Ktetaichinh’s Blog

December 21, 2009

Nhập than

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:00 pm
Tags:

SGTT – Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.

Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế. Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.

Cái khó của kẻ đến sau

Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ. Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ đắp chiếu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu. TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.

Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm. Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn. “Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.

Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025. Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, đã không biết tiết kiệm tài nguyên, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.

Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.

Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang). Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được. Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.

Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt

Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Cho nên, TKV đã đưa ra đề án thành lập ban chỉ đạo nhập khẩu than cho riêng tổng sơ đồ phát triển điện VI (còn nhập than để luyện thép, thuỷ tinh, sản xuất hoá chất… thì chưa biết). Thành phần ban chỉ đạo dự kiến đề xuất gồm một Phó thủ tướng làm trưởng ban, phó trưởng ban là bộ trưởng bộ Công thương, các thành viên khác là thứ trưởng hoặc cấp tương đương ở một số bộ, ngành liên quan. Ban này sẽ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc nhập than; trực tiếp quyết định hoặc đề xuất với Thủ tướng về cơ chế, chính sách nhập khẩu than…

Chắc rằng, ban chỉ đạo về nhập khẩu than sẽ sớm được chính thức thành lập theo đề nghị của TKV. Nhưng với sự tham gia muộn màng vào đội ngũ các nước nhập khẩu, có thể hình dung việc nhập khẩu than từ năm 2012 là không hề dễ dàng. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?

Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than. TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu. Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).

Xin trích lại một đoạn trong một bài viết về vấn đề này của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc công ty Năng lượng sông Hồng, một công ty thành viên của TKV: “Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập trung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực khác mà không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam đã có thể được đẩy lùi hàng chục năm”.

Advertisements

Dệt may 2009: đồng tiền khó kiếm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:48 pm
Tags:

RFA
19-12-09

Nam Nguyên, phóng viên RFA

Dệt may xuất khẩu, ngành hàng quan trọng đóng góp vào GDP tổng sản phẩm nội địa của VN, đã trải qua năm 2009 đầy vất vả. Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2009 chỉ bằng năm ngoái và không có tăng trưởng.

Tỷ lệ nội địa hóa quá thấp

Thời Báo Kinh Tế Việt Nam ngày 14/12 trích lời ông Lê Tiến Trường, Phó Tổng Giám Đốc Tập Đoàn Dệt May Việt Nam cho biết: kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2009 có thể chỉ đạt 9,1 tỷ USD, nghĩa là bằng năm ngoái không có tăng trưởng. Lúc đầu ngành dệt may đặt chỉ tiêu xuất khẩu 2009 là 10 tỷ USD, rồi hạ xuống 9,5 tỷ USD.

Một trong những thông tin được phổ biến công khai, năm 2008 tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may chỉ đạt 37%. Năm 2009 các số liệu cho thấy tỷ lệ nội địa hóa đã được nâng lên 5% đạt khoảng 42%. Nói dễ hiểu nếu cả năm 2009 xuất khẩu dệt may đạt 9,1 tỷ USD thì trong đó phần nhập khẩu nguyên phụ liệu lên tới 5 tỷ USD.

Dệt may là ngành thu hút nhiều nhân công, trước suy thoái kinh tế tài chánh thế giới, các nhà máy trên cả nước thu dụng khoảng 2 triệu người lao động, thời kỳ khó khăn cuối 2008 kéo dài cả năm 2009 đã khiến hàng trăm ngàn công nhân mất việc.

Sang năm 2010, ngành dệt may sẽ phát triển như thế nào, khi lợi thế công nhân giá rẻ đang mất dần. Chuẩn bị cho giai đoạn hậu suy thoái, ngành dệt may sẽ tái cơ cấu như thế nào, đặc biệt ở các đô thị lớn như TPHCM, Đồng Nai nơi chiếm hơn phân nửa sản lượng dệt may toàn quốc.

Ngày 18/12/2009  chúng tôi nêu câu hỏi này trong cuộc phỏng vấn ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ Tịch Hội Dệt May Thêu Đan TPHCM, đồng thời là Phó Chủ Tịch Hiệp Hội Da Giày VN và được ông giải đáp:

Ông Diệp Thành Kiệt: Thứ nhất những thành phố lớn sẽ phải cơ cấu lại ngành hàng. Nếu duy trì ở thành phố thì phải là những sản phẩm cao cấp. Nếu tiếp tục duy trì sản xuất như hiện tại nghĩa là sản phẩm cấp trung thôi, thì phải có định hướng chuyển nhà máy ra bên ngoài. Thí dụ như Việt Tiến, Nhà Bè đã chuyển một số nhà máy đi Tiền Giang, Long An.

Thứ hai là phải chuyển hướng cơ cấu về kinh doanh, trong đó giảm bớt tỷ lệ gia công, nâng dần tỷ lệ mình tự mua bán, có thể tìm nguyên phụ liệu ở trong nước mà cũng có thể ở nước ngoài, nhưng phải chủ động vấn đề này.

Thứ ba là chuyển động đi về hướng đầu và hướng cuối của chuỗi giá trị, chủ động trong khâu thiết kế và khâu phân phối. Kênh nội địa là dạng để cho các doanh nghiệp trong nước đặc biệt ở các thành phố lớn chú ý tới và có những giải pháp của mình. Hiện nay thì một số doanh nghiệp lớn người ta đã làm thành công.

Nhưng mà trên tất cả chúng tôi vẫn nghĩ rằng, đây là nghĩ kiến cá nhân cũng là đề xuất, trong thời gian tới thì cả ngành và chính phủ đẩy mạnh hơn nữa việc nội địa hóa nguyên phụ liệu sản phẩm dệt may, nói cách khác là phải nâng cao hơn nữa ngành công nghiệp phụ trợ của ngành dệt may, đặc biệt đáp ứng tính cách thời trang.

Để thị trường quyết định?

Nam Nguyên: Thưa ông, vấn đề tỷ giá hối đoái hiện diện trên hai thị trường chính thức và tự do, có ảnh hưởng gì đối với ngành dệt may và da giày. Đặc biệt hai ngành này vừa có nhập khẩu vừa có xuất khẩu?

Ông Diệp Thành Kiệt: Tỷ giá hối đoái đồng tiền VN do với  USD về nguyên tắc khi tăng hay giảm đều có mặt tốt và không tốt. Đối với các doanh nghiệp gia công không có nhập chỉ có xuất, rõ ràng khi đồng bạc VN mất giá hơn, tỷ giá đổi ra đồng VN cao hơn thì xuất khẩu có lợi.

Người đã đem về cùng lượng ngoại tệ đó nhưng đổi ra tiền đồng được nhiều hơn, trong khi đó tiền lương và chi phí chưa hẳn sẽ tăng tương ứng theo tỷ giá đó, nó có lợi cho các nhà gia công. Nhưng điều này theo quan điểm của chúng tôi, không cần có sự phá giá mạnh cũng không mong muốn một sự giữ giá mạnh. Điều quan trọng là phải có sự ổn định.

Thứ hai nếu có chính sách nào kể cả nâng giá hay phá giá đồng VN thì phải có những bước đi thích hợp, để nền kinh tế nói chung còn có sức chịu đựng, đặc biệt những ngành kinh tế như dệt may hoặc một số ngành khác kể cả da giày hay gỗ là những ngành vẫn còn lệ thuộc nguyên liệu nước ngoài, thì việc đưa tỷ giá nhanh quá hay chậm quá thì rất nguy hiểm.

Thí dụ năm nay phá giá chúng ta có chuyển động làm mất giá, nhưng năm 2008 tiền VN tự nhiên lên giá 1 USD chỉ ăn 15 ngàn thôi, cũng làm cho nhiều doanh nghiệp chới với. Chúng tôi nghĩ biện pháp tốt nhất là phải ổn định được vĩ mô đặc biệt là cơ cấu tỷ giá.

Nam Nguyên: Thưa ông, nếu để cho thị trường quyết định, tức là đi theo qui luật thị trường thì ông nghĩ thế nào?

Ông Diệp Thành Kiệt: Đi theo qui luật thị trường, thì rõ ràng phải thấy rằng nền kinh tế thị trường của chúng ta còn mới và nó bị tác động quá nhiều bởi yếu tố rủi ro. Thí dụ như năm rồi giá gạo tự nhiên tăng lên, nếu để theo thị trường thì rõ ràng người dân lãnh đủ, mặc dù lúc đó trong nước còn gạo rất nhiều.

Tôi lấy ví dụ đó để quay về nền kinh tế nói chung và dệt may nói riêng, tôi nghĩ rằng chính sách mà chính phủ VN đang chọn là cơ chế thị trường có điều tiết là hợp lý.

Tuy nhiên chữ “điều tiết” ở đằng sau là cả một vấn đề rất lớn, nếu được điều tiết hợp lý chọn giải pháp vừa đúng thì sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế, còn nếu chọn giải pháp không phù hợp lúc cần giảm lại tăng hoặc ngược lại thì nó sẽ tác động lên nền kinh tế. Nhưng tôi vẫn ủng hộ chính sách thị trường có điều tiết, vì điều đó sẽ giúp cho nền kinh tế thị trường quá mới mẻ và chịu quá nhiều rủi ro của VN có hướng đi vững chắc hơn.

Nam Nguyên: Dù có khó khăn, dù là gia công, nhân công giá rẻ, thu lợi ít, nhưng về việc giúp công ăn việc làm cho người lao động của ngành dệt may và da giày, ông đánh giá thế nào?

Ông Diệp Thành Kiệt: Về dệt may, theo Hiệp Hội Dệt May VN con số lao động trên hai triệu, ngành da giày khoảng bảy trăm ngàn, kể luôn các ngành phụ trợ ăn theo như đóng bao bì hoặc làm sản phẩm phụ cho hai ngành đó, thì con số khoảng dưới ba triệu.

Vấn đề này chúng tôi không nói một cách cường điệu quá đáng, không chỉ những người trong ngành chúng tôi mà kể cả những cơ quan chính phủ, cũng phải nhìn nhận, mặc dù trước đây có nhiều ý kiến cho là những ngành này thâm dụng quá nhiều lao động, hoặc có những ý kiến khắt khe cho là phải cắt giảm nhanh đối với cơ cấu những ngành hàng sử dụng nhiều lao động.

Nhưng qua giai đoạn vừa rồi, phải thấy rằng trong hoàn cảnh đất nước VN rõ ràng những ngành như dệt may, da giày, thủy sản hoặc gỗ, vẫn là những ngành cần thiết, là những bước đệm cần thiết để đất nước phát triển cũng như đặc biệt về an sinh xã hội.

Có thể nói rằng trong năm vừa qua ngoại trừ một số doanh nghiệp nước ngoài quá khó khăn phải bỏ trốn, còn lại hầu hết các doanh nghiệp VN và doanh nghiệp nước ngoài còn lại, đều đã giữ vững được lực lượng lao động của mình.

Chúng tôi không có những sự cố lớn như các nước phải sa thải công nhân hàng loạt. Chúng tôi đánh giá đó là một thành tựu lớn của hai ngành dệt may và da giày.

Trên đây là các nhận định của ông DiệpThành Kiệt  Phó Chủ Tịch Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM, đồng thời là Phó Chủ Tịch Hiệp Hội Da Giày Việt Nam.

Năm 2009 sắp khép lại, nếu nền kinh tế thế giới chuẩn bị giai đoạn hồi phục, nhiều ngành kinh tế xuất khẩu của VN sẽ phải cơ cấu lại cho giai đoạn hậu suy thoái. Ngành dệt may và da giày đang đứng trước những thử thách mới cho tương lai.


Giày dép xuất khẩu khó phục hồi

Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
2009-12-20

Suy thoái kinh tế ở các nước nhập khẩu, rào cản thuế và rào cản kỹ thuật làm cho ngành da giày xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng trưởng âm trong năm nay, cũng như chưa thể phục hồi vào sang năm.

EU gia hạn thuế chống phá giá

Theo tin từ Hà Nội, ngày 18/12 bà Nguyễn Phương Nga người phát ngôn Bộ Ngoại Giao VN phản ứng mạnh mẽ quyết định của EU, gia hạn thêm 15 tháng thuế chống bán phá giá đánh trên sản phẩm giày mũ da nhập khẩu từ Việt Nam. Trước đó một ngày, các đại sứ liên minh châu Âu họp ở Bruxelles, thủ đô Bỉ, đã bỏ phiếu chấp thuận việc gia hạn thuế chống phá giá mà ngành da giày Việt Nam bị áp đặt từ năm 2006 tới nay. Phía Việt Nam cho rằng, đây là một quyết định bất công, không phản ánh đúng thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh mặt hàng giày dép tại Việt Nam. Bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa hồi phục hoàn toàn, việc EU kéo dài áp thuế sẽ làm trầm trọng hơn những khó khăn của doanh nghiệp và cuộc sống người lao động Việt Nam.

Các nước EU tiêu thụ hơn phân nửa sản lượng giày dép xuất khẩu của Việt Nam. Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ Tịch Hiệp Hội Da Giày VN nhận định rằng, ngành da giày sẽ mất thời gian dài hơn để hồi phục:

“Doanh nghiệp da giày đã có sự chuẩn bị cần thiết, đặc biệt cần nhắm đến những thị trường mà ngành còn có điều kiện mở rộng hơn nữa, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ. Cũng không thể nói tương lai ngành da giày là xấu, thật sự trong quá khứ rất nhiều sự cố xảy đến cho ngành da giày nhưng chúng tôi vẫn có được sự phát triển. Năm 2009 những tác động đó được cộng hưởng bởi khủng hoảng, còn năm 2010 giới sản xuất ngành da giày kỳ vọng sẽ phục hồi như giai đoạn 2008, và nếu có tạo đà để tăng trưởng hay không thì phải tính từ năm 2011 trở đi.”

Đơn đặt hàng giảm

Da giày xuất khẩu bao gồm các loại giày dép, túi xách, ví, bóp nhưng mỗi khi nói tới da giày, người ta nghĩ ngay tới những thứ trang bị cho đôi chân. Ngành da giày Việt Nam từng có thời kỳ hoàng kim, kim ngạch sớm tham gia câu lạc bộ những sản phẩm xuất khẩu tỷ đô la. Năm 2008 giữa lòng suy thoái, nhưng tổng trị giá da giày xuất khẩu của Việt Nam cũng đạt 4 tỷ 500 triệu USD. Chính vì vậy chỉ tiêu ban đầu đặt ra cho năm nay là 5 tỷ 100 triệu USD, sau đó điều chỉnh còn 4 tỷ 770 triệu USD. Trong nửa đầu năm 2009, đơn hàng sụt giảm nghiêm trọng, nhiều nhà máy họat động cầm chừng, một số công ty phá sản người lao động mất việc làm.

Hiện nay ngành da giày đang tìm một số hướng đi khác để cố gắng phục hồi. Ông Diệp Thành Kiệt nhận định:

“Thị trường nội địa hiện nay là thị trường lớn, nhu cầu và đời sống của người dân đang có mức tăng trưởng, nên đó là chỗ để ngành da giày nhắm tới. Thứ hai là thị trường Asean, được biết đến nay tất cả các dòng thuế đều hạ xuống 5%, và trong 1 vài năm nữa tùy theo cam kết của Việt Nam với các nước…hiện nay đã có 6 nước thành viên Asean áp dụng thuế suất 0%. Chúng ta đang còn những dòng thuế 5% nhưng trong tương lai gần sẽ hạ xuống bằng 0%. Rõ ràng là giao dịch và mua bán trong thị trường của Asean và thị trường nội địa sẽ là tiềm năng rất lớn.”

Sản phẩm ngành da và giày dép với các nhà máy từng thu dụng gần bảy trăm ngàn công nhân trên toàn quốc, trị giá sản xuất đóng góp 10% tổng sản phẩm nội địa của Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Công Thương xuất khẩu giày dép của VN giảm 16% so với năm 2008, tính theo số liệu thu thập từ tháng 1 tới hết tháng 10/2009 với kim ngạch đạt 3 tỷ 210 triệu USD. Trong tình hình này khả năng ngành giày dép xuất khẩu tăng trưởng âm là điều có thể xảy ra.

Bài 1: “Bóng đêm” trên công trường

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:43 pm
Tags: , ,

LTS: Liên tiếp những vụ tai nạn lao động xảy ra tại các công trình cao tầng hàng ngàn tỷ. Cùng với đó là nỗi đau mất mát của những gia đình có công nhân tử nạn. Nhưng sau những giọt nước mắt khóc thương bạn và nỗi sợ tiềm ẩn dành cho mình, các công nhân khác lại vẫn phải tiếp tục lao vào cuộc mưu sinh đầy rủi ro trên những công trình chót vót giữa thành phố… VietNamNet giới thiệu loạt bài về thực trạng làm việc và “sống chung” với hiểm nguy của công nhân ở các công trình cao ốc.

Bài 1: “Bóng đêm” trên công trường

“Tính mạng của chúng tôi như một con kiến dưới chân các tòa nhà chọc trời. May mắn thì được sống, nhưng chẳng may cái chết đến lúc nào không biết” – đó là lời tâm sự của anh Nguyễn Thanh Q. (quê Quảng Ngãi), một thợ xây của công trình xây dựng tại đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh, TP.HCM).

Chấp nhận rủi ro

Đầu năm 2008, giống như nhiều người bạn cùng trang lứa khác, Q. vào đất Sài Gòn, mong có thể kiếm được một công việc làm, học được một nghề để thoát khỏi cảnh nghèo đeo bám.

Q. kể, ngày đầu tiên vào Sài Gòn mình ngơ ngác. “Rớt” xuống xe hồi 5 giờ sáng, trong túi chỉ còn đúng 20.000 đồng. Cũng khống biết đi về đâu. Vì sợ đói, sợ không chỗ ngủ, Q. đi lang thang tìm việc. Hỏi hoài không ai nhận làm. Đến chiều, tình cờ đi ngang công trình đang xây dựng tại đường Ung Văn Khiêm (quận Bình Thạnh, TP.HCM) mới nảy ra ý định xin làm phụ hồ.

Lao động trong điều kiện nguy hiểm luôn rình rập – Ảnh: Tử Trực

Vốn dĩ nghề phụ hồ rất cần người làm nên khi Q. xin làm người ta đồng ý ngay. Từ đó, Q. rong ruổi đi chỗ này đến chỗ khác, công trình ở đâu là nhà ở đó.

Từ khi bắt đầu nghề công nhân xây dựng, Q. không thể nhớ hết, bao nhiêu lần, tính mạng mình thoát chết trong gang tấc. Những cú té giàn giáo, gạch, sắt rơi trúng hàng chục lần, nhưng may mắn đã mỉm cười với Q. “Tính mạng của tôi vẫn không bị thần chết lấy đi” – Q. bảo.

Mỗi ngày, Q. phải leo giàn, phơi giữa nắng nóng hơn 8 giờ đồng hồ để đặt từng viên gạch, đắp từng mảng hồ vào bức tường cao chọc trời. Đồng tiền Q. nhận, được đổi bằng mồ hôi, đổi bằng chính nước mắt, và thậm chí là máu của mình.

Q. cho biết, mỗi ngày tiền công của anh là 80.000 đồng. Làm ngày nào có ngày đó, không làm thì không có lương.

Đã 2 năm làm thợ xây, khi chúng tôi hỏi có ký hợp đồng lao động, Q. chỉ cười và trả lời: “Chưa bao giờ thấy mặt mũi của bản hợp đồng. Mình là người lao động chân tay, chủ nhận được công trình thì kêu đi làm, tới tháng trả tiền chứ làm gì có hợp đồng”.

“Đi làm cái nghề này chủ yếu kiếm tiền để sống. Nhiều lúc cũng muốn bỏ nghề, tìm một công việc khác. Nhưng ở Sài Gòn, tìm một việc rất khó khăn. Lúc đó sẽ đói, không có chỗ nương thân” – Q. tâm sự.

Nỗi lo thất nghiệp đã “dẫn dắt” hàng trăm ngàn người vào nghề thợ xây tại các công trình cao ốc như Q. Họ chấp nhận rủi ro, chấp nhận thách thức với chính tính mạng của mình để đổi lấy những đồng lương ít ỏi.

“Bóng đêm” trên công trường

20 giờ đêm, chúng tôi theo chân Q. đến nơi làm việc. Đó là một công trình nằm tại đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh). Công trình thuộc hạng lớn nhất TP.HCM, có nhiều tòa nhà cao đến hàng trăm mét so với mặt đất. Riêng tòa nhà Q. đang làm, đã thi công tới tầng 36, Q. là công nhân xây dựng nên phải làm ở tầng cao nhất.

Cùng với gió là những “bẫy ngầm” khi làm việc ở công trình cao ốc – Ảnh: Tử Trực

“Đêm nay chúng ta đổ dầm (đổ bê tông thêm một tầng) nên chắc mệt lắm đó” – Q. than thở.

Trước khi chia nhóm để làm việc, Q. quay lại dặn dò tôi: “Làm đêm có cái khỏe, không nắng nóng nhưng hiểm nguy luôn rình rập. Chỉ cần một sơ ý nhỏ, tính mạng khó giữ được”.

Lời dặn dò ngay lập tức được chứng minh, khi một cơn gió ập đến, cuốn đi nhiều đồ đạc trên công trường. Từ độ cao khoảng 150 mét so với mặt đất, sức gió trên công trường thổi mạnh đến kinh hoàng. Gió như muốn cuốn thân người ra không trung.

Cùng với gió là những “bẫy ngầm”, chực chờ cướp đi sinh mạng bất kỳ ai sơ ý mắc phải. Hàng ngàn khối sắt thép ngổn ngang, những bờ vực sâu hoắm không lưới che chắn, không hành lang bảo vệ luôn chực chờ.

Đến 2 giờ sáng, cái lạnh của sương gió, cái mệt… cũng đã bắt đầu ngấm vào da thịt. Cách đó không xa, dưới ánh sáng lờ mờ của bóng đèn điện, nhóm công của Q. vẫn làm việc cật lực.

Những cây “cầu khỉ” mong manh trên cao – Ảnh: Tử Trực

Q và các công nhân khác vác những thanh sắt, cốp pha… đi qua lại những “bờ vực”, những cây “cầu khỉ” chỉ vừa đủ đặt bàn chân. Họ leo trèo trên những thanh giàn giáo lay lắt, cao ngút trời mà không có bất kỳ một dây bảo hộ nào, ngoài chiếc mũ bảo hiểm xe máy trên đầu.

Bất chợt, một tiếng động lớn phát ra khiến cả nhóm giật mình. Anh Vương, người làm chung với Q. đã bị vấp ngã bởi những khối sắt la liệt dưới chân. Tấm cốp pha anh đang vác bay thẳng xuống các tầng phía dưới. May mắn, anh Vương đã đưa tay bám kịp vào thanh sắt bên cạnh nên không bị rớt theo.

Nhìn về phía tấm cốp pha rơi, anh Trung, người lớn tuổi nhất nhóm cảnh báo: “Làm ban đêm cần phải tỉnh táo. Nếu không, sẽ bị thép đè hoặc ngã giàn giáo mà chết đấy!”.

Dường như, lời nói của anh Trung đã khiến nhiều người nhớ lại những cái chết của đồng nghiệp trước đó. Cả nhóm ngồi trầm ngâm, cầm điếu thuốc phì phèo kể về hiểm nguy của đời công nhân xây dựng.

Đến 5h sáng, công việc đổ dầm của nhóm Q. cũng đã xong. Một đêm làm việc đã qua, Q. và nhiều người khác được nhận 80.000đ. Đêm mai họ sẽ tiếp tục làm ở tầng cao hơn.

“Chủ thầu chỉ quan tâm tới tíến độ!”

Tại công trường xây dựng một tòa nhà 19 tầng ở khu Văn Khê (quận Hà Đông, Hà Nội), chúng tôi gặp anh Lê Văn Linh (quê ở Phú Thọ). Anh lên Hà Nội làm thợ xây đến nay đã được hơn một năm.

Mới đầu lên Hà Nội, anh Linh đi làm thợ xây dựng tại các công trình xây dựng nhỏ với mức thu nhập chỉ 70 nghìn đồng/ngày. Sau nhiều lần vãn việc, ngồi lân la đi tìm việc mới gần các công trình nhà cao tầng, anh Linh có quen được Long – một người chuyên cai lao động xây dựng tại các công trình nhà cao ốc lớn ở Hà Nội. Anh được Long nhận vào làm thợ xây ở Khu đô thị Văn Khê với mức thu nhập 90 nghìn đồng/ ngày.

Ngất ngưởng trên cao, không một phương tiện bảo hộ – Ảnh: NT

Gặp chúng tôi tại công truờng, vừa kể xong câu chuyện, anh Linh phải leo lên tầng 9 để trát hồ. Giàn giáo chìa ra từ phía tường xây, nhìn từ dưới lên trông anh bé tẹo như… bao diêm, đi lại giữa không trung thoăn thoắt xây trát mà không có bất cứ phương tiện bảo vệ an toàn nào.

“Nhà thầu tiết kiệm không chắn giàn giáo nên nhiều hôm tôi phải thường xuyên nhắc anh em công nhân cẩn trọng. Trong khi anh em công nhân lại rất chủ quan, có công nhân chỉ đội mũ mặc quần đùi trát hồ, thậm chí có người còn quên không đeo dây bảo hiểm xây trát…”- một người chuyên “cai thầu” lao động xây dựng nói.
Theo ghi nhận PV VietNamNet, tại các công trường đang thi công trên địa bàn Hà Nội, chế độ bảo đảm an toàn lao động hầu như không có gì. Chủ thầu thì quan tâm tới tiến độ, còn lao động chỉ quan tâm tới lương và thưởng.

Anh Nguyễn Văn Minh, quê ở Thanh Hóa, làm nghề phụ hồ ở công trường nhà cao tầng Văn Khê lương chỉ được khoảng 2,2 triệu đồng/tháng. Trừ tất cả các chi phí, mỗi tháng anh cũng chỉ tiết kiệm được khoảng 800 nghìn đồng gửi về quê cho vợ con.

Anh Minh thành thật: “Công việc nặng nhọc, nguy hiểm luôn rình rập, tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, làm từ sáng đến tối, có khi còn tăng ca để kịp tiến độ. Tuy lương có cao hơn, nhưng làm nhiều quá nên ốm mệt thường xuyên. Mới đây tôi bị sốt xuất huyết phải đi nằm viện mất gần 10 ngày. Vì không có thẻ bảo hiểm y tế nên phải chi trả hết 2 triệu đồng nên 2 tháng tới chắc không có tiền gửi về cho vợ con..”.

Nói với chúng tôi, một giám sát bảo hộ An toàn lao động tại một công ty xây dựng tư nhân cho hay: “Các nhà thầu chỉ chú trọng đến đội ngũ giám sát và kỹ thuật viên, còn công nhân thì không quan tâm tới. Do khoán công việc nên họ chỉ cần đủ quân số, vấn đề đào tạo tay nghề, kiểm tra trình độ hay an toàn lao động thì các đội trưởng tự làm lấy”.

Chính vì điều này, rất nhiều vụ tai nạn lao động chết người hoặc bị thương nặng đã xảy ra, nhưng các đơn vị quản lý lao động đã giấu nhẹm…

  • Tử Trực – Vũ Điệp

    Bài 2: Những cái chết được giấu nhẹm

    Không ít cái chết tức tưởi của công nhân làm việc trên các công trường xây dựng đã xảy ra. Nhưng nhà thầu, đơn vị thi công “lo lót”… giấu nhẹm. Mạng người được đánh đổi bằng tiền.

Create a free website or blog at WordPress.com.