Ktetaichinh’s Blog

December 14, 2009

ĐỪNG BỎ LỠ CHUYẾN TÀU LẦN NỮA

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:29 am
Tags: ,

1. Giáo dục là trái tim của xã hội

A.S. Makarenko-nhà cải cách giáo dục kiệt xuất – danh nhân văn hóa thế giới người Nga – trong một lần bàn về tầm quan trọng của giáo dục đã từng ví von rằng: “nền giáo dục giống như trái tim, còn những công dân sống và làm việc trong xã hội giống như những giọt máu, được tim co bóp để đi nuôi sống cơ thể – tức là xã hội”.

Hiển nhiên một cơ thể khỏe mạnh luôn sở hữu một trái tim khỏe mạnh. Một xã hội, hay rộng ra hơn nữa một quốc gia muốn trở nên phát triển, trở thành cường quốc thì điều kiện tiên quyết hàng đầu luôn là một nền giáo dục phát triển, trong sạch, vững mạnh, nhanh nhạy hội nhập với thế giới bên ngoài, biết tiếp thu những kiến thức mới, công nghệ mới nhằm phục vụ cho công việc đào tạo và nuôi dưỡng nhân tài cho một xã hội tương lai.

Khoa học công nghệ ngày càng phát triển như vũ bão, kéo theo đó là sự thay đổi tất yếu của nền giáo dục trong mỗi quốc gia nhằm bắt kịp với tiến trình phát triển của khoa học công nghệ. Một triết lí giáo dục hôm nay có thể còn đúng, là chân lí, nhưng đến ngày mai có thể không còn đúng nữa. Bởi thế, một nền giáo dục được coi là thành công khi và chỉ khi nền giáo dục đó có đủ can đảm để gạt bỏ lề lối xưa cũ mang tính tiêu cực ko còn phù hợp với xu thế phát triển của khoa học và công nghệ, đi kèm với đó là mạnh dạn tiếp thu “gạn đục khơi trong” những cái mới, cái tiên tiến của những nước đi trước, từ đó rút ra một bài học, nhằm tạo nên bản sắc giáo dục cho riêng mình, mà có thể tóm gọn trong một câu nói rất đơn giản nhưng lại đầy ý nghĩa “ hòa nhập nhưng không hòa tan”.

2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

Thật vậy, nếu mở rộng tầm mắt vuợt qua cái màn ngăn cách về không gian và thời gian chúng ta nhìn sang nước Nhật – xứ sở của ngọn núi Phú Sĩ hùng vĩ những bộ quần áo Kimono nổi tiếng, hoa anh đào tươi đẹp, những miếng shushi bé xinh xinh vô cùng hấp dẫn. Nhưng có lẽ khi nhắc đến hình ảnh nước Nhật người ta liên tưởng ngay đến một cường quốc về khoa học kĩ thuật, xã hội phát triển ở mức cao, nhưng vẫn bảo tồn, phát triển được nền văn hóa với nhiều phong tục tập quán truyền thống của mình để trở thành một nét văn hóa vĩ đại của Châu Á khiến cho giới học giả, nghiên cứu phương Tây phải ngưỡng mộ.

Đi xa hơn một chút nữa vào thời điểm giữa thế kỉ 19 lúc đó nứoc Nhật phong kiến dưới sự cầm quyền của chế độ Mạc phủ Tokagawa, là một quốc gia nghèo nàn và lạc hậu trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội v..v (có khi còn kém hơn cả Việt Nam thời Nguyễn). Nhưng may thay, vào thời điểm đó nước Nhật lại có một vị minh quân, với cái nhìn vượt thời đại, đã kịp thời nhận thấy rằng, nếu cứ để sự tụt hậu về kinh tế, xã hội diễn ra mãi thì chẳng bao lâu một đế chế Nhật hùng cường trong quá khứ trong phút chốc sẽ trở thành một miếng mồi béo bở cho các nước thực dân xông vào xâu xé. Nguời đó chính là Minh Trị Thiên Hoàng, người đã quyết định đưa ra những cải cách triệt để, trên mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế. Nhưng vấn đề được ông đặt lên hàng đầu là cải cách giáo dục, bằng việc từ bỏ lối thi cử khoa bảng, tầm chương chích cú kiểu cũ, thay vào đó là kiến thức khoa học – kĩ thuật của phương Tây, đưa sinh viên ra nước ngoài học tập.

Và đúng như triết lí của A.S. Makarenko, những giọt máu chất lượng cao cứ thế ra đời, tạo nên một thế hệ công dân, lãnh đạo mới, và kéo theo đó là hệ quả tất yếu của việc thay đổi cả hệ thống xã hội vốn ì ạch chậm chạp trong hàng mấy thế kỉ dài đẳng đẵng, chuyển sang một xã hội năng động, từ đó đưa cả một đất nước vốn dĩ có một nền nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc về kinh tế-quân sự, mà minh chứng tiêu biểu nhất là chiến thắng của hạm đội hải quân Nhật Bản trong chiến tranh Nga – Nhật năm 1905 và sau đó năm 1910 cả vùng Nam Mãn Châu và Triều Tiên cũng chính thức bị đặt dưới quyền kiểm soát của Nhật, để rồi hơn 30 năm sau Nhật Bản đã làm cả thế giới phải kinh hòang trứoc sức mạnh quân sự của mình trong thế chiến thứ 2.

Một cuộc cải cách thật vĩ đại và thần kì!

Cũng phải nhìn nhận rằng để có đuợc một nền giáo dục khoa học kĩ thuật phát triển nhanh như vậy, thì không thể chỉ cải cách riêng ngành giáo dục là đủ, mà cần phải đồng thời cải cách xã hội, chính trị một cách triệt để, nhằm tạo ra một cơ chế ổn định đồng bộ hỗ trợ lẫn nhau. Minh Trị Thiên Hoàng nhận thấy rằng: nền chính trị-xã hội Nhật Bản lúc đó rất lạc hậu, trở ngại lớn nhất là tầng lớp quý tộc phong kiến ăn bám xã hội. Nếu không cải cách triệt để hệ thống “ăn bám” này, thì giáo dục cũng như các ngành khác không thể phát triển đuợc.

Vậy nên ông quyết định ra lệnh bãi bỏ chế độ thái ấp phong kiến và chế độ bổng lộc đi kèm, thay thế bằng hệ thống quản lý hành chính theo cấp tỉnh. Thực hiện chế độ bình đẳng trong xã hội, mọi sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội phong kiến trước kia bị huỷ bỏ. Không những thế ông còn tạo ra một cơ chế để nhân tài có thể hiến kế giúp hưng thịnh quốc gia, bất chấp những cải cách đó có thể ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của mình. Như thế, ngoài cái uyên bác, minh triết của một nhà cải cách chiến lược, Minh Trị Thiên Hoàng còn là một nguời yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của phe nhóm cá nhân, chấp nhận cải cách để làm cho quốc gia hưng thịnh. Như thế, Minh Trị Thiên Hoàng đã đặt quyền lợi của tổ quốc, của quốc gia cao hơn cả những tư lợi ích kỉ thông thuờng của một con nguời bình thường.

3. Việt Nam đã lỡ một chuyến tàu

Quay trở lại với tình hình Việt Nam thời kì đó, dĩ nhiên cũng giống như Nhật, Việt Nam vào thế kỉ 19 là một nước nghèo nàn lạc hậu với nền kinh tế nông nghiệp thô sơ, tình trạng kinh tế – xã hội cũng hết sức bi đát, trong khi đó cái họa xâm lăng của nguời Pháp thì lại rõ mồn một hơn bao giờ hết. Truớc tình cảnh đó, một bậc trí thức cũng có cái nhìn đi trước thời đại là Nguyễn Truờng Tộ đã gửi 14 bản điều trần lên triều đình nhà Huế, đề nghị cải cách tất cả các mặt giáo dục, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v..v để biến Việt Nam trở thành cường quốc trong tương lai, và truớc nhất là có sức mạnh, để tự lực tự cường, tránh khỏi cái họa xâm lăng của thực dân Pháp. Tiếc thay! “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Triều đình Huế lúc đó tham quyền cố vị, ích kỉ chỉ biết nghĩ cho lợi ích cá nhân, tập đoàn phe nhóm của mình mà chẳng hề đoái hoài gì tới vận mệnh của sơn hà xã tắc trong cơn nguy khốn, nên đã xổ toẹt vào những lời vàng ngọc, quý giá, tâm huyết của Nguyễn Truờng Tộ. Xa hơn nữa, xét về một khía cạnh nào đó, triều đình Huế đã có tội với dân tộc với tổ tiên, khi đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng để đưa dân tộc Việt Nam trở thành cường quốc. Để rồi sau đó nứoc Việt Nam rơi vào vòng đô hộ của thực dân Pháp hơn 100 năm…

Kể lại lịch sử như thế là để chúng ta cùng nhau “ôn cố tri tân”, rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử để định hướng cho tương lai âu cũng là lẽ thừong tình ở trên đời. Ắt hẳn ai là người Việt Nam, dù có thể bất đồng quan điểm về vấn đề này, vấn đề kia, chắc chắn đều có chung một tâm nguyện, mong sao cho Việt Nam phát triển. Thế nhưng với quan điểm cá nhân của tôi – một sinh viên hiện đang sống và học tập ở Việt Nam, thì thực trạng giáo dục hiện tại của Việt Nam ta đã đến mức báo động. Có lẽ việc nêu chi tiết những hạn chế tiêu cực ở bài viết này là thừa, bởi điều đó đã có hàng ngàn, hàng vạn bài báo nói lên rồi. Rất rõ ràng. Rất chi tiết. Đành rằng, sai thì sửa, thế nhưng có một hiện trạng đã tiếp diễn hơn 20 năm nay trong nền giáo dục Việt Nam đó là sai mà… ko thấy sửa, hoặc sửa không triệt để, nửa vời.

Cả xã hội đã quá mệt mỏi với những lời hứa, tuyên bố của hết đời Vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo này đến Vị Bộ trưởng khác, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là “bắt cóc bỏ đĩa”. Chương trình giáo dục thì vừa nặng, lại không phù hợp với thực tế. Sinh viên học thì “bò cả ra” mà cũng không hết bài, trong khi đó do cách học chay, thuần lí thuyết, không thực hành nên sau khi học xong là “chữ thầy trả lại thầy”. Chương trình giáo dục chỉ tập trung đào tạo ra những con robot chỉ biết đọc và chép, hoàn toàn ko có tư duy sáng tạo, không có tính độc lập trong tư tưởng và suy nghĩ.

Bởi vậy, trong suốt 4 (hoặc 5) năm học đại học, sinh viên chỉ được trang bị những kiến thức xa rời thực tế, trong khi đó nhưng kĩ năng quan trọng của một nền khoa học – công nghệ hiện đại như tư duy logic, phong cách “team work” (làm việc nhóm), tự nghiên cứu, nhìn vấn đề trên nhiều khía cạnh v..v hoàn toàn không được đào tạo đến nơi đến chốn. Thế nên đến lúc ra trường, nhà tuyển dụng kêu ca, và lại phải cất công đào tạo lại, học lại.

Đó không chỉ là một sự phí phạm về thời gian, mà còn là sự phí phạm về tiền bạc, của cải của xã hội. Ấy là còn chưa kể những “dòng máu” được tạo ra không có chất lượng tốt nên đã làm cho cả cả nền kinh tế hoạt động trì trệ, bởi năng suất, hiệu quả lao động thấp. Điều này lại kéo theo cả sự tụt hậu đi xuống của nền khoa học, làm cho Việt Nam vốn đã lạc hậu trì trệ, lại càng trì trệ lạc hậu hơn.

Nhưng sự trì trệ này đâu chỉ gói gọn trong lĩnh vực khoa học giáo dục, nó còn tác động đến tất cả các vấn đề khác mang tầm vĩ mô như kinh tế, quản lí hành chính cho đến tầm vi mô như là giao thông, xóa đói giảm nghèo v.v… Mà hiển nhiên, cả xã hội đuợc ví như một cơ thể hoàn thiện, trong đó đòi hỏi tất cả các bộ phận làm việc phải đều và ổn định như nhau. Chỉ cần tay, hay chân, chúng ta bị thương, cũng ngay lập tức sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của tất cả các bộ phận khác trong cơ thể. Và đó chính là nguyên nhân hàng đầu làm cho biết bao nhiêu nỗ lực của chính phủ, các bộ ngành… trong hàng chục năm qua đều không đạt mục tiêu cao cả như mong muốn.

4. Xin đơn cử một ví dụ

Vấn đề tăng học phí chẳng hạn, ai cũng biết rằng với mức ngân sách hiện tại mà chính phủ đầu tư dành cho giáo dục là không đủ. Mà muốn phát triển giáo dục thì vấn đề “đầu tiên” là không thể thiếu. Bởi vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ra quyết định tăng học phí (có thể là 800.000 đồng/tháng). Nhưng nhìn vào mức thu nhập hiện tại của nhân dân, cộng thêm tỉ lệ lạm phát hai con số, giá cả tăng vùn vụt như hiện tại, nếu áp dụng mức học phí này thì chắc chắn rất nhiều sinh viên sẽ phải bỏ học bởi không có đủ tiền để trang trải học phí. Mà nếu không có tiền nâng cấp cho hệ thống giáo dục thì giáo dục lại ngày càng tụt hậu.

Rõ ràng, cải cách giáo dục đã động chạm và có liên quan đến rất nhiều các ngành khác trong xã hội. Trong khi đó sự lãng phí trong ngân sách giáo dục lại rất lớn – nguyên nhân do sự yếu kém trong quản lí. Đó là cái vỏng luẩn quẩn của giáo dục Việt Nam, không biết đến khi nào mới giải quyết nổi. Hết đề án này nọ, dự án thế này thế kia của Bộ đề ra những vẫn chưa thể giải quyết rốt ráo vấn đề. Tình hình giáo dục vẫn trì trệ, ngày càng xảy ra nhiều tiêu cực, Bộ trưởng vẫn lên hứa trước Quốc hội đều đều, và nhân dân cũng quá quen với những lời hứa này.

Chúng ta có thể thông cảm với ngài Bộ trưởng, bởi lỗi không phải do ngài. Bởi như lịch sử – thực tế đã chứng minh: để tiến hành cải cách giáo dục có hiệu quả, thì không thể chỉ cải cách riêng ngành giáo dục là đủ, mà phải cải cách cả hệ thống chính trị – xã hội đi kèm. Tất cả các quốc gia phát triển, văn minh trên thế giới đều có một nền giáo dục tiên tiến, và tuyệt nhiên không có bất cứ một quốc gia nào nghèo nàn, kém văn minh lại có một nền giáo dục phát triển cả. Đó là một thực tế, mà chúng ta không thể dùng lý luận nào đó để phủ nhận.

Nhìn sang các nước phát triển ngay trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, chúng ta bị bỏ xa quá rồi. Thời gian thì trôi vùn vụt, có ai chờ chúng ta đâu. Trong khi đó thi tụt hậu không còn là nguy cơ mà đã là một thực tế nhãn tiền. Bởi thế hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải có một sự thay đổi tư duy trong vấn đề hoạch định chính sách cải cách giáo dục. Chúng ta không cần những chính sách cải cách giáo dục nửa vời mang tính “bắt cóc bỏ đĩa”, mà là một chính sách cải cách toàn diện trên tất cả các mặt xã hội, kinh tế, văn hóa, lấy giáo dục làm trọng tâm. Muốn làm đuợc như thế thì cần phải có sự quyết tâm từ những bậc lãnh đạo cao nhất, cũng như sự nhất trí đồng lòng của tất cả các bộ ngành (chứ ko chi riêng của ngành giáo dục), thậm chí là cả toàn thể xã hội nữa, từ đó mới có cơ hội để cùng nhau bàn bạc tìm ra, một kế sách hợp lí cho ngành giáo dục.

Cách đây hơn 200 năm chúng ta đã một lần bỏ lỡ mất chuyến tầu song hành với các cường quốc khác trên thế giới. Hy vọng, giờ đây chúng ta ko phải lỡ tầu thêm một lần nữa. Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: