Ktetaichinh’s Blog

December 26, 2009

Chuyện kể Bát Tràng


Anh Trần Đức Tâm, người con của
làng nghề Bát Tràng, tâm huyết với
nghề gốm bằng những sản phẩm mới
được khách hàng ưa chuộng.
ND – Người dân Bát Tràng và nhiều làng nghề khác đã tìm hướng đi mới chủ động khai thác hiệu quả thị trường trong nước. Việc mở rộng liên kết, quảng bá và giới thiệu sản phẩm thông qua du lịch, xây dựng thương hiệu, cải tiến mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước.
Cuối năm, con đường chính từ đầu làng nghề Bát Tràng tấp nập và rộn ràng với chừng dăm xe tải các loại đang bốc hàng. Gần khu chợ gốm sứ sát ngay bến xe buýt, từng nhóm khách nước ngoài rảo bộ ngắm các món hàng lưu niệm. Cạnh đó, lại có chừng 20 em học sinh tiểu học theo cô giáo xuống xưởng học vẽ, tự làm cho mình những con thú nhỏ vừa chơi vừa làm quà tặng dịp Nô-en…
Anh Phùng Quang Ðiện, chủ cơ sở sản xuất gốm sứ Ðiện Ðảm một trong hàng trăm cơ sở ở Bát Tràng, đang bận rộn với mẻ gốm gồm hàng chục loại mặt hàng gia dụng. Chỉ tay lô sản phẩm “phôi” còn nằm trên giàn sấy cao tầm hơn 2 m, anh Ðiện cho biết, ngày hôm sau sẽ cho chạy lò nhỏ (khoảng 2 m3) trước. Tết sắp đến, phải chuẩn bị “om” mấy loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa, hộp đựng quà… để giao khách hàng ngay. Còn chiếc lò ga lớn 4,5 m3, từ giờ đến ra xuân, khi có đơn hàng của các đối tác từ các tỉnh bạn thì sẽ đốt lò. Anh Ðiện nói.
Qua tìm hiểu, từ năm 2006 đến nay, và nhất là năm nay khi kinh tế thế giới vào giai đoạn suy thoái, lượng tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp ở Bát Tràng sụt giảm dần từng năm. Không như những năm trước năm 2000, khi làng nghề trúng dịp làm ăn, hầu hết cơ sở sản xuất như anh Ðiện có lúc chạy đua với đơn hàng từ nước ngoài vẫn không kịp. Nhà tôi bấy giờ còn đốt lò than, hàng chục thợ ngày nào cũng phải làm thêm giờ để đủ mỗi tháng 3.000 – 4.000 bộ chậu hoa, chậu cảnh “xuất” sang Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản. Nay nhìn lại thời hoàng kim qua đi, giọng kể của anh Ðiện chùng xuống, mấy năm rồi, lượng hàng xuất đi nước ngoài giảm nhiều. Sức mua giảm có lúc “vơi” già một nửa…
Tình hình nhiều doanh nghiệp gốm sứ ở làng nghề Bát Tràng cũng vậy, nhất là những loại sản phẩm gốm mỹ nghệ cao cấp. Loại mặt hàng này tiêu thụ trong nước rất ít, chủ yếu sang thị trường Anh, Tây Ban Nha, Nhật Bản, một số nước châu Âu… Theo thống kê chưa đầy đủ, làng nghề Bát Tràng hiện có hơn 500 hộ gia đình sản xuất, hơn 50 doanh nghiệp kinh doanh hàng gốm sứ dân dụng và xuất khẩu, thu hút số lao động thường xuyên và thời vụ lên tới hơn mười nghìn người/ngày. Năm 2008, do biến động về giá cả, mức tiêu thụ hàng hóa, xuất khẩu giảm… cho nên tổng doanh thu toàn xã giảm khoảng 24% so với năm trước. Chủ tịch UBND xã Ðào Xuân Hùng, cho biết: Trước đây, có năm làm ăn thành công, làng nghề xuất khẩu lượng hàng gốm sứ đạt tổng doanh thu khoảng 12 triệu USD/năm, có doanh nghiệp làm tốt đạt doanh thu tới mười tỷ đồng/năm.
Theo số liệu thống kê, những năm gần đây, làng nghề và hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) nước ta tăng trưởng vượt bậc, góp phần giải quyết việc làm cho hơn 1,4 triệu hộ gia đình với khoảng 13 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lao động tại nông thôn. Ước tính thu nhập trung bình của lao động khu vực này cao gấp từ hai đến bốn lần so với làm nông nghiệp. Cả nước đến nay có hơn một nghìn doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hoặc kinh doanh xuất khẩu hàng TCMN, góp phần tăng đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Tuy nhiên, trước tình hình khó khăn chung của cả nước đã tác động khá rõ nét đến nhiều doanh nghiệp làng nghề TCMN nói chung và các sản phẩm gốm Bát Tràng nói riêng. Trong lúc không ít cơ sở sản xuất bị thu hẹp, thậm chí bị đình trệ thì cơ sở sản xuất gốm sứ Ðức Tân tìm hướng đi riêng, hướng vào thị trường nội địa. Anh Trần Ðức Tân, chủ cơ sở này cho rằng, để một doanh nghiệp làng nghề trụ vững trước biến động thị trường, phải không ngại thay đổi cách làm cũ, chờ khách tới đặt hàng, mà cần nhanh nhạy hơn, nắm bắt xu thế thị trường để điều chỉnh quá trình sản xuất.
Thời buổi “thóc cao, gạo kém”, vậy mà xưởng sản xuất Ðức Tân vẫn luôn có từ 40 đến 50 thợ làm việc. Chuyển hướng từ làm hàng gốm TCMN xuất khẩu, nay anh Trần Ðức Tân đầu tư sang lĩnh vực thiết kế, sắp đặt gốm sứ nội thất. Anh Tân cho biết, xu hướng đô thị hóa ngày càng tăng và điều kiện cuộc sống người dân được cải thiện, nhu cầu về nghệ thuật trang trí nội thất do đó ngày càng cao. “Tôi tìm sự khác biệt qua việc sưu tập các mẫu nhà đẹp, từ đó phối cảnh, tạo mầu sắc, họa tiết, hoa văn cho sản phẩm gốm theo mùa, theo năm, phù hợp các món đồ gia dụng của gia chủ”. Anh Tân giải thích thêm.
Cũng như các làng nghề, các doanh nghiệp làng nghề Việt Nam đang trong thời kỳ khôi phục, ổn định và từng bước phát triển. Suy giảm kinh tế đẩy nhiều làng nghề như Bát Tràng vào tình thế không ít khó khăn. Qua trao đổi với các chuyên gia và người dân trực tiếp sản xuất, thực tế hiện nay, sản phẩm của nhiều cơ sở vừa và nhỏ chưa sát nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Theo Trưởng văn phòng đại diện Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh Nguyễn Lực, hàng triệu người làm việc trong các làng nghề không có cơ hội để tìm hiểu thị trường, chưa hiểu đầy đủ về yếu tố văn hóa, thị hiếu khách hàng. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới của các làng nghề và sản phẩm khó khăn hơn nhiều so với các ngành sản xuất khác.
Một điểm quan trọng khác – theo ông Nguyễn Lực, bên cạnh truyền nghề theo phương pháp cũ, người thợ cần được đào tạo chuyên nghiệp để làm ra những sản phẩm đẹp hơn, đặc sắc hơn. Cả nghệ nhân và người thợ cần có ý thức được việc tích lũy kiến thức, kỹ năng truyền thống với đổi mới công nghệ, kỹ thuật sáng tạo hiện đại, rồi tổ chức và quản lý hiệu quả doanh nghiệp, kỹ thuật tiếp thị, nghiên cứu thị trường… Nhiều người cho rằng, xu hướng tiêu dùng hàng TCMN, trong đó mặt hàng gốm sứ cao cấp, và cả một số loại sản phẩm gia dụng gốm sứ, khách hàng thường thích tìm kiếm sản phẩm có nét mới. Hơn ai hết, những người dân làng nghề Bát Tràng từ năm ngoái đã chú trọng yếu tố sáng tạo trong sản phẩm, từ mẫu mã, phong cách, mầu sắc, nguyên liệu làm cho mỗi sản phẩm gốm sứ hợp thời trang, có tính sử dụng, đẹp và bền.
Ý tưởng đưa làng nghề Bát Tràng vào khai thác du lịch đã được khởi động từ nhiều năm qua. Nhiều doanh nghiệp lữ hành đã mở các tour du lịch đến các làng nghề. Du khách trong nước, những năm gần đây, đã bắt đầu tham gia vào các tour chiêm ngưỡng vẻ đẹp thú vị của thiên nhiên, thắng cảnh, thăm thú các làng nghề. Ðây hẳn là cơ hội để phát huy các nguồn tài nguyên sinh thái đa dạng, phong phú của các giá trị di sản văn hóa làng cổ Việt, mà Bát Tràng là một trong những điểm đến tiêu biểu.
Trên con đường đê dọc bờ sông Hồng mùa nước cạn, xe tải chạy ngược xuôi thổi bụi mù hối hả phục vụ hàng chục hạng mục công trình dân sinh lớn. Xa xa sừng sững hai cây cầu mới Thanh Trì và Vĩnh Tuy vượt sông Hồng nhộn nhịp các loại xe đan nhau chạy như mắc cửi. Trong dòng xe ấy, có những chiếc vừa “no hàng” xuất bến từ làng nghề Bát Tràng bên sông, kịp mang những món quà thấm đẫm hồn quê đi khắp mọi miền. Cái Tết đang cận kề…
Làng nghề sau cơn suy thoái: Trường hợp Bát Tràng
“Từ sáng đến trưa mới được một chuyến, mà độc có hai khách người Nhật. Làm ăn dạo này khó khăn quá chú ạ”, bác đánh xe trâu du lịch Bát Tràng tợp chén trà còn nghi ngút khói, sau cái lắc đầu ngao ngán.

Khủng hoảng kinh tế ngỡ ở bên kia bán cầu, giờ cũng len lỏi vào đời sống những người dân bình dị chốn làng quê ven đô này. Đi đến bờ đê nhìn xuống đoạn rẽ vào xã, trước kia đoạn phố này tấp nập người mua kẻ bán là thế, nay vắng hoe vắng hoắt. Chợ Bát Tràng giờ người bán nhiều hơn kẻ mua.

Không có chỗ lùi

Những năm 2006-2007, Bát Tràng như đang ở “thế rồng bay”. Tính riêng xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ, cả xã kiếm về hơn 13 triệu USD một năm. Đó là chưa kể gốm sứ xây dựng và gia dụng bán trong nước, được cánh bán buôn xe tải đường dài, xe thồ đường ngắn đưa đến khắp các nẻo gần xa.

“Trước đây, lúc nào cũng thấy có nhà đóng container hàng xuất khẩu. Giờ vẫn còn, nhưng thưa lắm”, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Bát Tràng Đào Xuân Hùng nhìn ra phía khoảng sân trước mặt, trời hôm nay chuyển gió mưa sụt sùi từ sáng sớm.

Năm 2008, xuất khẩu bỗng dưng “đứng khựng”, nhiều doanh nghiệp chết dở với lượng hàng tồn quá lớn, không còn đủ lực để lo tiếp việc cho công nhân. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của cả xã chỉ còn một nửa năm trước, chừng 5-6 triệu USD. Năm vừa rồi, thấy nhiều nhà bảo còn buôn bán kém hơn, lãnh đạo xã cũng chỉ biết có vậy.

Kinh doanh đã ế ẩm, chi phí lại tăng hơn tạo thêm gánh nặng cho các chủ kinh doanh Bát Tràng. Lương công nhân không tăng không được vì đời sống ngày càng đắt đỏ hơn. Riêng chuyện giá gas lên, mỗi đợt vào lò cũng mất đứt chừng 10 triệu đồng.

“Chi phí cao thế nhưng mỗi lò có khi tiền hàng chỉ thu về được hơn chục triệu đồng. Tất nhiên cũng tùy loại hàng, nhưng nói chung chi phí lớn hơn lợi nhuận nhiều”, chị phụ trách cửa hàng Thủy Toan (Công ty Xuân Thủy) tiếp chuyện người viết, vừa tranh thủ lau dọn mấy kệ hàng chén bát đầy ăm ắp.

Khó khăn kéo dài quá, đã có nhiều gia đình tính chuyện phải ngừng lò, chuyển sang làm dịch vụ, hoặc đi làm thuê. Cả xã đều thoát ly sản xuất nông nghiệp từ lâu vì không còn đất. Hơn 800 hộ lâu nay vẫn chỉ sản xuất kinh doanh độc nhất nghề gốm sứ, sống với nghề gia truyền, nên chuyện ngừng lò, bỏ nghề không phải dễ.

“Nhiều nhà không dám bỏ nghề vì biết làm gì khác mà sống. Nơi khác làm nghề phụ thì còn có chút ít đất sản xuất nông nghiệp mà trông vào khi hàng chậm, dân Bát Tràng thì không có chỗ mà lùi bước”, Chủ tịch Hùng nói.

Tiền khó vào nhà khó

Tiếng là xã ốc đảo ngoài đê sông Hồng, nhưng Bát Tràng cũng hút về đến vài chi nhánh ngân hàng thương mại bám rễ ở đây. Điểm mặt sơ qua có Techcombank, Ocean Bank…, không biết đặt chi nhánh từ khi nào nhưng ATM cũng có ở vài nơi trong xã. Ngân hàng ở sát nách, chuyện vay vốn kinh doanh tưởng thế sẽ dễ, ai ngờ không phải vậy.

Chính sách kích cầu đến với Bát Tràng đúng lúc các doanh nghiệp ở vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Nhiều lò gốm đứng ngồi đều trông vào đấy, để trả lương công nhân, giữ chân họa sỹ… Thế nhưng, qua vài lần tiếp xúc với các ngân hàng, nhiều chủ doanh nghiệp đành tiếc rẻ quay lưng.

“Khó khăn nhất là việc hợp thức hóa giấy tờ cho đúng quy định thủ tục. Mua bán nhà nọ với nhà kia trước nay vẫn thế, cơ sở nhỏ làm gì có giấy tờ gì…”, Giám đốc doanh nghiệp gốm sứ Minh Hải, ông Nguyễn Minh Hải bức xúc nói.

Cho nên, hơn 800 hộ gia đình sản xuất kinh doanh thì chỉ có chưa đầy 100 hộ tiếp cận được vốn vay kích cầu. Số dư tổng cộng cũng tròm trèm khoảng 10 tỷ đồng, không đáng kể gì so với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và hộ sản xuất. Nhiều lò đã phải bán tài sản, vay mượn để duy trì việc kinh doanh.

“Chuyện doanh nghiệp khó khăn về vốn, lãnh đạo xã biết thế nhưng cũng chịu. Đành rằng là có chính sách hỗ trợ, nhưng đến ngân hàng thì họ vẫn bắt phải có thế chấp, vẫn phải trình đủ phương án kinh doanh đảm bảo hiệu quả, đầy đủ thủ tục theo yêu cầu… Xã muốn tác động gì cũng khó”, ông Hùng phân trần.

Tự cứu

“Không đi đến chỗ phá sản hàng loạt là do doanh nghiệp họ tự vận động là chính”, Chủ tịch Hùng thẳng thắn thừa nhận.

Trong khi xuất khẩu giảm sút, việc tiêu thụ nội địa như là một cứu cánh duy nhất. Các lò gốm Bát Tràng, nhiều nơi chuyển mặt hàng đa dạng hơn để phục vụ dân nông thôn, cạnh tranh sát ván với hàng Trung Quốc về giá và chất lượng.

Thay vì sản xuất những chiếc chén chất lượng cao với giá 18-20 nghìn đồng/chiếc, nhiều hộ chuyển sang làm sản phẩm cùng loại nhưng giá chỉ còn 3-5 nghìn đồng/chiếc. Mẫu mà cũng thay đổi linh hoạt theo nhu cầu rẻ, đẹp, bền của người dân nông thôn.

Công đoạn phối trộn nguyên liệu, gần đây đẩy mạnh mô hình công nghiệp tập trung, sau đó bán lại cho các hộ tạo hình, trang trí và hoàn thiện các công đoạn cuối. Năm ngoái đến nay, không những trộn máy, các cơ sở này còn làm thêm công đoạn khử từ để tách sắt ra khỏi nguyên liệu.

“Trước đây thì không khử từ, nên khi nung men bị nổ vàng chứ không trắng được thế này”, Chủ tịch Hùng vừa nói vừa xoay chiếc chén mầu men trắng bóng, chẳng khác hàng cao cấp của một số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp lớn ở phía Nam.

Hàng chục, hàng trăm năm trông vào “vốn” cổ truyền, trước đây phần lớn các lò gốm Bát Tràng chỉ chờ người đến lấy hàng. Nhưng cho đến năm vừa rồi, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc đi tìm khách và đáp ứng yêu cầu của khách hàng. “Ngoài sản xuất thì giờ đây anh phải kiêm luôn cả phát triển kênh phân phối đi khắp các tỉnh”, ông Hùng nói. “Cho nên, lượng bán hàng trong nước của Bát Tràng năm vừa rồi, đâm ra, lại phát triển mạnh hơn”.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: