Ktetaichinh’s Blog

December 15, 2009

Dự thảo quản lý lưu học sinh- liệu cứ cấm là xong?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:55 am
Tags: ,

Ngành giáo dục sẽ khó có thể mang lại kết quả gì khả dĩ, nếu vẫn không cải cách được trước hết chính đội ngũ công chức cao cấp soạn thảo luật. Đội ngũ này vốn là công cụ tối cần thiết cho một nhà nước pháp quyền; nếu thiếu hoặc yếu, thì dù đường lối chính sách Đảng, nhà nước vạch ra có thần kỳ đến đâu chăng nữa, cũng sẽ luôn bị bất lực.

LTS: Bản dự thảo “Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang đào tạo ở nước ngoài” vừa công bố hôm 02/12/2009 đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội. Có những ý kiến tạm coi là xác đáng, có những ý kiến cần phải thảo luận thêm. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu thêm một góc nhìn riêng của TS. Nguyễn Sĩ Phương về bản dự thảo này, mời độc giả tham gia ý kiến.

Nhập nhằng giữa lập pháp và lập quy

Ở các quốc gia tiên tiến, qua mỗi kỳ bầu cử, dù thay đổi đảng cầm quyền, xã hội vẫn vận hành thông suốt, không gián đoạn, là nhờ có bộ máy nhà nước pháp trị không thay đổi, với đội ngũ công chức cao cấp của họ chuyên soạn thảo các văn bản luật, tinh thông nghề nghiệp, nắm chắc các văn bản luật hiện có, hiểu đến từng điều khoản, hiệu lực của các điều khoản đó…; đủ năng lực biến mọi chính sách của bất cứ đảng nào lên cầm quyền thành các văn bản luật chi phối xã hội, mà không làm xã hội xáo trộn.

Trong khi đó ở ta, không ít chính sách nhất quán của Đảng, khi được biến thành văn bản pháp lý các cấp, vẫn hoặc không còn giữ được nguyên tinh thần, hoặc bị hiểu sai, hoặc thực thi tuỳ thuộc quan chức hành xử, hoặc thậm chí bất khả thi chỉ dừng lại trên nghị quyết. Số phận của chính sách còn tùy thuộc vào nhận thức chủ quan của các cấp áp dụng…

Phân tích Dự thảo “Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang đào tạo ở nước ngoài” mà Bộ GD và ĐT vừa công bố, phần nào cho thấy mức độ trầm trọng của vấn đề.

Trước hết, công dân Việt Nam  phải hiểu là người có quốc tịch Việt Nam; nhưng nhiều người Việt định cư ở nước ngoài đang được đào tạo ở đó chắc chắn không thuộc đối tượng áp dụng của dự thảo này; những công dân du học tự túc, thì bất khả thi áp dụng. Đọc hết dự thảo mới biết, đích của dự thảo là công dân Việt Nam du học được nhà nước cấp học bổng. Tên gọi bản dự thảo vốn rất quan trọng, đã không chặt chẽ.

Mặt khác, khái niệm Quy chế quản lý, được hiểu là những quy phạm áp dụng trong quản lý, ở hầu hết các nước tiên tiến thuộc loại văn bản lập quy chỉ có tác dụng hướng dẫn quản lý trong nội bộ cơ quan công quyền, không liên quan gì đến du học sinh, họ không cần biết. Nhưng trái với tên gọi, nội dung dự thảo lại đề cập chủ yếu đến quyền và trách nhiệm của lưu học sinh mà họ cần biết để thực hiện.

Ở hầu hết các nước tiên tiến, phải là đối tượng điều chỉnh của văn bản lập pháp (do liên quan đến quyền và trách nhiệm của công dân). Dự thảo vì vậy đáng lẽ phải là 2 văn bản dự thảo luật, 1 văn bản lập pháp phải thông qua Quốc hội và một văn bản lập quy chỉ lưu hành trong nội bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng lại bị nhập nhằng trộn lẫn giữa lập pháp và lập quy, giữa quyền và trách nhiệm của lưu học sinh với quyền và trách nhiệm của cơ quan hành xử (nhưng cũng không rõ ràng, thiếu chế tài).

Đi sâu vào các điều khoản quyền lợi lưu học sinh, dự thảo có đề cập đến những khoản tài chính nhà nước hỗ trợ cho học sinh du học, thuộc phạm trù đào tạo, đầu tư cho tương lai mà hầu như nước nào cũng đặt lên hàng đầu, mức độ tùy thuộc khả năng cân đối ngân sách của họ, nên ở họ, những dự luật như thế cũng cần Quốc hội thông qua, tức phải mang tính lập pháp.

Mặt khác, những dự luật mang tính ưu tiên như vậy thông thường tên gọi phải phản ảnh được mục đích xây dựng phát triển của nó, vì vậy dự thảo trên phải được gọi đúng là Dự luật khuyến khích hỗ trợ học sinh du học, từ đó quy định trách nhiệm pháp lý của các cơ quan công quyền liên quan, phục vụ cho mục đích trên.

Không thể cứ cấm là xong trách nhiệm

Trong khi đó, dự thảo của Bộ GD và ĐT được gắn tên gọi Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang đào tạo ở nước ngoài, lại chỉ toát lên một tư tưởng chủ đạo- đó là các bộ, ngành ban hành văn bản luật chỉ nhằm phục vụ cho công việc quản lý của mình sao cho lợi nhất.

Chính vì vậy nội dung dự thảo đã coi du học sinh là đối tượng họ quản lý toàn diện, như học sinh phổ thông, không đúng với thế giới nơi học sinh ta tới du học – họ quan niệm học sinh đại học là người trưởng thành, không chịu sự quản lý của bất kỳ ai, có đầy đủ trách nhiệm và quyền công dân, bình đẳng như tổng thống, thủ tướng.

Quan hệ giữa họ với nhà trường là quan hệ hợp đồng đào tạo, tương tự như hợp đồng lao động, 2 bên đều bình đẳng. Khi nhà nước cấp học bổng riêng cho họ thì quan hệ giữa nhà nước với họ chỉ liên quan đến suất học bổng riêng đó.

Chẳng hạn, ở Đức, quân đội sẵn sàng cấp mức học bổng ngang tiền lương sỹ quan cho sinh viên y khoa, nếu người hợp đồng đồng ý khi ra trường phải phục vụ trong quân đội ít nhất 15 năm, trong trường hợp vi phạm sẽ phải bồi thường (chính Bộ trưởng Y tế Đức, gốc Việt, Philipp Rösler, trước kia học ở trường này). Còn mọi quyền khác không bị ảnh hưởng, họ vẫn là sinh viên như bất kỳ sinh viên nào khác, quyền học tập của họ cũng giống như quyền lao động, quyền kinh doanh vậy.

Điểm đáng đề cập nhất trong nội dung quản lý là cấm lưu học sinh “không được thành lập hoặc tham gia hoạt động của các hội hoặc tổ chức chính trị, các hoạt động khác làm phương hại đến lợi ích của Việt Nam và nước sở tại”.  Điều khoản này liên quan đến an ninh chính trị, có giá trị đối với mọi công dân, không riêng gì sinh viên, được điều chỉnh bởi bộ Luật Hình sự, thuộc chức năng nhà nước của Bộ Công an, Viện Kiểm sát, Toà án… nên đưa vào dự luật chuyên về đào tạo là sai đối tượng. Lưu học sinh, ngoài quan hệ đào tạo, còn quan hệ lao động, hôn nhân gia đình, tôn giáo, pháp luật… đâu chỉ mỗi an ninh chính trị.

Tuy nhiên hậu họa điều khoản nên bỏ này lại ở chỗ lợi bất cập hại. Nơi tới du học của học sinh nước ta chủ yếu là những nước tiên tiến mang bản chất xã hội dân sự không tách khỏi hội đoàn, nhà nước họ tập hợp nhiều đảng phái, được luật pháp họ thừa nhận. Sinh viên không thể biết lấy dấu hiệu gì hoặc dựa vào cơ quan thẩm định nào để có thể kết luận tổ chức họ phương hại đến lợi ích hoặc của Việt Nam hoặc của nước sở tại hoặc cả hai. Điều đó thuộc nghiệp vụ chuyên ngành an ninh chính trị phải chịu trách nhiệm giám định, hướng dẫn, chứ không thể phó mặc cho sinh viên.

Nếu không, để thực hiện quy định trên triệt để, du học sinh chỉ còn cách tránh mọi giao tiếp xã hội, như đã từng xảy ra trong quá khứ. Đi đâu cũng phải từ 2 người trở lên để xác nhận, đi xa phải báo cáo, trả lời giáo viên hỏi thăm về tình hình trong nước cũng phải khất để xin ý kiến phụ trách. Thậm chí bạn cầm tay mời nhảy đành viện đến lý do bất khả kháng “đi vệ sinh” để từ chối. Hậu quả, trình độ giao tiếp, ngoại ngữ lưu học sinh Việt Nam nói chung kém xa so với du học sinh nhiều nước. Không ít du học sinh trở về chỉ được kiến thức lý thuyết, sách vở, mù tịt kiến thức về thực tế đời sống luật pháp xã hội chính trị nước họ.

Giáo dục- đào tạo trong mối tương quan kinh tế xã hội cụ thể

Giáo dục- đào tạo là sự tác động qua lại giữa thầy và trò trong một nền tảng kinh tế xã hội nhất định. Thầy chỉ mới cung cấp kiến thức của thầy truyền miệng sang trò, còn nền tảng kinh tế xã hội đem đến cho trò khả năng hiểu biết, biến kiến thức đó trở thành thực tế. Kiến thức nhà trường trong thời đại Internet, khi mà tim người ta còn mổ được từ xa, thì tại Việt Nam cũng đủ khả năng tiếp thu kiến thức đó của mọi nước trên thế giới, không nhất thiết phải du học, chưa nói có thể nhập khẩu cả trường của họ.

Vậy cốt lõi của du học thực chất là kiến thức thu được từ nền tảng kinh tế xã hội nước họ mà nước ta không thể có, vì vậy ưu tiên đầu tiên đối với du học sinh là phải hoà nhập vào xã hội dân sự bản địa, không thể đứng ngoài để học nó, kiểu tập bơi trên cạn… Cần khuyến khích họ tham gia mọi hoạt động hội thảo, thảo luận chuyên đề, nghe thuyết trình, sinh hoạt câu lạc bộ, hội đoàn, các buổi dã ngoại, ngoại khoá, thực tập, tham quan, giao dịch với nhà máy, xí nghiệp, viện, cơ quan, tổ chức dân sự, chính quyền… chứ không thể vì lý do an ninh chính trị cấm đoán họ chung chung.

Còn nếu không thể yên tâm, tin tưởng được họ, thì tốt nhất nên ngừng du học sinh để khỏi lãng phí tiền bạc nhà nước. Quỹ đó nên dành cho đào tạo cấp 1, lớp 1, mẫu giáo, mầm non mới chính là đầu tư cho tương lai lâu dài nhất của đất nước.

Dù hiểu theo nghĩa gì thì chức năng quản lý nhà nước hoàn toàn không có mục đích tự thân, nó phải phục vụ cho đối tượng bị quản lý đạt tới đích nhanh chóng và hiệu quả nhất, chứ không phải nhằm sao cho công việc cơ quan quản lý nhẹ nhàng nhất, và càng không thể bằng biện pháp chống, cứ cấm là xong trách nhiệm.

Ngành giáo dục nước ta hiện đang phải đối mặt với những bức xúc xã hội trầm trọng, đã có bao cố gắng phấn đấu đưa ra nhiều giải pháp cải cách, nhưng sẽ khó có thể mang lại kết quả gì khả dĩ, nếu vẫn không cải cách được trước hết chính đội ngũ công chức cao cấp soạn thảo luật. Đội ngũ này vốn là công cụ tối cần thiết cho một nhà nước pháp quyền; nếu thiếu hoặc yếu, thì dù đường lối chính sách Đảng, nhà nước vạch ra có thần kỳ đến đâu chăng nữa, cũng sẽ luôn bị bất lực.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: