Ktetaichinh’s Blog

December 27, 2009

Reform reversal?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:49 pm
Tags: ,

Dec 27th 2009
From the Economist Intelligence Unit ViewsWire

Debate over reform of the dominant state-owned sector is growing, but it is not being matched by action

Reform of Vietnam’s lumbering state-owned sector has slowed. The global economic and financial crisis has made conditions for “equitising”, or part-privatising, state-run companies more challenging, and some policymakers also seem to be having second thoughts about the process itself. The government is actively considering reforms, but it is likely to move cautiously, and there is still considerable resistance to challenging the state-dominated status quo.

Debate over Vietnam’s long-term economic development strategy is growing. Policymakers are preparing a Strategy for Socio-economic Development for 2011-20. One element of their discussion will be the viability (or otherwise) of the country’s current industrial strategy, and in particular Vietnam’s reliance on large state-owned enterprises (SOEs). For more than a decade, large SOEs have been at the forefront of the country’s industrial development strategy. This has reflected a belief in government circles that the fledgling private sector is insufficiently developed to take on this role, as it lacks a sufficient number of large and robust companies.

// <![CDATA[
document.write('’);
// ]]>

This view has come under increased scrutiny as a number of big, strongly performing private firms have sprung up in several sectors. There is a sense on the part of some policymakers that SOEs show little flair for innovation and lack the entrepreneurial talent demonstrated by many private companies. In addition to these shortcomings, the weak or dysfunctional corporate-governance structures of many (organisationally complex) SOEs are also readily apparent, as are the often cosy and convoluted relationships between some SOEs and the government ministries that regulate them.

However, as large SOEs are a significant source of economic growth and government revenue, instituting change in this area will be challenging even if the political will to do so exists on the part of some policymakers.

Some observers had hoped that the establishment in 2005 of the State Capital Investment Corporation (SCIC) would usher in a new era of reform for SOEs. This body has the task of representing and managing the state’s interest in SOEs, and of restructuring such enterprises. However, despite its far-reaching mandate, the SCIC has only really been given responsibility for managing the state’s equity in relatively small equitised firms, rather than in large SOEs. Larger state-owned firms and “economic groups” (powerful state-owned conglomerates) still typically report directly to the Government Office (a ministry-level agency serving the prime minister). This does not bode well for reform of the state-owned sector, as, without devolution, political influence and corruption are set to remain rife.

Ominously for reform, the government has plans to create two new economic groups in the construction sector. The two new groups, the Industrial Construction Group and the Housing and Urban Development Group, will both be managed by the Ministry of Construction. The two groups will serve as core holding companies for all the state-owned construction companies that remain under the management of the ministry; the SCIC is not expected to play a role in their administration. One argument put forward for the creation of these two new super-entities is that only by consolidating along these lines will domestic construction and property firms be able to compete with the influx of foreign competitors that is expected to occur as a result of the ongoing liberalisation of the market following Vietnam’s accession in 2007 to the World Trade Organisation.

The financial sector has been a prime candidate for reform, but here too there have been further setbacks. The long-delayed equitisation of the state-owned Bank for Investment and Development of Vietnam (BIDV) has been formally postponed until the first half of 2010. BIDV was originally scheduled to be equitised in 2007, but, as in the case of the state-owned Mekong Housing Bank, the process has encountered repeated delays. The current plan is to value the bank at the end of 2009, and then attempt to sell 20% of the bank’s shares to one or more strategic investors and a further 10% to retail investors. Of the other large domestic commercial banks, Vietcombank and VietinBank have already listed shares on the country’s main bourse, the Ho Chi Minh Stock Exchange. The Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development and Mekong Housing Bank remain the laggards, having yet to equitise any shares. The government also owns and operates two so-called policy banks, Vietnam Social Policy Bank and Vietnam Development Bank, but these are not commercial entities and are unlikely to be equitised.

Advertisements

Bán Hàng Đa Cấp

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:44 pm
Tags: ,

Nhãn: tài chính cá nhân , xã hội
Vào một buổi chiều, bạn cảm thấy hơi chán vì không có thật nhiều tiền. Bỗng một người bạn gọi điện cho bạn nói rằng đã tìm ra được một giải pháp kiếm được tiền nhiều hơn. Và bạn sẽ đi tới một hội nghị tại nhà ai đó, văn phòng công ty, quán café, hay hội trường của một khách sạn. Họ bắt đầu vẽ lên bảng những vòng tròn, và chú thích mức hoa hồng của vòng tròn A, B, C, rồi vẽ thêm nhiều vòng tròn nữa rồi nói bạn sẽ giàu. Bạn đang được giới thiệu về bán hàng đa cấp, hay những cái tên khác như bán hàng theo mạng, bán hàng trực tiếp, hay multi-level marketing.

Lừa đảo hay hợp pháp

Đây là hoạt động kinh doanh hợp pháp, trừ một số nước đạo Hồi.

Tính ưu việt của sản phẩm

Khi bạn được giới thiệu tới văn phòng của một công ty bán hàng đa cấp, bạn sẽ được khoa trương những sản phẩm với những tính năng vượt trội. Ở đây có một sự thiên vị trong lựa chọn để phô trương ở đây nhưng không quan trọng lắm. Về ý kiến đánh giá chất lượng sản phẩm cũng có ý kiến trái chiều mặc dù công ty bán hàng đa cấp luôn nhận sản phẩm của mình là vượt trội. Một số sản phẩm đặc thù nhận được ý kiến từ khách hàng cho rằng tốt hơn. Nhìn chung về chất lượng, sản phẩm tốt. Tuy nhiên, trong các cuộc hội thảo của công ty, bạn chỉ nghe những sản phẩm phẩm tệ, chất lượng xấu từ những công ty, nhãn hiệu khác.

Giá thành sản phẩm

Giá của những sản phẩm từ công ty bán hàng trực tiếp thường rất đắt. Những người ở tầng trung lưu không có khả năng mua. Những chiến lược gần đây thì mở rộng tập trung cả vào tầng lớp trung lưu này. Giá luôn cao hơn sản phẩm cùng loại trên thị trường. Ngay cả khi công ty đa dạng hóa sản phẩm, về tương quan giá với chất lượng sản phẩm thì các sản phẩm của cty bán hàng đa cấp giá vẫn cao hơn.

Thặng dư sản xuất và thặng dự tiêu dùng

Công ty bán hàng đa cấp với công ty bình thường giống nhau ở khâu sản xuất, nhưng khác ở nhau ở khâu tiêu thụ. Ở công ty bình thường, sản phẩm qua các nhà phân phối, đại lý, cửa hàng rồi tới tay người tiêu dùng, đồng thời cty trả chi phí marketing và các chi phí liên quan khác. Ở công ty đa cấp, chỉ qua nhà phân phối trực tiếp, nhưng lợi nhuận tiết kiệm được (bằng cách giảm các bước trung gian) được dùng cho cho các “compensation plan” cho các nhà phân phối trực tiếp này. Như vậy, chi phí chỉ dịch chuyển chứ không hoàn toàn biến mất. Các bước trung gian giảm nhưng bằng cách tạo ra hàng ngàn các nhà phân phối trực tiếp.

Bằng việc bán giá cao hơn mức giá họ bằng lòng bán, ở đây thặng dư sản xuất (producer surplus)lớn hơn thặng dư tiêu dùng (consumer surplus). Khách hàng cuối cùng phải trả cao hơn so với những gì họ đáng được nhận. Lấy tiền người mua trả cho người đại lý phân phối, chủ doanh nghiệp thật sự không mất gì.

Bao nhiêu tỷ phú được tạo ra?

Có một sự thiên vị về thông tin công bố: đó là chỉ có những người thành công mới ghi nhận, chứ cty không thông báo cho bạn biết bao nhiêu người thất bại, bao nhiêu người bỏ cuộc. Mặc dù vậy, bán hàng đa cấp tạo ra một cuộc đua công bằng giữa những người tham gia. Không thể phủ nhận những người ở cấp độ cao thu nhập cao hơn, và đó là động lực thúc đẩy cho những người cấp dưới.
Nếu bạn muốn đạt được những mức hoa hồng cao thì đó là một công việc sẽ rất vất vả.

Phí gia nhập, áp đặt doanh số

Phí gia nhập thì tùy chỗ.
Doanh số bán bao nhiêu là không bắt buộc nhưng để ý sẽ thấy có một áp lực khi đề ra những mục tiêu chung của nhóm. Thậm chí, ngay cả khi không có một áp lực nào thì bản thân những người tham gia vào mạng lưới đa cấp đều nhận ra nếu hàng bán quá ít thì mức phần trăm hoa hồng ít, ngược lai doanh số càng cao thì hoa hồng càng cao.

Làm sao thuyết phục bán hàng

Lịch sử ra đời của các công ty đa cấp phần nhiều ở Mỹ cũng từ nhiều thập kỷ trước. Hình thức tiếp thị là truyền miệng. Tuy nhiên, hình thức này đi ngược xu thế thời đại, đặc biệt là khi quảng cáo trên truyền hình, internet, mail, và bây giờ là mobile có hiệu quả hơn. Nhưng các công ty bán hàng vẫn trung thành với hình thức cũ. Những người tham gia vào cty bị hạn chế khi quảng cáo trên internet, không được lập trang web trang web thương mại điện tử, tuy nhiên những thời gian gần đây thì nhiều công ty đa cấp có lập mạng internet, một số người tham gia đăng quảng cáo trên các trang thương mại điện tử, rao vặt.

Tuy nhiên, những người tham gia vào công ty đa cấp sớm nhận ra rằng bản thân anh ta, cùng gia đình không thể tiêu thụ đủ số hàng để đặt được những cấp độ về hoa hồng. Họ sẽ mời họ hàng, bạn thân dùng thử. Nhưng đa số sẽ thấy khó khi thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng từ mua sắm ở cửa hàng sang mua sắm hàng tháng các mặt hàng của công ty đa cấp. Những người tham gia bán hàng đa cấp sẽ cảm thấy họ kiếm lợi hoa hồng giới thiệu (referral) dễ hơn. Khi đó, họ sẽ tìm mọi cách để mời thêm người mới vào công ty. Và những người đầu tiên là những thành viên trong gia đình vì không gì dễ bằng thuyết phục chính gia đình họ hàng. Tiếp đó, đứng ở kệ sách kinh tế nhà sách Nguyễn Văn Cừ, gửi email hàng loạt, spam các diễn đàn, đăng tuyển dụng liên tục không nghỉ, add vài ngàn Facebook friends… là một số cách thường thấy, tuy nhiên lại dễ bị phản ứng. Nhưng nếu tất cả chỉ lo kiếm “vệ tinh” mà không lo bán hàng thì sao? Không có ai thu được lợi nhuận. Khi đó có 2 giải pháp:
1. Tập trung tuyển những người có tài năng bán hàng
2. Huấn luyện để nhận được hoa hồng từ việc này

Doanh thu và đóng thuế

Nhờ mạng lưới bán hàng rộng, giá sản phẩm cao, nên doanh thu và lợi nhuận cao. Riêng về khoản thuế, đối với tôi, đó là một khoản nghĩ vụ phải nộp chứ không phải khoản bố thí cho xã hội. Hơn nữa, thặng dư tiêu dùng nhỏ hơn thặng dư sản xuất.

Đây có phải là việc kinh doanh riêng của bạn hay không?

Khi bạn tham gia vào chương trình bán hàng đa cấp như vậy, bạn luôn được chỉ dẫn rằng mình đang làm một việc kinh doanh riêng. Theo tôi, đây chỉ mang nghĩa rất hẹp, chỉ là một vụ kinh doanh, chứ thực sự bạn chẳng phải chủ của doanh nghiệp. Bạn làm việc độc lập, nhưng là vì lợi ích của những ông chủ thực sự. Thù lao bạn nhận được không tính bằng lương mà bằng tỉ lệ hoa hồng bán được cũng giống như bất kì một salesman nào khác.

Nếu bạn gọi là kinh doanh riêng, hay cứ gọi bạn là một chủ doanh nghiệp nhỏ. Thì hãy xem:
Đó là một doanh nghiệp nhỏ, thì cũng như những doanh nghiệp nhỏ khác, nó đòi hỏi một khoản đầu tư lớn trước khi tiền thực sự sinh ra: tiền mua hàng, tiền mua công cụ hỗ trợ xây dựng kinh doanh, tiền xăng xe, name cards, brochures, tiền mua sách, băng đĩa để luyện kỹ năng bán hàng… Đây vẫn là một vụ kinh doanh tốt nếu so với những khoản đầu tư doanh nghiệp nhỏ, nhưng cũng có mức độ rủi ro thất bại ngang nhau.

Ngay cả khi bạn thành công, nửa số bạn bè, gia đình, và hầu hết số người mà bạn biết sẽ nghĩ rằng bạn mê muội vì hầu hết họ không hiểu rằng đó là một cơ hội kinh doanh hợp pháp. Trước khi bạn thành công, người ta xa lánh bạn, và khi bạn thành công, người ta nghĩ bạn xa lánh họ.

Robert Kiyosaki, sự thành công, và thái độ

Tôi không có ý định phê phán hay ủng hộ việc bán hàng theo mạng, nhưng tôi không thích thái độ của những người tham gia bán hàng đa cấp. Vồ vập, nói liên hồi về sự vĩ đại của công ty.

Tôi cũng là một fan hâm một tác phẩm Rich Dad Poor Dad, đó cũng là lý do tôi quan tâm đến việc đầu tư các loại tài sản (mà Kiyosaki gọi là tài sản thụ động). Kiyosaki có khuyên nên tham gia vào mô hình bán hàng theo mạng để có kinh nghiệm về thỏa thuận mặc cả, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản. Tôi có coi phỏng vấn của R. Kiyosaki trên Forbes hồi 2008 và nhận ra rằng Kiyosaki không phải là một người xuất sắc bởi ông, cũng như Donald Trump không dự tính được bong bóng nhà đất hồi 2007. Hai ông này không thật sự rành về tất cả các loại tài sản mà có thể phòng vệ (hedging). Tác phẩm của R. Kiyosaki hướng người đọc muốn phát triển thành ông chủ lớn hoặc nhà đầu tư thực thụ, trong khi việc bán hàng đa cấp cũng chỉ là bán hàng cho người khác. Tôi thích những người bán hàng có cái nhìn cân bằng, nếu việc bán hàng đem thu nhập thì tốt, nhưng đừng ảo tưởng.

Xu hướng, kết luận

Những hình thức bán hàng theo mạng được xây dựng ở Mỹ vào thời điểm rất khác hiện nay. Khi đó, các hộ gia đình có một xe hơi, và thường để vợ ở nhà mà không có phương tiện đi lại, hơn nữa tại thời điểm đó phương tiện quảng cáo không tức thời như hiện nay nên phương thức bán hàng trực tiếp là phù hợp. Mô hình đó đã trở nên lỗi thời, song vẫn còn hoạt động bởi những hấp dẫn về hoa hồng làm mạng lưới này vẫn tiếp tục phát triển.
Những năm gần đây, mạng lưới này du nhập và phát triển ở các nước mới nổi như Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc, và thu nhập của công ty mẹ chủ yếu từ những thị trường này.

Vì sao các chính sách công nghiệp thất bại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:08 pm
Tags: , ,

Nguyễn Quang A

Tư duy cũ ký khiến các chính sách công nghiệp khó có thể thành công. (Ảnh minh họa

LĐCT – Có thể nói chính sách công nghiệp điện tử, chính sách công nghiệp ôtô của Việt Nam đã hoàn toàn thất bại. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng bài này chỉ tập trung vào một nguyên nhân quan trọng (theo tôi, có lẽ là quan trọng nhất) là tư duy cũ kỹ của những người soạn thảo và thông qua chính sách công nghiệp.

Tình cờ, tôi biết khá rõ mấy vị này trong ngành điện tử và cũng quen vài người trong ngành ôtô.

Thực sự chúng ta có quá nhiều “kế hoạch tổng thể”, “đề án”, “chính sách”, “tầm nhìn đến…”, may thay đa số đã “được xếp xó” nên chỉ gây tác hại nhỏ (tốn tiền và công sức xây dựng, để lại dấu ấn trong đầu những người soạn thảo nếu họ vẫn tại vị, v.v…). Có một số chính sách công nghiệp hay kế hoạch tổng thể đã vượt qua được giai đoạn “khó khăn ban đầu” và “đã được chấp nhận” với sự hỗ trợ về thuế, vốn vay, v.v…, hay đầu tư trực tiếp của Nhà nước, song đã mang lại kết quả không như mong muốn.

Phải nói ngay rất nhiều nước cũng có các chính sách công nghiệp thất bại. Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những chính sách công nghiệp khá thành công nhưng nhiều nước đang phát triển thì không. Rất nhiều nước chẳng hề có chính sách công nghiệp thành văn.

Sự phát triển công nghiệp chủ yếu là chuyện của các doanh nghiệp, bằng chính sách của mình nhà nước có thể tạo điều kiện thêm để cho ngành nào đó đi theo hướng mà nhà nước muốn. Nói như thế, có nghĩa là vai trò của nhà nước có thể không phải là quyết định và có thể có nhiều hệ quả (cả hại hay lợi) không lường trước.

Chính sách công nghiệp hợp với thời cuộc, hợp với thị trường, hợp với lợi ích của các doanh nghiệp thì cơ hội thành công cao, còn nếu ngược lại thì chắc chắn thất bại. Đáng tiếc, các chính sách công nghiệp của ta không hoàn toàn như vậy, còn quá tham vọng, còn quá thiên về phản ánh những mong mỏi chủ quan của các nhà làm chính sách và có thể còn bị “các nhóm lợi ích” tác động mạnh.

Đã có một sự thay đổi vô cùng to lớn trong sản xuất công nghiệp thời toàn cầu hoá: sự xuất hiện các chuỗi cung ứng to lớn, phức tạp của các nhà sản xuất. Trong sản xuất lớn, hàng loạt không nhà sản xuất nào đi làm từ A tới Z cả. Để sản xuất ra một máy tính cần hàng trăm nhà cung cấp các bộ phận, để sản xuất một chiếc ôtô có khi cần hàng ngàn nhà cung cấp khác nhau.

Dẫu sản xuất một bộ phận, cũng phải lẻn được vào chuỗi cung toàn cầu và cung cấp cho thị trường toàn thế giới, hay chí ít thị trường khu vực hay thị trường trong nước nếu nó đủ lớn. Thí dụ, thị trường ôtô Việt Nam, nếu tính với gần 100 triệu người, thì có tiềm năng lớn, nhưng so với sức mua của dân chúng thì vẫn là thị trường nhỏ.

Chính vì vậy đòi hỏi “nội địa hoá” 30-40% là khó khả thi. Lẽ ra chính sách công nghiệp phải khuyến khích mạnh mẽ bất cứ ai sản xuất linh phụ kiện nào cũng được, miễn là len được vào chuỗi cung toàn cầu nào đó, thí dụ khuyến khích mạnh việc xuất khẩu. Còn các chính sách của ta lại có vẻ quá tham vọng, muốn làm từ linh kiện đến sản phẩm cuối cùng (như các chiến lược công nghiệp điện tử một thời) hay lại thiên về “thay thế nhập khẩu” (như công nghiệp ôtô) cho nên việc sản xuất chủ yếu phục vụ thị trường trong nước.

Giả như có một nhà sản xuất phụ kiện ôtô mà chỉ để phục vụ cho việc lắp ráp vài nghìn (hay vài chục nghìn) ôtô, thì hỏi liệu họ có sống nổi hay không? Ngược lại, thị trường xe máy Việt Nam lại đủ lớn để có thể yêu cầu tỉ lệ nội địa hoá cao nhưng dường như chưa có chính sách thúc đẩy việc đó. Đấy là một lý do vì sao công nghiệp phụ trợ ôtô của chúng ta ì ạch. Hãy xem Canon, Fujitsu, họ sản xuất chủ yếu cho xuất khẩu cho thị trường thế giới, hay cho bản thân chuỗi cung của họ.

Còn sản xuất ôtô ở Việt Nam có xuất được bao nhiêu? Do tư duy còn cũ, còn chưa hiểu tình hình đã thay đổi từ lâu nên hơi tham vọng, do học cách làm từ giữa thế kỷ trước của một vài nước nên chính sách công nghiệp không hợp thời, không hợp với doanh nghiệp và sự thất bại là không khó hiểu. Đáng tiếc những cảnh báo hay góp ý của các chuyên gia độc lập, thậm chí của các chuyên gia UNIDO, từ gần 20 năm trước về những điều tương tự đã không được lắng nghe.

Bộ Công thương đã trình Thủ tướng Chính phủ đề xuất dòng xe đa dụng 6-9 chỗ ngồi (dung tích động cơ nhỏ hơn 1,5l) được hưởng ưu đãi về thuế nhằm khuyến khích dòng xe này phát triển. Theo đó, thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ còn 30% (các xe khác là 45-60%). Phí trước bạ sẽ là 2%, thuế VAT 5% (xe khác là 10%)…

Theo tôi đề xuất như vậy cũng vẫn theo cách tư duy cũ và cũng rất có thể có sự tác động của “nhóm lợi ích” nào đó.

Với cách tư duy nói trên thì các chính sách công nghiệp khó có thể thành công.

Nguyễn Quang A

(Nguồn: Báo Lao Động)

Blog at WordPress.com.