Ktetaichinh’s Blog

December 18, 2009

Xung quanh vấn đề tái cơ cấu nợ Dubai

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:09 pm
Tags: ,

Friday, 18. December 2009, 18:17:44

Khủng hoảng nợ của nghiệp đoàn Dubai World đã làm dấy lên nỗi lo ngại của các nhà đầu tư, đặc biệt sau khi Chính phủ Dubai tuyên bố là không chịu trách nhiệm về những khoản nợ của Dubai World, trong khi Dubai World là nghiệp đoàn nhà nước. Ngay từ đầu tuần (7/12), TTCK Dubai trượt dốc và thị trường nợ tiếp tục vấp phải tình trạng bất ổn, cổ phần của một số ngân hàng cho vay đã sụt giá, trong số này có Royal Bank of Scotland, HSBC và Standard Chartered.

Ngày 7/12 (thứ hai), các chủ nợ hàng đầu đã gặp Dubai World để bàn luận về khoản nợ 3,5 tỉ $ chứng khoán sukuk (chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản) do công ty con Nakheel của Dubai World phát hành. Theo kế hoạch, chứng khoán này phải thanh toán vào 14/12, nhưng sẽ phải lâu hơn, các chủ nợ cũng vấp phải đề nghị hoãn thanh toán khoản nợ 26 tỉ $ sau 6 tháng. Cùng với các chủ nợ, các công ty xếp hạng quốc tế hàng đầu đang tìm kiếm sự rõ ràng hơn của các kế hoạch tái cơ cấu Dubai World.

Dubai đã vay quá nhiều để chuyển hóa vùng nước đọng thành trung tâm thương mại tại tâm điểm xuất khẩu dầu mỏ thế giới này, nhưng thời kỳ phát đạt khi khai trương các dự án như tòa nhà cao nhất thế giới đã kết thúc từ năm ngoái, khi khủng hoảng tài chính tác động đến khu vực này. Chỉ riêng 6 tháng qua, Nakheel đã thua lỗ 3,65 tỉ USD. Nhiều nhà đầu tư đã cho Dubai vay tiền với sự hiểu ngầm định là được chính phủ bảo đảm, vì thế thông tin Dubai World gặp khó khăn đã làm cho họ thêm choáng váng khi chưa hoàn hồn sau những thiệt hại lớn lao từ khủng hoảng toàn cầu.

Ngày 08/12, các quan chức Chính phủ đã đề xuất giải pháp toàn diện về tái cơ cấu nợ với thời gian kéo dài hơn 6 tháng. Tuy nhiên, thời gian 6 tháng để tái cơ cấu là quá ngắn, thời gian 6 tháng này chỉ đủ để phân loại nợ, tập trung vào các chủ nợ, các bên tham gia hợp đồng, và v.v. Hơn nữa, có vẻ các quan chức chính phủ đang lúng túng và không biết làm gì để khắc phục nợ nần chồng chất của nghiệp đoàn nhà nước Dubai World. Morgan Stanley cho rằng, nguồn vốn để tái cơ cấu nợ Dubai có thể vượt quá mức nợ quá hạn mà Dubai World thông báo mới đây, nó sẽ tăng lên khoảng 47 tỉ $.

Ngày 14/12, trong khi Chính phủ Dubai đang lúng túng, nước láng giềng Abu Dhabi đã hỗ trợ Dubai 10 tỉ USD nhằm làm yên lòng các nhà đầu tư trong ngắn hạn và là bước chiến thuật để có thể tiếp tục việc tái cơ cấu nợ một cách có trật tự. Tuy nhiên, phương thức thanh toán khoản nợ 35 tỉ USD còn mập mờ và chưa rõ ràng, vấn đề Dubai không chỉ dừng lại với Dubai World và sự thiếu minh bạch đã làm tăng lo ngại của nhà đầu tư. Tháng 2/2010, Borse Dubai phải thanh toán khoản nợ 2,5 tỉ USD, trong khi Chính phủ Dubai sở hữu công ty này. Trong sáu tháng đầu năm 2010, Dubai Holdings phải hoàn trả khoản nợ gần 1,9 tỉ USD. Một nghiên cứu của Chính phủ Nhật Bản cho biết là, Chính phủ Dubai và các doanh nghiệp trực thuộc nợ các công ty Nhật Bản gần 7,5 tỉ USD và khoản nợ này đã đáo hạn vào 31/10 vừa qua, v.v.

Trong khi các nhà đầu tư lo ngại là các khoản cứu trợ không thể khắc phục được khó khăn một cách kịp thời, các công ty xếp hạng đã đánh tụt hạng của tất cả các doanh nghiệp có liên quan đến Chính phủ. Công ty xếp hạng Moody đã hạ thấp hạng của các khoản nợ liên quan đến Chính phủ và giảm điểm của 6 công ty Dubai sau khi kết luận là không có sự hỗ trợ đáng giá nào của Chính phủ cho những doanh nghiệp hàng đầu như Dubai World. Moody cho rằng, các nhà đầu tư nên lưu ý về sự khẳng định của Chính phủ là họ không cứu vớt các doanh nghiệp và cần nghe ngóng về việc triển khai các biện pháp tái cơ cấu Dubai World. Công ty xếp hạng Standard & Poor’s cho rằng, chưa có chuyển biến tích cực nào về hướng giải quyết của Chính phủ đối với các doanh nghiệp có liên quan đến Chính phủ.

Dubai World là doanh nghiệp nhà nước và là công ty hàng đầu của Dubai, xây dựng mọi thứ từ bến cảng đến căn hộ xa xỉ và đóng góp nhiều cho Dubai, nhưng quan chức Chính phủ lại nói là họ sẽ không bán tài sản của Chính phủ để cứu giúp, nên nợ công ty có thể phải phát mại với giá chỉ bằng ½ giá trị danh nghĩa.

Sau khi có khoản hỗ trợ 10 tỉ USD từ Abu Dhabi, thị trường có phản ứng tích cực, chỉ số chứng khoán chính của Dubai đã tăng tới 10%, giá euro và bảng Anh nhích lên so với USD, giá vàng tăng một chút do chưa kỳ vọng về khả năng Dubai sẽ sớm bán vàng để cứu Dubai World. Tuy nhiên, nguồn tin của Chính phủ Dubai cho rằng, khoản hỗ trợ này rất nhỏ so với yêu cầu thanh toán các khoản nợ có liên quan đến chính phủ và rất khó cải thiện tình hình tài chính của Dubai, mặc dù Ngân hàng Trung ương UAE nói là sẽ hỗ trợ các ngân hàng Dubai và Dubai World nói là sẽ tiếp tục thảo luận với các chủ nợ.

Theo tính toán, kế hoạch tái cấp vốn là khó khăn đối với Chính phủ Dubai và chủ yếu trông cậy vào UAE, trong đó Abu Dhabi nắm quyền chi phối với 90% kim ngạch xuất khẩu dầu mỏ của toàn UAE và nguồn tài chính dồi dào, nhưng Abu Dhabi cũng phải thương thuyết với Chính phủ Iran vì Iran gắn liền với tương lai của hãng hàng không UAE và đang điều hành thế giới hồi giáo trong khu vực. Một số chuyên gia cho rằng, UAE đang lâm nguy và Abu Dhabi không có lựa chọn khác là phải cứu Dubai, nhưng việc này đòi hỏi phải có thời gian.

Trước áp lực tái cơ cấu nợ, Chính phủ Dubai có thể phải áp dụng luật phá sản của Mỹ và Vương quốc Anh nhằm tìm kiếm sự bảo vệ của các chủ nợ. Tuy nhiên, một điều gần như chắc chắn là Dubai phải bán tài sản để thanh toán các khoản nợ sắp tới, và Chính phủ đang tính đến phương án giữ lại những tài sản có giá trị khỏi danh sách tái cơ cấu nợ của Dubai World và của các công ty có liên quan đến Chính phủ, mặc dù họ nhắc lại là chỉ bán tài sản của công ty con Nakheel và Limitless World, chứ không bán tài sản của Istithmar World hay DP World.

Nhìn chung, các nhà đầu tư đang tập trung mối quan tâm vào các bước cụ thể về tái cơ cấu nợ của Dubai, đây là việc làm khó khăn và đòi hỏi nhiều biện pháp khác nhau, chủ yếu dựa vào Abu Dhabi, nhưng Dubai không thể khắc phục được nếu không bán một phần tài sản.

Ts. Hoàng Thế Thỏa

Advertisements

“Bão” giá lương thực đe dọa thế giới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:27 am
Tags: , ,

18/12/2009 07:30

(HNM) – Theo nhận định mới đây của Tổ chức Lương – Nông của Liên hợp quốc (FAO), giá lương thực thế giới năm 2010 đang có xu hướng tăng trở lại. Song giá cả sẽ không lên cao tới mức của năm 2008, năm mà giá lương thực tăng vọt khiến nhiều quốc gia gặp không ít khó khăn. Thời tiết xấu ở những nước sản xuất lương thực chủ yếu là nguyên nhân khiến cho giá cả tăng cao.

Giá gạo tăng sẽ đẩy người dân các nước nghèo vào nguy cơ thiếu đói.

Chuyên gia kinh tế của FAO, Abdolreza Abbassian, cho rằng, cuộc khủng hoảng giá lương thực năm 2008 là do sự kết hợp của những điều kiện bất thường, bao gồm số tồn kho thấp, thời tiết xấu, sự cạnh tranh của nhiên liệu sinh học, cũng như giá năng lượng cao, trong khi nhiều chính phủ áp đặt các biện pháp hạn chế xuất khẩu cũng như việc các nhà đầu cơ đổ xô vào thị trường lương thực khiến cho tình hình vốn đã tồi tệ lại càng trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, trữ lượng ngũ cốc thế giới hiện vẫn dồi dào hơn so với thời điểm trước khi giá cả tăng vọt vào năm 2008. Điều này sẽ giúp hạn chế sự tăng giá như năm 2008.

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế Pháp, yếu tố đầu tiên đẩy giá lương thực thế giới tăng trở lại trong năm 2009 mang tính cơ học. Bởi diện tích và sản lượng đều giảm trong khi nhu cầu tăng. Yếu tố thứ hai khiến giá sẽ tăng lại là do thị trường không ổn định. Một yếu tố nữa không kém phần quan trọng là do tác động của suy thoái kinh tế thế giới. Theo cảnh báo của Ngân hàng thế giới (WB), điều này có thể tạo nên sự tăng giá mạnh trong vụ mùa 2009-2010 tới do thiếu hụt lương thực.

Sản lượng gạo toàn cầu trong niên vụ 2009-2010 dự kiến giảm lần đầu tiên trong 5 năm trở lại đây do mùa màng ở Ấn Độ bị ảnh hưởng bởi lượng mưa thấp nhất trong 4 thập kỷ qua, trong khi hàng loạt trận bão phá hủy mùa màng tại Philippines và hiện tượng El Nino gây ra hạn hán triền miên tại một số nơi khác. Một số nhà giao dịch và hoạch định chính sách thế giới cho rằng, cung và cầu đang mất cân đối tại thời điểm này.

Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng gạo toàn cầu sẽ giảm xuống 432 triệu tấn niên vụ năm 2009-2010, trong khi cầu sẽ ở mức 437 triệu tấn. Do đó, các kho dự trữ sẽ giảm hơn nữa. Điều này lý giải vì sao nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới là Philippin ngày 8-12 vừa qua đã chấp nhận mua loại gạo chất lượng thấp với giá khoảng 630 USD/tấn, tăng 30% so với tháng trước và tăng gấp đôi so với mức 320 USD/tấn hồi đầu năm nay.

Nhiều chuyên gia nông nghiệp quốc tế lo ngại giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới sẽ duy trì ở mức cao trong trung hạn do nguồn cung khan hiếm, có thể sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng lương thực mới tương tự năm 2007-2008. Còn FAO lại cảnh báo về một vấn đề xa hơn, đó là số người nghèo đói trên trái đất ngày một tăng – những người khó có thể lo đủ bữa ăn cho gia đình bởi giá quá cao.

Trong một báo cáo gần đây, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và FAO dự báo giá nông sản trung bình trong giai đoạn 2009-2018 sẽ cao hơn 10 đến 20% so với những năm 1997-2006. Giá thịt và sữa sẽ tăng ít hơn so với những loại nông sản khác trong giai đoạn 2009-2018 bởi cung những hàng hóa này có thể điều chỉnh dễ dàng trong ngắn hạn và cầu thì rất nhạy cảm với mức thu nhập của người tiêu dùng.

Các nhà lãnh đạo trong cuộc chiến chống nạn đói toàn cầu vừa kêu gọi thế giới sẵn sàng đối phó với cuộc khủng hoảng lương thực mới và cần hành động ngay để bảo đảm an ninh lương thực ở các nước đang phát triển. FAO thì đề nghị nên có sự gắn kết giữa viện trợ phát triển chính thức (ODA) và việc tài trợ chống biến đổi khí hậu, bởi những hoạt động canh tác giúp hấp thu và giữ khí cácbon trong đất nông nghiệp cũng là giải pháp hiệu quả để đối phó với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển.

Giày dép Việt Nam vẫn cặm cụi “lấy công làm lãi”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:19 am
Tags:


Cập nhật:   6:30:00 18/12/2009

Từ ngày 17 đến 22/12, Liên minh châu Âu (EU) sẽ ra phán quyết cuối cùng về việc có gia hạn thuế chống bán phá giá sản phẩm giày mũ da Việt Nam.
CôngThương – Nếu tiếp tục bị gia hạn, ngành da giày Việt Nam sẽ phải gánh khoản thuế này (10%) thêm ít nhất 15 tháng nữa, đồng nghĩa với thiệt hại sẽ kéo dài thêm. Tuy nhiê,n thách thức của da giày Việt Nam không chỉ là vấn đề thuế chống bán phá giá mà chính là nền sản xuất chủ yếu dựa vào gia công.


70% là gia công

Tuy Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu giày dép lớn thứ 2 trên thế giới nhưng đến nay, lĩnh vực xuất khẩu thuộc nhóm chủ lực của nước ta vẫn chủ yếu cặm cụi “lấy công làm lãi”.

Ông Trần Đình Thăng, Giám đốc Công ty TNHH Nhật Việt, một trong số ít doanh nghiệp giày dép sản xuất toàn bộ và trực tiếp xuất khẩu với thương hiệu Vento, khẳng định: “Phần lớn các doanh nghiệp da giày của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu sản xuất dưới hình thức gia công cho nước ngoài hoặc cho thuê nhà xưởng”. Báo Lao Động mới đây cũng cho biết đến 70% các doanh nghiệp gia dày của Việt Nam hiện nay là gia công thuần túy cho nước ngoài. Đây là thực trạng không lấy gì làm tự hào của ngành công nghiệp đã có gần 20 năm “hội nhập và phát triển”.


Da giày là một trong những lĩnh vực đầu tiên đón nhận làn sóng đầu tư nước ngoài từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước với việc hình thành hàng loạt nhà máy gia công, liên doanh, 100% vốn nước ngoài) trải dài trên cả nước. Thế nhưng đến nay, ngành xuất khẩu đứng thứ 3 của Việt Nam với hơn 600.000 lao động vẫn bị đánh giá là lợi nhuận thấp. “Mặc dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng giá trị gia tăng của ngành này chỉ đạt 25%”- báo cáo của Hiệp hội da giày Việt Nam (Lefaso) cho hay. Giá trị gia tăng nhỏ nhoi đó chủ yếu nằm ở sức lao động, yếu tố được xem là xem là “lợi thế cạnh tranh” lớn nhất của da giày Việt Nam những năm qua. Song lợi thế về “giá nhân công rẻ” và “nguồn lao động dồi dào” này đang mất dần đi khi người lao động không còn mặn mà với công việc hết sức vất vả, khắc nghiệt mà thu nhập thấp (da giày là một trong những ngành có thu nhập thấp nhất). Bằng chứng là ngành da giày hay xảy đình công và tình trạng khan hiếm lao động đã bắt đầu diễn ra ở nhiều doanh nghiệp da giày của Hải Phòng trong năm nay.


Sở dĩ giày dép Việt Nam vẫn miệt mài gia công, giá trị gia tăng thấp bởi “80% nguyên liệu phải nhập khẩu”, “ngành phụ liệu mới chỉ sản xuất được một vài mặt hàng rất hạn chế như nhãn, ren, dây giày… nhưng lại bỏ ngỏ những loại phụ kiện tinh xảo”; “năng suất lao động của Việt Nam rất thấp, chỉ bằng 1/10 Indonesia, 1/20 Malaysia, 1/30 Thái Lan”; “trình độ tay nghề ở mức trung bình và trung bình khá”- theo báo cáo của Lefaso khẳng định.

Thật đáng buồn là sau gần 2 thập kỷ làm ăn với nước ngoài, được tiếp thu rất nhiều kinh nghiệm, công nghệ, bí quyết tiên tiến của thế giới, những đôi giày, đôi dép Việt Nam vẫn phải oằn mình “cõng” trên lưng những thương hiệu ngoại nếu như muốn có chỗ đứng ở thị trường Âu – Mỹ. Việt Nam hiện có hơn 500 doanh nghiệp da giày nhưng những thương hiệu được người tiêu dùng trong nước biết đến chỉ đếm trên đầu ngón tay như Biti’s, Bita’s, Thượng Đình, Vento, Sholega… Còn những thương hiệu Việt Nam có mặt ở thị trường nước ngoại lại càng ít nữa. Dường như mới chỉ có Biti’s (công bố có mặt ở hơn 40 nước), Vento (vươn tới Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Canada, Bắc Mỹ), còn Vina Giày mới đang tìm đường sang Mỹ.

Một vấn đề nữa là các doanh nghiệp da giày Việt Nam chỉ mải mê với thị trường xuất khẩu mà l bỏ ngỏ thị trường trong nước. Hiện các doanh nghiệp da giày Việt Nam mới “phủ sóng” được một nửa thị phần nội địa. Nửa còn lại là “sân chơi” của giày dép Trung Quốc, Thái Lan và một số nước láng giềng.

Một ngành công nghiệp chủ yếu làm gia công, lợi nhuận thấp, không có thương hiệu, chưa thống lĩnh được “sân nhà” thì không thể gọi là một ngành kinh tế mạnh cho dù số lượng về doanh nghiệp, kim ngạch xuất khẩu, lao động có thể là “hoành tráng”.

Chiến lược mới

“Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để thể trở thành một trung tâm sản xuất giày dép chất lượng của khu vực và thế giới. Da giày có thể trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia theo nghĩa là một ngành sản xuất có gía trị gia tăng cao chứ không chỉ là gia công”- ông Trần Đình Thăng, người quyết tâm xây dựng thương hiệu cho sản phẩm giày dép Việt Nam, khẳng định. Quan điểm này cũng là mục tiêu mà Lefaso đặt ra cho ngành da giày Việt Nam giai đoạn 2010-2015 là “chuyển đối thành công từ phương thức gia công sang sản xuất toàn diện với việc đưa Việt Nam trở thành một trung tâm về sản xuất giày của khu vực”.

Là người đã có kinh nghiệm và có ít nhiều thành công trong lĩnh vực sản xuất giày dép, ông Thăng cho rằng, với vị trí là nước xuất khẩu lớn thớn 4 thế giới và hơn 80 triệu dân trong nước, Việt Nam đã có uy tin và thị trường; về trình độ sản xuất, Việt Nam đã được tiếp cận với thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến của nước ngoài và hình thành đội ngũ công nhân lành nghề sau gần 20 năm làm gia công và Việt Nam có một trung tâm cung cấp vật tư, phụ liệu gần nhất, rẻ nhất là Trung Quốc.

Tuy nhiên, để có cơ sở dữ liệu chuẩn nhằm xây dựng một chiến lược toàn diện và đúng đắn, theo ông Thăng, cần tổ chức các hội thảo khoa học, đánh giá toàn bộ quá trình phát triển của ngành này từ đó đề ra các chính sách hỗ trợ: phát triển công nghiệp phụ trợ, hỗ trợ chính sách thuế, tài chính, đất đai, đào tạo nghề, đầu tư cho thiết kế, xây dựng thương hiệu, tổ chức hội chợ, triển lãm… Và đã có những tín hiệu mới cho chiến lược này khi mới đây, Bộ Công Thương và Lefaso đã khởi động dự án “Đổi mới và thương hiệu: công cụ cạnh tranh toàn cầu” nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh cho da giày Việt Nam.

Người nước ngoài bất hợp pháp ở VN – Bài 3: Chuyên gia làm “chui”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:13 am
Tags: ,
“Bác sĩ” dỏm người nước ngoài hành nghề trái phép tại VN bị phát hiện – Ảnh: T.Tùng
Qua các đợt kiểm tra, cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn lao động nước ngoài (LĐNN) không có giấy phép lao động tại một số xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện.

Hệ quả dễ thấy nhất là vì không quản lý được người nước ngoài làm… chui nên ngân sách nhà nước thất thu hàng chục tỉ đồng tiền thuế thu nhập cá nhân (TNCN).

Gần 3.000 người nước ngoài làm “chui”

Theo Sở LĐ-TB-XH TP.HCM, qua kiểm tra, rà soát tình hình sử dụng lao động nước ngoài tại 3.733 doanh nghiệp (DN), tổ chức, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty nước ngoài tại TP.HCM, toàn TP có tổng cộng 16.811 LĐNN đang làm việc, chưa kể số “lao động cơ bắp” phần lớn đến từ các nước châu Phi (không thuộc diện quản lý của Sở LĐ-TB-XH). Đến nay, có 12.412 người nước ngoài được Sở cấp phép lao động theo quy định. Qua kiểm tra, Sở đã phát hiện gần 3.000 người nước ngoài đang làm việc “chui”.

Theo Sở Công thương TP.HCM, hiện chưa có khung lương tối thiểu đối với LĐNN theo chức danh và quốc tịch, do đó tạo cơ sở cho các văn phòng đại diện trốn thuế TNCN bằng cách kê khai thu nhập dưới mức chịu thuế gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước; đồng thời gây ra sự bất bình đẳng giữa văn phòng đại diện các khối nước khác nhau, như khối Nhật Bản, châu Âu hầu hết thực hiện kê khai thu nhập khá đầy đủ, trung thực, đóng thuế TNCN ở mức cao, trong khi một số khối khác thường kê khai dưới mức chịu thuế hoặc không có thu nhập tại VN.

Sáng 11.12, chúng tôi liên hệ với Công ty giày da Huê Phong (Q.Gò Vấp, TP.HCM), nơi có tiếng với nhiều cuộc tranh chấp lao động liên quan đến tiền lương, thưởng, chế độ đãi ngộ, tăng ca, tăng giờ làm, điều kiện làm việc… để tìm hiểu về tình hình LĐNN. Sau rất nhiều thủ tục rườm rà, chờ đợi rất lâu, bộ phận văn phòng cử một nhân viên tên Thảo tiếp chúng tôi tại phòng bảo vệ và cho biết “lãnh đạo công ty đi họp hết”. Cứ mỗi lần chúng tôi đặt câu hỏi, Thảo lại bước ra móc điện thoại di động trao đổi với ai đó, rồi mới bước vào trả lời. Từ những “chỉ đạo từ xa” này, Thảo cho biết Công ty Huê Phong có 58 LĐNN. Phần lớn họ trực tiếp điều hành sản xuất tại các phân xưởng và “tất cả đều có giấy phép lao động”.  Trong khi đó, một cán bộ Thanh tra Sở LĐ-TB-XH cho biết, qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện ở công ty này có 6 trường hợp LĐNN không có giấy phép lao động.

Quản lý chưa chặt chẽ?

Theo ông Huỳnh Tấn Dũng, Chánh thanh tra Sở LĐ-TB-XH TP.HCM, từ đầu năm 2009 đến nay, Thanh tra Sở đã phối hợp với Công an TP tiến hành 800 cuộc kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động tại các DN. Ông Dũng cho biết, do lực lượng thanh tra viên thiếu hụt trầm trọng nên Sở chỉ chọn các doanh nghiệp hoạt động ổn định, làm ăn đàng hoàng để thanh kiểm tra đợt này”. Ông Dũng cho biết, tới đây Sở sẽ mở rộng đối tượng kiểm tra đối với các đơn vị nhà thầu, các cơ sở giáo dục, y tế và DN sử dụng lao động dạng phi kết cấu (giúp việc gia đình, đá bóng…).

Anh Nguyễn Văn T. – thanh tra viên thường xuyên có mặt trong các cuộc kiểm tra lao động người nước ngoài cho biết, vừa qua đoàn “cũng chỉ kiểm tra chủ yếu qua báo cáo của DN”. Dù vậy, cũng phát hiện 264 DN vi phạm, trong đó có 28 DN sử dụng chuyên gia lao động… chui! Điển hình sử dụng LĐNN không khai báo là các DN: Công ty TNHH Đông A Sài Gòn, Công ty TNHH Mannequins Đông Á, Công ty TNHH Nidec Copal Việt Nam, Công ty Shinih, Công ty Sambu Vina, Công ty Neocaseins, Công ty TNHH Molax Vina, Công ty TNHH Tân Á, Công ty Chung Va…

Theo anh T., các DN luôn che giấu việc có sử dụng LĐNN, chỉ khi đoàn yêu cầu kiểm tra mới… lòi ra. Để đối phó, các DN thường đưa ra lý do “đang làm thủ tục” hoặc đổ lỗi thủ tục cấp phép của VN còn “nhiêu khê”. Xung quanh vấn đề này, ông Lê Thanh Tâm – Giám đốc Sở LĐ-TB-XH TP.HCM phản ứng khá gay gắt: “Tại Sở LĐ-TB-XH TP.HCM tôi cam đoan, nếu người n

Chưa thống nhất bỏ lãi suất cơ bản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:09 am
Tags: ,

<!–NGay gio Modified

–>

18/12/2009 1:43

Việc cấm tổ chức tín dụng cho vay đầu tư cổ phiếu sẽ tác động tiêu cực đến TTCK – Ảnh: D.Đ.M
Thảo luận tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về Dự luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày hôm qua 17.12, Ủy ban Kinh tế (UBKT) của Quốc hội không đồng ý với NHNN về đề nghị bỏ lãi suất cơ bản (LSCB).

Lãi suất cơ bản phải thực chất hơn

Chủ nhiệm UB Tài chính, ngân sách Phùng Quốc Hiển nói: “Tôi rất tâm đắc với LSCB, nó can thiệp trực tiếp vào thị trường, như là barie khống chế. LSCB không có hại gì cho nền kinh tế, mà còn có tác dụng. Vậy tại sao ta lại bỏ đi một công cụ hay như thế?”.

Ủy viên UBTVQH Trần Thế Vượng cho rằng, lâu nay ngân hàng làm sai khi cho vay với lãi suất quá cao so với quy định về LSCB, bây giờ sửa sai bằng cách đề nghị không quy định trong luật nội dung này. Phó chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên thì nhận xét, cách giải thích để bỏ LSCB chưa thuyết phục lắm: “LSCB phải thực chất hơn, là định hướng cho chính sách tiền tệ và quản lý được thị trường tiền tệ”.

Tổ chức tín dụng có được cho vay kinh doanh chứng khoán?

Quy định NH, chi nhánh NH nước ngoài không được cho vay kinh doanh CP là quá chặt chẽ. Nếu quy định này có hiệu lực sẽ tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền

Cùng ngày 17.12, UBTVQH đã cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD). Các ủy viên TVQH đã tập trung làm rõ 6 nội dung còn có ý kiến khác nhau giữa Thường trực UB Kinh tế và cơ quan soạn thảo.

Giải thích về việc sửa lại khoản 6 điều 103 theo hướng không cho phép các ngân hàng thương mại (NHTM) được góp vốn, mua cổ phần của các TCTD khác, cơ quan soạn thảo luật giải thích: “Quy định không cho phép NHTM và các công ty con của NHTM góp vốn mua cổ phần của TCTD khác nhằm hạn chế sở hữu chéo giữa các TCTD”. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh: “Sở hữu chéo cổ phần là cực kỳ nguy hiểm. Khi tình hình biến động sẽ rối loạn”.

Tuy nhiên, Thường trực UB Kinh tế lại có cách nhìn khác. Theo UB Kinh tế, trong điều kiện hiện nay, một số NH nhỏ rất cần thu hút kinh nghiệm quản lý, điều hành và công nghệ của các NH lớn bằng việc bán cổ phần cho các NH lớn. Nếu cấm NHTM, công ty con của NHTM mua nắm giữ cổ phần của các TCTD khác sẽ gây cản trở cho việc mua bán sáp nhập giữa các TCTD. Thêm vào đó, việc cấm NHTM Việt Nam nắm giữ cổ phần của các TCTD là sự bất bình đẳng giữa NHTM trong nước với các NH nước ngoài. Còn để đảm bảo an toàn, UB Kinh tế đề nghị: “Quy định một TCTD được đầu tư chéo là bao nhiêu thì hơn, không nên cấm hoàn toàn sở hữu chéo”.

Về việc không sửa khoản 7 điều 126 (không cho NHTM, chi nhánh NH nước ngoài cho vay đầu tư, kinh doanh cổ phiếu), Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu giải thích: “Thị trường chứng khoán là huy động vốn cho trung và dài hạn của nền kinh tế. Việc sử dụng vốn huy động ngắn hạn từ dân cư để cho vay kinh doanh, đầu tư cổ phiếu có mức độ rủi ro cao sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tính an toàn của hệ thống NH”. Tuy nhiên, Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền lên tiếng: “Quy định như vậy là quá chặt chẽ. Nếu quy định này có hiệu lực sẽ tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam”. Để đảm bảo an toàn của hệ thống NH, Chủ nhiệm Hà Văn Hiền hiến kế: “NHNN phải định ra các điều kiện, các giới hạn mà các NHTM được phép cho vay hoạt động kinh doanh cổ phiếu”. Chủ nhiệm UB Tài chính, ngân sách Phùng Quốc Hiển bày tỏ: “Tôi đồng tình với UB Kinh tế về quy định cho phép NHTM cho vay mua cổ phiếu nhưng nên khống chế để tránh hiện tượng cho vay quá đà”.

Ai đẩy chứng khoán giảm sâu?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:07 am
Tags:

TT – Hơn một tháng rưỡi qua, giá chứng khoán đã giảm hơn 30%, giá trị giao dịch chỉ còn 20-25% so với trước.

Diễn biến thị trường chứng khoán từ cuối tháng 10-2009 đến nay
(Đơn vị: điểm)

* Trong khi nhà đầu tư trong nước liên tục bán chứng khoán thì từ đầu tháng 12 đến nay, nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua thêm số chứng khoán trị giá khoảng 560 tỉ đồng. Trước đó, khi chứng khoán bắt đầu điều chỉnh trong tháng 11-2009, khối ngoại cũng đã mua thêm 866 tỉ đồng.

* Vào cuối phiên giao dịch ngày 17-12, cả bốn cổ phiếu ngân hàng đều tăng đã hãm đà giảm của VN-Index. Dù VN-Index vẫn giảm 7,23 điểm (1,64%) còn 434,87 điểm, nhưng nhà đầu tư đã lạc quan hơn. Tại sàn Hà Nội, sau khi rơi về gần 133 điểm, cuối phiên HNX-Index đã tăng 0,69 điểm (0,5%) so với phiên trước, đạt 138,23 điểm.

Có nhiều lý do khiến thị trường giảm điểm, nhưng gần đây nhà đầu tư đã phản ứng trước những tin đồn được cho là xuất phát từ một số công ty chứng khoán.

Theo anh Nguyễn Thanh Phong – nhà đầu tư tại sàn chứng khoán ACBS, nhiều nhà đầu tư hoang mang trước hàng loạt tin đồn tiêu cực. Đầu tiên là tin đồn một số công ty chứng khoán bắt tay nhau “đánh” một công ty khác rồi bị “trả đũa” khiến thị trường lâm vào cảnh “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”.

Rồi tin đồn siết tiền tệ, sau khi Ngân hàng Nhà nước phủ nhận tin đồn phát hành tín phiếu bắt buộc và tăng dự trữ bắt buộc, hiện lại đang râm ran tin đồn sẽ tăng thêm lãi suất cơ bản…

Chưa hết, các công ty chứng khoán còn đưa ra những bình luận theo kiểu “hăm dọa” nhà đầu tư. Trong các báo cáo phân tích, nhiều công ty chứng khoán đã đưa ra nhận định khá bi quan khi cho rằng thị trường vẫn đang “trong giai đoạn điều chỉnh trung hạn”, đồng thời khuyến cáo nhà đầu tư “nên tiếp tục chờ đợi” hoặc “hết sức thận trọng”… Ai đủ can đảm mua chứng khoán khi các công ty chứng khoán dựa vào các phân tích kỹ thuật để rồi đưa ra những nhận định theo kiểu cầm đèn chạy trước ôtô. Nhiều công ty đưa ra con số rất cụ thể là “các đáy mới sẽ liên tiếp được xác lập, chứng khoán có thể giảm về dưới 400 điểm” rồi khuyên “nhà đầu tư ngắn hạn nên đứng ngoài thị trường”. Theo ông Lê Đạt Chí – ĐH Kinh tế TP.HCM, thị trường chắc chắn bị ảnh hưởng bởi các nhận định như vậy.

Nhiều nhà đầu tư nói dù giá nhiều cổ phiếu ở mức hợp lý để mua, thậm chí rất sốt ruột khi thấy khối ngoại mạnh tay gom cổ phiếu nhưng họ vẫn lo ngại chưa tham gia.

Một số nhà đầu tư bức xúc cho rằng nhiều công ty chứng khoán đưa ra các khuyến cáo khá mâu thuẫn. Các công ty này kêu gọi nhà đầu tư chỉ nên tham gia khi thanh khoản của thị trường được cải thiện. Nhưng nếu các nhà đầu tư đều làm theo khuyến cáo này, tức là khoanh tay đứng nhìn, thì lấy đâu sức cầu để tăng thanh khoản cho thị trường.

Trên một số diễn đàn chứng khoán, nhiều nhà đầu tư cho rằng sau khi đã bán chứng khoán, một số công ty chứng khoán và tổ chức đầu tư đã cổ vũ cho thị trường đi xuống.

HẢI ĐĂNG

Nhiều tin đồn, bình luận thiếu cơ sở

Xung quanh các tin đồn liên quan đến chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, Tuổi Trẻ đã trao đổi cùng PGS.TS Trần Hoàng Ngân – thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia.

* Ông nghĩ sao khi nhiều công ty chứng khoán bình luận rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng thêm lãi suất cơ bản?

– Theo tôi, nhận định đó là không có cơ sở. Hiện nay doanh nghiệp đang vay vốn được bù 4% lãi suất, chỉ phải trả 6,5%. Từ đầu năm 2010, hết bù lãi suất vay ngắn hạn, doanh nghiệp phải trả 10,5%. Nhưng với các khoản vay mới, phải theo trần lãi suất 12%/năm tính theo lãi suất cơ bản đã điều chỉnh trong tháng 12-2009. Như vậy, chi phí lãi vay đã tăng gần gấp đôi. Nếu tăng thêm lãi suất cơ bản, trần lãi suất cho vay tăng thêm chẳng khác nào gây thêm khó cho doanh nghiệp.

Hơn nữa, lạm phát do nhiều nguyên nhân, do tiền tệ, thiên tai, do yếu tố bên ngoài như giá dầu tăng… Bệnh nào bốc thuốc đó, đâu phải cứ lạm phát là phải tăng lãi suất cơ bản.

Một điều cần lưu ý nữa là Chính phủ tiếp tục hỗ trợ 2% lãi suất cho các khoản vay trung, dài hạn. Nếu tăng thêm lãi suất cơ bản thì việc hỗ trợ lãi suất này sẽ vô tác dụng. Tôi cho rằng trong điều hành nếu có thể được cần phải giảm lãi suất cơ bản chứ không phải tăng.

* Giá chứng khoán cũng trồi sụt theo các tin đồn bơm, rút tiền, vấn đề thanh khoản của ngân hàng hiện nay ra sao?

– Đúng là thời gian qua có vấn đề về thanh khoản. Dư nợ tín dụng tăng cao trong khi cung tiền từ Ngân hàng Nhà nước lại thấp hơn nhiều. Điều này thể hiện qua lãi suất liên ngân hàng có lúc lên đến 16%. Vấn đề thanh khoản của ngân hàng cũng đã ảnh hưởng đến thanh khoản của nền kinh tế. Một số doanh nghiệp khó tiếp cận vốn ngân hàng.

Tuy nhiên, vấn đề này cũng đã được giải quyết. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng đã giảm chỉ còn 12-14%. Các ngân hàng cũng xác nhận tình hình được cải thiện. Ngân hàng Nhà nước đã can thiệp nhiều hơn thông qua hoạt động của thị trường mở.

* Nhưng chẳng lẽ cứ chấp nhận phải sống chung với tin đồn?

Theo tôi, các công ty chứng khoán phải có trách nhiệm hơn với các thông tin, nhận định của mình. Cần phải thông tin nhiều chiều và đầy đủ để tránh hiểu lầm. Nhà đầu tư cũng cần tự nâng mình lên. Nhưng quan trọng hơn là Chính phủ và các cơ quan chức năng cũng cần phải cụ thể, chủ động hơn khi công bố các chỉ số cơ bản của nền kinh tế để tránh suy đoán, bình luận sai lệch. Như việc công bố chỉ số giá tiêu dùng, số liệu về nhập siêu cũng nên có những giải thích rõ ràng, cụ thể. Chẳng hạn xung quanh con số nhập siêu của năm 2009 có nhiều góc cạnh, nhưng người ta chỉ làm to chuyện về nhập siêu mà bỏ qua các góc cạnh khác như nhập siêu giảm rất nhiều so với năm 2008, hoặc không đề cập các nguồn ngoại tệ khác có thể bù đắp cho khoản thâm hụt của cán cân thương mại…

Cổ phiếu ngành ngân hàng 2009 – Một năm lặng lẽ và… tích lũy

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:03 am
Tags: , ,

Từ chỗ chỉ có hai cổ phiếu niêm yết là STB và ACB chia đều cho hai sàn HoSE và HNX, ngành ngân hàng đã bổ sung thêm 4 “đại gia” vào thị trường chứng khoán kể từ cuối tháng 4/2009, nâng khối lượng vốn hóa của các cổ phiếu nhóm ngành này lên 160.547 tỷ đồng, chiếm 27,2% toàn thị trường. Tuy nhiên, lượng cung càng tăng mạnh bao nhiêu, vai trò dẫn dắt thị trường của các cổ phiếu “vua” càng trở nên mờ nhạt bấy nhiêu.

Giá chào sàn Giá đóng cửa ngày 16/12/2009
ACB 39.200* 36.100
CTG 40.100 29.000
EIB 29.000 22.900
SHB 15.400 21.200
STB 22.000* 22.500
VCB 60.000 43.000
(*) Giá đóng cửa ngày 04/05/2009

Từ cuối năm 2006 đến cuối tháng 4/2009, chỉ có 2 cổ phiếu ngân hàng niêm yết là STB – Sacombank trên sàn Tp.HCM và ACB – Ngân hàng Á châu tại sàn Hà Nội. Hai cổ phiếu này đã đóng vai trò trụ cột thị trường và luôn thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Nhưng chỉ trong vòng 6 tháng trong năm 2009, thêm 4 cổ phiếu ngân hàng chào sàn với giá trị vốn hóa lớn, nhóm cổ phiếu này đã giữ vị thế “thống trị” trên thị trường chứng khoán, được kỳ vọng sẽ tác động mạnh mẽ và tích cực đến chỉ số trên hai sàn giao dịch.

Lợi nhuận 4 quý gần nhất Khối lượng lưu hành EPS P/E Book Value P/B
ACB 2.555.564.112.741 770.574.378 4.711 8 11.927 3.0
CTG 3.023.268.319.402 1.125.297.280 3.513 8 16.584 1.6
EIB 1.159.686.951.343 876.226.900 1.324 17 15.323 1.5
SHB 466.500.403.099 200.000.000 2.333 11 11.747 2.1
STB 1.623.629.000.000 511.583.100 3.174 8 13.073 1.8
VCB 3.634.821.832.914 1.210.086.026 3.004 15 12.293 3.6
P/E toàn ngành: 11                                                                                     Số liệu tổng hợp đến cuối tháng 11/2009

Tuy nhiên, diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này gây không ít thất vọng cho nhà đầu tư khi hầu như chỉ đi ngang trong suốt thời kỳ thị trường bùng nổ vừa qua. Nếu so sánh mức đáy (cuối tháng 3) và đỉnh (giữa tháng 11) trong năm nay, thị trường chứng khoán VN đã tăng trưởng trên 165% và cổ phiếu của hàng loạt nhóm ngành đạt mức tăng gấp 5-6 lần thì mức tăng giá của cổ phiếu ngân hàng chỉ khiêm tốn ở con số 20-30%.

Tương quan VN-Index và cổ phiếu ngân hàng

Đơn cử trụ cột ACB của sàn HNX, sau khi giá cổ phiếu này chạm đáy 21.480 đồng/cổ phiếu vào ngày 24/2/2009, đến 11/6, ACB lập đỉnh trong năm ở mức 55.770 đồng/ cổ phiếu, tương đương tăng 159%. Tuy nhiên, trong những phiên tiếp theo, ACB giảm giá mạnh và liên tục dao động quanh ngưỡng hẹp 40.000 – 48.000 đồng/cổ phiếu từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 11, thời điểm cổ phiếu nhiều ngành nổi sóng.

Giá trị vốn hóa thị trường của nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng (tính tại thời điểm 16/12/2009)

Cùng với việc chào sàn của 4 “đại gia”, những hoạt động phát hành thêm hoặc chia cổ phiếu thưởng… đã tạo ra tình trạng pha loãng cổ phiếu diễn ra dồn dập trong thời gian ngắn, làm giảm tính hấp dẫn của các cổ phiếu ngân hàng. Ngoài 3,4 tỷ cổ phiếu niêm yết mới của VCB, CTG, EIB, SHB, trong năm qua STB cũng đã phát hành hơn 158 triệu cổ phiếu tăng vốn điều lệ thông qua việc trả cổ tức năm 2008 bằng cổ phiếu, tỷ lệ 15%, phát hành thêm cổ phiếu tỷ lệ 20:3; ACB niêm yết gần 135 triệu cổ phiếu chuyển đổi từ trái phiếu, và mới đây là phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 1,41%. Khối lượng lưu hành lớn cộng với phạm vi lựa chọn được mở rộng đã khiến diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này khá trì trệ.

Từ vai trò dẫn dắt thị trường, cổ phiếu ngân hàng đã chuyển sang phòng vệ, và không được các nhà đầu tư lướt sóng ưa chuộng, ngay cả trong thời kỳ sôi động với dòng tiền khổng lồ đổ vào thị trường chứng khoán và liên tục luân chuyển qua các nhóm ngành có mức tăng giá “nóng bỏng”.

Ngoài ra, những biến động của kinh tế Việt Nam và thế giới, những thay đổi trong chính sách tiền tệ trong thời gian qua cũng gây sóng gió cho hoạt động của các ngân hàng.

Năm 2008, với chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, những “sự cố” như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% vào đầu năm 2008; phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc cho các ngân hàng thương mại cùng với những khó khăn trong việc vay tái cấp vốn như: lãi suất cơ bản tăng từ 8,25% lên 14% trong nửa đầu năm 2008, sau đó giảm còn 7% vào năm 2009; xiết chặt tín dụng… khiến các ngân hàng thương mại trong giai đoạn này hầu như lâm vào tình trạng mất thanh khoản.

Tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2009 đạt 28% trong khi tăng trưởng huy động là 22,4%

Bắt đầu từ cuối tháng 5/2009, cuộc chạy đua lãi suất huy động diễn ra căng thẳng nhằm tranh giành thị phần, mặc dù Hiệp hội Ngân hàng có sự thỏa thuận về mặt bằng lãi suất tiền gửi vào đầu tháng 9, đẩy lãi suất cho vay 9 tháng đầu năm lên mức 10,5% (150% lãi suất cơ bản). Trần lãi suất đã khống chế các ngân hàng cho vay tiêu dùng với lãi suất thỏa thuận. Các hợp đồng tín dụng trong chương trình kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất cũng bị kiểm soát chặt để ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích như vay để SX-KD nhưng lại đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất… Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong huy động vốn. Giá cả đầu vào, tỷ giá, lãi suất đều tăng… khiến doanh nghiệp càng khó trả nợ cũ. Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao. Những sự kiện này là nguyên nhân làm cho lợi nhuận lãi biên của các ngân hàng giảm sút.

Hạn mức tăng trưởng tín dụng 30% trong năm 2009 nhằm kiềm chế lạm phát đã bị vượt khi con số này trong toàn hệ thống ngân hàng đã lên tới 33,29% tính đến hết tháng 10, trong quý 4 sẽ phải hạn chế ở mức thấp 2% – 4%, hoạt động tín dụng của các ngân hàng chắc chắn bị ảnh hưởng. Do đó, ngoại trừ một số ngân hàng hoạt động hiệu quả và có khả năng thu lợi nhuận từ các thị trường vàng, ngoại tệ, chứng khoán, … thì kết quả kinh doanh của các ngân hàng khác vào cuối năm sẽ khó có đột biến.

Giao dịch ròng của nhà đầu tư nước ngoài từ 1/12 đến 16/12 (*) Room còn lại
Khối lượng Giá trị Sở hữu
CTG 1,805,030 52,493,613,000 10.1%*
EIB 4,965,680 119,961,060,000 46.95%
SHB -12,000 -225,430,000 25.04%
STB 1,860,860 46,921,903,000 30.19%
VCB 82,860 50,636,694,000 7,1%*
Trong khi nhà đầu tư nội thờ ơ thì khối ngoại đang dần thu hẹp phần room còn lại ở các cổ phiếu ngành ngân hàng

Những biến động trên thị trường tài chính kể trên phần nào đã phản ánh vào giá cổ phiếu nhóm ngành ngân hàng trong thời gian vừa qua. Sang năm 2010, khi nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng, các doanh nghiệp cùng đẩy mạnh kinh doanh và nếu như chính sách tín dụng được nới lỏng, các dịch vụ tài chính trở lại sôi động sẽ là động lực giúp cổ phiếu nhóm ngành ngân hàng bật dậy sau thời gian lặng lẽ khá dài vừa qua.

Ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tư lướt sóng khó tìm được cơ hội ở cổ phiếu ngân hàng, nhưng với mức P/E trung bình của cổ phiếu ngân hàng vào khoảng 11, đầu tư dài hạn vào các mã thuộc nhóm ngành này là lựa chọn hợp lý.

Theo Phan Phương – Stocknews

Đánh thuế kinh doanh sàn vàng như thế nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:02 am
Tags: ,

Mức thuế và cách tính thuế như thế nào?

Theo đề xuất của các chuyên gia quảnl ý thuế thì có hai phương án áp thuế đối với hoạt động giao dịch tại các sàn vàng. Cụ thể, phương án thứ nhất là nhà đầu tư tạm nộp 0,002% trên giá chuyển nhượng từng lần phát sinh giao dịch khớp lệnh bán ở trạng thái vàng dương và khớp lệnh mua ở trạng thái vàng âm mà không phân biệt giao dịch lãi hay lỗ. Cuối năm, nhà đầu tư quyết toán thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế.

Cách tính thuế cụ thể là: Giả định giá vàng trên thị trường là 25 triệu đồng/lượng. Tỉ lệ thuế thu nhập cá nhân tạm nộp sẽ là 0,002% của 25.000.000 đồng và tương ứng với 500 đồng. Các chuyên gia cũng cho biết là theo khảo sát hiện nay, phí giao dịch mỗi lần khớp lệnh là 2.000đồng/lượng. Như vậy, mức thuế này chỉ tương đương với 1/4 phí giao dịch.

Phương án hai được chia ra theo các hình thức cụ thể. Trường hợp sàn vàng hạch toán được lỗ lãi thì mỗi lần giao dịch của nhà đầu tư đều phải tạm nộp 20% thuế thu nhập cá nhân trên thu nhập phát sinh (giao dịch sinh lời) đối với trường hợp khớp lệnh bán vàng ở trạng thái vàng dương và khớp lệnh ở trạng thái vàng âm.

Cụ thể: Thu nhập = giá bán – giá mua – lãi vay – phí giao dịch. Thu nhập trong trường hợp này được xác định khi nhà đầu tư khớp lệnh. Trường hợp sàn giao dịch vàng không xác định được giao dịch lãi, lỗ thì nhà đầu tư tạm nộp 0,1% trên giá khớp lệnh (chưa trừ các khoản chi phí). Cuối năm, nhà đầu tư quyết toán theo thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế. Trường hợp này sẽ không phân biệt trong năm nhà đầu tư tạm nộp theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng hay 20% trên thu nhập phát sinh.

Với các phương án này, các DN tổ chức sàn giao dịch chịu trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của nhà đầu tư và nộp vào ngân sách nhà nước. Trong thời gian tới, sau khi xây dựng phương án thì Vụ Chính sách thuế sẽ đề xuất, kiến nghị Bộ Tài chính để thực hiện chính sách thuế và công tác quản lý thu thuế đối với giao dịch trên sàn vàng.

Blog at WordPress.com.