Ktetaichinh’s Blog

December 26, 2009

bảo hiểm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:58 pm
Tags: ,

Tiềm năng lớn cho hoạt động môi giới bảo hiểm
26/12/2009 11:04:16

Bà Vũ My Lan.

(ĐTCK-online) Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tổng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm (MGBH) ước cả năm 2009 đạt khoảng 1.581 tỷ đồng. Là một bộ phận cấu thành nên thị trường bảo hiểm, song doanh thu phí bảo hiểm qua các tổ chức này chưa thực sự xứng với tiềm năng. ĐTCK đã phỏng vấn bà Vũ My Lan, Tổng giám đốc Công ty MGBH Aon Việt Nam xung quanh cơ chế và tiềm năng của hoạt động này tại Việt Nam.

MGBH chiếm vị trí như thế nào trên thị trường Việt Nam, thưa bà?

Hoạt động MGBH tại Việt Nam trong thời gian gần đây đã có những bước phát triển khả quan. Vai trò của MGBH đã ngày càng được đánh giá cao, thể hiện ở tổng doanh thu phí bảo hiểm được thu xếp qua các công ty MGBH năm 2008 đạt 1.856 tỷ đồng, chiếm khoảng 17% tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường, trong khi tỷ lệ này là 12% trong năm 2007.

Trên thế giới, MGBH là kênh phân phối bảo hiểm chủ đạo, chiếm tới 80 –  90% ở Anh, Mỹ, Canada và Australia. Ngay ở các nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan cũng chiếm tới 30%. Do đó, có thể thấy rằng, tỷ lệ dịch vụ bảo hiểm được thu xếp qua môi giới ở Việt Nam còn quá khiêm tốn và chưa xứng với tiềm năng của thị trường trong giai đoạn nền kinh tế của nước ta đang trên đường phát triển mạnh.

Nói đến môi giới, người ta thường hình dung đến một bước trung gian và làm tăng chi phí. MGBH có là ngoại lệ, thưa bà?

Có thể nói, DN được hưởng rất nhiều lợi ích khi sử dụng dịch vụ của nhà MGBH. Là những chuyên gia bảo hiểm, nhà môi giới có thể tư vấn, thiết kế cho khách hàng của mình chương trình bảo hiểm phù hợp nhất với rủi ro mà DN phải đối mặt. Tiếp theo, để giúp cho DN lựa chọn được công ty bảo hiểm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của họ, nhà MGBH thay mặt DN đàm phán với toàn bộ thị trường bảo hiểm – nói cách khác là nhà MGBH mang cả thị trường bảo hiểm đến với DN.

Khi đã lựa chọn được công ty bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết, một điểm rất quan trọng là DN sẽ được một tổ chức chuyên nghiệp quản lý toàn bộ chương trình bảo hiểm của mình trong suốt quá trình bảo hiểm có hiệu lực, đặc biệt là có được dịch vụ hỗ trợ khiếu nại đòi bồi thường bất cứ khi nào có tổn thất xảy ra. DN được hưởng tất  cả những lợi ích này mà không phải tốn thêm chi phí nào. Tại sao vậy? Đó là khi có sự tham gia của nhà MGBH vào quá trình dịch vụ khách hàng, công việc của công ty bảo hiểm được khách hàng lựa chọn sẽ giảm đáng kể, do rất nhiều phần việc được thực hiện bởi nhà môi giới. Công ty bảo hiểm sẽ trích một tỷ lệ nhất định từ phí bảo hiểm (tỷ lệ này được Luật Bảo hiểm quy định) để trả cho nhà môi giới. Do vậy, khi sử dụng dịch vụ của nhà MGBH, chi phí của khách hàng không tăng lên. Không những thế, DN còn được hưởng một mức phí rất cạnh tranh so với mua bảo hiểm trực tiếp, nhờ  hiệu quả của sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm do môi giới tạo nên.

Vậy những thách thức đối với hoạt động MGBH trên thị trường Việt Nam là gì?

Như tôi vừa nói ở trên, khi sử dụng dịch vụ của nhà môi giới, DN sẽ được hưởng rất nhiều lợi ích mà không phải tốn thêm chi phí. Mặc dù vậy, trong khi các DN có vốn đầu tư nước ngoài hầu như đều sử dụng dịch vụ MGBH, thì số lượng này ở các DN Việt Nam vẫn còn tương đối hạn chế. Lý do là vì khái niệm về MGBH đối với DN Việt Nam còn khá mới mẻ, thậm chí còn có sự đánh đồng MGBH với môi giới thương mại thông thường. Đây là thách thức thứ nhất mà MGBH phải đối mặt. Thách thức thứ hai là việc tồn tại một cơ chế hoa hồng giữa DN bảo hiểm và khách hàng, điều mà các DN MGBH nước ngoài như Aon không làm được.

Tuy nhiên, tôi tin rằng, cùng với thời gian những vấn đề trên sẽ được tháo gỡ. Hiện nay, nhận thấy lợi ích của việc sử dụng dịch vụ MGBH nên số DN tư nhân, công ty cổ phần sử dụng dịch vụ môi giới ngày càng nhiều.

Aon là một trong những công ty MGBH đầu tiên hoạt động tại Việt Nam. Xin bà cho biết một số kết quả hoạt động của Công ty năm 2009?

Trong suốt 15 năm hoạt động ở Việt Nam, Aon luôn là công ty MGBH lớn nhất trên thị trường. Năm 2009, dù hoạt động trong bối cảnh nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi suy thoái toàn cầu, song vẫn là 1 năm thành công của Aon ở Việt Nam. Tính đến thời điểm này, Aon đã vượt kế hoạch năm khoảng 12% và tăng trưởng hơn 30% so với cả năm 2008. Những sản phẩm mà Aon môi giới thành công nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam là bảo hiểm tai nạn và sức khỏe, với các gói sản phẩm Aon Premier Care và Aon Care, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, hàng không. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ triển khai mạnh gói sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Vai trò của Hiệp hội Bảo hiểm với sự lớn mạnh của thị trường bảo hiểm Việt Nam

Ngày 25/12/1999, Đại hội thành lập Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam được tiến hành. Sau 10 năm, thị trường không chỉ tăng về số lượng DN thành lập, các sản phẩm bảo hiểm được triển khai mà đặc biệt, số người dân, DN tham gia bảo hiểm ngày càng đông. Điều đó cho thấy, bảo hiểm đóng vai trò trong cuộc sống người dân.

Tăng trưởng về chất

Vào năm 1999, thị trường bảo hiểm mới có 10 DN bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) và 2 DN bảo hiểm nhân thọ (BTNT). Đến nay đã có 27 BHPNT (11 DN có vốn nước ngoài), 11 BHNT (10 DN có vốn nước ngoài). Mạng lưới hoạt động được mở rộng với gần 500 chi nhánh, công ty thành viên của DN bảo hiểm, hơn 2.000 phòng giao dịch phủ khắp các quận, huyện, vùng sâu, vùng xa trên cả nước. Không có một cơ sở sản xuất, kinh tế xã hội nào là không được DN bảo hiểm tiếp cận, tuyên truyền giới thiệu sản phẩm và động viên tham gia bảo hiểm. Cùng với sự ra đời của DN là các sản phẩm bảo hiểm được triển khai. Năm 1999 mới có 200 sản phẩm bảo hiểm, đến nay đã có gần 700 sản phẩm BHPNT (trong đó có 3 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc), hơn 100 sản phẩm BHNT.

Nhìn về tăng trưởng doanh thu, năm 1999 doanh thu mới đạt 1.700 tỷ đồng. Đến năm 2008, doanh thu BHPNT đạt 10.879 tỷ đồng (tăng trưởng 30%), BHNT đạt 10.399 tỷ đồng (tăng trưởng 12%). Năm 2009, mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng doanh thu BHPNT vẫn tăng trưởng ước 20% (13.100 tỷ đồng), BHNT tăng trưởng ước 12% (11.700 tỷ đồng). Đặc biệt, BHPNT đã hoàn thành chỉ tiêu phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010 là 9.000 tỷ đồng ngay từ năm 2008. Năm 1999, toàn ngành bảo hiểm có vốn chủ sở hữu 979 tỷ đồng, dự phòng nghiệp vụ 2.019 tỷ đồng. Đến năm 2008, vốn chủ sở hữu lên tới 17.850 tỷ đồng, dự phòng nghiệp vụ 40.430 tỷ đồng, đầu tư vào phát triển nền kinh tế quốc dân 57.000 tỷ đồng. Đặc biệt, nhiều DN bảo hiểm có vốn trên 1.000 tỷ đồng đến trên 2.000 tỷ đồng như: Bảo hiểm Bảo Việt, Bảo Việt Nhân thọ, Bảo Minh, PVI, Vinare, Prudential, Manulife. Năng lực tài chính tạo điều kiện cho các DN bảo hiểm tăng mức giữ lại, ít phải tái bảo hiểm, đồng thời, tạo điều kiện để các DN bảo hiểm đi sâu thêm vào các dịch vụ tài chính như: thành lập CTCK, công ty tài chính, công ty quản lý quỹ…, thậm chí thành lập ngân hàng.

Ngành bảo hiểm thực sự trở thành tấm lá chắn kinh tế cho nền kinh tế – xã hội, mỗi năm bồi thường 55% doanh thu phí bảo hiểm cho các cơ sở kinh tế – xã hội và người dân tham gia bảo hiểm gặp rủi ro thiên tai, tai nạn, góp phần ổn định ngân sách nhà nước. Ngành bảo hiểm đã góp phần đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cho các DN đầu tư nước ngoài, các dự án được tài trợ của nước ngoài, góp phần thu hút vốn FDI và ODA. Ngoài ra, ngành bảo hiểm tạo ra nguồn vốn trung và dài hạn 69.000 tỷ đồng, đầu tư phát triển đất nước, tạo ra công ăn việc làm cho 15.000 cán bộ bảo hiểm và gần 150.000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp.

Vai trò Hiệp hội ngày một nâng cao

Thị trường bảo hiểm phát triển như hiện nay, ngoài chủ trương và sự chỉ đạo sát sao kịp thời của Chính phủ, Bộ Tài chính còn có sự đóng góp không nhỏ của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (HHBH). Hiệp hội đã tích cực đóng góp ý kiến phản biện các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tạo môi trường pháp lý phù hợp cho kinh doanh bảo hiểm. Bên cạnh đó, HHBH đã kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước giải quyết một số sự việc cho thị trường bảo hiểm Việt Nam như: không thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập DN đối với đại lý bảo hiểm (năm 2003), không thu thuế giá trị gia tăng đối với tái bảo hiểm, bảo hiểm vận tải quốc tế, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm vào khu chế xuất (năm 2004), ban hành Thông tư hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm (năm 2005), ban hành Thông tư hướng dẫn thuế thu nhập cá nhân đối với đại lý bảo hiểm (2009). Hiệp hội đang kiến nghị với các cơ quan chức năng giải quyết một số vướng mắc trong cơ chế chính sách thủ tục: thuế nhà thầu với tái bảo hiểm ra nước ngoài, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bất cập giữa Luật Cạnh tranh và Luật Kinh doanh bảo hiểm, bất cập giữa thời gian cấp phép hoạt động DN bảo hiểm với thời hạn của hợp đồng bảo hiểm…

Bên cạnh đó, Hiệp hội đã tổ chức nhiều đợt khảo sát thực tế, hội thảo nhằm xây dựng chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự người vận tải hành khách, hàng hoá dễ cháy, dễ nổ thuỷ nội địa. Đóng góp ý kiến phản biện để xây dựng quy tắc điều khoản biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.

Nhận thấy được lợi ích khi tham gia Hiệp hội, 100% DN bảo hiểm có mặt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đều gia nhập thành viên HHBH và là hội viên Hiệp hội. Đến nay đã có 27 DN BHPNT, 11 DN BHNT, 1 DN tái bảo hiểm là hội viên chính thức.

Advertisements

Quảng cáo sốc: thu hút hay đuổi khách?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:49 pm
Tags: , ,

SGTT – Tuần lễ bán dưới giá vốn, đúng như tên gọi chương trình quảng cáo của siêu thị điện máy Chợ Lớn kết thúc vào ngày cuối năm 2009. Ngay trong ngày đầu thực hiện chương trình, lượng khách đến với siêu thị điện máy này khá đông. Tuỳ theo mặt hàng, mà mức giảm giá dao động từ 22% tới 30%, có mặt hàng giảm tới 50%.

Theo thông tin quảng cáo của đơn vị tổ chức, sự kiện gây xôn xao này được tài trợ đồng loạt bởi tất cả các tập đoàn điện tử. Đại diện của siêu thị điện máy nội thất Chợ Lớn cho biết, việc đặt tên “bán dưới giá vốn” là một thủ thuật chiêu thị, nhằm tạo ấn tượng để thu hút khách tới mua sắm. Vị này cũng cho biết thêm, trong các món hàng, có món bán dưới giá nhập về và khoản lỗ này được các hãng sản xuất tài trợ.

Đành rằng, trong kinh doanh, có lúc doanh nghiệp phải chịu lỗ, bán thanh lý hàng tồn để thu hồi tiền. Tuy nhiên, kiểu bán này phải qua thủ tục thanh lý và tốt nhất là doanh nghiệp phải minh thị với người mua. Nếu không, thì việc bán hàng dưới giá vốn mặc nhiên vi phạm luật cạnh tranh. Trong trường hợp đó, các doanh nghiệp bán lẻ khác có thể kiện doanh nghiệp bán dưới giá vốn ra toà vì có hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Nếu như phải đáo tụng đình mà bên quảng cáo bán dưới giá vốn chứng minh được mình không vi phạm luật cạnh tranh, thì họ cũng đối mặt với tội danh khác: quảng cáo nói quá sự thật. Dù khả năng người tiêu dùng đi kiện đơn vị đưa ra chương trình khuyến mãi như vậy ít xảy ra trong thực tế đời sống của Việt Nam, hay cơ quan quản lý không phát hiện ra, thì doanh nghiệp cũng không nên làm ăn theo kiểu trông đợi nhiều vào vận may trong thời gian tới.

Mười một năm với 10 triệu khách hàng đến với mua sắm là một tài sản quý, nếu không nói là vô giá, với siêu thị điện máy nội thất Chợ Lớn. Vì thế càng không nên để mất đi niềm tin của 10 triệu khách hàng đó với vài chục mặt hàng giảm giá và một cách đặt tên gây sốc. Chính vì vậy mà khi trao đổi lại, phía siêu thị cam kết sẽ thay đổi cách đặt tên chương trình sao cho vừa bán được hàng vừa đúng luật. Nếu việc thay đổi được tiến hành ngay và có thông báo rõ ràng, cũng như biết cách làm bật ý nghĩa của sự thay đổi, thì việc đó cũng là một cơ hội để doanh nghiệp này tán dương thương hiệu của mình như một nhà kinh doanh có tinh thần thượng tôn pháp luật và biết tôn trọng khách hàng.

Bất động sản “nâng đỡ” FDI năm 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:45 pm
Tags:

Số liệu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2009 vừa được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố.

Theo kết quả tổng hợp số liệu từ báo cáo của các địa phương gửi về tính đến 15/12, trong năm 2009, Việt Nam đã thu hút được 1.504 dự án FDI cả cấp mới và tăng vốn, đạt 21,482 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008.

Tăng vốn “cầm cự”, giải ngân giảm 13%

Nhìn trên các số liệu thống kê, kết quả thu hút FDI năm 2009 chứng kiến sự giảm mạnh về vốn đăng ký cấp mới, tới 70%. Nhưng, lượng vốn tăng thêm từ các dự án FDI đầu tư giai đoạn trước giảm không nhiều, chỉ 13%.

Cụ thể, trong năm 2009 Việt Nam đã thu hút được 839 dự án FDI đăng ký mới với tổng vốn đầu tư đạt 16,345 tỷ USD, bằng 24,6% so với cùng kỳ năm 2008. Cùng trong năm này, đã có 215 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm đạt 5,137 tỷ USD, bằng 98,3% so với con số tương ứng của năm ngoái.

Việc các dự án FDI mở rộng đầu tư cho thấy góc nhìn tích cực của nhà đầu tư nước ngoài đối với triển vọng đầu tư tại Việt Nam.

Thực tế, trong năm qua xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu khí) vẫn đạt 29,9 tỷ USD, bằng 86,6 % so với năm 2008 và chiếm 52,7 % tổng xuất khẩu cả nước. Kim ngạch xuất khẩu khối doanh nghiệp này giảm có nguyên nhân chủ yếu do xuất khẩu dầu thô không được giá.

Nếu không tính dầu thô, khu vực doanh nghiệp này xuất khẩu 23,6 tỷ USD, chiếm 41,7 % tổng xuất khẩu và bằng 98 % so với năm 2008.

Nhập khẩu của khu vực FDI năm 2009 chỉ đạt 24,8 tỷ USD, bằng 89,2 % so với năm 2008 và chiếm 36,1% tổng nhập khẩu cả nước, tương đương xuất siêu 5,03 tỷ USD. Nếu không kể dầu thô, khối này nhập siêu khoảng 1,2 tỷ USD.

Thêm thông tin tích cực từ phía các doanh nghiệp FDI, Cục Đầu tư nước ngoài cũng đưa con số ước tính, lượng vốn FDI giải ngân trong năm vừa qua đạt khoảng 10 tỷ USD, bằng 87% so với cùng kỳ năm ngoái (năm 2008 giải ngân đạt khoảng 11,5 tỷ USD).

Thêm nhiều dự án bất động sản tỷ đô

Trong ba lĩnh vực dẫn đầu về thu hút vốn FDI, dịch vụ lưu trú và ăn uống vẫn là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 32 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD.

Bám rất sát và ấn tượng với nhiều dự án tỷ đô, kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm.

Đặc biệt, có một số dự án quy mô lớn được cấp phép trong năm 2009 như Khu du lịch sinh thái bãi biển Rồng (Quảng Nam), dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya (Đồng Nai); dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD…

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm 2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn tăng thêm.

Năm qua, đã có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD; Cayman Islands đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD; đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD; Hàn Quốc đứng thứ 4 với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký…

Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn FDI lớn nhất trong năm 2009, với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

TP. Hồ Chí Minh sắp xếp, đổi mới 104 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:44 pm
Tags: , ,
18:08 | 26/12/2009
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 2173/QĐ-TTg, giao Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện việc sắp xếp, đổi mới 104 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trên địa bàn thành phố.Trong danh mục các công ty nhà nước độc lập thuộc các Sở, ngành, có 16 công ty chuyển thành công ty TNHH một thành viên như: Công ty 27/7, Công ty Dịch vụ xuất khẩu lao động và Chuyên gia (Suleco); Công ty Quản lý khai thác và Dịch vụ thủy lợi; Công ty Xổ số kiến thiết… Ngoài ra, sẽ tiến hành cổ phần hóa Công ty Chế biến thực phẩm Hùng Vương và chuyển Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Dịch vụ khoa học kỹ thuật thành đơn vị sự nghiệp.

Danh sách các công ty nhà nước độc lập thuộc các quận, huyện, bao gồm 22 công ty công trình công cộng, dịch vụ công ích tại 22 quận, huyện chuyển thành công ty TNHH một thành viên, gồm: Công ty Công trình công cộng Quận 1; Công ty Quản lý và Phát triển nhà Quận 2; Công ty Dịch vụ công ích Quận 3, Quận 4… Bên cạnh đó, sáp nhập Công ty Quản lý nhà Quận 1 và Công ty Quản lý và Phát triển nhà Quận 5. Tại 15 tổng công ty (Tổng công ty Văn hóa Sài Gòn, Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn, Tổng công ty Bến Thành, Tổng công ty Liksin, Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn, Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Xây dựng Sài Gòn, Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn, Công ty Phát triển công nghiệp Tấn Thuận, Công ty Dệt may Gia Định, Công ty Cholimex và Công ty Dược thành phố), từ nay đến năm 2010 sẽ cổ phần hóa 4 Công ty thành viên, 19 Công ty thành viên được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên, 15 Công ty khác được giữ nguyên là Công ty TNHH một thành viên, 4 Công ty được sáp nhập và tiến hành bán 4 Công ty. Ngoài ra, sẽ có 16 công ty mẹ của các tổng công ty và công ty hoạt động theo hình thức Công ty mẹ – Công ty con chuyển thành Công ty TNHH một thành viên, bao gồm: Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Bến Thành, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, Tổng công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC)… ./.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, đến ngày 1-7-2010 là thời hạn cuối cùng để các doanh nghiệp (DN) nhà nước sắp xếp lại, chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, hoặc cổ phần.Cho đến nay, sau nhiều năm cổ phần hóa (CPH) mới có hơn 3.800 công ty nhà nước và bộ phận của công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần, 300 công ty TNHH một thành viên nhà nước. Như vậy, thời gian còn lại để thực hiện không còn nhiều, trong khi còn khoảng 1.500 DN nhà nước phải sắp xếp, đây là một thử thách không dễ vượt qua.

Nhiều bất cập trong quá trình CPH

Theo Bộ Tài chính, có nhiều nguyên nhân dẫn đến các DN chậm CPH. Nào là tồn tại về tài chính, do kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất vốn nhà nước, nợ xấu ngân hàng, nhiều tài sản tồn đọng không xử lý… đã làm nhiều DN nhà nước không CPH được. Nhiều DN đã “ép” CPH do đánh giá tăng giá trị tài sản, chất lượng hoạt động, nên sau CPH tình hình sản xuất, kinh doanh không cải thiện. Thậm chí, không ít DN không thể quyết toán để bàn giao tài chính sang công ty cổ phần. Việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài còn hạn chế, nên vốn nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong vốn điều lệ các DN CPH (52%). Đã vậy, một tỷ lệ lớn DN sau CPH, ban quản lý, điều hành là những người quản lý của DN Nhà nước cũ, nên không đổi mới trong quản trị DN… Ngoài ra, một số quy định pháp luật về CPH chưa thật sát với thực tế, hoặc chậm hướng dẫn thi hành. Về các nội dung tính đủ giá trị đất, nhất là việc tính giá đất thuê vào giá trị DN, xác định lợi thế về địa lý, giá trị thương hiệu, lựa chọn cổ đông chiến lược, minh bạch các thông tin về CPH… làm chưa chuẩn nên đã kéo dài thời gian CPH, hoặc bị lợi dụng trong khi thực hiện.

Bên cạnh đó, các quy định, khung pháp lý về CPH lại thay đổi liên tục khiến DN khó cập nhật. Chẳng hạn, từ năm 2002 đến nay quy định pháp luật về CPH được thay đổi 3 lần (Nghị định (NĐ) 64/2002/CP, NĐ 187/2004/CP và NĐ 109/2007/CP) và các thông tư hướng dẫn thường ban hành chậm, nên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch CPH DN nhà nước…

Đẩy nhanh tiến độ, nhưng phải bảo đảm chất lượng

Để DN hoạt động hiệu quả sau CPH, Nhà nước chỉ giữ 100% vốn tại các loại DN như DN quốc phòng, an ninh; DN công ích quan trọng; công ty mẹ của một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty hoạt động một trong những ngành, nghề liên quan đến an ninh quốc gia về kinh tế, quản lý, khai thác nguồn tài nguyên và khoáng sản quan trọng… Ngoài ra, Nhà nước cũng cần đổi mới chính sách đầu tư tạo lập tài sản và quyền sở hữu, quản lý tài sản phục vụ mục tiêu cung ứng sản phẩm và dịch vụ công ích theo hướng Nhà nước có trách nhiệm đầu tư tạo lập những tài sản cần đầu tư lớn, mà các DN không có khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu tư (hệ thống đập hồ, kênh mương thủy lợi liên vùng, hệ thống cấp thoát nước đô thị lớn, thông tin tín hiệu hàng hải…) để giao hoặc tổ chức đấu thầu cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích.

Được biết, địa vị pháp lý của các công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối chưa nhất quán. Khi cần kiểm soát, các cơ quan quản lý coi họ là DN nhà nước, khi xét hưởng ưu đãi của nhà nước (nếu có) họ lại bị coi là công ty cổ phần. Vì thế, nên thay đổi nhận thức không còn tồn tại DN nhà nước nữa, mà chỉ còn DN hoạt động theo Luật DN. Các cơ quan quản lý nhà nước nên hạn chế việc can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính vào quá trình quản trị điều hành của DN. Thay vào đó, nên ban hành các quy định về người đại diện sở hữu vốn nhà nước và thực hiện quyền của Nhà nước với DN như một cổ đông bình đẳng với các cổ đông khác.

Một số chuyên gia cho rằng, trong thời điểm hiện nay nếu CPH vội vàng có thể dẫn đến tình trạng “thôn tính” tài sản nhà nước. Vì thế, mục tiêu CPH nên được nhìn nhận một cách tổng thể và dài hạn hơn. CPH là việc cần phải làm để tái cơ cấu DN nhà nước nhằm đặt mục tiêu tăng hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, nhưng không CPH bằng mọi giá. Vấn đề hiện nay là đẩy nhanh tiến độ CPH các DN nhà nước, song phải bảo đảm chất lượng khi thực hiện CPH các DN này.

Bảo hiểm bỏ rơi “thượng đế”: Phải bình đẳng thương lượng hợp đồng!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:42 pm
Tags: ,

<!–NGay gio Modified

–>

15/10/2009 0:32

Nhân viên BH đang tư vấn hợp đồng BH cho khách hàng – ảnh: Minh Nam

Xung quanh những bức xúc của người mua bảo hiểm (BH) bắt buộc đối với xe như quy định “ép” người mua BH, không cho thỏa thuận lại các điều khoản trong hợp đồng… nhiều ý kiến cho rằng đó hoàn toàn do chủ quan của công ty BH.

Mời nghe đọc bài

Luật sư Phạm Đình Sơn, Đoàn luật sư TP.HCM, nói: “Về nguyên tắc, hợp đồng BH là một giao dịch dân sự. Do đó, các bên trong hợp đồng đều có quyền thương lượng tất cả các điều khoản trước khi ký kết. Đối với hợp đồng BH, đòi hỏi người tham gia thương lượng phải có kinh nghiệm chuyên sâu về lĩnh vực BH mới có thể tiến hành thương lượng đạt kết quả tốt nhất. Riêng hợp đồng BH nhân thọ, về nguyên tắc, phải đăng ký với Bộ Tài chính. Tuy nhiên, trong hợp đồng có những điều khoản bắt buộc và những điều khoản tùy nghi. Người mua BH hoàn toàn có thể thỏa thuận lại những điều khoản tùy nghi cũng như quy định những ràng buộc về trách nhiệm của doanh nghiệp bán BH”.

Cũng theo luật sư Sơn, người mua BH có thể thỏa thuận cả những chế tài để buộc doanh nghiệp bán BH có trách nhiệm hơn, ví dụ như nhận được thông báo nhưng đến xác nhận tai nạn chậm, thời hạn sửa chữa xe kéo dài… “Nếu không thể thỏa thuận lại hợp đồng thì người mua BH có thể chọn một doanh nghiệp khác vì thị trường hiện có rất nhiều nhà cung cấp BH. Còn khi hợp đồng đã ký rồi thì khó có thể làm khác được”, luật sư Sơn khuyến cáo.

Luật sư Nguyễn Thanh Lương (Công ty luật hợp danh Liên Đoàn) phân tích thêm, nếu công ty BH có hành vi quảng cáo sai sự thật, bồi thường cho khách hàng chậm… thì sẽ bị xử phạt theo Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 5.5.2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh BH. Cụ thể, phạt 30 triệu đồng nếu doanh nghiệp BH giải quyết bồi thường cho khách hàng chậm so với thời hạn quy định của pháp luật. Phạt tiền 50 triệu đồng đối với doanh nghiệp BH có hành vi thông tin, quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động, điều kiện BH…

Như vậy, “thượng đế bị bỏ rơi” có quyền khiếu nại, tố cáo đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chánh thanh tra chuyên ngành BH thuộc Cục Quản lý giám sát BH hoặc khởi kiện ra tòa yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu quyền lợi của mình bị ảnh hưởng.

Ai phải đi xác nhận tai nạn?

“Nếu không thể thỏa thuận lại hợp đồng thì người mua BH có thể chọn một doanh nghiệp khác vì thị trường hiện rất nhiều nhà cung cấp BH. Còn khi hợp đồng đã ký rồi thì khó có thể làm khác được”.

Luật sư Phạm Đình Sơn, Đoàn luật sư TP.HCM

Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo một công ty BH giải thích do luật quy định trong hồ sơ bồi thường bắt buộc phải có bản sao của các cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn, nên các công ty BH đòi người mua BH bổ sung giấy xác nhận của công an hoặc của giám đốc công ty. “Chúng tôi hoàn toàn không cần xác nhận gì của bên thứ ba cả nếu luật trao cho chúng tôi quyền tự quyết định. Do luật quy định nên nếu BH không làm đúng thì sẽ phải chịu trách nhiệm về những khoản bồi thường BH bị xuất toán”, vị này nói.

Trong khi đó, một cán bộ công an phường ở Q.Gò Vấp, TP.HCM, phàn nàn: “Rất nhiều người đến nhờ chúng tôi xác nhận về vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại nhẹ về vật chất, không ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác, để bổ sung vào hồ sơ nhận tiền bồi thường BH. Điều đáng nói, đa số vụ việc người dân nhờ xác nhận đều xảy ra từ trước và họ không báo cho công an vì một số lý do như kẹt xe, người va quệt bỏ chạy… hoặc tự thương lượng giải quyết được. Những trường hợp này công an có quyền từ chối xác nhận và không có trách nhiệm đi xác minh lại vụ việc, nhưng như thế người dân không thể hoàn tất hồ sơ bồi thường”, vị này nói. Và ông bức xúc: “Rõ ràng, BH đã đẩy công việc trên cho công an phường. Nhiều năm nay, tôi không thấy nhân viên BH nào đến nhờ công an phường xác nhận mà toàn là khách hàng mua BH tự mày mò làm”.

Ông Nguyễn Hữu Huấn, Giám đốc tiếp thị của Công ty BH Liberty, nói: “Theo Nghị định 103/2008/NĐ-CP ngày 16.9.2008, bất cứ tai nạn nào liên quan đến trách nhiệm dân sự với bên thứ 3 đều phải có biên bản của công an. Tuy nhiên, công ty BH có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với khách hàng đi làm thủ tục hồ sơ để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Thậm chí trong quá trình làm hồ sơ (ví dụ như công tác giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất) nếu có phát sinh chi phí thì công ty BH cũng phải chịu”.

Ông Huấn cho biết thêm, nếu xe va quệt vào nhà, ga-ra thì không cần xác nhận của công an mà chỉ cần báo nhân viên BH đến ghi nhận là xong. “Nguyên tắc là phải tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên tùy vào mỗi doanh nghiệp kinh doanh có một cách thức điều hành riêng để chăm sóc khách hàng. Ví dụ, chúng tôi thiết lập đường dây nóng 24/24 giờ  để tiếp nhận thông báo tai nạn và hướng dẫn khách hàng thực hiện các bước tiếp theo khi không thể báo công an và căn cứ vào thông tin này, công ty sẽ đối chiếu bồi thường. Bên cạnh đó, công ty cũng có đội ngũ nhân viên tham gia từ đầu và sẽ tự đi thương lượng với gia đình nạn nhân để cùng chia sẻ mất mát, tìm cách giải quyết, bồi thường”, ông Huấn nói.

Xuất khẩu cá biển sang EU gặp khó trên sân nhà

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:39 pm
Tags: ,

<!–NGay gio Modified

–>

26/12/2009 23:37

Ngư dân VN đa số đánh bắt bằng tàu nhỏ – Ảnh: D.Đ.M
Từ ngày 1.1.2010, doanh nghiệp (DN) xuất khẩu cá biển sang châu Âu (EU) phải áp dụng quy định mới về việc quản lý nguồn gốc sản phẩm đánh bắt. Thời hạn đã gần kề nhưng việc triển khai của các DN vẫn còn hết sức rối rắm.

Nước đến chân mới nhảy

Theo quy định mới của EU về thiết lập hệ thống trong cộng đồng nhằm ngăn chặn, phòng ngừa hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo (gọi tắt là IUU), EU có trách nhiệm đảm bảo rằng sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU không xuất phát từ hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Theo đó, cơ quan chức năng của các nước thành viên sẽ từ chối nhập khẩu vào EU các sản phẩm thủy sản nếu bên nhập khẩu không thể trình giấy chứng nhận khai thác sản phẩm thủy sản liên quan sản phẩm hoặc sản phẩm nhập khẩu không cùng chủng loại với sản phẩm ghi trong giấy chứng nhận khai thác.

Năm 2009 đối với các DN xuất khẩu thủy sản thật sự không mấy khả quan. Đến hết tháng 11, cả nước đã xuất khẩu được trên 70.500 tấn mực, bạch tuộc, đạt giá trị trên 250 triệu USD, giảm 13% về lượng và 15,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Riêng trong tháng 11.2009, xuất khẩu mực, bạch tuộc đạt trên 5.900 tấn, giá trị trên 21,9 triệu USD, giảm 13,7% về lượng và 13% về giá trị so với tháng 11.2008. Giá trung bình đạt 3,71 USD/kg. Trong khi đó, từ tháng 7.2009 đến nay, tình hình xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam không mấy khả quan, liên tục sụt giảm trong 4 tháng liên tiếp cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong năm 2009 dự kiến vào khoảng 4,3 tỉ USD.

Nếu kết quả khám xét cho thấy có chứng cứ tàu đánh bắt của nước thứ ba đã có hành vi đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định theo các tiêu chí quy định, cơ quan chức năng của quốc gia thành viên sẽ không cho phép tàu cập bến và chuyển tải hàng thủy sản đánh bắt được.

Đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng như đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định bao gồm cả việc trao đổi thương mại hoặc nhập khẩu sản phẩm thủy sản, các quốc gia thành viên EU sẽ  áp dụng việc xử phạt ở mức tối đa, ít nhất gấp 5 lần giá trị của sản phẩm thủy sản sai phạm nghiêm trọng thu được. Trong trường hợp tái phạm một sai phạm nghiêm trọng trong thời gian 5 năm, các thành viên EU phải áp dụng việc xử phạt ít nhất gấp 8 lần giá trị của sản phẩm thủy sản sai phạm nghiêm trọng thu được. Quy định này bắt đầu được áp dụng từ ngày 1.1.2010.

Thời hạn thực thi quy định này đã đến rất gần, tuy nhiên các DN trong nước đang rất bị động vì Bộ NN-PTNT ban hành quy chế để áp dụng quá chậm. Mặc dù EU đã có thông báo từ cách đây hơn 1 năm nhưng đến ngày 4.12 vừa qua, quy chế mới được Bộ NN-PTNT phê duyệt và ngày 20.12 đã là hạn chót để các DN kê khai khối lượng nguyên liệu, thành phẩm có nguồn gốc thủy sản khai thác năm 2009 để tổng hợp gửi cơ quan thẩm quyền tại EU.

DN bối rối

Theo ông Huỳnh Quang Huy – Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Bình Thuận, việc thực hiện các biện pháp nhằm đăng ký xuất xứ nguồn thủy sản được Tổ chức FAO thông báo­ từ rất lâu.

Tuy nhiên, cơ quan quản lý trong nước lại làm rất chậm. Sát đến ngày gia hạn của IUU chúng ta mới hoàn thành xong các văn bản pháp quy, gây lúng túng cho các DN và ngư dân. “Khó khăn nhất trong việc thực hiện kê khai xuất xứ nguồn nguyên liệu thủy sản vào châu Âu mà IUU quy định với ngư dân chính là nhật ký hành trình các chuyến đánh bắt ngoài khơi. Bà con ngư dân lâu nay quen đánh bắt theo kiểu đa ngành, đa loài và nhỏ lẻ; hoàn toàn khác với xu hướng đánh bắt hiện đại là đơn ngành, đơn loài và quy mô bài bản. Do vậy, với ngư dân, thì việc phải ghi nhật ký từ tọa độ đánh bắt, độ sâu của biển, độ dài của lưới… trong mỗi chuyến ra khơi là việc làm hoàn toàn mới, chưa thể đáp ứng ngay. Một khó khăn khác hiện nay là từ trước đến giờ DN rất ít khi mua nguyên liệu từ các chủ tàu, mà mua qua trung gian, các đầu nậu, nên không thể biết xuất xứ nguyên liệu của mình khai thác ở đâu. Do vậy sau khi có quy định bắt buộc của IUU thì DN lại tốn kém thêm tiền bạc để làm lại cả một quy trình khai báo xuất xứ hàng hóa, rất phức tạp” – ông Huỳnh Quang Huy phân tích.

Đại diện Công ty TNHH thủy sản Nigico cũng cho biết: “Hiện công ty chúng tôi đang gặp khó khăn từ một số khách hàng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha do quy định IUU. Thông thường, đến giữa tháng 12, khách hàng đã đặt hàng cho năm sau, nhưng hiện tại họ vẫn đang trì hoãn việc này để chờ các DN có thông tin rõ ràng về việc thực hiện quy định IUU của Việt Nam”. Nhiều DN khác khi được hỏi cũng cho rằng quy chế chứng nhận mới ban hành ngày 4.12 vừa qua vẫn còn nhiều bất cập đối với DN và ngư dân.

Thủ tục xin chứng nhận khai thác quá nhiều khâu, phức tạp, không tập trung vào một mối, làm mất nhiều thời gian. Việc xin chứng nhận cho các tàu khai thác có công suất trên 90 CV thì còn dễ dàng, song với tàu công suất nhỏ dưới 90 CV là rất khó khăn vì đa số là tàu khai thác nhỏ lẻ khó khai báo. Cho đến thời điểm này, vẫn có nhiều cơ quan quản lý ở địa phương và DN chưa nắm rõ về việc thực hiện quy định và quy chế này như thế nào.

Ông Nguyễn Đức Tiến – Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu thủy sản Bình Thuận, than thở: “Một trong những khó khăn đầu tiên hiện nay khi thực hiện quy định của IUU là số lượng tàu thuyền quá lớn; mà chủ yếu là loại tàu thuyền nhỏ nên chưa có trang bị định vị GPS, việc ghi chép nhật trình là rất khó. Việc phân loài càng khó hơn vì trong mẻ cá có nhiều loài, mà không có loài nào có số lượng áp đảo. Hiện nay số tàu cá không có đăng kiểm, sử dụng chất nổ, vi phạm đánh bắt vẫn còn nhiều. Trong khi đó DN đang thu mua nguyên liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tàu cá lại đang bán cho nhiều DN khác nhau nên việc kê khai nguồn gốc khá khó khăn. Đó là chưa kể khi thực hiện quy định thì phải tăng thêm rất nhiều chi phí, sẽ làm cho giá sản phẩm tăng theo”.

Một DN tại Bình Định cho biết mặc dù đã nghe được thông tin EU thông qua quy định này từ năm ngoái nhưng công ty vẫn chưa có giải pháp cụ thể nào cho vấn đề này. Hiện công ty trên đã tìm nhiều giải pháp như chuyển hướng xuất khẩu, tìm kiếm thị trường mới nhưng thật sự không dễ dàng bởi các thị trường khác nhau có những nhu cầu khác nhau. Chẳng hạn mặt hàng cá ngừ, EU nhập khẩu nhiều nhưng Mỹ và Hàn Quốc lại không có nhu cầu lớn đối với mặt hàng này

Ha Noi’s property market stalls out

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:30 pm
Tags: ,

LookAtVietnam – Ha Noi’s real estate market stagnated in the last few months of this year, according to industry experts.

Vu Thanh Hung, director of a real estate company, said he had refused to take on new projects because there was little demand.

“I think demand for property will not increase next year because of tightened monetary policies,” he said.

Hung said he had found it difficult to buy land for real estate projects because investors were waiting for prices to rise.

According to real estate agent Nguyen Phuong Linh from Phuong Dong Company Limited, even in Ha Dong District, which is the most popular part of the capital for investors, transactions had plummeted by two-thirds compared with three months ago.

However, she said that apartment prices had remained stable, at around VND17.5 to VND18 million (US$972-1,000) a square metre.

Driving up demand

According to CB Richard Ellis (CBRE), the increasing number of high-quality office buildings in My Dinh’s new urban area will drive up demand for residential accommodation over the next two years.

The western part of Ha Noi, which is becoming the capital’s new administrative area, has seen a number of new developments, such as Keangnam Ha Noi Landmark Tower, CEO Tower, Grand Plaza Tower and Da River Twin Towers.

Richard Leech, CBRE executive director, said Cau Giay and Tu Liem districts had become increasingly popular with investors.

Le Tien Duc, who owns a real estate business, said he expected property prices to fall over the next few months.

Ho Hai Minh, deputy director of the Ha Noi home real estate trading floor, also predicted that property prices would decline.

“The majority of customers cannot afford to pay the kind of high prices currently demanded,” Minh said.

Vo Tri Thanh, deputy head of the Central Institute for Economic Management, said a tightening of credit was necessary to avoid speculation and a price bubble.

Thanh said the market was currently flat because investors were waiting for stock market investment.

“The Government, in a bid to stabilise the country’s macro-economy and curb inflation, will ensure that credit remains tight,” he said.

While transactions in the city have been stagnant, a number of new real estate projects have been launched ahead of the anticipated economic recovery next year.

Just this month, 10 major estate projects were launched.

Among them is Green House residential project to build about 1,000 apartments in Viet Hung new urban area in Long Bien District.

Two big projects

Meanwhile, in South Vinh Yen new urban area in Vinh Phuc Province a residential project worth VND8.7 trillion ($483 million) was launched.

Work has also started on the $660 million Cleve apartment building complex in Van Phu new urban area in Ha Dong District and the $211 million Viglaceraapartment complex in Me Tri, Tu Liem District.

At the upper end, Gia Tue Investment Joint Stock Company has begun work on the Grand Arena Hill resort, which is expected to be finished by 2012.

Dung Thanh Tam, chairman and general director of Kinh Bac Urban Development Company, said the property sector’s quiet period would give businesses time to formulate strategies for the second quarter of next year when thereal estate market it expected to pick up.

Tam said it usually took between 12 months to 18 months to complete the construction of an urban area, which meant investment in real estate could not be short term.

CBRE said that around 3,000 of the 8,000 apartments for sale had been sold.

Cao Xuan Hai, head of Hi Brand, said investors should begin new projects now before material costs rose.

VietNamNet/VNS

Outcry as tariffs rise on stock feed

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:26 pm
Tags: , ,

Agricultural officials and farmers have criticised a decision to increase import tariffs on raw materials for animal feed from next month.

The Ministry of Finance has published a circular saying tariffs on such goods as maize, corn, soybeans and powdered fish will rise between 5 to 15 per cent.

The decision aims to reduce Viet Nam’s dependence on the raw materials for making stock feed, which makes up 70 per cent of the total products sold – and, hopefully, also boost the production of localraw materials.

The Viet Nam Animal Feed Association’s chairman, Le Ba Lich, said the rise in costs would cause the prices of food and other goods to rise.

“I think it’s such an unreasonable and unacceptable decision. Farmers will be the first victims of the upcoming price hike,” Lich said. “The ministry should consult us before promulgating thedecision,” he said.

Do Van Quan, a farmer from Phung Cong Commune in northern Hung Yen Province, said he had to spend hundreds of millions of dong foranimal feed to raise nearly 1,000 pigs each month.

“This year is very harsh for us. The cost of materials keeps rising due to the upcoming Tet holiday. Soybeans and maize have increased between VND1,000-VND1,500 per kilo since last month,” Quan said.

“A 5 per cent rise of the import tariff will become at least 10 per cent when the goods are delivered to our farm. We are bound to lose,” Quan said.

At present, the price of animal feed has increased between 10 to 15 per cent compared to last year. Chicken feed has gone up by VND3,500 to VND5,200 per kilo and pig feed by VND6,900 per kilo.

“Another 5 per cent tariff increase will wipe out my profits,” said Nguyen Van Tam who has 8,000 chicken on Cat Que Commune, Hoai Duc District in Ha Noi.

The head of the Animal Feed Association, Lich, said there could be another price hike in the early months of next year as animal feed factories would be forced to increase their prices or face the risk of bankruptcy.

He said the association would propose reducing import tariffs to zero to assure farmers did not lose.

VietNamNet/VNS

Chuyện kể Bát Tràng


Anh Trần Đức Tâm, người con của
làng nghề Bát Tràng, tâm huyết với
nghề gốm bằng những sản phẩm mới
được khách hàng ưa chuộng.
ND – Người dân Bát Tràng và nhiều làng nghề khác đã tìm hướng đi mới chủ động khai thác hiệu quả thị trường trong nước. Việc mở rộng liên kết, quảng bá và giới thiệu sản phẩm thông qua du lịch, xây dựng thương hiệu, cải tiến mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước.
Cuối năm, con đường chính từ đầu làng nghề Bát Tràng tấp nập và rộn ràng với chừng dăm xe tải các loại đang bốc hàng. Gần khu chợ gốm sứ sát ngay bến xe buýt, từng nhóm khách nước ngoài rảo bộ ngắm các món hàng lưu niệm. Cạnh đó, lại có chừng 20 em học sinh tiểu học theo cô giáo xuống xưởng học vẽ, tự làm cho mình những con thú nhỏ vừa chơi vừa làm quà tặng dịp Nô-en…
Anh Phùng Quang Ðiện, chủ cơ sở sản xuất gốm sứ Ðiện Ðảm một trong hàng trăm cơ sở ở Bát Tràng, đang bận rộn với mẻ gốm gồm hàng chục loại mặt hàng gia dụng. Chỉ tay lô sản phẩm “phôi” còn nằm trên giàn sấy cao tầm hơn 2 m, anh Ðiện cho biết, ngày hôm sau sẽ cho chạy lò nhỏ (khoảng 2 m3) trước. Tết sắp đến, phải chuẩn bị “om” mấy loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa, hộp đựng quà… để giao khách hàng ngay. Còn chiếc lò ga lớn 4,5 m3, từ giờ đến ra xuân, khi có đơn hàng của các đối tác từ các tỉnh bạn thì sẽ đốt lò. Anh Ðiện nói.
Qua tìm hiểu, từ năm 2006 đến nay, và nhất là năm nay khi kinh tế thế giới vào giai đoạn suy thoái, lượng tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp ở Bát Tràng sụt giảm dần từng năm. Không như những năm trước năm 2000, khi làng nghề trúng dịp làm ăn, hầu hết cơ sở sản xuất như anh Ðiện có lúc chạy đua với đơn hàng từ nước ngoài vẫn không kịp. Nhà tôi bấy giờ còn đốt lò than, hàng chục thợ ngày nào cũng phải làm thêm giờ để đủ mỗi tháng 3.000 – 4.000 bộ chậu hoa, chậu cảnh “xuất” sang Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản. Nay nhìn lại thời hoàng kim qua đi, giọng kể của anh Ðiện chùng xuống, mấy năm rồi, lượng hàng xuất đi nước ngoài giảm nhiều. Sức mua giảm có lúc “vơi” già một nửa…
Tình hình nhiều doanh nghiệp gốm sứ ở làng nghề Bát Tràng cũng vậy, nhất là những loại sản phẩm gốm mỹ nghệ cao cấp. Loại mặt hàng này tiêu thụ trong nước rất ít, chủ yếu sang thị trường Anh, Tây Ban Nha, Nhật Bản, một số nước châu Âu… Theo thống kê chưa đầy đủ, làng nghề Bát Tràng hiện có hơn 500 hộ gia đình sản xuất, hơn 50 doanh nghiệp kinh doanh hàng gốm sứ dân dụng và xuất khẩu, thu hút số lao động thường xuyên và thời vụ lên tới hơn mười nghìn người/ngày. Năm 2008, do biến động về giá cả, mức tiêu thụ hàng hóa, xuất khẩu giảm… cho nên tổng doanh thu toàn xã giảm khoảng 24% so với năm trước. Chủ tịch UBND xã Ðào Xuân Hùng, cho biết: Trước đây, có năm làm ăn thành công, làng nghề xuất khẩu lượng hàng gốm sứ đạt tổng doanh thu khoảng 12 triệu USD/năm, có doanh nghiệp làm tốt đạt doanh thu tới mười tỷ đồng/năm.
Theo số liệu thống kê, những năm gần đây, làng nghề và hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) nước ta tăng trưởng vượt bậc, góp phần giải quyết việc làm cho hơn 1,4 triệu hộ gia đình với khoảng 13 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lao động tại nông thôn. Ước tính thu nhập trung bình của lao động khu vực này cao gấp từ hai đến bốn lần so với làm nông nghiệp. Cả nước đến nay có hơn một nghìn doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hoặc kinh doanh xuất khẩu hàng TCMN, góp phần tăng đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Tuy nhiên, trước tình hình khó khăn chung của cả nước đã tác động khá rõ nét đến nhiều doanh nghiệp làng nghề TCMN nói chung và các sản phẩm gốm Bát Tràng nói riêng. Trong lúc không ít cơ sở sản xuất bị thu hẹp, thậm chí bị đình trệ thì cơ sở sản xuất gốm sứ Ðức Tân tìm hướng đi riêng, hướng vào thị trường nội địa. Anh Trần Ðức Tân, chủ cơ sở này cho rằng, để một doanh nghiệp làng nghề trụ vững trước biến động thị trường, phải không ngại thay đổi cách làm cũ, chờ khách tới đặt hàng, mà cần nhanh nhạy hơn, nắm bắt xu thế thị trường để điều chỉnh quá trình sản xuất.
Thời buổi “thóc cao, gạo kém”, vậy mà xưởng sản xuất Ðức Tân vẫn luôn có từ 40 đến 50 thợ làm việc. Chuyển hướng từ làm hàng gốm TCMN xuất khẩu, nay anh Trần Ðức Tân đầu tư sang lĩnh vực thiết kế, sắp đặt gốm sứ nội thất. Anh Tân cho biết, xu hướng đô thị hóa ngày càng tăng và điều kiện cuộc sống người dân được cải thiện, nhu cầu về nghệ thuật trang trí nội thất do đó ngày càng cao. “Tôi tìm sự khác biệt qua việc sưu tập các mẫu nhà đẹp, từ đó phối cảnh, tạo mầu sắc, họa tiết, hoa văn cho sản phẩm gốm theo mùa, theo năm, phù hợp các món đồ gia dụng của gia chủ”. Anh Tân giải thích thêm.
Cũng như các làng nghề, các doanh nghiệp làng nghề Việt Nam đang trong thời kỳ khôi phục, ổn định và từng bước phát triển. Suy giảm kinh tế đẩy nhiều làng nghề như Bát Tràng vào tình thế không ít khó khăn. Qua trao đổi với các chuyên gia và người dân trực tiếp sản xuất, thực tế hiện nay, sản phẩm của nhiều cơ sở vừa và nhỏ chưa sát nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Theo Trưởng văn phòng đại diện Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh Nguyễn Lực, hàng triệu người làm việc trong các làng nghề không có cơ hội để tìm hiểu thị trường, chưa hiểu đầy đủ về yếu tố văn hóa, thị hiếu khách hàng. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới của các làng nghề và sản phẩm khó khăn hơn nhiều so với các ngành sản xuất khác.
Một điểm quan trọng khác – theo ông Nguyễn Lực, bên cạnh truyền nghề theo phương pháp cũ, người thợ cần được đào tạo chuyên nghiệp để làm ra những sản phẩm đẹp hơn, đặc sắc hơn. Cả nghệ nhân và người thợ cần có ý thức được việc tích lũy kiến thức, kỹ năng truyền thống với đổi mới công nghệ, kỹ thuật sáng tạo hiện đại, rồi tổ chức và quản lý hiệu quả doanh nghiệp, kỹ thuật tiếp thị, nghiên cứu thị trường… Nhiều người cho rằng, xu hướng tiêu dùng hàng TCMN, trong đó mặt hàng gốm sứ cao cấp, và cả một số loại sản phẩm gia dụng gốm sứ, khách hàng thường thích tìm kiếm sản phẩm có nét mới. Hơn ai hết, những người dân làng nghề Bát Tràng từ năm ngoái đã chú trọng yếu tố sáng tạo trong sản phẩm, từ mẫu mã, phong cách, mầu sắc, nguyên liệu làm cho mỗi sản phẩm gốm sứ hợp thời trang, có tính sử dụng, đẹp và bền.
Ý tưởng đưa làng nghề Bát Tràng vào khai thác du lịch đã được khởi động từ nhiều năm qua. Nhiều doanh nghiệp lữ hành đã mở các tour du lịch đến các làng nghề. Du khách trong nước, những năm gần đây, đã bắt đầu tham gia vào các tour chiêm ngưỡng vẻ đẹp thú vị của thiên nhiên, thắng cảnh, thăm thú các làng nghề. Ðây hẳn là cơ hội để phát huy các nguồn tài nguyên sinh thái đa dạng, phong phú của các giá trị di sản văn hóa làng cổ Việt, mà Bát Tràng là một trong những điểm đến tiêu biểu.
Trên con đường đê dọc bờ sông Hồng mùa nước cạn, xe tải chạy ngược xuôi thổi bụi mù hối hả phục vụ hàng chục hạng mục công trình dân sinh lớn. Xa xa sừng sững hai cây cầu mới Thanh Trì và Vĩnh Tuy vượt sông Hồng nhộn nhịp các loại xe đan nhau chạy như mắc cửi. Trong dòng xe ấy, có những chiếc vừa “no hàng” xuất bến từ làng nghề Bát Tràng bên sông, kịp mang những món quà thấm đẫm hồn quê đi khắp mọi miền. Cái Tết đang cận kề…
Làng nghề sau cơn suy thoái: Trường hợp Bát Tràng
“Từ sáng đến trưa mới được một chuyến, mà độc có hai khách người Nhật. Làm ăn dạo này khó khăn quá chú ạ”, bác đánh xe trâu du lịch Bát Tràng tợp chén trà còn nghi ngút khói, sau cái lắc đầu ngao ngán.

Khủng hoảng kinh tế ngỡ ở bên kia bán cầu, giờ cũng len lỏi vào đời sống những người dân bình dị chốn làng quê ven đô này. Đi đến bờ đê nhìn xuống đoạn rẽ vào xã, trước kia đoạn phố này tấp nập người mua kẻ bán là thế, nay vắng hoe vắng hoắt. Chợ Bát Tràng giờ người bán nhiều hơn kẻ mua.

Không có chỗ lùi

Những năm 2006-2007, Bát Tràng như đang ở “thế rồng bay”. Tính riêng xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ, cả xã kiếm về hơn 13 triệu USD một năm. Đó là chưa kể gốm sứ xây dựng và gia dụng bán trong nước, được cánh bán buôn xe tải đường dài, xe thồ đường ngắn đưa đến khắp các nẻo gần xa.

“Trước đây, lúc nào cũng thấy có nhà đóng container hàng xuất khẩu. Giờ vẫn còn, nhưng thưa lắm”, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Bát Tràng Đào Xuân Hùng nhìn ra phía khoảng sân trước mặt, trời hôm nay chuyển gió mưa sụt sùi từ sáng sớm.

Năm 2008, xuất khẩu bỗng dưng “đứng khựng”, nhiều doanh nghiệp chết dở với lượng hàng tồn quá lớn, không còn đủ lực để lo tiếp việc cho công nhân. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của cả xã chỉ còn một nửa năm trước, chừng 5-6 triệu USD. Năm vừa rồi, thấy nhiều nhà bảo còn buôn bán kém hơn, lãnh đạo xã cũng chỉ biết có vậy.

Kinh doanh đã ế ẩm, chi phí lại tăng hơn tạo thêm gánh nặng cho các chủ kinh doanh Bát Tràng. Lương công nhân không tăng không được vì đời sống ngày càng đắt đỏ hơn. Riêng chuyện giá gas lên, mỗi đợt vào lò cũng mất đứt chừng 10 triệu đồng.

“Chi phí cao thế nhưng mỗi lò có khi tiền hàng chỉ thu về được hơn chục triệu đồng. Tất nhiên cũng tùy loại hàng, nhưng nói chung chi phí lớn hơn lợi nhuận nhiều”, chị phụ trách cửa hàng Thủy Toan (Công ty Xuân Thủy) tiếp chuyện người viết, vừa tranh thủ lau dọn mấy kệ hàng chén bát đầy ăm ắp.

Khó khăn kéo dài quá, đã có nhiều gia đình tính chuyện phải ngừng lò, chuyển sang làm dịch vụ, hoặc đi làm thuê. Cả xã đều thoát ly sản xuất nông nghiệp từ lâu vì không còn đất. Hơn 800 hộ lâu nay vẫn chỉ sản xuất kinh doanh độc nhất nghề gốm sứ, sống với nghề gia truyền, nên chuyện ngừng lò, bỏ nghề không phải dễ.

“Nhiều nhà không dám bỏ nghề vì biết làm gì khác mà sống. Nơi khác làm nghề phụ thì còn có chút ít đất sản xuất nông nghiệp mà trông vào khi hàng chậm, dân Bát Tràng thì không có chỗ mà lùi bước”, Chủ tịch Hùng nói.

Tiền khó vào nhà khó

Tiếng là xã ốc đảo ngoài đê sông Hồng, nhưng Bát Tràng cũng hút về đến vài chi nhánh ngân hàng thương mại bám rễ ở đây. Điểm mặt sơ qua có Techcombank, Ocean Bank…, không biết đặt chi nhánh từ khi nào nhưng ATM cũng có ở vài nơi trong xã. Ngân hàng ở sát nách, chuyện vay vốn kinh doanh tưởng thế sẽ dễ, ai ngờ không phải vậy.

Chính sách kích cầu đến với Bát Tràng đúng lúc các doanh nghiệp ở vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Nhiều lò gốm đứng ngồi đều trông vào đấy, để trả lương công nhân, giữ chân họa sỹ… Thế nhưng, qua vài lần tiếp xúc với các ngân hàng, nhiều chủ doanh nghiệp đành tiếc rẻ quay lưng.

“Khó khăn nhất là việc hợp thức hóa giấy tờ cho đúng quy định thủ tục. Mua bán nhà nọ với nhà kia trước nay vẫn thế, cơ sở nhỏ làm gì có giấy tờ gì…”, Giám đốc doanh nghiệp gốm sứ Minh Hải, ông Nguyễn Minh Hải bức xúc nói.

Cho nên, hơn 800 hộ gia đình sản xuất kinh doanh thì chỉ có chưa đầy 100 hộ tiếp cận được vốn vay kích cầu. Số dư tổng cộng cũng tròm trèm khoảng 10 tỷ đồng, không đáng kể gì so với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và hộ sản xuất. Nhiều lò đã phải bán tài sản, vay mượn để duy trì việc kinh doanh.

“Chuyện doanh nghiệp khó khăn về vốn, lãnh đạo xã biết thế nhưng cũng chịu. Đành rằng là có chính sách hỗ trợ, nhưng đến ngân hàng thì họ vẫn bắt phải có thế chấp, vẫn phải trình đủ phương án kinh doanh đảm bảo hiệu quả, đầy đủ thủ tục theo yêu cầu… Xã muốn tác động gì cũng khó”, ông Hùng phân trần.

Tự cứu

“Không đi đến chỗ phá sản hàng loạt là do doanh nghiệp họ tự vận động là chính”, Chủ tịch Hùng thẳng thắn thừa nhận.

Trong khi xuất khẩu giảm sút, việc tiêu thụ nội địa như là một cứu cánh duy nhất. Các lò gốm Bát Tràng, nhiều nơi chuyển mặt hàng đa dạng hơn để phục vụ dân nông thôn, cạnh tranh sát ván với hàng Trung Quốc về giá và chất lượng.

Thay vì sản xuất những chiếc chén chất lượng cao với giá 18-20 nghìn đồng/chiếc, nhiều hộ chuyển sang làm sản phẩm cùng loại nhưng giá chỉ còn 3-5 nghìn đồng/chiếc. Mẫu mà cũng thay đổi linh hoạt theo nhu cầu rẻ, đẹp, bền của người dân nông thôn.

Công đoạn phối trộn nguyên liệu, gần đây đẩy mạnh mô hình công nghiệp tập trung, sau đó bán lại cho các hộ tạo hình, trang trí và hoàn thiện các công đoạn cuối. Năm ngoái đến nay, không những trộn máy, các cơ sở này còn làm thêm công đoạn khử từ để tách sắt ra khỏi nguyên liệu.

“Trước đây thì không khử từ, nên khi nung men bị nổ vàng chứ không trắng được thế này”, Chủ tịch Hùng vừa nói vừa xoay chiếc chén mầu men trắng bóng, chẳng khác hàng cao cấp của một số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp lớn ở phía Nam.

Hàng chục, hàng trăm năm trông vào “vốn” cổ truyền, trước đây phần lớn các lò gốm Bát Tràng chỉ chờ người đến lấy hàng. Nhưng cho đến năm vừa rồi, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc đi tìm khách và đáp ứng yêu cầu của khách hàng. “Ngoài sản xuất thì giờ đây anh phải kiêm luôn cả phát triển kênh phân phối đi khắp các tỉnh”, ông Hùng nói. “Cho nên, lượng bán hàng trong nước của Bát Tràng năm vừa rồi, đâm ra, lại phát triển mạnh hơn”.

Power shortage looms

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:19 pm
Tags: ,

LookAtVietnam – Low water levels in three major northern reservoirs threaten an electricity shortage this season in Ha Noi and throughout the north, a region dependent on hydroelectric power.

Water levels in the Hoa Binh, Tuyen Quang and Thac Ba reservoirs are currently 2.6 billion cu.m below normal, according to a report issued by the Ministry of Industry and Trade.

The National Centre for Hydro-meteorological Forecasting said that the north’s rainy season this year ended a month earlier than normal, with total rainfalls for the first 11 months of the year at only 86 per cent of last year’s.

In addition to low rainfalls, the condition is also exacerbated as the Prime Minister has ordered to release water downstream for agricultural uses.

Electricity of Viet Nam (EVN) deputy director Dau Duc Khoi said, “For now, the supply of electricity remains guaranteed, but the concern for maintaining the same capacity in the near future is still out there.”

The national grid was making up for shortfalls by shifting power from the southern part of the country, he said, and about a third of demand had been met by purchasing power from non-EVN suppliers and importing power from China, Khoi said.

Minister of Industry and Trade Vu Huy Hoang warned that if the current drought continued, the northern electrical network would face a shortage of around 350MW once the peak season commenced.

The director of the Hoa Binh hydroelectric facility, Nguyen Van Thanh, said his facility was currently running at one-fifth of its total capacity of nearly 2,000MW.

The plant contributes 20 per cent of national grid capacity, and, according to the ministry report, hydro power contributed 32.2 per cent of totalelectricity capacity during the first 11 months of the year.

With the low water levels, however, this is predicted to fall to as low as 25 per cent in the same period of 2010, or about 330 million KWh.

Statistics from Electricity of Viet Nam (EVN) put average electrical demand per day at 248.6 million kWh during the first eleven months of the year, an increase of more than 24 per cent.

Demand for electricity grew 3.8 per cent in the first quarter – during the darkest days of the economic crisis – and rose by 17.3 per cent in the third quarter. Demand is forecast to grow by 12.8 per cent in the coming year.

Along with the low water levels, wasteful use of electricity has also contributed to the threat of power shortages. Growth in electrical demand was at up to 1.2 per cent per every 1 per cent growth in gross domestic product (GDP), Khoi noted.

According to Khoi, the EVN would be able to provide another 600MW of electricity by the end of this month.

Under EVN’s plan for y2009, however, the State-run utility projected it would increase capacity by 3,300MW during the year to a total of 20,400MW. To date, however, it has only been able to meet 36.4 per cent of this goal, or 1,200MW.

The ministry report predicted that growth in capacity in 2010 would total 13-15 per cent, assisted b the merger of 14 power plants next year. Nevertheless, the ministry predicted the shortage to reach 1,200MW.

VietNamNet/VNS

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.