Ktetaichinh’s Blog

December 15, 2009

Tránh được khủng hoảng, TQ còn gặp nhiều khó khăn

Connie Young
15/12/2009

Trong khi năm 2009 sắp hết, người ta nhận thấy có nhiều dấu hiệu là Trung Quốc đã khéo léo lèo lái để vượt qua được cơn khủng hoảng tài chánh toàn cầu và trên đường đạt tới mức tăng trưởng còn mạnh hơn trước. Tuy nhiên, các kinh tế gia cho rằng vẫn còn một số những khó khăn đè nặng lên những nỗ lực duy trì mức tăng trưởng của nước này. Thông tín viên Connie Young tường trình thêm chi tiết từ Bắc Kinh.

Customer pushes his cart in Shenyang supermarket, in northeast China's Liaoning province (Dec 2009 file photo)
Nhiều nhà nhập khẩu không biết hàng hóa bán ra trong dịp Lễ Giáng Sinh này sẽ ra sao

Các dữ liệu kinh tế mới cho thấy tổng sản phẩm nội địa của Trung Quốc dự kiến sẽ gia tăng trên 8% trong năm nay. Sản lượng công nghiệp cho tháng 11 chỉ tăng trên 19% so với cách đây 1 năm, ngay sau khi cuộc khủng hoảng tài chánh bắt đầu. Mức nhập khẩu tăng gần 27%, nhờ sự chi tiêu vào các mặt hàng thương phẩm của chính phủ.

Nhưng trong lúc khối lượng hàng xuất khẩu có những dấu hiệu hồi phục thì ngành công nghiệp vẫn còn yếu. Vào tháng 11, các ngành công nghiệp xuất khẩu đã hạ giảm 1% so với năm trước.

Ông Michael Pettis, cộng tác với tổ chức Carnegie vì Hòa bình Thế giới và là giáo sư tài chánh tại đại học Bắc Kinh, nói rằng những số liệu vừa nêu đã khơi lên những tranh cãi về sức mạnh kinh tế của nước này.

Ông nói: “Nếu quý vị là một người lạc quan thì số liệu đó cho thấy sự phục hồi đang được tiếp tục. Phần lớn các số liệu coi như khá tốt. Đầu tư vẫn ở mức thật cao, nhất là những khoản đầu tư về tài sản cố định. Nhưng những số liệu về sản xuất coi như tốt. Nhưng nếu quý vị là một người bi quan, quý vị sẽ nói, có gì đâu, đó đúng là điều người ta dự trù từ một chiến lược đầu tư ào ạt từ phía chính phủ.”

Một số chuyên gia doanh nghiệp lo ngại là các ngành xuất khẩu sẽ chiếm phần nhỏ hơn trong nền kinh tế Trung Quốc. Các cơ xưởng đối mặt với tình trạng giá nhân công tăng và chi phí sản xuất tăng, và có những dự đoán là đồng Nguyên, hay là đồng Nhân dân tệ sẽ lên giá, nên các lãnh tụ doanh nghiệp nói rằng, duy trì cho khu vực này sống còn cũng là một thách thức cho chính phủ.

Ông Stanley Lau, Phó Chủ tịch Liên hội Công nghiệp Hồng Kông, đại diện cho các doanh nghiệp Hồng Kông tại Trung Quốc, nói rằng các cơ xưởng đang phải đứng trước mức cầu yếu kém từ nước ngoài.

Ông Lau cho biết: “Trước hết, nói một cách tổng quát, nhiều nhà nhập khẩu không biết hàng hóa bán ra trong dịp Lễ Giáng Sinh này sẽ ra sao. Điều này có nghĩa là nhiều khách hàng vẫn còn đợi những con số sau cùng cho mùa bán hàng vào dịp Giáng Sinh. Vì vậy họ chưa đặt hàng với chúng tôi cho năm sau. Theo tôi nghĩ, họ muốn đợi cho tới kỳ Lễ Tân Niên và rồi họ sẽ lên kế hoạch đặt hàng cho năm tới.”

Vào lúc nhu cầu về hàng xuất khẩu bắt đầu hạ hồi năm ngoái, chính phủ Trung Quốc đã khởi sự những cố gắng nhằm kích hoạt nền kinh tế, như là hạ lãi suất, khuyến khích cho vay, và chi tiêu hàng tỉ đôla cho những dự án cơ sở hạ tầng.

Nhưng một số kinh tế gia cảnh báo rằng những cố gắng đó có thể khiến giá bất động sản, giá chứng khoán và nhiều loại tài sản khác gia tăng quá nhanh, như là một cái bong bóng có thể nổ tung. Các kinh tế gia nói rằng tín dụng lỏng lẻo của Trung Quốc, tình trạng đầu tư quá mức và tiêu thụ chưa tới mức có thể đưa tới một hiểm họa lớn, nhất là trong thị trường tài sản.

Tuy nhiên, chính phủ bắt đầu cố gắng hãm bớt. Những số liệu của Ủy ban Điều hành Ngân hàng cho thấy trong năm 2009 các khoản cho vay có thể lên tới hàng 300 tỉ đôla, nhưng năm tới sẽ hạ xuống chỉ còn 1 ngàn 100 tỉ. Nhưng như vậy vẫn còn gấp đôi năm 2008.

Chính phủ cố gắng làm nguội bớt thị trường địa ốc, bằng một sắc thuế mới về nhà đất mới đánh trên những tài sản được bán đi trong vòng 5 năm sau khi mua. Và cũng có những kế hoạch gia tăng việc cung cấp loại nhà có giá từ trung bình đến thấp nhằm ngăn chặn nạn đầu cơ.

Ông Andy Xie, một kinh tế gia độc lập tại Thượng Hải, cảnh báo rằng thị trường tài sản Trung Quốc có thể bị tổn hại, một khi Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ gia tăng lãi suất, sẽ ảnh hưởng đến tình trạng cho vay trên toàn thế giới nữa.

Ông nói: “Khi lạm phát xảy ra, Ngân hàng Dự trữ Liên bang sẽ phải tăng mức lãi suất lên khá cao, điều sẽ đưa tới sự nổ tung quả bóng nhà đất toàn cầu và sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng khác nữa. Và cuộc khủng hoảng đó sẽ không thua gì cuộc khủng hoảng mà chúng ta vừa chứng kiến.”

Các kinh tế gia như ông Xie và ông Pettis cảnh báo rằng các chính phủ cần phải hành động dè dặt khi họ chấm dứt các chương trình kích hoạt. Tăng lãi suất và cắt giảm chi tiêu của chính phủ quá sớm có thể dễ dàng gây chấn động cho các nền kinh tế và khiến trị giá tài sản sụp đổ.

Advertisements

Overnight transaction accounts for 42pct of total banking trades

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:42 pm
Tags:

VNBusinessNews.com – State Bank of Vietnam (SBV) has reported that between December 4 and 10; the interbank trading turnover totalled approximately 111.842 trillion dong and $4.452 billion, averaging 22.368 trillion dong and $290 million a day.

Compared with previous week, the dong trading value surged by 29.007 trillion dong while the US dollar transaction turnover fell by $1.388 billion.

Last week the overnight transaction value of the whole market gained 46.418 trillion dong, accounting for 42 percent of total banking trades. Average trading interest rates on the interbank market tended to increase in all terms. In which, the average trading rate of short terms (below three months) soared by over 1.14 percent pa, 3-6 months seeing a rise of 0.66-0.55 percent pa, 12-month term with an increase of 2.2 percent pa. As for the dong, the lowest lending rate was 5.00 percent pa and highest at 12 percent pa (on demand loan rates).

Overnight lending rate averaged at 10.05 percent pa, up 1.83 percent against the previous week and the average lending rate of remaining terms ranged between 10.58 percent and 11.31 percent pa.

Meanwhile, the average trading rate of US dollar surged slightly, except the overnight term lending rate dipped. The 12-month trading interest rate reached the highest level of 2.5 percent pa.

Statistics of SBV showed that the monetary market within last week was sustainable. Deposit balance of credit institutions at SBV can ensure the statutory reserve and payment capacity. The dong deposit rate of some commercial banks peaked at 10.49 percent pa. The US dollar deposit rate of commercial banks was fairly sustainable but only Eastern Asia Commercial Joint Stock Bank (EAB) adjusted the deposit rate by 0.7-1.1 percent pa to 4.5 percent at maximum (applied on the longer 12-month terms).

Now, the dong lending rate is common at 11-12 percent pa and the negotiated lending rate stands at 15-17 percent pa. The US dollar lending rate of state commercial banks is around 5.5-6.0 percent pa, joint stock banks at 5.5-7.5 percent pa as for short term loans and 6.0-8.0 percent pa as for medium and long term loans.

The listing forex rate of commercial banks was announced at 18,469 and 18,479 dong per US dollar (buying-selling).

Từ hôm nay, DN được tự quyết giá xăng dầu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:38 pm
Tags:

Từ hôm nay (15/12), Nghị định 84/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường thay thế Nghị định 55/CP-NĐ chính thức có hiệu lực. Theo đó, DN được tự quyết giá bán xăng dầu mà không phải xin phép liên Bộ. Tuy nhiên nhiều người vẫn “bán tín bán nghi” cơ chế được cho là mở hết cỡ này.

Quản lý Nhà nước: Nhẹ gánh!

Theo Nghị định trên, các DN kinh doanh xăng dầu sẽ được quyền tự quyết định giá bán lẻ, theo sát mức giá thế giới mà không cần phải xin phép cơ quan chức năng. Trong trường hợp mức giá tăng gây lỗ cho DN vượt quá 7 -12%, DN được quyền tăng giá bán lẻ 7%, cộng thêm 60% của mức tăng từ 7% đến 12%, 40% còn lại sẽ được sử dụng quỹ Bình ổn giá để bù đắp theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Theo Liên bộ Tài chính – Công thương, quy định mới này có ưu điểm là tăng quyền và trách nhiệm cho DN đầu mối trong việc quyết định giá bán. Liên Bộ thực hiện quyền giám sát và chỉ can thiệp khi giá biến động lớn thông qua sử dụng quỹ bình ổn giá hoặc khi giá biến động bất thường.

Ông Võ Văn Quyền, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thị trường trong nước (Bộ Công thương) khẳng định: Việc công khai công thức tính giá cơ sở mặt hàng xăng dầu là cơ sở để cơ quan quản lý và người tiêu dùng nắm được cơ cấu giá, thông qua đó giám sát được giá xăng dầu của DN. DN sẽ không thể tăng cao hay giảm thấp khi mà “công thức” tính giá bán lẻ cũng như mức giá xăng dầu thành phẩm đã được công bố rõ ràng. Việc công khai, minh bạch cơ cấu giá này sẽ giải quyết được những vấn đề mà dư luận nghi ngờ về tính minh bạch trong cơ cấu giá thành của xăng dầu từ trước đến nay.

Trả lời mối quan tâm của dư luận khi áp dụng cơ chế kinh doanh xăng dầu mới, ông Nguyễn Tiến Thoả, Cục trưởng Cục quản lý giá (Bộ Tài chính) nhấn mạnh: Rõ ràng cơ quan quản lý “nhẹ gánh” hơn, nhưng lại vẫn đảm bảo sự chặt chẽ trong quản lý và DN sẽ chủ động trong khuôn khổ cho phép. Một ưu điểm khác của cơ chế này là sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng tài chính cho ngân sách.

Người tiêu dùng: Ban tín bán nghi

Hôm nay 15/12 sẽ là thời điểm bắt đầu áp dụng cơ chế kinh doanh xăng dầu mới được đánh giá là “tăng quyền cho DN”, tuy nhiên, người dân vẫn lo ngại. “DN không thể và không bao giờ đặt lợi ích của người dân lên trên lợi ích của họ, vì họ là đơn vị kinh doanh, mà đã kinh doanh thì cứ lãi là làm”, ông Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, phân tích.

Còn “người trong cuộc” thì lo ngại sẽ tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN. “Petrolimex chiếm tới hơn 60% thị phần. Như vậy thì họ có thể đơn phương thay đổi giá mà không cần tham khảo các DN khác. Chúng tôi chỉ “chạy theo” thôi chứ không thể quyết định được thị trường. Để bình đẳng , Nhà nước cần cho phép đa dạng các loại hình DN đầu mối NK”, lãnh đạo một DN đầu mối NK xăng dầu giấu tên đề xuất.

Giá dầu thế giới giảm sâu

Giá dầu tại châu Á giảm mạnh do Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) có khả năng không cắt giảm sản lượng. Tính đến 13h30 chiều qua (14/12), dầu thô kỳ hạn tháng 1/2010 giảm 56 xu xuống 69,31 USD/thùng trong giao dịch điện tử trên sàn New York.

Riêng các chuyên gia thì cho rằng: Cơ chế kinh doanh xăng dầu mới thực chất chỉ có ưu điểm trên lý thuyết. PGS – TS Ngô Trí Long, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường-giá cả cho rằng: “Cơ chế này vẫn là sự nửa vời, DN được quyết định giá nhưng nếu quá cao thì Nhà nước sẽ can thiệp. Như vậy sẽ rất dễ xảy ra tình trạng DN cứ kịch trần 7% mà công bố giá, làm sao cơ quan Nhà nước có thể kiểm soát được bao nhiêu những chi phí của DN như kho bãi, vận chuyển, bảo hiểm…để từ đó hình thành làm giá cơ sở”.

Dư luận: Đành…ngồi chờ xem

Mặc dù liên Bộ Tài chính – Công thương cho rằng, nếu DN tăng giá quá mức cũng sẽ bị kiểm tra, giám sát, nhưng hình thức xử lý cụ thể đối với những trường hợp này vẫn chưa được đề cập một cách chi tiết. Trong khi đó xung quanh tác dụng của việc công khai giá vốn của xăng dầu cũng chưa tạo được sự tin tưởng cho người tiêu dùng khi mà các chi phí như bến bãi, vận chuyển mỗi nơi mỗi thời điểm mỗi khác khiến cho việc kiểm soát giá bán lẻ xăng dầu một cách hợp lý sẽ không dễ dàng.

Mặt khác, việc quy định khi mức giá vốn vượt quá 12% các DN sẽ được bù lỗ từ Quỹ bình ổn giá khiến dư luận cho rằng, DN đang được hưởng quá nhiều ưu đãi khi mà giá thế giới tăng cao thì được phép nâng giá bán và đến khi giá bán bị nâng quá cao rồi không được nâng cao nữa thì DN được bù lỗ bằng chính tiền của người tiêu dùng nộp vào Quỹ bình ổn. “Chung quy lại vẫn là “mỡ nó, rán nó”. DN kinh doanh xăng dầu sẽ không bị sức ép phải tìm tòi cách thức để hạ giá thành thông qua việc giảm chi phí, hạn chế mức tiêu hao”, ông Long bức xúc.

Theo ghi nhận, đến thời điểm này các DN đầu mối kinh doanh xăng dầu đã gần như hoàn thành việc trích nộp 1.000đ/lít xăng, dầu để trả nợ ngân sách số tiền được bù lỗ trong năm 2007 – 2008 và hiện tại giá xăng dầu thế giới cũng đã giảm nhiều. Tuy nhiên, giá xăng dầu trong nước chưa có dấu hiệu giảm. Và ngay khi cơ chế kinh doanh xăng dầu mới có hiệu lực, thì cả cơ quan quản lý và người tiêu dùng chỉ còn cách…ngồi chờ.

Sàn vàng lại “thấp thỏm”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:12 pm
Tags: ,

Hoạt động của các sàn giao dịch vàng còn góp phần điều tiết giá vàng vật chất bởi giá vàng giao dịch qua sàn luôn bám sát với giá vàng thế giới
Chưa có phương án chính thức đối với việc quản lý các sàn giao dịch vàng nhưng các phương án mà NHNN đưa ra đều gặp phải phản đối từ phía nhà đầu tư, các sàn vàng đang thấp thỏm không yên về tương lai của mình.

Dư luận đang rất quan tâm đến hai phương án quản lý NHNN đang dự định áp dụng.

Chưa thông suốt

Phương án thứ nhất là cấm hoạt động kinh doanh vàng qua tài khoản vì cho rằng hoạt động này tác động xấu đến thị trường vàng và là thủ phạm chính gây nên đợt tăng giá vàng đột biến thời gian vừa qua. Theo các chuyên gia kinh tế đây là hướng giải quyết tiêu cực theo tư duy quản lý hành chính: không quản được thì cấm. Nó cũng không phản ánh đúng bản chất của sự việc bởi trên thực tế hiện nay khối lượng giao dịch tại các sàn giao dịch vàng lên tới hàng nghìn tỷ đồng mỗi ngày nhưng không tác động đến thị trường vàng vật chất. Bản chất của hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản là hoạt động tài chính không hề có vàng vật chất được rút ra. Các nhà đầu tư hiện thực hoá lợi nhuận bằng việc rút tiền ra khỏi tài khoản. Quan trọng hơn nếu như đóng cửa sàn giao dịch vàng thì sẽ tạo nên những tiền lệ xấu. Bởi trong tương lai việc tổ chức giao dịch các sản phẩm hàng quá thông qua sàn như: sàn giao dịch thép, sàn giao dịch đồng… sẽ như thế nào ?

Việc ban hành các văn bản pháp luật cần bảo đảm yếu tố tạo ra hành lang cho các hoạt động kinh tế – xã hội… vận hành một cách tích cực, ổn định, mang lại lợi ích cho nền kinh tế nói riêng, xã hội nói chung chứ không phải trở thành hàng rào “cấm, cản”.

Phương án thứ hai là tăng tỷ lệ ký quỹ  của nhà đầu tư từ mức phổ biến hiện nay là 5-7% lên mức 100%. Phương án này thực chất cũng là phương án thứ nhất bởi với mức ký quỹ như vậy thì không sàn vàng nào có thể hoạt động và tồn tại được. Lý do tăng mức ký quỹ là nhằm đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư nhưng với phương thức giao dịch hiện nay thì khi tài khoản của nhà đầu tư vượt khỏi giới hạn an toàn hệ thống sẽ cảnh báo và tự động khoá tài khoản của nhà đầu tư, nhà đầu tư cũng không thể giao dịch vượt quá hạn mức. Mặt khác, theo thông lệ quốc tế thì mức ký quỹ phổ biến hiện nay là từ 1-3%.

Nếu như tính cả phương án theo dự thảo Thông tư quy định về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước do NHNN soạn thảo thì chỉ các NHTM mới được cung ứng dịch vụ kinh doanh vàng trên tài khoản trong nước thì có tới ba phương án để “quyết định” số phận của sàn vàng.

Giám đốc một sàn giao dịch vàng tại Hà Nội cho rằng: Hiện nay, không ít DN không phải là NHTM đã thành lập sàn giao dịch vàng, trong đó có giao dịch vàng vật chất và giao dịch vàng trên tài khoản trong nước. Các DN đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng, hàng trăm đại lý, sàn giao dịch trên toàn quốc. Các DN cung ứng dịch vụ kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước góp phần huy động vốn nhàn rỗi của nhà đầu tư và đưa vào hỗ trợ sản xuất kinh doanh thông qua các ngân hàng. Do vậy nếu thu hẹp đối tượng được thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ kinh doanh vàng trên tài khoản trong nước sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh vàng đang diễn ra hiện nay, gây thiệt hại cho các DN hoạt động trong lĩnh vực này và làm giảm tính cạnh tranh lành mạnh. Mặt khác, hiện nay có rất nhiều nhà đầu tư vàng trên các sàn vàng đang tham gia giao dịch hằng ngày. Hoạt động đầu tư của họ sẽ bị tác động xấu nếu các sàn vàng phải đóng cửa. Sau khi vấp phải sự phản đối từ dư luận cũng như sự không đồng thuận từ Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp, dự thảo thông tư trên vẫn án binh bất động.

Quản hay cấm ?

Theo giám đốc một sàn giao dịch vàng: Thứ nhất, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay, bên cạnh các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản… đầu tư sàn vàng là một hình thức đầu tư phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của VN và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ hai, sàn giao dịch vàng cũng giống như chứng khoán và các hình thức giao dịch qua sàn khác bản chất là hoạt động tài chính và là một trong những kênh huy động vốn hiệu quả thông qua hệ thống ngân hàng. Nguồn vốn này sẽ gián tiếp tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh qua hệ thống ngân hàng. Thứ ba là sàn giao dịch vàng có tác dụng điều tiết giá vàng vật chất trong nước, giảm áp lực nhập khẩu vàng, dần tạo cho người dân coi vàng như một loại hàng hoá thông thường. Thứ tư là tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế của các sàn giao dịch vàng cũng như nhà đầu tư.

Như vậy yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý hoạt động kinh doanh vàng qua tài khoản hiện nay là làm sao phải thiết lập được hành lang pháp lý để cho hoạt động này tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế, minh bạch, đồng thời các sàn vàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhà đầu tư. Việc ban hành các văn bản pháp luật cần bảo đảm yếu tố tạo ra hành lang cho các hoạt động kinh tế – xã hội… vận hành một cách tích cực, ổn định, mang lại lợi ích cho nền kinh tế nói riêng, xã hội nói chung chứ không phải trở thành hàng rào “cấm, cản”.

Hàng chục căn biệt thự, resort bị buộc ngừng thi công

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:51 pm
Tags: ,

(PL)- Hàng chục căn biệt thự, resort được cấp phép đầu tư tại bãi biển Kê Gà (Bình Thuận) bất ngờ bị yêu cầu ngừng thi công để nhường chỗ cho một dự án chưa được thông qua.

Từ năm 2000 đến 2004, hưởng ứng lời mời gọi đầu tư của UBND tỉnh Bình Thuận, hàng trăm nhà đầu tư trong và ngoài nước chen nhau đăng ký xin cấp dự án du lịch ở vùng biển Tân Thành (Hàm Thuận Nam).

Đầu tư hàng ngàn lượng vàng

Mặc dù lúc đó đường sá đi lại còn cách trở, không có điện, nước nhưng các nhà đầu tư vẫn nhận định vùng biển Tân Thành – Kê Gà sẽ là thiên đường nghỉ dưỡng trong tương lai. Phong cảnh hữu tình với bờ biển đẹp, trong lành và hoang sơ đã hấp dẫn họ. Nhiều người đã phải cầm cố, thế chấp tài sản, vay mượn để đầu tư vào dự án của mình hàng ngàn lượng vàng. Từ một vùng đất nghèo kiệt, hoang hóa ngày nào, Tân Thành bỗng thay da đổi thịt với những khu resort, biệt thự cao cấp bắt đầu hình thành.

Nhiều khu resort sang trọng bị bỏ hoang đang xuống cấp trầm trọng.

Công việc làm ăn đang suôn sẻ, có resort đã rục rịch khai trương đón khách thì tháng 4-2008, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Thuận có văn bản thông báo đến các nhà đầu tư về chủ trương xây dựng cảng Kê Gà ngay trên vùng đất mà họ đang xây dựng. Theo đó, có khoảng 12 nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi quy hoạch cảng Kê Gà. Đến tháng 4-2009, Sở Kế hoạch và Đầu tư mời các chủ resort đến tiếp tục thông báo về việc này.

Ông Vũ Chí Công, chủ khu du lịch sinh thái Đức Hạnh, bức xúc cho biết gia đình ông đã bỏ ra hàng chục tỉ đồng để đầu tư. Thế nhưng tại cuộc họp, UBND tỉnh Bình Thuận lại không đá động gì mà lại liên tục thúc ép dừng thi công để tỉnh giao đất cho nhà đầu tư khác!

Ngày 25-6-2009, UBND tỉnh Bình Thuận có văn bản về chính sách đền bù cho các resort sẽ bị thu hồi, giải tỏa. Theo đó sẽ đền bù đất theo giá nhà nước và hoàn trả các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đầu tư dự án nhưng phải có chứng từ hợp lý, hợp lệ kèm theo. Một nhà đầu tư tại đây chua chát cho biết để được đầu tư du lịch tại đây họ đã tốn rất nhiều công sức, nhiều khoản tiền chi phí không tên thì họ lấy đâu ra chứng từ để thanh toán.

Resort bị “trùm mền”

Ông Nguyễn Đức Hiếu, chủ resort Thế Giới Xanh nói như mếu rằng ông đã bỏ xấp xỉ 3.000 lượng vàng và trần lưng ăn ngủ cùng công nhân suốt bốn năm mới hình thành được khu du lịch. Thế nhưng khi vừa khai trương đón khách và chuẩn bị xây thêm một số hạng mục nữa thì bị thông báo tạm ngưng. Hiện resort Thế Giới Xanh đang bị “trùm mền”, đóng cửa, chưa biết khi nào mới hoạt động trở lại.

Tương tự, hàng chục khối nhà cao cấp, biệt thự, bungalow của các resort Ba Suối, Thành Đạt… phải bỏ hoang vì dự án cảng Kê Gà từ trên trời rơi xuống.

Đầu tháng 12 này, chúng tôi đã có cuộc khảo sát ở những ngôi biệt thự “ma” mới thấy đau xót với khối tài sản khổng lồ mà các doanh nghiệp đã bỏ ra hiện có nguy cơ mất trắng. Bước vào khu vực này ai cũng có cảm giác đang bước vào một thế giới lãng phí. Những ngôi biệt thự sang trọng, mỗi căn trị giá bạc tỉ hoang hóa; những hồ bơi trong xanh ngày nào giờ đã đổi màu với đầy bao nylon, xác chuột chết nổi lềnh bềnh. Cỏ dại mọc khắp lối đi, tràn vào cả khu biệt thự, nóc nhà bị gió đánh tung mái, tường nhà nham nhở, bong tróc.

Chủ resort Thế Giới Xanh Nguyễn Đức Hiếu than thở từ khi nhận được thông báo, ông đã cho trùm hết khu resort bằng lưới, thế nhưng do không ai coi ngó, chăm sóc, khu resort đã xuống cấp kinh khủng.

Phải nhường đất cho cảng?

Cuối năm 2007, Bộ Giao thông Vận tải có văn bản bổ sung quy hoạch Kê Gà thành cảng tổng hợp và yêu cầu UBND tỉnh Bình Thuận hướng dẫn các nhà đầu tư xây dựng cảng biển.

Hồ bơi không ai chăm sóc.

Mục đích của cảng biển này là sẽ vận chuyển bôxít từ các dự án Tân Rai, Nhân Cơ ở Tây Nguyên xuống. Đến mãi tháng 5-2009, Sở Giao thông Vận tải tỉnh mới có báo cáo về việc cắm mốc xác định ranh giới khu vực cảng Kê Gà. Toàn bộ quy hoạch này lại dính hết vào các khu resort mà trước đó tỉnh Bình Thuận đã mời gọi đầu tư nên tỉnh có thông báo các khu du lịch dừng xây dựng. Trong một văn bản gửi đến các chủ resort, UBND tỉnh cũng đã thừa nhận việc quy hoạch cảng Kê Gà đã làm ảnh hưởng và thiệt hại cho các nhà đầu tư du lịch, UBND tỉnh rất… cảm thông.

Ông Vũ Chí Công, chủ khu du lịch Đức Hạnh cho biết ông được cấp phép đầu tư bằng quyết định, vì thế nếu muốn dừng thi công thì UBND tỉnh phải có quyết định hẳn hoi chứ không thể yêu cầu bằng thông báo theo kiểu mệnh lệnh hành chính.

Doanh nghiệp Đức Hạnh đã có văn bản gửi UBND tỉnh đề nghị cho họ tiếp tục thi công để đón khách gỡ gạc lại những gì đã bỏ ra và cam kết không yêu cầu bồi thường một đồng nào bởi họ sẽ đưa giá trị dự án vào để thành cổ đông của dự án cảng Kê Gà. Thế nhưng đề nghị này cũng không được UBND tỉnh chấp nhận.

Một nhà đầu tư cảng biển rút lui

Cảng Kê Gà do hai nhà đầu tư là Công ty Sản xuất Hàng tiêu dùng Bình Tân (Bitas) và Tập đoàn Than và Khoáng sản làm chủ đầu tư. Theo kế hoạch, tháng 8-2009 sẽ khởi công xây dựng nhưng đến nay vẫn chưa có động thái gì. Trong khi đó, theo ông Hồ Dũng Nhật, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, thì Bitas đã chính thức rút lui, không đầu tư nữa.

Trả lời câu hỏi của phóng viên vì sao UBND tỉnh vẫn chưa có quyết định chính thức về việc dừng thi công đối với các doanh nghiệp, ông Nhật cho biết tỉnh đang tính toán và thực hiện việc này theo quy trình và cho biết khoảng tháng 3-2010, cảng Kê Gà sẽ được xây dựng.

Theo dự án, cảng Kê Gà có vốn đầu tư 550 triệu USD, tương đương gần 10.000 tỉ đồng. Căn cứ vào phụ lục phân loại dự án đầu tư của Chính phủ thì cảng Kê Gà là dự án đầu tư thuộc nhóm A. Do đó, các dự án quan trọng trên phải có báo cáo đầu tư xây dựng công trình để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư. Các dự án nhóm A không phân biệt nguồn vốn phải lập báo cáo để trình Chính phủ cho phép đầu tư. Tuy nhiên, đến nay dự án nói trên vẫn chưa trình Quốc hội hoặc Thủ tướng chấp thuận mà đang trong giai đoạn nghiên cứu khả thi.

Ngoài việc hàng chục resort sẽ bị xóa sổ thì hải đăng Kê Gà, hải đăng cao và xưa nhất Việt Nam với kiến trúc độc đáo được người Pháp xây dựng từ năm 1898 sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra nếu cảng biển đặt ở đây sẽ gây ô nhiễm môi trường một vùng biển rộng lớn và sẽ tác động trực tiếp đến vùng biển La Gi, Phan Thiết, Hòn Rơm, Mũi Né, những địa chỉ được xem là thiên đường nghỉ dưỡng, thế mạnh của Bình Thuận. Đó là chưa nói đến vùng biển Kê Gà là vùng biển vô cùng hiểm trở với nhiều đá ngầm, nhiều dòng chảy giao nhau và đã có rất nhiều con tàu phải bỏ mạng ở vùng biển này.

VỤ “NHÀ ĐẦU TƯ KHÓC RÒNG” Ở MŨI KÊ GÀ, BÌNH THUẬN:

“Ngắt” dự án, phải bồi thường thỏa đáng

Có biểu hiện bất bình đẳng khi lấy đất dự án này giao cho nhà đầu tư khác.

Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 15-12 có phản ánh việc 12 nhà đầu tư ở Bình Thuận bị thiệt hại do UBND tỉnh này yêu cầu các nhà đầu tư này ngưng thực hiện dự án, nhường chỗ cho việc thực hiện dự án cảng Kê Gà.

Quy hoạch lình xình

Chiều qua (16-12), ông Bùi Minh Mẫn (dự án khu du lịch Tân Thành Minh) cho biết trước đây ông được kêu gọi đầu tư khu du lịch vào vùng đất này, ông đã đóng tiền thuê đất 50 năm. Lúc đó môi trường tự nhiên ở đây rất khắc nghiệt, trồng cây sống không nổi. Ông đã mất một thời gian dài xây dựng nhà bảo vệ, trồng chết không biết bao nhiêu là cây cỏ. Khi lứa cây đầu tiên sống được thì cũng vừa lúc nhận được thông báo của tỉnh yêu cầu ngưng dự án. Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là quyết định chính thức cuối cùng nên ông vẫn phải tiếp tục duy trì công trình nhà bảo vệ và thuê người chăm sóc cây cối cho đến nay để duy trì hiện trạng. Thậm chí đến nay vẫn chưa được biết chính xác khi nào thì UBND tỉnh tính chuyện bồi thường nên ông cũng không dám buông!

Ông Mẫn cho rằng tỉnh Bình Thuận phải trả lời dứt khoát cho nhà đầu tư về việc có lấy lại đất làm cảng Kê Gà hay không, khi nào thì lấy. Đồng thời, tính toán bồi thường cho hợp lý và nhanh chóng cho nhà đầu tư chứ không thể lình xình mãi.

Những căn biệt thự sang trọng giờ hoang hóa sau thông báo của UBND tỉnh Bình Thuận. Ảnh: PHƯƠNG NAM

Trong khi đó, ông Vũ Chí Công, chủ khu du lịch Đức Hạnh, khẳng định ông không đòi bồi thường. “Đây là dự án có giấy phép và UBND tỉnh không thể tùy tiện bắt doanh nghiệp ngưng dự án. Hơn nữa, nếu muốn doanh nghiệp ngưng thì yêu cầu anh ra quyết định chính thức thu hồi dự án để lấy đất phục vụ dự án khác chứ không thể ra một thông báo khơi khơi bắt doanh nghiệp ngưng dự án được”.

Nên bồi thường ra sao?

Luật sư Lê Thành Kính (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng nguyên tắc chung của Luật Đầu tư là nhà đầu tư được bảo vệ quyền lợi và nếu nhà nước có thay đổi chính sách mà chính sách sau gây bất lợi cho nhà đầu tư thì nhà đầu tư vẫn được hưởng chính sách ban đầu. Thậm chí nhà nước phải bồi thường thiệt hại nếu việc thay đổi chính sách gây thiệt hại cho nhà đầu tư.

Trong trường hợp trên, luật sư Kính cho rằng nhà nước có thể áp dụng Luật Đất đai để thu hồi đất nhằm phục vụ mục đích khác. Tuy nhiên, nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người đang sử dụng đất và việc bồi thường này là theo thỏa thuận.

Về việc UBND tỉnh Bình Thuận đưa ra giải pháp bồi thường các khoản chi phí có hóa đơn, chứng từ, luật sư Kính cho rằng nhà nước đã gây thiệt hại cho nhà đầu tư mà còn làm khó nhau như vậy thì rất khó giải quyết. Nên chăng UBND tỉnh Bình Thuận xem xét giá trị đầu tư trung bình trên mỗi mét vuông đất ở đây để tính ra khoản bồi thường hợp lý chứ đừng quá cứng nhắc vào hóa đơn, chứng từ.

Không chỉ luật Việt Nam mà còn quy định của WTO

Tiến sĩ Nguyễn Vân Nam, Giám đốc Công ty luật Nam Hùng, cũng cho rằng không chỉ Luật Đầu tư của Việt Nam bảo hộ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn có quy định liên quan đến các chính sách về đầu tư của Tổ chức Thương mại thế giới nhằm bảo vệ các nhà đầu tư (trong lẫn ngoài nước). Theo đó, nhà đầu tư được đảm bảo môi trường đầu tư bình đẳng, được bảo vệ vốn đầu tư trong trường hợp bị các chính sách của nhà nước gây thiệt hại và các khoản bồi thường phải được công nhận. Nếu trong số các nhà đầu tư này có một nhà đầu tư nước ngoài, hoặc có phần góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì họ có thể khởi kiện Chính phủ Việt Nam tại Trung tâm Quốc tế giải quyết tranh chấp về đầu tư (ICSID: International Centre for the Settlement of Investment Disputes) hoặc Cơ quan Bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA: Multilateral Investment Guarantee Agency) yêu cầu hoàn trả vốn đầu tư và các khoản bồi thường khác được quốc tế công nhận.

Ông Nam cho rằng có thể xem mối quan hệ giữa UBND tỉnh Bình Thuận và nhà đầu tư như một giao dịch dân sự. Đã là một giao dịch thì khi một bên tùy tiện chấm dứt giao dịch sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Việc bồi thường này sẽ thực hiện trên cơ sở yêu cầu của nhà đầu tư (bên bị thiệt hại) và UBND tỉnh Bình Thuận mới là bên phải chứng minh yêu cầu của nhà đầu tư có hợp lý, hợp pháp hay không. Cần công nhận các khoản được bồi hoàn như các khoản được ICSID công nhận hoặc ít nhất cũng là toàn bộ chi phí đầu tư đã bỏ ra trong thực tế và lãi suất cho khoản đầu tư đó như khi gửi ngân hàng.

Một số nhà đầu tư cho biết họ đã mất đi nhiều cơ hội đầu tư khác vì đã dồn sức, dồn của vào dự án khu du lịch tại vùng đất này. Tuy nhiên, luật sư Kính cho rằng đòi bồi thường thiệt hại “cơ hội kinh doanh” này là rất khó vì không thể chứng minh được trong khi nguyên tắc của đòi bồi thường là phải chứng minh thiệt hại thực tế.

Mất uy tín môi trường đầu tư

Tiến sĩ Nguyễn Vân Nam cho rằng nhìn dưới góc độ của Luật Cạnh tranh thì cũng có vấn đề. Luật này cấm phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp. Trong khi đó, UBND tỉnh Bình Thuận trước thì quy hoạch cho làm khu du lịch, sau lại tùy tiện đòi lại để giao cho hai nhà đầu tư khác làm cảng Kê Gà. Nếu thuần túy đây là một dự án làm cảng để phục vụ kinh doanh thì rõ ràng đã có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp. Ngoài ra, Luật Cạnh tranh cũng cấm nhà nước cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp. Theo đó, UBND tỉnh Bình Thuận đã cấp phép hoạt động cho 12 nhà đầu tư thì không thể tùy tiện cấm họ tiếp tục kinh doanh. Nhà đầu tư có thể khởi kiện UBND tỉnh Bình Thuận để đòi bồi thường.

Theo ông, nếu vụ này không được giải quyết thỏa đáng theo các tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam phải tuân theo trong tư cách thành viên của WTO, nó sẽ trở thành điển hình của sự tùy tiện trong hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư và làm mất uy tín nghiêm trọng Chính phủ, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư của Việt Nam.

“Đây là một bài học về quy hoạch” – luật sư Lê Thành Kính nhận định. Quy hoạch bất cập, quy hoạch sau đè lên quy hoạch trước dẫn đến những hệ lụy không đáng có. Quan trọng hơn, sự việc này đã làm xấu đi môi trường đầu tư của Việt Nam

“Bội thực” cổ phiếu ngành chứng khoán? (10/12, 08:45)

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:46 pm
Tags:
Càng về cuối năm, số lượng doanh nghiệp, trong đó có các CTCK, thực hiện niêm yết cổ phiếu càng tăng. Tuy nhiên với việc lên sàn khá nhiều, sức hấp dẫn của loại của cổ phiếu này liệu có giảm.

Ông Phạm Đức Long, Phó chủ tịch HĐQT Công ty chứng khoán Phố Wall (WSS) bàn về vấn đề này.

Sau một số phiên điều chỉnh giảm sâu vào cuối tháng 11, thị trường chứng khoán hiện vẫn chưa rõ xu hướng. Theo ông, khi nào VN-Index có thể hồi phục?

Chúng tôi cho rằng, sở dĩ thị trường còn lình xình ở mức thấp là do nhiều nhà đầu tư chưa thực sự yên tâm và tin tưởng vào sự ổn định của những yếu tố kinh tế vĩ mô.

Vừa qua, sự thay đổi đột ngột về chính sách tiền tệ từ trạng thái nới lỏng sang thắt chặt, đặc biệt là đối với lĩnh vực bất động sản và chứng khoán đã làm thị trường giảm sâu, gây ra rủi ro khá lớn cho các nhà đầu tư.

Mặt khác, những tin đồn vô căn cứ cũng đã và đang ảnh hưởng khá tiêu cực đối với các nhà đầu tư.

Tuy nhiên, so sánh với các thị trường chứng khoán khác trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở mức giá hấp dẫn, nhiều tổ chức cũng đã khuyến cáo cơ hội cho đầu tư trung và dài hạn đã đến.

Sắp tới, kết quả kinh doanh quý IV của các doanh nghiệp niêm yết được tiết lộ, tâm lý của các nhà đầu tư được củng cố, sẽ là cơ sở cho sự tăng điểm trở lại của thị trường.

Thị trường chứng khoán thế giới có những phiên hồi phục mạnh mẽ, trong khi đó thông tin vĩ mô trong nước cũng không có gì quá xấu. Vậy vì sao VN-Index lại giảm sâu? Điều này có phải do trước đó đã tăng quá nóng?

Thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi ngược với xu hướng thế giới, trong khi nền kinh tế nước ta vẫn được đánh giá là đang trên đà hồi phục lại tốc độ tăng trưởng cũ và các thông tin kinh tế vĩ mô không quá xấu, ngoại trừ việc thay đổi đột ngột về chính sách tiền tệ.

Nguyên nhân chính là do các nhà đầu tư vẫn còn ám ảnh nỗi sợ hãi về sự sụt giảm sâu của thị trường xảy ra đầu năm 2008 khi Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt.

Tuy nhiên, sự sợ hãi này là thái quá, vì chính sách tiền tệ thắt chặt được vận dụng năm 2008 khó có thể lặp lại trong thời gian tới, do tỷ lệ lạm phát hiện nay vẫn được kiểm soát trong phạm vi an toàn.

Các công ty chứng khoán có kết quả kinh doanh khả quan nhờ tính thanh khoản khá cao của thị trường trong phần lớn thời gian năm 2009. Vậy nhưng, tạo sao giá cổ phiếu ngành này đến nay chưa có sự bứt phá, thưa ông?

Đúng là thời gian qua, nhiều công ty chứng khoán có kết quả kinh doanh tốt nhờ sự hồi phục của thị trường chứng khoán. Cổ phiếu của các công ty chứng khoán có đặc điểm là rất nhạy cảm với thị trường, nên đến khi thị trường điều chỉnh giảm sâu, các nhà đầu tư đã không khỏi lo lắng về kết quả hoạt động tự doanh của các công ty này bị ảnh hưởng nặng nề.

Đó là lý do chủ yếu khiến cổ phiếu của các công ty chứng khoán nói chung còn ì ạch. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của biến động thị trường đối với các công ty chứng khoán là rất khác nhau, phụ thuộc vào khả năng phân tích, dự báo và phản ứng của từng công ty. Đối với WSS, do lường trước được biến động của thị trường nên kết quả kinh doanh của Công ty năm 2009 sẽ đạt được như dự kiến.

Hiện thị trường đã có khá nhiều cổ phiếu ngành chứng khoán. Được biết, tới đây WSS sẽ niêm yết cổ phiếu trên HNX. Việc có quá nhiều cổ phiếu chứng khoán liệu có thể làm giảm sự hấp dẫn đối với NĐT, thưa ông?

Nên nhìn nhận việc niêm yết của các công ty đại chúng nói chung và công ty chứng khoán nói riêng là rất tích cực, bởi nó thể hiện cam kết trong hoạt động, minh bạch trong hoạt động, hiện đại trong quản trị.

Nhiều công ty chứng khoán niêm yết không giảm tính hấp dẫn mà càng thêm lựa chọn cho nhà đầu tư. Mỗi công ty có một giá trị riêng, nên tùy vào từng nhà đầu tư mà có thể lựa chọn cổ phiếu khác nhau.

WSS tự hào được thành lập bởi các cổ đông là các doanh nghiệp danh tiếng, có tiềm lực lớn và một số cổ đông cá nhân có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính. Bộ máy lãnh đạo Công ty có tầm nhìn chiến lược, cùng đội ngũ nhân sự, đặc biệt là nhân sự quản lý có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, được đào tạo tại các trường đại học danh tiếng trên ở trong nước và thế giới. 100% cán bộ quản lý của WSS có trình độ từ thạc sĩ trở lên, chủ yếu được đào tạo và có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài.

Đó là nguồn lực vô giá sẽ mang lại thành công cho Công ty. WSS đã đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động giao dịch chứng khoán.

Thực tế, chúng tôi đã thành công trong việc bảo toàn và gia tăng giá trị vốn góp của các cổ đông. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 là thời kỳ thị trường chứng khoán khó khăn nhất nhưng Công ty vẫn có lãi.

Bước sang quý II/2009, thị trường chứng khoán có dấu hiệu phục hồi, WSS đã tận dụng tốt các cơ hội thị trường và có kết quả kinh doanh tốt. Lợi nhuận sau thuế cả năm 2009 của WSS dự kiến đạt 68 tỷ đồng, EPS đạt khoảng 4.000 đồng. Chúng tôi cho rằng, thị trường chứng khoán trong thời gian tới sẽ tiếp tục phát triển và WSS sẽ tiếp tục gặt hái được những thành công trong những năm tiếp theo.

Các khoản trích lập dự phòng cần lưu ý

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:40 pm
Tags: ,

(24h) – Gần đây, nhiều DN thực hiện công bố báo cáo tài chính (BCTC) với kết quả kinh doanh không mấy khả quan, mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thua lỗ xuất phát từ việc trích lập dự phòng.

// Trong đó, các khoản trích lập dự phòng chính có tác động đáng kể đến kết quả sản xuất – kinh doanh của DN mà các nhà đầu tư cần nắm bắt được bản chất trong quá trình xem xét BCTC của DN đó là: khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính, các khoản trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng các khoản bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp (đối với các DN xây lắp).

Bản chất của các khoản trích lập dự phòng

Hiểu chung nhất, một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Việc trích lập dự phòng được hiểu là việc ghi nhận vào chi phí của DN các chênh lệch nhỏ hơn của giá trị tài sản của DN tại thời điểm lập BCTC và giá trị của các tài sản này tại thời điểm mua, hoặc ghi nhận một khoản dự phòng tương ứng với các khoản nợ phải trả (trên cơ sở đưa ra một ước tính đáng tin cậy), vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó. Trong đó:

– Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giá vật tư, thành phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm (Thông tư 13/2006/TT-BTC hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng…). Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện của chúng (Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho).

Thuật ngữ: giá gốc hàng tồn kho được hiểu là giá trị của hàng tồn kho được ghi nhận tại thời điểm mua căn cứ trên giá hóa đơn và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình mua hàng và sản xuất để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ như: chi phí gia công, chế biến, chi phí vận chuyển, lưu kho, bãi…

Thuật ngữ giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho được hiểu là giá trị còn lại của giá bán hàng tồn kho sau khi trừ đi các chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ sản phẩm tại thời điểm lập báo cáo tài chính;

– Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do các loại chứng khoán đầu tư của DN bị giảm giá; giá trị các khoản đầu tư tài chính bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà DN đang đầu tư bị lỗ (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

– Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

– Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp: là dự phòng chi phí cho những sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao cho người mua nhưng DN vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng (Thông tư 13/2006/TT-BTC).

Nguyên tắc trích lập

Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 18 – “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”, một khoản dự phòng chỉ được phép trích lập khi thỏa mãn đủ các điều kiện sau:

– DN có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra;

– Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ;

– Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.

Sự kiện đã xảy ra

– Một sự kiện đã xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ nợ hiện tại được gọi là một sự kiện ràng buộc. Một sự kiện trở thành sự kiện ràng buộc nếu DN không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thanh toán nghĩa vụ nợ gây ra bởi sự kiện đó. Điều này chỉ xảy ra: a) khi việc thanh toán nghĩa vụ nợ này do pháp luật bắt buộc; hoặc b) khi có nghĩa vụ nợ liên đới, khi sự kiện này (có thể là một hoạt động của DN) dẫn đến có ước tính đáng tin cậy để bên thứ ba chắc chắn là DN sẽ thanh toán khoản nợ phải trả đó.

– Bản chất báo cáo tài chính (BCTC) của DN là nhằm phản ánh tình hình tài chính của DN tại một thời điểm và một thời kỳ xảy ra trước đó, vì vậy các khoản dự phòng không nhằm phản ánh các khoản chi phí cần thiết cho hoạt động của DN trong tương lai, mà chỉ có liên quan tới các sự kiện xảy ra độc lập trong quá khứ, nhưng có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai thông qua một nghĩa vụ nợ phát sinh. (Ví dụ: DN thực hiện trích lập dự phòng cho một khoản phải trả do bị phạt vi phạm pháp luật về môi trường. Khoản bị phạt này là do các hoạt động kinh doanh đã diễn ra trước đó của DN, nhưng có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai, chứ không phải là các khoản bị phạt do hoạt động của DN trong tương lai).

Sự giảm sút lợi ích kinh tế có thể xảy ra

– Điều kiện ghi nhận một khoản nợ là khoản nợ đó phải là khoản nợ hiện tại và có khả năng làm giảm sút lợi ích kinh tế do việc thanh toán khoản nợ đó.

– Việc ghi nhận một khoản trích lập dự phòng (khoản nợ) phải đi kèm với điều kiện phát sinh các tác động tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai thông qua việc thanh toán nghĩa vụ nợ đó (trong ví dụ nêu trên chính là việc thanh toán cho khoản tiền nộp phạt). Tuy nhiên, không nhất thiết DN phải xác định cụ thể đối tác được hưởng quyền lợi từ nghĩa vụ nợ của DN (với ví dụ trên, DN có thể sẽ phải chi trả khoản chi phí khắc phục các ảnh hưởng đến môi trường và người hưởng lợi là cộng đồng nói chung).

Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ nợ phải trả

– Các khoản trích lập dự phòng về bản chất đều xây dựng trên cơ sở ước tính, đây là cơ sở quan trọng, nhưng nó không làm mất đi độ tin cậy của các số liệu trên BCTC nếu DN đưa ra được các căn cứ tin cậy cho công việc ước tính các khoản trích lập (các khoản nợ). Đây cũng là yêu cầu bắt buộc với DN khi trình bày các khoản trích lập dự phòng trên BCTC.

– Trong trường hợp DN thiếu các cơ sở tin cậy để ước tính nghĩa vụ nợ cho việc trích lập dự phòng, DN sẽ ghi nhận khoản nợ ước tính này như một khoản “nợ tiềm tàng” trên BCTC (đây là thuật ngữ chỉ các khoản nợ mà DN có thể ước tính được, nhưng khả năng phát sinh là chưa chắc chắn, vì vậy DN phải trình bày riêng biệt theo các tiêu chí được quy định cụ thể trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18).

Phương pháp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

– Đối tượng: Theo Thông tư số 13/2006/TT-BTC về việc hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập cho nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho sản xuất, vật tư, hàng hóa, thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị hư hỏng, kém, mất phẩm chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm luân chuyển), sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang. Việc trích lập được thực hiện khi giá gốc ghi trên sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được và phải đảm bảo: có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc các bằng chứng khác chứng minh giá vốn hàng tồn kho; là những vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của DN tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài chính (BCTC) (trong trường hợp nguyên vật liệu sử dụng làm nguyên liệu chính sản xuất sản phẩm, có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm, dịch vụ được sản xuất từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá thì DN cũng không được trích lập dự phòng).

– Phương pháp trích lập: mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập được tính bằng cách lấy khối lượng hàng tồn kho tại thời điểm lập BCTC nhân (x) với giá gốc hàng tồn kho theo sổ kế toán, sau đó trừ (-) giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho.

Ví dụ: tại ngày 31/12, DN có 100 tấn sản phẩm A tồn kho, giá gốc của sản phẩm này (bao gồm các chi phí trực tiếp và chi phí sản xuất chế biến khác để hoàn thành sản phẩm) là 100 đồng. Cũng tại thời điểm này, giá thành của sản phẩm A trên thị trường là 80 đồng/tấn. Giả định các chi phí liên quan khác ước tính để tiêu thụ sản phẩm là 10 đồng/tấn, nghĩa là giá trị thuần có thể thực hiện được của một đơn vị sản phẩm A là 70 đồng/tấn (80 – 10), khi đó DN cần phải trích lập một khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là: 100 tấn x (100 đồng – 70 đồng ) = 3.000 đồng.

Lưu ý: giá trị của khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho này sẽ được DN hạch toán vào một tài khoản treo có số dư âm trên bảng cân đối kế toán và hạch toán tăng khoản mục giá vốn hàng bán trong kỳ; DN phải trình bày được cơ sở để xác định các khoản mục giá gốc hàng tồn kho, giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho trên bản thuyết minh BCTC; DN niêm yết bắt buộc phải công bố thông tin tài chính định kỳ sẽ phải thực hiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nếu tại thời điểm lập BCTC, giá gốc của hàng tồn kho của DN thấp hơn giá trị thuần có thể thực hiện được.

– Xử lý khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào thời điểm lập BCTC: tại mỗi thời điểm lập BCTC, DN phải xem xét số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập và số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập: nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì DN không phải trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho; nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì DN trích thêm vào khoản mục giá vốn hàng bán của DN phần chênh lệch; nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch vào khoản mục thu nhập khác.

Bộ phận Tư vấn và Phân tích, CTCK Hà Nội (HSSC)

Trade deficit rising at an alarming rate

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:36 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – The Ministry of Industry and Trade has taken ‘tough action’ against certain products that are believed to cause a rise in the trade deficit such as cars and cell phones. However, as experts put it, only a long-term plan can get to the root of the problem. If not, businesses will run into more difficulties.

The Deputy Minister of Industry and Trade, Do Huu Hao, says that 2009 saw the lowest level of industrial output on record in 10 years. In recent months, many businesses had to increase the import volume of liquefied gas by 35.7 percent, petroleum-related products by 8 percent and pharmaceutical materials by 43.1 percent.

In the meantime, import revenues

were rather high in some commodities such as food and foodstuffs (US$1.12 billion), mobile phones (US$747 million) and cosmetics (US$130 million).

Excluding cars, the country imported nearly US$5.7 billion worth of products in the first 10 months of 2009.

Vietnam’s exceptionally high trade deficit has been chalked down to a continuing decline in exports since the beginning of this year. For instance, contracts for timber exports decreased by 10 percent in value due to pressure from foreign importers. As a result, the turnover from the export of wooden furniture only made US$2.6 billion in the first 11 months of 2009, a drop of US$200 million over the same period last year.

Many other industries fared no better, like textile and garment manufacturers which could sign export contracts but in a disadvantaged position.

Given this, the Ministry of Industry and Trade has introduced several solutions to curb the trade deficit, including increasing exports in the last few weeks of 2009. But many experts maintain that this will not change the situation; the bottom line is there should be a longer-term vision to solve the problem.

The director of a major company that imports Korean cars say that the new barriers set up by the country against imported cars have caught businesses off guard. As a point of fact his company and other firms have already signed contracts to import cars and many of these are on the way to Vietnam. Adding to the problem is an extended time needed for customs clearance that would impose higher taxes on the coming deliveries and cause substantial losses to importers.

Another car importer in Hanoi argues that it would be difficult for enterprises to go along with new, strict customs clearance procedures. For example, the import of second-hand cars now requires documents relating to all the previous owners, not only the most recent one.

In other words, the adjustment of import-export regulations should be done in a fair, reasonable and systematic way with a long-range vision

Nâng cao kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:09 pm
Tags: ,
Hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chủ yếu là qua đường tiểu ngạch, lượng xuất khẩu còn nhỏ lẻ. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 9 tháng đầu năm mới chỉ đạt 3,239 tỷ USD, còn quá thấp so với tiềm năng thị trường.

10 tháng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 3,7 tỷ USD giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2008. chiếm 7,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong thời gian qua phát triển không ngừng với kim ngạch song phương năm 2001 mới chỉ đạt 2,5 tỷ USD mà sau 10 năm, dự kiến năm 2010 kim ngạch hai nước sẽ đạt 25 tỷ USD. Hiệp định tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN (CAFTA) sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, theo đó đến hơn 90% số lượng hàng hoá xuất khẩu qua khu vực sẽ có thuế suất bằng 0%. Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đưa hàng hoá vào thị trường Trung Quốc, thị trường có nhu cầu tiêu thụ hàng hoá lớn nhất trên thế giới.

Hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chủ yếu là qua đường tiểu ngạch, lượng xuất khẩu còn nhỏ lẻ. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 9 tháng đầu năm mới chỉ đạt 3,239 tỷ USD, còn quá thấp so với tiềm năng thị trường. 10 tháng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 3,7 tỷ USD giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2008. chiếm 7,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc, vừa qua Cục Xúc tiến thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Vụ thị trường Châu Á – Thái Bình Dương, Bộ Công Thương tổ chức hội thảo chuyên đề “Đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc” tại hai tỉnh Kinh Giang và Đồng Tháp.

Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á – Thái Bình Dương, nguyên Tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc cho biết, qua cuộc hội thảo này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt đặc tính, nhu cầu và các quy định của thị trường Trung Quốc, để từ đó giúp các doanh nghiệp tìm được hướng xuất khẩu của mình tại thị trường tiềm năng này.

Why so competitive? Newspaper smells a rat in Vietnam’s aviation sector

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:01 pm

December 15, 2009  about In depth, Reports

//

LookAtVietnam – Lots of investors want to establish a domestic airline, even though they know Vietnam’s aviation market is relatively small.

Four airlines are flying in Vietnam’s domestic market: the national air flag carrier Vietnam Airlines; Vasco, its air charter subsidiary; Jetstar Pacific Airlines, a joint venture with Australia’s Qantas; and newly launched private carrier Indochina Airlines.  Two other private ventures have licences but have yet to fly: Vietjet Air, which expects to launch first flight in May 2010 and Mekong Air.

Strange things in the aviation market

Jetstar Pacific, the former Pacific Airlines now reborn as a budget carrier, is the upstart.  With a lot of fanfare, JP launched advertisement campaigns, opened new routes (and just as quickly abandoned some), launched in-land services, and offered super-cheap airfares. The air carrier in late 2008 reported that it was losing two million dollars a month, and had accumulated losses of 50 million dollar by August 2008.  [Other sources report that a bad guess on aviation fuel futures prices caused most of the red ink – VNNB]

Indochina Airlines’ debts to service providers had reached 30 billion dong by the end of November 2009. This has forced the air carrier to give back its only chartered aircraft to the foreign lessor and halt flights.  [IC Air reports that it has obtained new financing and is resuming operations with two aircraft on December 15 – VNNB.]

The General Director of Vietnam Airlines, Pham Ngoc Minh, said at an airlines’ meeting in late 2008 that in current [competitive] conditions, the nation’s airlines will collectively lose several hundred billion dong more by the end of the year.

It is clear that it is not easy to do business in Vietnam’s aviation sector, concludes Lao Dong.  So, the paper wonders, why is Jetstar Pacific still offering super-cheap fares and promising to beat any competitors’ price?  Why do many investors still queue to establish new airlines?

Too many players on a smallish field

Vietnam’s internal aviation market will serve nine or ten million passengers this year.  In the first nine months of 2009, Vietnam Airlines had 70 percent of the total carriage; the rest were divided among Vasco, Jetstar Pacific and Indochina Airlines.  The pieces of the cake will be even smaller when Vietjet Air and Mekong Air join the market in 2010.

Vietnam Airlines is still ‘eldest brother’ in the aviation family. It has big financial capability and a multi-functional business, is a member of ICAO (International Civil Aviation Organisation) and IATA (International Air Transport Association) and it will join the ‘Skyteam’ alliance in mid-2010.  Vietnam Airlines gets support from the State when necessary.

However, it seems that Jetstar Pacific Airlines is also a ‘big guy’ in the aviation market. Though flying with just a handful of aircraft and serving about one million passengers annually, JP has exceeded the eldest brother Vietnam Airline in some respects.  First of all, shareholders of Jetstar Pacific are heavyweights: the State Capital Investment Corporation (SCIC), which is even a ‘bigger guy’ than Vietnam Airlines, owns 70 percent, and Qantas, an Australian carrier ten times Vietnam Airlines’ size, owns the rest.  Only Jetstar Pacific can afford to sell tickets at such surprisingly low prices.

It seems, comments Lao Dong, that Jetstar Pacific aims to popularize its brand throughout Asia and collect passengers from every corner of Vietnam for Qantas, not  to make a profit. That explains why the JP managers aren’t paid according to the budget airline’s  business performance of Qantas.

The ‘feeder airline’ strategy

Lao Dong then ponders the question why so many investors are still interested in establishing more airlines despite the limited scope of the Vietnamese market.

Vietnam’s requirements on the establishment of new airlines are easy.  Airlines will be granted operating licenses to provide domestic flights if they have 200 billion dong in capital and licenses to provide international flights as well if they have 500 billion dong and meet some other requirements on management capability.

It is clear that the small Vietnamese airlines aren’t thinking of reaching out to the world market at this moment.  Indeed, very few air carriers in the world have the right to serve domestic markets in other countries.

Lao Dong thinks there is only one answer to the question. Decree No 76 (05-2007) allows foreign investors to hold an up to 49 percent stake in Vietnamese airlines.  That’s really an attractive proposition for foreign airlines that need to expand markets. The air carriers are ready to make heavy investment in other air carriers that can help gather passengers from every corner for them.

That explains why Pacific Airlines, though 300 billion dong in debt in 2004, was still valuated at  $150 million dollars when it sold a minority stake to Qantas.

In other words, concludes Lao Dong, Vietnamese airlines know that although it is really difficult to exist in the current business environment, if they have difficulty turning a profit, they can still do well – by selling a stake to foreign airlines.

VietNamNet/LD

Next Page »

Blog at WordPress.com.