Ktetaichinh’s Blog

December 19, 2009

Hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại VN chiếm vị trí quan trọng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:36 am
Tags:

Với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều tổ chức tài chính nước ngoài đã tiếp cận thị trường tài chính-tiền tệ Việt Nam để tham gia vào thị trường này dưới nhiều hình thức khác nhau. Do việc áp dụng lộ trình nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài, mở chi nhánh và các điểm giao dịch, dỡ bỏ dần hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND và khả năng mở rộng dịch vụ ngân hàng nên hoạt động của các ngân hàng nước ngoài ngày càng sôi động.

Kể từ khi Việt Nam mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng đến nay, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng nước ngoài có mặt tại thị trường Việt Nam ngay từ đầu những năm 1990, sau khi hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân thành hai cấp, với hai loại hình: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 đã cho phép thêm một hình thức hiện diện thương mại mới, đó là ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Với sự xuất hiện thêm loại hình ngân hàng mới này đã làm tăng tính hấp dẫn và phong phú cho thị trường tài chính Việt Nam, nhưng cũng thêm một thách thức đối với các ngân hàng thương mại trong nước.

Tính đến nay, có 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg) được cấp Giấy phép hoạt động tại Việt Nam, trong đó có một số ngân hàng nước ngoài có 2 chi nhánh độc lập, 5 ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc. Ngoài ra, thực hiện các cam kết với WTO, Ngân hàng Nhà nước đã cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam đó là Ngân hàng HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong. Hầu hết, các ngân hàng nước ngoài đều mở chi nhánh tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Về phạm vi hoạt động của các NHNNg chủ yếu tập trung tại trụ sở của chi nhánh. Bên cạnh đó, còn có trên 50 văn phòng đại diện của các TCTD. Nhìn chung, các ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các tổ chức này là những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của các ngân hàng thương mại trong nước, nhưng cũng là kênh truyền dẫn vào Việt Nam những công nghệ ngân hàng hiện đại, những thông lệ quốc tế về quản trị tốt nhất và là nguồn tài chính không nhỏ bổ sung cho thị trường tài chính của Việt Nam.

Trong năm 2009, cũng như các ngân hàng mẹ ở nước ngoài, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệu quả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và doanh nghiệp Việt Nam.

Đến cuối tháng 10/2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng (TCTD) nước ngoài tại Việt Nam tăng 17,8%, tổng dư nợ tín dụng tăng 14%, tổng tài sản có tăng 14,9% so với cuối năm 2008; tỷ lệ nợ xấu chiếm dưới 1% trong tổng dư nợ. Về cơ bản, các TCTD nước ngoài luôn đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro đúng quy định, có ý thức tuân thủ pháp luật Việt Nam. Hầu hết các TCTD nước ngoài đều hoạt động có lãi (chênh lệch thu chi lũy kế của các ngân hàng nước ngoài đến cuối tháng 10/2009 đạt 2.947,5 tỷ đồng). Do hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuần tuý là vì mục tiêu lợi nhuận, không phải thực hiện việc cho vay chính sách nên nợ quá hạn rất thấp, dư nợ tăng trưởng lành mạnh. Bên cạnh đó, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn được ngân hàng mẹ hỗ trợ nhiều mặt nên càng có điều kiện để mở rộng cho vay. Kết quả hoạt động phân theo nhóm các TCTD như sau:

Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài:

Do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng bị suy giảm. Tuy nhiên, thu nhập trước thuế của các ngân hàng này vẫn đạt 2.612 tỷ VND; nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng khá ( tăng 17,8% và 10,8% so với cuối năm 2008); tỷ lệ nợ xấu chiếm 0,6% tổng dư nợ, tăng so với tỷ lệ của cuối năm 2008 (0,47%), nhưng vẫn ở mức thấp so với các nhóm ngân hàng khác; tổng tài sản có tăng 14% so với cuối năm 2008.

Về dịch vụ thanh toán, các chi nhánh NHNNg thường đến từ những nước phát triển, nơi mà hệ thống ngân hàng tài chính cũng đạt đến trình độ phát triển tương đối cao nên hoạt động của các chi nhánh này tại Việt Nam cũng được thừa hưởng những ưu thế đó. Điều này được thể hiện rõ qua các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, chất lượng dịch vụ cũng như thái độ phục vụ khách hàng. Các chi nhánh NHNNg thường tiên phong trong việc áp dụng công nghệ hiện đại, giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới. Do vậy, có thể nói các chi nhánh NHNNg thường chiếm ưu thế trong các dịch vụ thanh toán và hoạt động phi tín dụng.

Về khả năng sinh lợi của các chi nhánh NHNNg, nhìn chung, cao hơn so với các ngân hàng trong nước do các ngân hàng này sử dụng vốn được cấp và vốn vay tương đối hiệu quả, mức rủi ro thấp. Bên cạnh đó, các ngân hàng này còn có nguồn thu đáng kể từ các hoạt động phi tín dụng, mảng hoạt động còn yếu của các ngân hàng Việt Nam hiện nay;

– Các ngân hàng liên doanh: Hoạt động của các ngân hàng liên doanh tăng trưởng khá ổn định, trong đó nguồn vốn huy động tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3% so với cuối năm 2008, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,8% tổng dư nợ, tổng tài sản có tăng 18,3%, thu nhập trước thuế đạt 477 tỷ VND. Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng này tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, sản phẩm và dịch vụ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm truyền thống.

– Các TCTD phi ngân hàng: Nguồn vốn huy động của các TCTD phi ngân hàng trong 10 tháng đầu năm tăng 17,5% so với cuối năm 2008, dư nợ tín dụng tăng 41,8%, tổng tài sản có tăng 40,5%. Nhìn chung, hoạt động của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong năm 2009 gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu do khách hàng thuê tài chính trung và dài hạn bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Một số tổ chức tín dụng phi ngân hàng mới hoạt động từ cuối năm 2007, chi phí hoạt động lớn, nguồn thu chưa đủ bù đắp chi phí.

-Về hoạt động của các văn phòng đại diện NHNg tại Việt Nam: Trong thời gian qua, các văn phòng này đã đóng vai trò là cầu nối quan trọng cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời cũng hỗ trợ khách hàng của ngân hàng mẹ trong việc nghiên cứu thị trường nhằm cải thiện môi trường đầu tư và thiết lập quan hệ với các chủ thể kinh tế Việt Nam. Các văn phòng đại diện này cũng có những hỗ trợ đáng kể đối với Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Việt Nam như đào tạo cán bộ, tổ chức hội thảo, cung cấp một số luật nước ngoài liên quan để Ngân hàng Nhà nước tham khảo trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, giới thiệu các kỹ năng ngân hàng hiện đại, cải thiện quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Các văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Việt Nam và các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tóm lại, các ngân hàng nước ngoài đang có một môi trường hoạt động tương đối thuận lợi, đầy triển vọng, sẽ đầu tư và tham gia nhiều hơn vào thị trường tài chính Việt Nam thông qua các sản phẩm mới, cung cấp dịch vụ ngân hàng hiện đại với những thông lệ và chuẩn mực quốc tế, góp phần xây dựng một nền tài chính – ngân hàng phát triển toàn diện, vững mạnh tại Việt Nam.(Nguồn: SBV, 18/12)

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: