Ktetaichinh’s Blog

December 16, 2009

Mùa khô 2010: Đói điện nặng!

TP – Cơ quan chức năng dự báo, năm 2010, nhất là mua khô (khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 5 ở miền Bắc và từ tháng 4 đến tháng 9 ở các tỉnh phía Nam) khả năng thiếu điện nghiêm trọng.

Nước cạn kiệt ngay dưới chân đập thủy điện Hòa Bình – Ảnh: Hồng Vĩnh

Nhà máy điện chậm, khó tăng nguồn

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mức độ tăng trưởng tiêu thụ điện lên nhanh theo từng quý: quý I/2009, tiêu thụ điện tăng 3,79%, quý II/2009  tăng 11,3%, quý III/2009 tăng 17,3% và ước cả năm 2009 là 12,78%.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng cho biết, riêng tháng 11 vừa qua, sản lượng điện tiêu thụ trung bình/ngày của toàn hệ thống là 248,6 triệu kwh, tăng 24,18% so với cùng kỳ năm 2008.

Nhu cầu tiêu thụ điện được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong năm tới, đi cùng với đà phục hồi của nhiều ngành sản xuất. Theo EVN, riêng miền Bắc, mùa khô năm 2010 cần có thêm 2,5 tỷ kwh điện.

Lượng điện cần có thêm đáp ứng nhu cầu tăng vọt chỉ trông chờ vào một số nguồn điện mới bổ sung của năm 2009 và 2010. Tuy nhiên, hiện nhiều nhà máy điện không hoàn thành đúng tiến độ để bổ sung sản lượng lên lưới.

Nếu đúng kế hoạch phát điện của năm 2009, sẽ có thêm 3.300 MW từ các nguồn mới. Nhưng đến nay, tổng công suất toàn hệ thống (hiện có khoảng 17.000 MW) mới được bổ sung 1.200 MW và dự kiến, hết tháng 12 có thể thêm được 600 MW.

Cho dù thực tế không bị thiếu điện, nếu xét về tổng nguồn cung, nhưng việc chậm tiến độ của các nguồn điện mới (tất cả ở miền Bắc) như: Nhà máy Nhiệt điện Sơn Động, Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả I, Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng I, nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng I, đã gây căng thẳng về cung ứng điện đầu năm đến nay, và nhiều thời điểm trong năm đã gây quá tải trên các tuyến đường dây 500 KV truyền điện từ Nam ra Bắc.

Năm 2010, dự báo tình hình khó khăn hơn. Theo tính toán của các chuyên gia ngành điện, từ mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2010 và duy trì mức tăng trưởng cao các năm tiếp theo, tốc độ tăng trưởng phụ tải điện năm 2010 cũng phải ở mức 13-15% so với các tháng cùng kỳ năm 2009.

Theo báo cáo của EVN, dự kiến năm tới sẽ có 14 nhà máy lớn đi vào vận hành, với tổng công suất lắp đặt là 3.330 MW. Nếu tính theo phương án tăng trưởng tiêu thụ điện ở mức cao (15%), mùa khô năm 2010, hệ thống cả nước vẫn đủ và còn dự phòng công suất, nhưng riêng miền Bắc có thể thiếu 350 MW vào các giờ  cao điểm.

Nhưng, hầu như chưa năm nào các nhà máy dự kiến đưa vào vận hành lại vận hành đúng kế hoạch. Thậm chí, mấy năm nay, rất nhiều các nhà máy  của cả EVN lẫn của các nhà đầu tư khác chậm tiến độ từ 1-3 năm.

Một cơ quan của Bộ Công Thương nhận định, nhiều nguồn điện mới dự kiến hoà lưới điện quốc gia năm sau cũng không đúng lịch, như Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả (300 MW) dự kiến phát điện vào tháng 12-2009 (đã lùi thời điểm vận hành tới tháng 5-2010), Nhiệt điện Quảng Ninh (300 MW) vào 2-2010, Nhiệt điện Sơn Động  (300 MW) tháng 3-2010.

Nếu các nhà máy này chậm, hệ thống điện miền Bắc sẽ thiếu khoảng 1.200MW. Nếu xảy ra việc thiếu công suất nguồn lớn như vậy, chắc chắn sẽ lại tái diễn cảnh thiếu điện và phải cắt luân phiên như trong các năm 2007 và 2008.

Thủy điện đang mắc cạn

Thủy điện Hòa Bình mùa thiếu nước – Ảnh: Hồng Vĩnh

Tình trạng hạn hán, khô kiệt nguồn nước có thể trông thấy rõ bằng mắt thường ở hàng loạt hồ chứa thủy điện miền Bắc vào thời điểm này: Hòa Bình, Thác Bà…

Điều này cho thấy, không chỉ thiếu về nguồn mới, mà ngay cả nhiều nhà máy thủy điện lớn có nguy cơ không chạy hết công suất trong năm sau, nhất là sắp tới lại phải xả nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Theo số liệu đo đạc về mức nước tại nhiều hồ thủy điện ở miền Bắc, lượng nước hiện chỉ đạt khoảng 50 – 60% dung tích thiết kế. Ví dụ hồ thủy điện Hòa Bình, đã đóng toàn bộ cửa xả lũ từ 8 – 9 – 2009 nhưng đến nay, mức nước trong hồ còn thấp hơn khoảng 2,7 m so với yêu cầu tích nước năm 2010.

Theo các chuyên gia, điều này một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động không nên phát triển quá nhiều các công trình thủy điện nữa, không để cơ cấu nguồn điện lệ thuộc quá lớn vào thủy điện (theo quy hoạch phát triển điện VI, đến năm 2020, thủy điện phải chiếm trên 60% cơ cấu nguồn điện, hiện nay mới chỉ trên 40%).

Cho dù chi phí rẻ nhưng những sự biến đổi nhanh chóng của khí hậu, nguồn nước… đang đặt ra nguy cơ thiếu nước vận hành các nhà máy thủy điện sau này.

Cục Điều tiết Điện lực, Bộ Công Thương và EVN, vừa họp bàn, tìm các giải pháp để hạn chế cao nhất khả năng thiếu điện mùa khô. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra không có gì mới, như: tăng cường mua điện từ các nhà đầu tư ngoài ngành, nhập khẩu điện của Trung Quốc, đảm bảo an toàn vận hành đường dây 500 KV, đề nghị Tập đoàn Dầu khí ổn định cung cấp khí cho các nhà máy điện khí…

Các giải pháp này có thể gặp trở ngại, khi hàng loạt dự án điện lớn, nhỏ vẫn liên tục xin hoãn, lùi tiến độ, trục trặc trong vận hành như thời gian qua. Trong khi đó, các cơ quan trên vẫn chưa có hướng giải quyết cho vấn đề này.

Chỉ cần vài nhà máy mới có qui mô các tổ máy 200 – 300 MW chậm tiến độ 6 tháng – 1 năm, tình trạng thiếu điện trên diện rộng lại xảy ra. Và điều này, trên thực tế là rất khó tránh khỏi.

Advertisements

Vì sao cá basa thất sủng?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:43 pm
Tags:

Con cá basa từng mang về bạc tỉ cho ngư dân làng Châu Đốc (An Giang). Để tri ân nó và để người đời nhớ đến danh tiếng làng bè Châu Đốc, người ta đã dựng lên biểu tượng con cá basa rất đẹp. Nhưng không ngờ con cá quý này đang dần dần thất sủng.

Khởi nghiệp từ cá basa

Ở các huyện Châu Đốc, An Phú, Tân Châu…bây giờ người nuôi cá basa không còn nhiều mà thay vào đó là các loài cá điêu hồng, chim trắng, rô phi để bán chợ. Ông Phạm Điền Thanh, ở làng bè Đa Phước, huyện An Phú từng có 3 nhà bè cá trị giá 1,5 tỉ đồng, nay đã bỏ nghề bộc bạch: “Làng bè này nhiều người giàu là nhờ nuôi cá basa, nhiều người trắng tay cũng vì cá basa. Chuyện thăng trầm của con cá basa kể cả ngày không hết”.

Ông Thanh nhớ lại: Nghề nuôi cá basa trên sông Hậu khởi phát từ thập niên 70 của thế kỷ trước, do Việt kiều từ Biển Hồ Campuchia đưa về. Hồi đó cá basa được xem là đặc sản của làng bè Châu Đốc, thịt trắng, ngọt mềm, nuôi bao nhiêu thương lái mua hết bấy nhiêu. Đến thập niên 80 chất lượng tuyệt hảo của con cá basa lọt vào mắt các chuyên gia người Úc, kỹ thuật chế biến phi lê cá basa xuất khẩu được du nhập vào An Giang. Năm 1988, An Giang có mẻ cá basa phi lê xuất khẩu đầu tiên sang Úc, mở ra nghề nuôi cá basa quy mô lớn phục vụ công nghiệp chế biến. Trong giai đoạn này số lượng xuất khẩu basa phi lê của An Giang khoảng 100 tấn/năm. Đầu thập niên 90 khi An Giang xây dựng được 2 NM chế biến cá xuất khẩu thì cá basa phi lê đã được các thị trường Mỹ, châu Âu…nhập rất nhiều, nghề nuôi cá basa phát triển ồ ạt.

Ông Đỗ Văn Nghiệp, GĐ Cty TNHH Thương mại thủy sản AFA, người nhiều năm gắn bó với nghề nuôi cá bè trên sông Hậu, nhớ lại: “Nghề nuôi cá basa phát triển rất nhanh: Năm 1990 toàn tỉnh có chỉ có 560 lồng, bè nuôi cá với sản lượng 2.300 tấn nhưng đến năm 1995 sản lượng cá basa nuôi bè là 20.000 tấn, sản lượng xuất khẩu 5.630 tấn đạt kim ngạch hơn 25 triệu USD”. Năm 1996 các DN ở Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long nhảy vào thị trường thu mua, chế biến cá basa xuất khẩu, đẩy giá cá nguyên liệu có lúc lên đến 18.000 đồng/kg, cả làng bè đổ xô nuôi cá.

“Lúc đó dân làng bè như ngồi trên đống vàng, tiền xài ngắt khúc. Tui phải tốn 30 cây vàng mới mua được 20.000 con cá basa giống, nuôi một năm bán xong vẫn còn lời 25 cây vàng”- ông Lê văn Sơn, chủ 4 bè cá ở thị trấn An Phú, nhớ lại. Đùng một cái, cuối năm 1996 làng bè lao đao vì khủng hoảng thừa cá basa: 8.000 tấn cá phải bán đổ bán tháo dưới giá thành sản xuất, người nuôi cá chịu lỗ tới 40%. Hàng loạt đại gia lừng lẫy một thời trong nghề nuôi cá basa thời bấy giờ chỉ trong một đêm trở thành kẻ trắng tay, nợ ngập đầu. Cũng từ thời điểm đó con cá basa bắt đầu bị thất sủng để nhường chỗ cho một “ngôi sao” mới: con cá tra.

Cuộc “đảo ngôi” ngoạn mục

Năm 1998 miếng cá tra phi lê đầu tiên được DN An Giang mang đi xuất khẩu. Ông Nghiệp nhớ lại: Lúc ấy, công suất của các NM chế biến cá phi lê của An Giang đạt 7.000 tấn thành phẩm/năm, mỗi năm cần đến 20.000 tấn cá nguyên liệu nhưng cả làng bè hơn 4.000 chiếc, đáp ứng khoảng 18.000 tấn, thiếu hụt 2.000 tấn nguyên liệu do các chủ nhà bè chưa hồi phục sau đợt khủng hoảng thừa cá basa năm 1996. Cũng trong thời gian ấy, con cá tra nuôi trong bè được các DN xẻ phi lê xuất khẩu “thử nghiệm” dưới cái tên cá basa.

Lô hàng đầu thành công, sản lượng lệ phi lê cá tra cứ tăng dần, tăng dần. Lúc này các DN và người nuôi cá lại phát hiện một ưu điểm tuyệt vời của con cá tra: Cá giống rẻ hơn cá basa từ 5 đến 7 lần, chu kỳ nuôi từ 4 đến 6 tháng cho thu hoạch trong khi cá basa mất 12 tháng, cá tra chỉ cần 3 kg nguyên liệu chế biến được 1 kg phi lê. Trong khi cá basa mất 4 kg nguyên liệu mới được 1 kg phi lê, giá thành sản xuất cá tra thấp hơn cá basa bình quân 1USD/kg. Cũng từ năm 1996 con cá tra đã được ngư dân đưa vào nuôi thử nghiệm chung với cá basa trong bè nhưng không ai đặt vấn đề chế biến xuất khẩu.

Khi biết con cá tra bè chế biến phi lê xuất khẩu, cả làng bè An Giang lên cơn sốt nuôi cá tra và chỉ trong thời gian ngắn con cá tra ồ ạt chiếm cứ làng bè, đẩy con cá basa một thời vang bóng ra khỏi “vương quốc cá”.  Đến năm 2000 sản lượng cá của An Giang đã đạt 80.000 tấn, chủ yếu là cá tra nuôi bè. Tuy nhiên, thời gian 3 năm đầu của phong trào cá tra nuôi bè thường bị bệnh chết hàng loạt, dân làng bè lỗ nặng.

Ông Điền Thanh nhớ lại: “Trong 3 năm (2000 – 2002), nuôi cá tra bè lời 1,5 tỉ đồng, đến vụ thứ 4 năm 2003 lỗ 1,7 tỉ đồng. Sang 2004, 2005 tiếp tục lỗ hơn 4 tỉ đồng, trắng tay”. Ông Thanh là một trong số hàng trăng ngư dân bỏ con cá basa sang nuôi cá tra trở thành người trắng tay mà còn ôm nợ, có người bỏ xứ ra đi…

“Năm 2003 UBND tỉnh An Giang bỏ ra hơn 1 tỉ đồng dựng tượng tri ân con cá basa ở công viên ngay ngã ba sông Châu Đốc bên sông Hậu, cạnh làng bè. Và gần đây con cá basa không còn xuất hiện trong các NM chế biến xuất khẩu ở An Giang. Các DN không chịu thu mua cá basa với lý do: giá cao hơn cá tra, tỉ lệ phi lê thấp và…nguồn nguyên liệu ít”, ông Hai Nghiệp khẳng định.

Ông Phan Văn Danh, Chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi và chế biến thủy sản An Giang (AFA) nói: Thời cực thịnh An Giang có hơn 4.000 bè nuôi cá nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 2.400 bè, tất cả đều nuôi cá he, cá chài, mè vinh, lóc bông, điêu hồng…không chủ bè nào dám thả nuôi cá tra nữa. Do các NM chế biến xuất khẩu không thể ngừng việc vì thiếu cá nguyên liệu nên con cá tra nuôi hầm bắt đầu làm mưa làm gió. Ở ĐBSCL, trừ Cà Mau, Bạc Liêu còn lại tỉnh nào cũng có quy hoạch nuôi cá tra, nhất là những tỉnh ven sông Tiền và sông Hậu, đất bãi bồi, cù lao ùn ùn biến thành ao nuôi cá tra.

Những ngư dân vẫn “bám” cá basa

Đến thị trấn An Phú, xã Quốc Thái, xã Phước Hưng của huyện An Phú gặp những ngư dân còn đeo bám con basa. Đó là ông Nguyễn Hồng, người còn giữ được 3 bè cá basa với khoảng 200 tấn cá thương phẩm cùng 2 bè cá giống; ông Hai Sơn, Chi hội trưởng Chi hội Nghề cá Hưng Thái sở hữu 4 bè với khoảng 200 tấn cá basa thì dẫn tôi ra xem những bè cá đang neo trên sông Hậu. Ông Lộc nói: “Tôi đã gắn bó với con cá basa gần 20 năm. Năm 1999 – 2002 thấy thiên hạ ùn ùn nuôi cá tra bè lời bể tay trong khi con cá basa bị DN chế biến chê ỏng chê eo, tôi quay sang nuôi cá tra bè và…mất trắng hơn 500 triệu. Hoảng hồn vội quay trở lại nghề cá basa, bám trụ cho tới nay”. “Nuôi cá basa bán xuất khẩu không được, hà cớ gì phải bám nghề?”- tôi hỏi. Ông Lộc cười: “Cá basa bây giờ không cần bán xuất khẩu, chỉ bán thị trường nội địa đã có lời do cung không đủ cầu”.

Ông Lộc nói hiện nay giá cá basa thương phẩm loại 1kg/con được thương lái cân tại bè là 16.500 đồng/kg, có bao nhiêu cân hết bấy nhiêu. Tuy vậy, điểm bất lợi của con cá basa là nguồn con giống khan hiếm, phải mua từ Campuchia, thời gian nuôi dài gấp đôi cá tra nhưng DN chế biến XK…không thích thu mua vì tỉ lệ phi lê của cá basa thấp, kiếm lãi không nhiều so với chế biến cá tra XK.

Đứng trên làng bè Châu Đốc, An Phú, An Giang dòng sông Hậu vẫn bập bềnh. Anh Văn Hiển, một thổ địa thạo chuyện nuôi cá bè trên sông Hậu, chặc lưỡi: “Thị trường xuất khẩu mấy năm nay chuộng con cá tra hầm, không mặn với cá basa. Năm ngoái trong số 2.400 bè cá chỉ còn khoảng 80 bè nuôi cá basa, năm nay con số này là 50”.

Trước nguy cơ nghề nuôi cá basa bị mai một, Hội Nghề cá Việt Nam và các ngành chức năng An Giang đã bàn chuyện khôi phục làng nghề. Ông Nguyễn Hữu Khánh, Chủ tịch Hiệp hội Nghề cá An Giang nói: Đã đến lúc nên chấm dứt tình trạng mập mờ tên gọi cá tra – basa, trả lại đúng tên của từng loài để có cơ sở khôi phục lại nghề nuôi cá basa trên sông Hậu. Theo ông Khánh, tỉnh An Giang cần xúc tiến xây dựng tên gọi xuất xứ hàng hóa cho cá basa, đồng thời có chính sách hỗ trợ cụ thể cho những chủ bè khôi phục nghề nuôi cá basa trong thời gian đầu.

Ông Đỗ Văn Nghiệp, người khá tâm huyết với chuyện khôi phục nghề nuôi cá basa, nói: “Khó khăn nhất hiện nay các DN chế biến XK không còn mặn mà với cá basa vì lợi nhuận thấp. Nếu khôi phục nghề nuôi cá basa trên diện rộng mà DN không chịu thu mua thì chẳng khác nào Nhà nước lại đẩy người nuôi cá vào cảnh phá sản, nợ nần”. Ngư dân của làng bè Châu Đốc- An Phú như ông Điền, ông Lộc, ông Sơn nói: DN cứ thu mua chế biến cả 2 loại cá tra và basa, sản phẩm ra thị trường sẽ mang 2 tên rạch ròi, không pha trộn, giá cả cụ thể của từng loại để người tiêu dùng lựa chọn thì chuyện khôi phục nghề nuôi cá basa là không khó.

Mỗi khi đứng dưới chân tượng đài tri ân con cá basa nhìn về hướng làng bè Châu Đốc – An Phú dập dềnh sóng nước sông Hậu là mọi người không khỏi chạnh lòng nhớ cái thời vang bóng của con cá basa.

Gốc rễ nạn bò nhập lậu: Người Việt dùng thịt bò Thái!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:41 pm
Tags: , ,

Tình trạng trâu bò nhập lậu ồ ạt vào Việt Nam qua các tỉnh biên giới với Lào và Campuchia thời gian gần đây khiến nhiều người lo lắng. Trao đổi với NNVN, ông Hồ Đại Nam- GĐ Cty TNHH một thành viên Thương mại Quảng Trị cho rằng, chỉ phát triển đàn bò thịt trong nước đủ sức cạnh tranh mới tạo được chiến lược lâu dài nhằm ngăn chặn vấn nạn trâu bò nhập lậu.

Là một DN kinh doanh nhiều lĩnh vực nhưng gần một năm trở lại đây, Cty TNHH Thương mại Quảng Trị là một trong những DN hiếm hoi tìm ra hướng đi mới cho ngành chăn nuôi bò thịt, đó là chuyên nuôi và vỗ béo bò nhập về từ Thái Lan. Sáu tháng cuối năm 2009, Cty bắt đầu cho nhập gần 300 con bò và bê chuyên thịt giống Charolaise và BRasman từ 1- 2 năm tuổi của Thái Lan về nuôi và vỗ béo ở trại chăn nuôi tập trung gần khu vực cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị). Ông Nam cho biết các giống bò thịt của Thái Lan như Zebu, Charolaise, BRasman…sau khi NK về vỗ béo tại Lao Bảo đều thích nghi rất tốt với điều kiện khí hậu và gần như không mắc bệnh gì nên lớn rất nhanh.

Với chi phí thức ăn cho mỗi con bò khoảng 20 nghìn đồng/ngày (gồm rơm rạ 5- 7kg trộn lẫn thức ăn tinh theo chế độ ăn đúng kỹ thuật), trọng lượng bò có thể tăng từ 1 đến 1,2kg/ngày. Trung bình 3 tháng, Cty sẽ xuất chuồng một lần với trọng lượng bò trung bình từ 6 đến 7 tạ/con, trọng lượng thịt tăng trung bình từ 1,2 tạ/con so với lúc NK. Hiện tại, do chưa ký được HĐ giết mổ tập trung nên Cty vẫn đang nhập lại cho các thương lái lớn và các DN giết mổ tại Huế, Đà Nẵng, TPHCM và cả các lò mổ lớn tại Hà Nội…

Ông Nam dự tính trong thời gian tới sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng mới trang trại nuôi và vỗ béo bò thịt chuyên nghiệp tại khu vực Ba Lòng với quy mô trên 1.000 con bò. Vùng nguyên liệu cỏ cho bò quy mô lớn cũng được Cty xây dựng tại đây. Cty cũng đang tính tới phương án ký HĐ mua phụ phẩm tại các NM chế biến dứa, mía và sắn tại Việt Nam để chế biến cho bò ăn theo công nghệ của Thái Lan.

Thưa ông, lí do nào thúc đẩy ông đầu tư vào lĩnh vực mới này?

Chuyên môn của tôi không phải là nông nghiệp mà là tài chính, chăn nuôi cũng không phải là lĩnh vực của Cty. Tuy nhiên thường xuyên sang Thái Lan làm ăn, tôi nhận ra ngành chăn nuôi của họ vượt xa chúng ta. Nhất là thời gian gần đây, tình trạng trâu bò Thái Lan nhập lậu về Việt Nam qua Lào rộ lên khiến tôi càng tò mò tìm hiểu về nghề nuôi bò thịt của họ.

Vì vậy hơn 1 năm nay, tôi đã tự mò mẫm tìm tới hơn 30 trang trại nuôi bò lớn ở Thái Lan để tìm hiểu cách nuôi bò của họ. Tôi cũng vào cả trường ĐH chuyên nghiên cứu về bò của Thái để tìm hiểu. Sau đó tôi tới các vùng nuôi bò lớn của nước ta như Phú Yên, Bình Định, thậm chí ra cả Ba Vì (Hà Nội), tới các viện, trường mời các chuyên gia về gia súc để tham khảo. Kết quả thì đàn bò và cả công nghệ nuôi của mình thua Thái Lan quá nhiều.

Ông có thể nêu một số ví dụ về sự thua kém này?

Đơn giản nhất như loại máy ép rơm rạ (Cty đã NK một máy để chế biến rơm rạ). Máy này chỉ cỡ 60 triệu đồng, công nghệ khá đơn giản, các trang trại nuôi bò ở Thái Lan dùng phổ biến từ lâu nhưng ở Việt Nam thì còn rất lạ lẫm. Về giống thì lâu nay chúng ta vẫn đang nói nhiều tới “Sin hóa đàn bò” nhưng ở Thái Lan họ cười bảo đó là chuyện của những năm 1960 rồi. Bởi con bò cóc bé tí thì sin hoá đến bao giờ mới thành con bò 4- 5 tạ.

Bò của Thái Lan bây giờ hầu hết là giống chuyên thịt như Zebu, Charolaise, BRasman…với tỉ lệ thịt lên tới 45%. Trọng lượng bò có con lên tới 8 đến 9 tạ/con. Trong khi đó bò của ta con to nhất cũng chỉ 3,5- 4 tạ, tỉ lệ nạc chưa tới 35%. Thái Lan cũng dành cả một trường đại học với các chuyên gia hàng đầu nghiên cứu giống và công nghệ chăn nuôi bò với hệ thống thực nghiệm hiện đại. Công nghệ chế biến thức ăn của họ tận dụng triệt để từ rơm rạ cho tới bã sắn, bã dứa, bã mía…trong lúc rơm rạ ở mình đốt bỏ đầy đồng, các NM chế biến mía, sắn, dứa gần như “ế” phế liệu…

Chính những điều này khiến cho giá thành bò thịt của họ hiện chỉ khoảng 100 bạt/kg (chưa đến 60.000đồng Việt Nam).

Phải chăng đây là nguyên nhân sâu xa khiến tình trạng bò nhập lậu diễn ra ồ ạt thời gian gần đây thưa ông?

Qua nghiên cứu thị trường thịt bò tôi dám khẳng định chúng ta đang dùng thịt bò Thái Lan là chính. Tại các lò mổ lớn ở khu vực Củ Chi, Hóc Môn…(TPHCM), có lò mổ 200 con bò thì  tôi đếm chỉ có khoảng dưới 20 con là bò của Việt Nam. Còn lại đều là bò Thái Lan nhập về qua biên giới Campuchia với các tỉnh An Giang, Tiền Giang…vì bò Thái nhìn qua là biết. Các thương lái thậm chí còn chở cả bò Thái Lan theo đường Campuchia ra cả “thủ phủ bò” tại Phú Yên, và cả Hà Nội.

Khoảng 10 năm trở lại đây giá thịt bò của Việt Nam liên tục tăng. Người nuôi lợn, nuôi gà có thể thua lỗ vì giá cả phập phù chứ giá thịt bò thì chẳng bao giờ hạ. (Ông Hồ Đại Nam)

Số lượng bò NK theo đường chính ngạch qua biên giới Lào lúc cao điểm khoảng trên 1.000 con/ngày nhưng qua đường tiểu ngạch bao nhiêu thì không thể biết. Điều này đủ biết lượng bò Thái Lan nhập về Việt Nam lớn cỡ nào. Trong khi đó việc tầm soát dịch bệnh từ bò NK chính ngạch đã khó chứ chưa nói tới kiểm soát bò lậu.

Việc kiểm  dịch NK bò từ Thái Lan của Cty ông có “vướng” gì không?

Các chủ trang trại bò của Thái Lan chịu trách nhiệm đăng ký đảm bảo 13 nội dung về kiểm dịch thú y với cơ quan thú y địa phương. Các DN mua bò chỉ việc đăng ký NK với Cơ quan Thú y Vùng III (tại Vinh) của Việt Nam là có thể NK bò về. Các thủ tục này khá đơn giản. Sau khi đưa bò về Việt Nam, Chi cục Thú y sẽ giám sát việc nuôi cách li kiểm dịch trong vòng 15 ngày để tiêm vacxin phòng dịch, bấm lỗ tai đánh dâu và lấu máu xét nghiệm.

Tuy nhiên tôi nghĩ điều này chỉ thực hiện dễ dàng đối với việc NK bò về nuôi và vỗ béo giống như Cty tôi. Còn bò của thương lái NK về để giết thịt ngay thì khó mà thực hiện. Bởi một con bò 5 tạ mà giam tới 15 ngày thì bò có thể sút tới 40kg. Hơn nữa việc bấm tai, lấy máu khiến cho bò hoảng sợ nên chẳng có ai muốn làm điều này. Vì vậy hướng NK bò nuôi hoặc vỗ béo như hiện tại của Cty cũng giúp việc kiểm soát kiểm dịch tốt hơn, và đi xa hơn là tạo nên đàn bò trong nước đủ mạnh để ngăn nạn bò nhập lậu.

Xin cảm ơn ông!

Lãi suất huy động vào “cuộc đua” mới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:36 pm
Tags: ,
Lao Động số 286 Ngày 16/12/2009 Cập nhật: 12:17 PM, 16/12/2009
Lãi suất huy động vào “cuộc đua” mới.
(LĐ) – Các ngân hàng thương mại thời gian gần đây đang ngấm ngầm bước vào cuộc đua lãi suất mới. Dù bị khống chế bởi lãi suất trần là 10,49%, nhưng hầu như ngân hàng nào cũng tìm cách “vượt trần”.

Phương thức được sử dụng là nhiều chiêu nghiệp vụ khác nhau nhằm huy động tối đa nguồn vốn cho NH, “đắp đổi” qua cơn khát vốn…

Phá vỡ trần huy động?

Các DN tạm thời có vốn nhàn rỗi ngắn hạn đang là “thượng đế” của các NHTM. Anh H.Sơn – TGĐ một Cty cổ phần cho biết: Từ hơn 1 tuần trước, NH đã “chào” Cty anh gửi tiền vào NH với lãi suất huy động 12% bất kể gửi dài hay ngắn. Theo anh Sơn, việc NH đẩy lãi suất huy động thực tế lên cao hơn nhiều lãi suất trần cho thấy các NH đang rất thiếu vốn.

Tình hình dường như không được cải thiện hơn khi 1 tuần trở lại đây, các NHTM liên tục điều chỉnh lãi suất huy động. Mức lãi suất cố định theo công bố cao nhất là 10,49%. Tuy nhiên, để “lách” trần, mỗi NH đều có “chiêu” dụ khách khác nhau.

NH Nam Việt để lãi suất huy động lên kịch trần, nhưng khách hàng lại được phép thấu chi 10% tổng số tiền gửi. Nghĩa là nếu gửi 1 tỉ đồng với mức lãi suất 10,49%, khách hàng được NH cho vay 100 triệu đồng không phải trả lãi. Khoản thấu chi 10% này thường được khách hàng gửi lại NH, và như vậy, lãi suất thực tế mà khách hàng được hưởng tương đương 11,54%/năm.

NH Quốc tế (VIB Bank) công bố ngoài lãi suất huy động đạt mức trần, từ 10.12, khách hàng gửi tiết kiệm tại VIB Bank được tặng thưởng tiền mặt. Kỳ hạn gửi càng dài, tiền thưởng càng cao…

Nhiều NH trước đó cũng áp dụng việc tặng lãi suất thưởng cho người gửi tiền, dù khá dè dặt như tại VietABank, các khách hàng hàng gửi tiền mức 1 tỉ đồng trở lên được cộng thêm lãi suất 0,005%/ năm.

Với một phép tính cơ học, dễ dàng hình dung trần lãi suất 10,49%/năm theo như chỉ định của NHNN đang bị phá vỡ. Đối với các DN, các khách hàng VIP, một số NH có thể áp dụng  lãi suất thoả thuận hoặc trả lãi trước để đảm bảo mức lãi suất đủ hấp dẫn người gửi tiền.

Khác với những lần trước, cuộc chạy đua huy động vốn giữa lần này diễn ra ngấm ngầm nhưng không kém phần quyết liệt. Không “trống dong, cờ mở”, băngrôn, quảng cáo lùm xùm, nhưng thay vào đó là tin nhắn, là thuyết phục trực tiếp của nhân viên NH. Các NH đều biết cái “vòng kim cô” là khó thoát, nhưng vẫn phải tìm mọi cách lách cho sát với dòng chảy thực tế của thị trường.

NHNN sẽ can thiệp?

Theo như phân tích của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, nếu so với năm 2008, thanh khoản của các NHTM trong năm 2009 được cải thiện đáng kể và chỉ có dấu hiệu xấu đi bắt đầu từ quý IV năm nay. Song dù không nghiêm trọng như năm 2009, các NHTM sẽ vẫn gặp khó khăn nếu NHNN không có những biện pháp xử lý kịp thời.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia – TS Lê Xuân Nghĩa, khi tiền gửi chủ yếu là ngắn hạn và tăng trưởng huy động vốn VND chậm lại, NHNN cần tăng tái cấp vốn thông qua nghiệp vụ thị trường mở và tái chiết khấu cho các NHTM có biểu hiện khó khăn về thanh khoản. Bởi nếu vừa khống chế lãi suất tiền gửi, vừa hạn chế bơm vốn qua thị trường mở sẽ không giải quyết được vấn đề thanh khoản của các NHTM.

Trong khi đó, làm việc với các NHTM trong ngày 14.12, Thống đốc NHNN – ông Nguyễn Văn Giàu cho biết, hiện không có NH nào thiếu hụt thanh khoản và NHNN vẫn sẵn sàng can thiệp để ổn định thanh khoản của các NH tạm thời bị thiếu hụt vốn.

Theo số liệu của cơ quan này, đến nay huy động vốn toàn nền kinh tế vẫn tăng 28% và ở mức khá cao so với mức tăng 23% trong năm 2008 khi lãi suất huy động được nâng lên rất cao.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng bác bỏ tin đồn việc NHNN “bơm” thêm gần 30.000 tỉ đồng cho các NHTM để cải thiện thanh khoản. NHNN vẫn chủ trương hạn chế tăng trưởng tín dụng để kiềm chế lạm phát và khuyến khích cơ chế cạnh tranh trên thị trường NH. Các NH theo đó dựa trên khả năng để đưa ra cơ chế lãi suất huy động và cho vay phù hợp.

Đỉnh lãi suất trên thị trường liên NH vượt xa trần lãi suất huy động trên thị trường được nhìn nhận như một sự bất hợp lý và là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy tình trạng “khát” vốn của hàng loạt các NHTM hiện nay.

Ngân hàng ngậm ngùi nhìn tiền tiết kiệm ra đi (16/12, 04:04)

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:35 pm
Tags: ,
Mặc dù mức trần lãi suất tiền gửi 10,49%/năm được các ngân hàng áp dụng cho hầu hết kỳ hạn, nhưng không ít ngân hàng vẫn phải ngậm ngùi nhìn tiền tiết kiệm ra đi.

Nhiều khoản tiền gửi được rút ra khỏi ngân hàng để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, chi tiêu, kể cả tìm kiếm cơ hội đầu tư khác vào dịp cuối năm. Chính điều này đã dẫn đến căng thẳng về cung – cầu vốn hiện nay và khiến không ít ngân hàng gặp khó khăn trong cân đối nguồn, nên buộc hạn chế cho vay ra.

Một số ngân hàng đã phải mượn vốn trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng tạm thời tính thanh khoản. Vì thế, lãi suất liên ngân hàng tăng nóng lên đến 12%/năm, trong khi lãi suất tiền gửi dân cư tại các ngân hàng vẫn chỉ tối đa 10,49%/năm.

Lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng bằng VND ở các kỳ hạn qua đêm trong tuần qua tiếp tục tăng 0,46%/năm. Cụ thể, lãi suất bình quân qua đêm đạt mức 8,22%/năm, tăng 0,46%/năm so với kỳ trước. Lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại dao động ở mức 9,48%-10,65%/năm. Kỳ hạn 3 tháng có mức lãi suất bình quân cao nhất đạt 10,65%/năm…

Ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh TP.HCM cho biết, việc huy động vốn khó khăn trong những tháng cuối năm là điều khó tránh khỏi đối với các ngân hàng, bởi theo thông lệ, vào thời điểm này, việc huy động vốn luôn diễn ra chậm.

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cũng cho biết, kịch bản thiếu vốn vào cuối năm là điều tất yếu, bởi đây là giai đoạn nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu thanh toán, chi tiêu… cao hơn bình thường.

Khó huy động được tiền nhàn rỗi, các ngân hàng buộc phải hạn chế cho vay ra. Phó tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cổ phần cho biết, hiện nhiều doanh nghiệp nhà nước có quan hệ tín dụng lâu năm với ngân hàng quốc doanh đã bắt đầu chuyển sang “gõ cửa” khối ngân hàng thương mại cổ phần.

Nguyên nhân là do các ngân hàng thương mại nhà nước đã khóa dần cửa tín dụng và hẹn lại đầu năm tới sẽ cố gắng giải ngân. Song do nguồn vốn khả dụng của các ngân hàng, nhất là với khối thương mại cổ phần không còn dồi dào như trước nên phát triển tín dụng trong tháng còn lại của năm 2009 đã được khép lại.

Thực tế này được chứng minh rất rõ qua dư nợ cho vay tiêu dùng, hỗ trợ lãi suất. Hiện các ngân hàng đã co dần khoản vốn cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng, thay vì mạnh tay cung ứng vốn cho khách hàng như 3 quý đầu năm.

Theo số liệu thống kê của NHNN, dư nợ cho vay có hỗ trợ lãi suất đã liên tục giảm trong 2 tuần đầu của tháng 12/2009. Mặc dù có tăng nhẹ lại trong tuần thứ 3 của tháng này, song tính đến ngày 10/12/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính cũng chỉ đạt trên 414.828 tỷ đồng, tăng 0,18% so với tuần trước đó.

Còn với chủ trương hỗ trợ lãi suất trung, dài hạn được kéo dài đến cuối năm 2010, nhưng các ngân hàng cho biết, khó có thể đẩy mạnh cho vay, bởi tiền huy động về chủ yếu ngắn ngày, nhất là trước nguy cơ lạm phát có khả năng tái bùng phát.

Hiện lãi suất cho vay của các ngân hàng phổ biến ở mức 11-12%/năm. Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 15-17%/năm.

Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia kinh tế – tài chính, với tình hình huy động vốn như hiện nay, cộng với chi phí vốn đầu vào gia tăng, trong khi cho vay ra vẫn vướng trần, nên việc phát triển tín dụng sẽ được ngân hàng tính toán chặt hơn.

Các chuyên gia tài chính cho rằng, khả năng lãi suất cơ bản sẽ tiếp tục được điều chỉnh vào đầu năm 2010 tùy thuộc vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của cả quý IV/2009, đồng thời, cùng với áp lực huy động vốn gia tăng trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010, sẽ là lý do để lãi suất cơ bản được điều chỉnh.

Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cho rằng, có thể trước mắt lãi suất cơ bản sẽ chưa thay đổi, song nếu NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ như hiện nay thì lãi suất cơ bản có thể sẽ được điều chỉnh.

TPHCM: Bất động sản khép lại một năm đầy bất ổn!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:11 pm
Tags: ,
hị trường bất động sản (BĐS) khép lại năm 2009 đầy bất ổn trên nhiều phương diện. Hy vọng về một sự hồi phục của thị trường trong nửa cuối năm 2009 đã không thành hiện thực.

Chập chờn lên xuống

Cuối năm 2008, các chuyên gia dự báo thị trường BĐS trong năm 2009 sẽ vô cùng ảm đạm bởi đang trong tâm của giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Trên thực tế, có những giai đoạn ngắn 2 -3 tháng trong năm 2009 thị trường BĐS TPHCM có những biến động mạnh khiến cho nhiều người vội tin thị trường BĐS hồi phục. Trên thực tế, thị trường BĐS trong năm 2009 là một năm chập chờn lên xuống khó lường do sự tác động của nhiều chính sách vĩ mô.

Tháng 3.2009, nhân sự kiện sắp thông xe cầu Nguyễn Văn Cừ (nối từ quận 1 sang quận 4 và quận 7), BĐS trong khu đô thị mới Nam Sài Gòn chỉ trong 4 tháng, từ tháng 3 đến tháng 6.2009 đã tăng vài chục triệu đồng/m2, đẩy giá nhà đất khu vực Nam Sài Gòn trở gần đạt đỉnh giá cuối năm 2008. Một số dự án như Him Lam – Kênh Tẻ, Trung Sơn… những lô đất mặt tiền đường lớn đã bật trở lại mốc 80 – 85 triệu đồng/m2 (giá đỉnh 90 triệu đồng/m2).

Chỉ trong vòng 3 tháng, giá nhà đất trong những dự án hàng top đã tăng 70 -80% so với giá đầu năm 2009. Giá nhà đất Khu Nam Sài Gòn theo đó tăng ầm ầm lên cả chục triệu đồng/m2. Giá đất ở Nam Sài Gòn tăng kéo theo giá đất ở khu Đông, nhưng mức độ tăng chỉ khoảng 30- 40%.

Tuy nhiên, sự “ấm áp” của thị trường BĐS TPHCM chỉ kéo dài chưa đến 4 tháng. Bước sang tháng 7 mọi việc đâu lại vào đấy, giá nhà đất lại rớt thảm hại trở lại gần mốc giá của đầu năm 2009. Thậm chí sự kiện thông xe cầu Phú Mỹ nối liền quận 7 và quận 2 cũng không thể khuấy động được sự “băng giá” của thị trường BĐS khu Đông Sài Gòn. Ở khu Nam Sài Gòn, những lô đất đắc địa nhất trong các dự án hàng “top” rơi trở lại mốc 55-60 triệu đồng/m2.

Khác với thị trường đất dự án, thị trường căn hộ chung cư, ảm đạm từ đầu đến cuối năm, ngoại trừ một số dự án có vị trí đắc địa hút được khách hàng. Phải có đến trên 95% dự án căn hộ chung cư rơi vào cảnh ế ẩm, buộc phải điều chỉnh giá liên tục. Thị trường căn hộ chung cư ế ẩm một phần là do nguồn cung quá lớn, trong khi nhu cầu đang ở mức thấp.

Theo số liệu khảo sát của một Cty quản lý BĐS, chỉ trong năm 2009, thị trường BĐS TPHCM có thêm hơn 12.000 căn hộ mới được đưa ra chào bán. Nếu tính tổng nguồn cung cả mới và cũ, trên thị trường có ít nhất gần 20.000 căn hộ. Nguồn cung vượt nhu cầu khiến cho mặt bằng giá của thị trường căn hộ từ đầu đến cuối năm chỉ có đi xuống chứ không đi lên.

Ngó chừng chính sách

Thị trường BĐS TPHCM, năm 2009 là năm của những thái cực, lên nhanh và xuống cũng nhanh không kém. Nếu như sự hoàn thiện hạ tầng nối liền khu trung tâm với các vùng ven mà cụ thể là thông xe cầu Nguyễn Văn Cừ và những thông tin dự báo tình hình kinh tế vĩ mô có dấu hiệu hồi phục, khủng hoảng kinh tế thế giới đã chạm đáy có tác động làm giá nhà đất gia tăng thì những chính sách từ thị trường tài chính, thuế làm cho thị trường nguội lạnh.

Theo nhận định của các chuyên gia, sở dĩ thị trường đất dự án nhanh chóng bị xì hơi trong tháng 7 và 8.2009 là do áp lực từ thị trường tiền tệ vốn là nơi cung cấp sinh lực chính cho những nhà đầu tư theo dạng lướt sóng – những người góp phần quan trọng cho thị trường BĐS nhộn nhịp trong các tháng 4 – 6. 2009.

Các kênh thông tin hỗ trợ cho thị trường đều trong tình trạng kém lạc quan. Trong tháng 7, xuất hiện một thông tin gây rúng động cho giới đầu tư nhà đất, đó là dư nợ tín dụng BĐS tăng trên 10%. Từ đó, dẫn đến một dự báo trong thời gian tới có khả năng hạn chế tín dụng BĐS từ các NH. Mà khi các NH siết hầu bao thì thị trường BĐS phải chịu tác động nặng nhất. Chỉ riêng thông tin này đã có tác động làm đứt đà tăng giá đất dự án vốn đang hừng hực khí thế sau 3 tháng tăng liên tiếp.

Đến tháng 9.2009, những thông tin dồn dập về việc áp dụng thuế suất 25% đối với lợi nhuận có được từ việc chuyển nhượng phần vốn góp mua bán nhà đất hoặc 2% trên tổng giá trị hợp đồng đã thực sự làm thị trường BĐS khốn đốn. Trong nhiều tháng liền, số lượng giao dịch của các sàn giao dịch BĐS trên địa bàn thành phố hầu như không đáng kể. Chỉ trong 3 tháng cuối năm, đã có 33 dự án bán nền nhà buộc phải giảm giá để hút khách. Riêng đối với thị trường căn hộ, số lượng dự án phải giảm giá để đẩy mạnh đầu ra lên đến gần 50 dự án.

DiaOcOnline.vn – Theo Lao Động

Đâu là giải pháp hạ nhiệt lãi suất?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:08 pm
Tags: , ,

Wednesday, 16. December 2009, 10:40:48

(LĐ) – Bên cạnh lãi suất huy động, lãi suất giao dịch VND trên thị trường liên ngân hàng từ tháng 11 đến nay luôn có xu hướng tăng ở tất cả các kỳ hạn. Mức lãi suất cho vay trên thị trường này hiện đã đến 12%/năm.

Thị trường tài chính đang tỏ ra lo ngại về hiện tượng lãi suất (LS) ngân hàng đang có dấu hiệu bất thường. Cần ổn định LS để ổn định thị trường tài chính và nền kinh tế.

Có 3 loại LS liên quan mật thiết với nhau và liên quan đến chính sách tiền tệ (CSTT) chống lạm phát: LS tiền gửi của NH thương mại (NHTM), LS cho vay của NHTM và LS trên thị trường liên NH. Mức độ nóng của 3 loại LS này hiện đang khác nhau.

Về LS cho vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản (LSCB), LS cho vay thỏa thuận bị nhiều ràng buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nên không thể tăng quá mức, trong khi cầu về vốn tín dụng trong nền kinh tế vẫn cao nhất là giai đoạn cuối năm khi các DN đang vội vã hoàn thành kế hoạch kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng sẽ tăng, nên nếu LS cho vay lúc này không nóng, không phản ánh được thực trạng của giá cả tín dụng vì bị ảnh hưởng bởi các rào cản kỹ thuật từ cơ quan quản lý là NHNN.

Với LS huy động: Hiện ở mức cao kể cả VND và ngoại tệ. LS huy động dù có sự đồng thuận của Hiệp hội NH nhằm khống chế ở một mức nào đó, nhưng vẫn có xu hướng vượt trần, chỉ chực chờ bung ra mà thôi, khoảng chênh lệch mức LS huy động giữa các kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng… 12 tháng là không đáng kể, xấp xỉ mức kịch trần 10,5% chỉ chứng tỏ sự “khát vốn” của các NHTM trong bối cảnh hiện tại.

Có một điều dễ nhận thấy là cứ trần LS mở đến đâu là LS huy động tăng đến đó. LS trên thị trường liên NH: Về bản chất thị trường liên NH chỉ là nơi cung cấp vốn cho NHTM bù đắp việc thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong một thời gian rất ngắn. Đây không phải là một thị trường để NHTM chú trọng đầu tư nên cũng không phải là thị trường huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM.

Trong bối cảnh bình thường: Các NHTM thỉnh thoảng thiếu hụt thanh khoản thì mới đi vay mượn, do bên vay là NHTM nên uy tín nhiều hơn so với các DN nói chung, Người cho vay và đi vay đa số là các NH thừa và đủ thanh khoản, vì thế mà LS trên thị trường này thường là thấp hơn LS huy động vốn trên thị trường dân cư. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, mức LS trên thị trường này đã lên đến trên 12%/năm, cao hơn cả trần LS huy động trong dân cư của các NHTM.

Bất bình thường trong giai đoạn kinh tế bình thường

Vấn đề đặt ra hiện nay là thị trường liên NH lại đang có dấu hiệu bất bình thường vào lúc mà nền kinh tế đã thoát khỏi giai đoạn nguy hiểm nhất? Từ tháng 11.2009 đã có NH rút dư nợ cho vay nền kinh tế về để vừa đảm bảo thanh khoản, vừa có nguồn tiền cho vay trên thị trường liên NH với mức LS cao nhất cho 12%/năm, quá cao so với LS huy động dân cư với mức tối đa 10,5%.

Nếu so sánh thì thấy nguồn vốn vay trên thị trường liên NH là nguồn vốn ngắn hạn, không bền vững trong khi đó huy động vốn trong nền kinh tế với mức trên 10% thường có tính dài hạn, ổn định hơn. LS vay trên thị trường liên NH 12% là đắt hơn rất nhiều so với LS huy động vốn hiện tại. Vì thế mà các NHTM hiện đang có khuynh hướng bung LS huy động từ dân cư và các tổ chức khác để có nguồn vốn bù đắp cho nguồn thiếu hụt đang phải vay trên thị trường liên NH.

Một số nguyên nhân được đưa ra như sau: Một số NHTM quá chú trọng kinh doanh mà không để ý nhiều và đúng mức đến quản trị thanh khoản, điều này dẫn đến rủi ro lâu dài cho hệ thống và cho cả nền kinh tế; Một số NH sử dụng vốn kinh doanh quá lệch về đầu tư trung dài hạn trong khi nguồn vốn huy động được phần nhiều là ngắn hạn, nên dễ có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất thanh khoản.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng chưa chú ý đến mối quan hệ giữa thị trường liên NH với TTCK và thị trường vàng mà có cách ứng xử thích hợp. Phải thấy rằng mỗi khi TTCK bùng nổ thì thanh khoản của nhiều NHTM lại bị thiếu hụt, đó là do sự luân chuyển vốn tiền gửi giữa các NHTM với nhau.

Giải pháp hạ nhiệt lãi suất

Nhiều người, trong đó có các NH, đang lo lắng rằng LS năm 2010 có khả năng tái diễn đà tăng như năm 2008 vì Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) vừa đưa ra dự báo lạm phát của VN có thể tăng từ 7% năm 2009 lên mức hai con số vào năm 2010.

Về vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa – Phó Chủ tịch UB Giám sát tài chính quốc gia – cho rằng, không có khả năng đó vì lạm phát của VN năm 2009 chỉ khoảng 6%. Năm tới có thể cao nhất chỉ 8%.

Theo ông Nghĩa, mặc dù tín dụng tăng khá cao (11 tháng là 36% so cuối năm 2008) nhưng đây không phải là yếu tố trực tiếp tạo ra lạm phát, mà yếu tố trực tiếp là cung ứng tiền tệ. Tỉ lệ này năm 2009 được NHNN duy trì ở mức 25%, là mức khá hợp lý, thấp hơn nhiều so với 2007 là 36%, chỉ cao hơn chút ít so với năm 2008 là năm thắt chặt tiền tệ.

Hơn nữa, WB cũng dự báo mặt bằng giá thế giới năm 2010 chỉ tăng 1,5% so với năm 2009. Nhóm hàng dự báo có tăng giá chút ít là lương thực thực phẩm. Nhìn từ hai phía, lạm phát cầu kéo do cung tiền hoặc lạm phát chi phí đẩy do giá thế giới đều thấp, đó là sự khác biệt so với năm 2008.

Như vậy, theo ông Nghĩa, mặc dù nhiều chuyên gia cảnh báo mạnh về nguy cơ lạm phát, nhưng để phục hồi hoàn toàn nền kinh tế thì thế giới phải mất ít nhất 3 – 4 năm. Trong khoảng thời gian đó, giá cả thế giới nói chung và VN nói riêng khó có thể có đột biến.

Nếu đúng như vậy thì phải có sự nhìn nhận nguyên nhân tại sao LS huy động VND từ thị trường dân cư, tổ chức và thị trường liên NH hiện nay lại luôn trong tình trạng khá căng thẳng?

Theo một số chuyên gia tài chính thì một số giải pháp gợi ý là: Buộc hạ LS trên thị trường liên NH xuống ngang bằng/ hoặc thấp hơn một ít so với LS tiền gửi tiết kiệm 12 tháng trả sau bình quân trên thị trường. NHNN hỗ trợ cho các NHTM thiếu thanh khoản vay thông qua nghiệp vụ thị trường mở với LS bậc thang theo hình thức phạt (vay càng dài, LS càng cao); những NHTM thường xuyên thiếu thanh khoản với số dư bình quân ở một mức nào đó thì sẽ bị hạ bậc tín nhiệm trên thị trường liên NH và phải chịu LS vay cao hơn so với các thành viên khác…

Đâu là những dấu hiệu bất thường của thị trường?

Trong một bối cảnh bất thường thì thị trường có những dấu hiệu sau:

(i) Đa số các NHTM thiếu hụt thanh khoản, và việc thiếu hụt thanh khoản này lại xảy ra thường xuyên với khá nhiều NHTM, còn việc dư thừa thanh khoản chỉ là tạm thời của một số ít NHTM.

(ii) Có những NHTM thiếu hụt thanh khoản trầm trọng nhưng không được các NHTM thừa thanh khoản cho vay nếu không có sự đảm bảo từ NHNN.

(iii) Nhiều NHTM đã lạm dụng thị trường liên NH để “ứng trước nguồn vốn” cho hoạt động kinh doanh nhất là đầu tư tín dụng, sau đó huy động vốn để trả sau. Có những thời điểm lãi suất cho vay rất cao, vượt rất nhiều so với lãi suất cho vay tín dụng thương mại cao nhất trong nền kinh tế, thời hạn cho vay khá dài. Vì vậy, một số NHTM lớn (kể NHTM Nhà nước) đã xem thị trường liên NH là thị trường để đầu tư sinh lãi, sinh lãi cao lại an toàn hơn đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế.

Thanh Hoa-Trường Giang

The incomparable economist

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 pm
Tags:

I’ve written a brief Samuelson appreciation for Vox EU. I’m cross-posting it here, below the fold.

There have been hedgehogs; there have been foxes; and then there was Paul Samuelson.

I’m referring, of course, to Isaiah Berlin’s famous distinction among thinkers – foxes who know many things, and hedgehogs who know one big thing. What distinguished Paul Samuelson as an economic thinker, making him like nobody else, past or present, was the fact that he knew – and taught us – many big things. No economist has ever had so many seminal ideas.

With a little help from Google Scholar, I’ve compiled a list of some of Samuelson’s big ideas. I say “some” because I’m sure it’s not complete. But anyway, here are eight – eight! – seminal insights, each of which gave rise to a vast and continuing research literature:

1. Revealed preference: There was a revolution in consumer theory in the 1930s, as economists realized that there was much more to consumer choice than diminishing marginal utility. But it was Samuelson who taught us how much can be inferred from the simple proposition that what people choose must be something they prefer to something else they could have afforded but don’t choose.

2. Welfare economics: What does it mean to say that one economic outcome is better than another? This was a blurry concept before Samuelson came in, with much confusion about how to think about income distribution. Samuelson taught us how to use the concept of redistribution by an ethical observer to make sense of the concept of social welfare – and thereby also taught us the limits of that concept in the real world, where there is no such observer and redistribution usually doesn’t happen.

3. Gains from trade: What does it mean to say that international trade is beneficial? What are the limits of that proposition? The starting point is Samuelson’s analysis of the gains from trade, which drew on both revealed preference and his welfare analysis. And everything since, from the distortions analysis of Bhagwati and Johnson, to the generalized comparative advantage concepts of Deardorff, has been based on that insight.

4. Public goods: Why must some goods and services be provided by the government? What makes some, but only some, goods suitable for private markets? It all goes back to Samuelson’s 1954 “Pure theory of public expenditure”.

5. Factor-proportions trade theory: Every time we talk about resources and comparative advantage, every time we worry about the effect of trade on income distribution, we’re harking back to Samuelson’s work in the 1940s and 1950s: he took the vague, confusing ideas of Ohlin and Heckscher, and turned them into a sharp-edged model that defined most trade theory for a generation, and remains a key part of the modern synthesis.

6. Exchange rates and the balance of payments: A bit of personal storytelling: Most people who work in international trade tend to lose the thread when the discussion turns to exchange rates and the balance of payments; as I’ve sometimes put it, the real trade people regard international macro as voodoo, while the international macro people regard real trade as boring and irrelevant (and when I’m in a sour mood, I suggest that both are right). But I was saved from all that when I read Dornbusch, Fischer and Samuelson 1977 on Ricardian trade, which among other things showed how trade and macro, exchange rates and the balance of payments, the possibility of gains from trade but also the possibility of unemployment, all fit together.

What I learned later was that Samuelson grasped these issues much earlier, although the neatness of the DFS formulation surely helped get them across. Here’s what he wrote in his 1964 paper “Theoretical notes on trade problems”: “With employment less than full and Net National Product suboptimal, all the debunked mercantilist arguments turn out to be valid.” And he went on to mention the appendix to the latest edition of his Economics, “pointing out the genuine problems for free-trade apologetics raised by overvaluation”. The solution, of course, was to end the overvaluation rather than restrict trade; Samuelson understood that good macroeconomic policies are a prerequisite for good microeconomic policies. More on that in a minute.

7. Overlapping generations: Samuelson’s 1958 overlapping-generations model of borrowing and lending is the ur-framework for thinking about everything from Social Security to household debt. It’s hard to imagine macro without it.

8. Random-walk finance: Samuelson’s demonstration that forward-looking investors imply randomly fluctuation prices is the starting point for much of modern finance.

As I said, I’m sure there’s more. But notice that any one of these ideas, all by itself, would have been considered enough to make Samuelson a great economist. Nobody, but nobody, has done this much.

So how did he do it? By being smarter than anyone else, of course. But there were also, I’d suggest, two aspects of Samuelson’s intellectual makeup that empowered his intellectual quest.

The first was his playfulness. Read Samuelson’s work, and what you get is the sense of a man who, rather than sitting down to write Very Serious Papers, was having fun with ideas. Sometimes the playfulness boiled over into inspired silliness. Look at footnote #9 in his overlapping-generations paper, where he writes: “Surely, no sentence beginning with the word ‘surely’ can validly contain a question mark at its end? However, one paradox is enough for one article …” It seems clear to me that Samuelson’s playfulness liberated his imagination, and fueled his creativity.

And yet Samuelson was at the same time always grounded in reality. No ivory-tower academic he: he remained deeply interested in events and policy, he played the markets, he never let his theories override his sense of the way things actually were.

Which brings me, finally, to Samuelson’s great contribution to economic policymaking: the Keynesian synthesis. Samuelson was, intellectually, a Depression baby: he came of intellectual age in an environment of mass unemployment. His textbook brought Keynesian thinking to a broad audience. And he never forgot that markets can malfunction terribly. How, then, could economic theory on the virtues of markets be of any real-world use?

Samuelson’s answer was that good macro policies come first. Monetary and fiscal policy had to be employed to assure more or less full employment (and as I’ve pointed out elsewhere, Samuelson appreciated the limits of monetary policy in a way that seems incredibly prescient today). Exchange rates had to be adjusted to assure competitiveness. Only then could the virtues of markets come into play.

It was a lesson that too many economists forgot, as they immersed themselves in the lovely math of perfect markets. But Samuelson’s realism – his understanding that markets are great things, but need to be supported by government activism — has never seemed more relevant than it does now.

So let us praise Paul Anthony Samuelson, the incomparable economist. There has never been, and will never be, anyone to match him.

Blog at WordPress.com.