Mua gạo tạm trữ trúng to

c

(TBKTSG Online) – Hàng loạt hợp đồng trúng thầu xuất khẩu gạo số lượng lớn và giá tốt trong hai tháng qua đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có kho tàng, từng tham gia mua tạm trữ gạo trong năm trúng to. Trong khi đó, các doanh nghiệp không có kho chứa thì vất vả lo tìm gạo giao theo hợp đồng.Kho tạm trữ, lợi cho doanh nghiệp lẫn nông dân

Tháng 8 năm nay, khi lúa trong nước xuống giá thê thảm, chỉ còn 3.500 đồng/kg, gần xấp xỉ giá thành, lúc ấy, trong hơn 100 doanh nghiệp hội viên Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) chỉ có 21 doanh nghiệp đăng ký mua tạm trữ nhờ có kho tàng, hệ thống đại lý, cơ sở thu mua và có năng lực tài chính. Các doanh nghiệp thống nhất sản lượng mua lúa là 400.000 tấn với giá 3.800 đồng/kg lúa khô.

Sau đó, vào cuối tháng 9, khi nông dân ĐBSCL bắt đầu thu hoạch lúa hè thu, lượng lúa gạo hàng hóa ê hề, giá lúa có khả năng giảm sâu, các doanh nghiệp lại mua lúa gạo tạm trữ đợt hai 500.000 tấn. Với việc mua gạo tạm trữ của các doanh nghiệp, giá lúa trong nước được nâng đỡ dần lên 3.800 – 4.000 đồng/kg vào đầu tháng 10.

Vị trí đặt quảng cáo

Không chỉ nhà xuất khẩu mới mua lúa gạo tạm trữ, ngay cả những doanh nghiệp tư nhân không xuất khẩu trực tiếp, mà chỉ lo thu mua, lau bóng và cung ứng gạo cho các nhà xuất khẩu lớn, cũng tham gia mua tạm trữ.

Tính ra cả 4 lần đấu thầu bán gạo cho Philippines trong 2 tháng qua, lượng gạo mà Việt Nam trúng thầu lên tới 1,35 triệu tấn với thời gian giao hàng bắt đầu vào tháng 1 này.

Trong hơn tháng qua, giá lúa gạo tăng mạnh và đang ở mức cao, như hiện tại, giá lúa khoảng 5.700 – 5.800 đồng/kg, giá gạo nguyên liệu loại 1 hiện khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg, giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì giao tại mạn hiện khoảng 8.700 – 8.800 đồng/kg, gạo 25% tấm khoảng 8.300 – 8.400 đồng/kg.

Như vậy, so với giá gạo 25% tấm thành phẩm hiện nay trên thị trường mà doanh nghiệp tư nhân, cơ sở lau bóng gạo cung ứng cho nhà xuất khẩu khoảng 8.400 đồng/kg, những nhà xuất khẩu có sẵn gạo trong kho (mua gạo với giá 5.000 – 6.000 đồng/kg khi tạm trữ) chỉ cần chờ ngày xuất khẩu để thu lợi nhuận. Tính ra mỗi tấn gạo tạm trữ, nhà xuất khẩu có kho, có tạm trữ gạo lời 2-3 triệu đồng.

Xuất khẩu gạo phải có kho chứa

Theo VFA, xuất khẩu gạo 18 ngày đầu tháng 12 đạt 138.083 tấn, trị giá FOB 54,421 triệu đô la Mỹ.

Lũy kế xuất khẩu từ đầu năm đến ngày 18-12, cả nước xuất 5,84 triệu tấn, đạt kim ngạch 2,37 tỉ đô la Mỹ.

Sau khi Việt Nam trúng thầu, các doanh nghiệp sẽ được phân bổ chỉ tiêu xuất khẩu nên một số doanh nghiệp không có gạo trong kho chạy đôn chạy đáo mua gạo, đẩy giá lên cao mà thực ra, cân đối gạo trong nước không hề thiếu cho xuất khẩu.40/100 doanh nghiệp của VFA nhờ mua lúa gạo tạm trữ, có gạo trong kho và giờ đây được hưởng lợi. Còn các nhà xuất khẩu khác thì phải mua vét gạo theo giá thị trường ở mức cao để chuẩn bị giao hàng. Nếu họ không xuất khẩu theo chỉ tiêu được phân chia thì có thể bị phạt, thậm chí không được phân chia các hợp đồng khác.

Không phải ngẫu nhiên mà dự thảo nghị định kinh doanh xuất khẩu gạo đang lấy ý kiến hiện nay đã viết tới lần thứ tư, dù các doanh nghiệp và chuyên gia tranh luận rất nhiều nhưng gần như tất cả mọi người đều thống nhất ở một điểm. Đó là doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo phải có kho chứa, nhà máy xay xát, máy sấy và một sản lượng gạo dự trữ lưu thông nhất định trước khi ký hợp đồng xuất khẩu gạo.

Thực tế đã chứng minh nếu không như thế mà chờ đến khi có hợp đồng mới đổ xô đi mua gạo thì càng gây rối thị trường, đẩy giá gạo sốt ảo, gây thua lỗ và nhiều khi không thể thực hiện hợp đồng, làm giảm uy tín hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

// 30 || Zoom

Bước tiến mới trong công bố thông tin DN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:18 am
Tags: , ,

Hàng chục DN niêm yết đã thực hiện công bố thông tin về kết quả kinh doanh dự kiến cả năm 2009 ra công chúng thông qua phương tiện thông tin của Sở GDCK.

Đây là hoạt động hoàn toàn mới so với các năm trước và cũng không nằm trong nghĩa vụ phải công bố thông tin của DN niêm yết theo Thông tư 38/2007/TT-BTC.

Những đơn vị tiên phong

Nếu như các năm trước, HAPACO và REE được coi là 2 DN điển hình thường thực hiện công bố tóm tắt kết quả kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) hàng tháng ra công chúng, thì năm nay, số DN chủ động công bố thông tin ra công chúng đã cao hơn rất nhiều.

Chẳng hạn, CTCP Cao su Đà Nẵng vừa thông báo về việc ước lợi nhuận năm 2009 với lợi nhuận ước đạt 350 tỷ đồng, vượt 300 tỷ đồng so với kế hoạch ban đầu. CTCP Cáp và Vật liệu viễn thông (SAM) cũng vừa công bố thông tin về dự kiến kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009.

Theo đó, doanh thu dự kiến đạt 404 tỷ đồng (bằng 115,43% kế hoạch năm); lợi nhuận trước thuế đạt 273 tỷ đồng (bằng 195% kế hoạch năm). CTCP Sản xuất kinh doanh XNK dịch vụ và đầu tư Tân Bình (TIX) cho biết, lợi nhuận sau thuế quý IV/2009 ước đạt 16 tỷ đồng, cả năm 2009 ước đạt 67 tỷ đồng, tương đương thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) là 5.583 đồng. Không chỉ cung cấp thông tin về năm 2009, TIX còn cho biết, trong năm 2010, lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt từ 70 – 120 tỷ đồng, tương đương mức EPS từ 5.833 đồng -10.000 đồng.

Nhiều DN niêm yết khác tại Sở GDCK TP. HCM như CTCP Dịch vụ tổng hợp dầu khí, CTCP Nhiệt điện Phả Lại, CTCP Tập đoàn Hoa Sen, CPCP Cơ điện lạnh, CTCP Ánh Dương Việt Nam… cũng đã thực hiện công bố kết quả kinh doanh 11 tháng đầu năm 2009 hoặc dự kiến kết quả kinh doanh cả năm 2009.

Tại Sở GDCK Hà Nội, một số DN niêm yết cũng đã thực hiện công bố kết quả kinh doanh hàng tháng, như CTCP Thương mại XNK Thủ Đức (TMC) công bố, 11 tháng đầu năm nay đã đạt trên 1.086 tỷ đồng doanh thu (bằng 98% kế hoạch) và đạt 25,1 tỷ đồng lợi nhuận, bằng 169% kế hoạch…

Đặc điểm chung của các DN tiên phong thực hiện công bố thông tin ngoài nghĩa vụ này là kết quả hoạt động của DN trong kỳ đều đạt hoặc vượt kế hoạch đề ra. Có rất nhiều lý do khiến DN nỗ lực công bố thông tin sớm, chẳng hạn từ việc lãnh đạo DN có ý thức minh bạch thông tin DN, hay để giải tỏa áp lực tin đồn hay lãnh đạo DN quá sốt ruột trước tình trạng giá cổ phiếu giảm mạnh… Tuy nhiên, dù vì lý do gì thì những thông tin được công bố chính thức từ DN như trên đã và đang góp phần giúp TTCK hoạt động minh bạch hơn, hiệu quả hơn.

Khuyến khích các DN công bố thông tin ngoài nghĩa vụ

Tìm hiểu tại Sở GDCK TP. HCM và Sở GDCK Hà Nội, được biết, 2 cơ quan này đều khuyến khích các DN niêm yết thực hiện công bố thông tin ngoài các nghĩa vụ phải thực hiện theo Thông tư 38/2007/TT-BTC. Theo đại diện các Sở, DN niêm yết nên thực hiện công bố thông tin thường xuyên về hoạt động của DN thông qua website của DN, các phương tiện thông tin đại chúng và có thông báo với Sở để cơ quan này cùng thực hiện việc công bố thông tin về DN.

Trong các thông tin DN công bố, loại thông tin nhà đầu tư chờ đợi nhất là kết quả kinh doanh dự kiến định kỳ hàng tháng, quý hoặc cả năm. Việc công bố kết quả dự kiến của các DN niêm yết nếu được thực hiện thường xuyên hơn và rộng rãi hơn sẽ giúp nhà đầu tư có những thông tin cập nhật về hoạt động của DN. Đây là yếu tố cốt lõi để giảm bớt hiện tượng tin đồn lũng đoạn thị trường, đồng thời giúp nhà đầu tư có thêm căn cứ để định giá cổ phiếu một cách sát thực hơn.

Thông tư mới thay thế Thông tư 38/2007/TT-BTC về công bố thông tin trên TTCK do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng đã được trình Bộ Tài chính từ giữa năm 2009, đang chờ được ban hành. Sự thay đổi căn bản trong quy định pháp lý mới là ở chỗ các DN sẽ phải nâng cấp và chủ động công bố thông tin thông qua các phương tiện của chính DN (website, báo cáo thường niên…).

Bên cạnh đó, ngoài nghĩa vụ công bố thông tin tài chính tóm tắt, DN sẽ phải công bố đường link đến bản báo cáo tài chính đầy đủ và thực hiện việc công bố này trên nhiều kênh hơn (kênh của Sở, của UBCK, thông tin đại chúng). Tuy nhiên, thông tư mới cũng không có quy định buộc các DN phải công bố kết quả kinh doanh dự kiến định kỳ, bởi cơ quan soạn thảo cho rằng, loại thông tin này các Sở nên khuyến khích DN công bố.

Một trong những lý do là nếu buộc DN công bố thông tin dự kiến thì sẽ phải quy định thêm về chế tài xử lý khi những thông tin dự kiến khác biệt quá lớn so với thông tin chính thức về kết quả kinh doanh của DN, mà điều này trong thực tế vẫn xảy ra nằm ngoài khả năng kiểm soát của DN (như trường hợp từ lãi lớn chuyển thành lỗ nặng do trích lập dự phòng tỷ giá quá lớn của Nhiệt điện Phả Lại năm 2008).

Chính vì loại thông tin dự kiến về kết quả kinh doanh của DN không nằm trong nghĩa vụ DN phải công bố, nên ngoài ý thức tự giác của các DN, rất cần sự khuyến khích, đốc thúc từ các Sở, thậm chí có thể coi đây như một tiêu chí để đánh giá mức độ minh bạch thông tin DN trong các giải thưởng tôn vinh sự minh bạch trên TTCK mà các Sở thực hiện thường niên

Đỏ mắt tìm vệ sĩ chất lượng cao

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:17 am
Tags:

<!–NGay gio Modified

–>

27/12/2009 10:12

Một buổi học tại Công ty dịch vụ bảo vệ Sài Gòn Nam Chính Trực – Ảnh: Trần Ka
(TNTT&GT) Từ năm 2001, cả nước chỉ có khoảng 4-5 công ty vệ sĩ chuyên nghiệp, song đến nay do nhu cầu thuê vệ sĩ tăng cao, con số đó đã tăng lên gần 600 công ty lớn nhỏ đủ loại. Tuy tăng mạnh về số lượng nhưng chất lượng vẫn chênh lệch…

Trên thực tế, việc quản lý các doanh nghiệp dịch vụ vệ sĩ vẫn chưa được làm ráo riết. Nghề vệ sĩ đã ra đời hàng chục năm nay nhưng vẫn chưa có bất kỳ một chuẩn chung nào cho nghề này. Rất nhiều doanh nghiệp dịch vụ vệ sĩ hiện vẫn tự đào tạo theo chuẩn riêng của mình dẫn đến chất lượng vệ sĩ trở nên… mơ hồ.

Để cạnh tranh trong thế “bầy đàn”, nhiều công ty nhỏ lẻ buộc phải hạ giá ở mức thấp nhất để giành hợp đồng với các đối thủ khác. Để có mức giá giảm, các công ty đã cắt xén rất nhiều khâu về tiêu chuẩn tuyển dụng, đào tạo, huấn luyện, thậm chí không ký hợp đồng lao động mà chỉ trả lương công nhật cho người lao động với thời gian tăng ca hơn 12 giờ mỗi ngày liên tục trong tháng, không có ngày nghỉ. Thậm chí, một số nơi bỏ qua tiêu chí đạo đức người vệ sĩ, tiêu chí hết sức quan trọng của nghề.

Mặt khác, một số doanh nghiệp chưa đánh giá hết tầm quan trọng về an ninh của doanh nghiệp, mà thuê dịch vụ bảo vệ nhằm PR thương hiệu nên không chú trọng đến chất lượng dịch vụ, do vậy họ chấp nhận sử dụng một số dịch vụ với giá thành thấp. Điều này đã tạo “đất sống” cho những dịch vụ giá thấp. Gần đây, báo chí liên tục lên án những hành vi thông đồng ăn cắp tài sản của khách hàng, hành hung, xúc phạm người dân, cư xử theo lối giang hồ gây mất an ninh tại nơi vệ sĩ được phân công công tác… Điều này khiến các doanh nghiệp có nhu cầu thuê vệ sĩ đau đầu khi lựa chọn một công ty dịch vụ vệ sĩ nào đó.

Trước tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty dịch vụ vệ sĩ, rõ ràng khách hàng là những người chịu thiệt vì có quá ít thông tin về các công ty mình thuê. Điều này đồng nghĩa với việc “giết chết” uy tín của ngành dịch vụ còn non trẻ này.

Theo ông Phạm Chí Điện, Tổng giám đốc Công ty dịch vụ bảo vệ Sài Gòn Nam Chính Trực “nghề vệ sĩ vẫn chưa có tên trong danh mục nghề nghiệp của Tổng cục Dạy nghề, nên tôi nghĩ việc sớm lập nên một hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ bảo vệ VN là rất cần thiết. Vì như thế, vị thế nghề vệ sĩ mới được khẳng định chính thức, và được chuẩn hóa để nâng tầm chất lượng chung”. Hiện nay, ông Điện cũng là thành viên của tổ thường trực Ban vận động thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ bảo vệ Việt Nam tại TP.HCM.

Có thể nói, một số công ty dịch vụ bảo vệ lớn gầy dựng tên tuổi trong hàng chục năm qua đang bị các công ty nhỏ lẻ, chất lượng kém khác làm ảnh hưởng đến uy tín. Các doanh nghiệp dịch vụ vệ sĩ hàng đầu rất cần các cơ quan quản lý chuẩn hóa nghề vệ sĩ để có thể tạo nên mặt bằng chung về chất lượng người làm nghề này, nâng giá trị của nghề và đặc biệt là bảo đảm an ninh tốt nhất cho khách hàng. Trong khi chờ đợi, và trước sức ép từ hàng loạt các công ty dịch vụ vệ sĩ bát nháo khác, họ phải đưa thêm những sản phẩm dịch vụ cao cấp hơn để phát triển và nâng tầm, khẳng định chính mình. Mới đây, Công ty dịch vụ bảo vệ Sài Gòn Nam Chính Trực vừa giới thiệu dịch vụ vệ sĩ cao cấp để đáp ứng nhu cầu lớn của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài cũng như góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội trong khu vực. Đây cũng là động thái tích cực để nâng tầm nghề vệ sĩ Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Mất mùa vì… giống hỗ trợ!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:15 am
Tags: ,
Làm đất trồng màu ở Bắc Giang (ảnh minh hoạ)
(VOV) – Nhắc đến giống khoai tây chất lượng, sạch bệnh do UBND tỉnh Bắc Giang hỗ trợ, nông dân nào cũng thấy bức xúc và bất bình.

Không bất bình sao được khi họ vất vả chờ đợi, bỏ công sức và bạc triệu ra mới trồng được sào khoai tây với mong muốn tăng thêm thu nhập, nhưng nay đã “vỡ mộng” vì cây phát triển không bình thường, củ giống bị thối.

Hàng trăm ha bị hỏng

Nhìn ruộng khoai tây đang “chết dần, chết mòn”, chị Trần Thị Miên, thôn Khả Lý Thượng, xã Quảng Minh, Việt Yên không giấu nổi sự chua xót. Chị đã tốn bao công sức và thời gian chờ đợi để nhận được giống hỗ trợ, vậy mà khi trồng xong thì tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt khoảng 50%. Đáng buồn hơn, số cây mọc lên được nay lại đang khô héo dần mà chết. Trong khi đó, theo chị Miên, những hộ mua giống của đại lý tư nhân về trồng thì bây giờ vẫn xanh tốt, không thấy có cây nào bị chết cả.

“Mọi năm làm nửa sào khoai tây, gia đình tôi thu được 1,5 triệu đồng. Năm nay khoai tây được giá, dự kiến một sào thu được 7-8 triệu đồng nhưng không biết nửa sào này có thu nổi 100.000 đồng hay không” – chị Miên lo lắng.

Trước sự phát triển “bất thường” của những giống khoai tây chất lượng, sạch bệnh, Sở NN&PTNT đã thành lập đoàn công tác kiểm tra nhằm làm rõ nguyên nhân và đề xuất biện pháp xử lý thiệt hại toàn bộ diện tích khoai tây bị hỏng do nguyên nhân từ giống cho nông dân.

Theo kết quả kiểm tra, tại xã Quảng Minh, huyện Việt Yên có 6.559,5 kg khoai tây kho lạnh tỷ lệ nẩy mầm đạt 50%. Không chỉ có nông dân xã Quảng Minh là “nạn nhân”, hàng vạn nông dân khác ở các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Tân Yên, Lục Ngạn cũng đang “khóc dở, mếu dở” với giống khoai tây VT2 của Trung Quốc.

Trong tổng lượng giống khoai tây VT2 Trung Quốc mà Công ty cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang cung ứng là 315.761 kg (khoảng 325,7ha), có 198.102kg khoai tây giống (khoảng 204,3ha) cây có hiện tượng mọc mầm, sinh trưởng phát triển không bình thường, củ bị thối, tỷ lệ nảy mầm đạt thấp. Cá biệt, tại 2 huyện Tân Yên và Lục Ngạn, gần như 100% diện tích khoai tây sinh trưởng phát triển không bình thường, củ thối.

Ông Vũ Trí Đồng, Trưởng phòng Trồng trọt (Sở NN&PTNT Bắc Giang), kiêm Trưởng đoàn công tác kiểm tra cho biết: “Theo kết quả quan sát bước đầu có thể xác định là giống bị ảnh hưởng do quá trình xử lý nảy mầm – chiếu xạ, chất kích thích nảy mầm xử lý quá liều…”. Để khắc phục hậu quả, Công ty cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang đã cam kết hỗ trợ thiệt hại cho nông dân dựa trên kết quả kiểm tra thực tế của các huyện và công ty; Đối với diện tích khoai tây bị thiệt hại nặng công ty cung cấp 100% lượng giống và hỗ trợ 10.000 đồng/sào để nông dân trồng lại đảm bảo thời vụ.

Nông dân mất niềm tin

Trước tình hình cây trồng vụ đông năm 2009 đạt thấp so với kế hoạch, UBND tỉnh Bắc Giang đã có chính sách hỗ trợ 30% giá giống khoai tây chất lượng, sạch bệnh cho nông dân ở một số huyện như: Yên Dũng, Lục Nam, Việt Yên…

Theo tính toán của Sở NN&PTNT Bắc Giang, khoai tây chất lượng, sạch bệnh cho hiệu quả kinh tế cao hơn khoai tây thông thường cũng như các cây trồng chủ lực vụ đông như ngô, đậu tương… khoảng 680.000 – 700.000 đồng/kg.

Thế nhưng, trong quá trình cung ứng, nông dân một số xã của huyện Việt Yên, Lục Nam và Lục Ngạn không nhận hàng chục tấn khoai giống đã đăng ký trước đó với lý do chất lượng kém, chủng loại không như mong đợi. Đa số người dân nơi đây đều muốn nhận khoai giống kích cỡ củ từ 5-10 củ/kg, thậm chí càng to càng tốt.

Trong khi đó, công ty lại cung ứng giống khoai củ nhỏ, từ 20-30 củ/kg, có củ bị thối trong bao, ít mắt, mắt lại nông… nên nhiều nông dân đã trả lại, có những xã phải đổi hàng 2-3 lần mới giao được giống cho dân.

Bà Đỗ Thị Hảo, thôn Khả Lý Thượng, xã Quảng Minh cho hay: “Khoai tây hỗ trợ đến tay người dân chúng tôi xấu lắm. Nhà nước đã hỗ trợ nông dân những năm thấp kém thì hỗ trợ khoai tây tốt hẳn hoi để trồng, nếu khoai không ra gì thì tốt nhất đừng hỗ trợ. Bao nhiêu công lao, phân gio người ta bỏ ra, bây giờ khoai không ra gì chúng tôi phải bỏ ruộng không, làm mất công”.

Theo bà Hảo, với vùng trồng khoai truyền thống như thôn Khả Lý Thượng, chưa bao giờ người dân bỏ đất hoang, nhưng bây giờ thời thế đã đổi khác. Làm ruộng chỉ có người có tuổi và phụ nữ, nên nếu làm một lần được ăn thì còn được, chứ làm đi làm lại thì người ta bỏ hết. “Người dân bỏ công ra trồng thì phải được thu hoạch, trồng bây giờ giống má cứ đổ ồn ồn vào như… đống cỏ, đống rơm, sau về nó thối hết thì chả được gì” – bà Hảo bức xúc nói.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Hoạt, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang lý giải: “Người dân không nhận khoai tây giống thực chất là do thị hiếu thích loại khoai giống to (khoảng 5-7 củ/kg) rồi cắt nhỏ ra trồng. Đây là khoai tây thương phẩm không đủ tiêu chuẩn làm giống, hơn nữa việc cắt một củ khoai tây thành nhiều mảnh làm giống tiềm ẩn nguy cơ nhiễm bệnh cao nên Công ty không thể cung ứng theo yêu cầu của người dân”. Nhắc tới chuyện hàng trăm ha giống khoai tây chất lượng, sạch bệnh do công ty cung ứng bị… hỏng, ông Hoạt cho rằng, đây là trường hợp mới gặp lần đầu tiên.

“Hiện công ty đang phối hợp với các địa phương kiểm tra, rà soát lại diện tích bị ảnh hưởng và tiến hành hỗ trợ thiệt hại cho nông dân” – ông Hoạt cho biết./.

Next Page »

Blog at WordPress.com.