Ktetaichinh’s Blog

December 13, 2009

Vài nét về Tên và Họ của người Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:29 am
Tags:

I/ Tên của người Việt Nam:
Thời xưa, vì chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc quá lâu mà Việt Nam trong việc đặt tên cho con cái cũng có phần giống theo Trung Quốc.
Thường thì đứa bé mới sanh chưa được cha mẹ đặt tên ngay như ngày nay, mà phải đợi đến ba tháng sau mới đặt tên. Có lẽ thời gian ba tháng là một giai đoạn phát triển của đứa bé có nhiều khó khăn về sức khoẻ. Sau ba tháng, phải chăng người ta thấy đứa bé nuôi được nên mới đặt tên cho đứa bé?
Tên của người Trung Quốc và người Việt Nam trước đây rất phức tạp: tên chánh, tiểu danh hay nhũ danh, tên tự, tên hiệu (hay xước hiệu), tên thụy (hay tên cúng cơm).
Những người thuộc các ngành nghề chuyên môn trong xã hội lại có tên riêng cho từng ngành nghề. Các tu sĩ của các tôn giáo lại có tên dành riêng cho họ thường được gọi là tên thánh hay pháp danh. Vua chúa khi lên ngôi chọn cho mình một tên mới để dùng chánh thức trong việc cai trị và quan hệ ngoại giao.
1. Tên chánh
Là tên của đứa bé mới sanh sau ba tháng được ông, bà, cha mẹ đặt cho. Ngày nay tên chánh là tên đặt cho đứa bé mới sanh và được ghi vào hộ tịch với cả ngày giờ và nơi sanh. Tên chánh được giữ suốt đời.
Nhưng việc đặt tên cho đứa bé mới sanh không phải là điều đơn giản và phổ quát như ta hiểu ở ngày nay. Thời xưa ở Trung Quốc, vào thế kỷ 13 và 14, Tên chỉ dành cho giới quí tộc. Thứ dân không có quyền có Tên mà mỗi người mang một con số thay thế cho tên. Con số này là kết quả cộng lại số tuổi của cha mẹ. Thí dụ, người cha có 32 tuổi, người mẹ 30, thì đứa con sẽ mang tên Lục Nhị.
Tên chánh là tên thiệt thọ. Nhưng từ thời xưa, người có tên chánh vẫn có quyền đối cho mình một tên khác, hoặc do chính mình quyết định theo sở thích hoặc vì lý do an ninh bản thân, hoặc do quan chức cấp trên quyết định như một ân huệ hay một cách bêu xấu, sỉ vã.
2. Nhũ danh,
Thường bị hiểu sai lạc là tên chánh của một người đàn bà lúc còn con gái trong gia đình. Thí dụ, khi nói đến Bà Nguyễn Văn Nhứt, người ta ghi thêm “nhũ danh Bùi Thị Cư”. Thật ra, nhũ danh hay tiểu danh hoàn toàn không có nghĩa là tên riêng của người con gái, mà đó là tên của người lúc còn nhỏ, chung cho cả hai phái nam và nữ. Nhũ có nghĩa là cái vú, chỉ tên của người lúc còn bú vú mẹ. Vì thời xưa, khi đứa bé lớn lên, khi đi học, hoặc khi thành danh, thường đổi tên bằng một tên mới khác.
Việc đổi tên rất phổ biến đối với người cộng sản. Hồ Chí Minh, Đỗ Mười, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ … đều không phải là tên chánh hay nhũ danh, mà đó là những tên do họ tự chọn cho họ. Riêng Hồ Chí Minh có tên chánh hay nhũ danh là Nguyễn Sinh Cung. Đến năm 12 tuổi, có tên Nguyễn Tất Thành. Đến thập niên 20 của thế kỷ qua, ông lấy tên Nguyễn Ái Quốc là tên chung của các Cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền cùng ký dưới các bài quan điểm của các cụ viết chống chế độ thực dân Pháp. Nhóm các các cụ tan rã, Nguyễn Sinh Cung bèn giữ cho mình tên Nguyễn Ái Quốc. Nhưng khi về Việt Nam, ông cũng không giữ tên này. Lúc ở Trung Quốc, Hồ Chí minh lấy tên Lý Thụy. Nói về Tên và Họ của người Việt Nam thì có lẽ Hồ Chí Minh là con người có nhiều tên hơn hết. Sau cùng ông chọn họ Hồ, theo người biết chuyện ở Hà nội, vì ông muốn trở lại với Họ của ông nội – không chánh thức – của ông là cụ Hồ Sĩ Tảo.
3. Tên tự
Là tên do chính mình tự chọn riêng cho mình. Tên tự thường có nghĩa gần gũi với nghĩa của tên chánh, hoặc phản nghĩa lại với tên chánh, để như thế khi nói đến tên tự, người khác có thể đoán được tên chánh của người đó là gì. Thí dụ người có tên là Quang muốn lấy tên Tự, sẽ lấy tên Minh vì Quang và Minh đều có nghĩa là “sáng”.
4.- Tên hiệu l
Là tên gọi hoàn toàn do chính mình chọn cho mình. Thường những người có sự nghiệp lớn hoặc các giới văn nghệ sĩ đều có tên hiệu.
Tên hiệu biểu lộ ý muốn, niềm mơ ước, mục đích muốn đạt nên thường mang ý nghĩa tốt đẹp và khi xướng lên thường có âm thanh hay. Dù là vậy, người mang tên hiệu lại ít khi đạt được điều mình mong ước gởi gắm ở tên hiệu. Như một bà có nhan sắc xấu như ma lem, thì lại chọn tên hiệu cho mình là Mỹ Duyên. Một cơ sở Thông tin Văn hóa muốn nói cho mọi người biết chủ trương của mình là viết sách, viết báo chỉ để nói toàn những điều đúng sự thật nên lấy tên hiệu là Nhà Xuất bản Sự Thật. Trên thực tế, cái tên đó hoàn toàn không đảm bảo Nhà xuất bản này sẽ không in và phổ biến những sản phẩm nói dối, phản sự thật. Đảng Cộng sản Pháp có tờ báo của Đảng mang tên là Nhân Đạo (l’Humanité) nhưng vẫn có những lãnh đạo cộng sản ở khắp nơi có những chủ trương, chính sách không hề nhân đạo.
5. Tên cúng cơm, hay tên thụy
Là tên đặt cho người vừa chết để gia đình dùng cúng kỵ người ấy. Tên cúng cơm không phải là tên chánh, tức tên thật của một người. Nhưng ở thời xưa, không phải ai cũng có quyền có tên cúng cơm, bởi tên cúng cơm chỉ dành cho giới quí tộc. Dần dần về sau, dưới thời quân chủ, ở Trung Quốc và Việt Nam, tên cúng cơm mới được áp dụng rộng rãi hơn, nhưng chỉ ở trong giới giàu có, có học; chớ người bình dân không mấy người có tên cúng cơm.
Như vậy, tên cúng cơm dưới thời phong kiến quân chủ ở Trung Quốc cho ta thấy việc thờ cúng ông bà, cha mẹ hãy còn là một hạn chế dành riêng cho một tầng lớp trong xã hội. Việc đó còn xác định thành phần xã hội, và cho thành phần này quyền thừa hưởng di sản, làm chủ đất đai.
Việt Nam chịu ảnh hưởng Trung Quốc suốt thời gian dài. Nhưng Việt Nam không hoàn toàn giống Trung Quốc bởi còn biết giữ cho mình một bản sắc dân tộc. Nhờ đặc tính này mà Việt Nam suốt chiều dài lịch sử lập quốc vẫn giữ được bờ cõi nguyên vẹn dù những vùng biên cương và hải đảo ngày nay đang nhiều lần bị lấn chiếm.
Người Việt Nam cũng bắt chước Trung Quốc về cách đặt tên và cách chọn tên. Nhưng điểm khác nhau là ở Việt Nam, mọi người không phân biệt thành phần xã hội, đều có riêng cho mình một cái Tên. Người Việt Nam dù không có tên cúng cơm vẫn được người trong gia đình thờ cúng chu đáo. Và việc thờ cúng ông bà, cha mẹ, người trong gia đình ở Việt Nam hoàn toàn không bị giới hạn cho một thành phần nào, mà phổ quát cho tất cả mọi người. Việc thờ cúng gia tiên ở Việt Nam hiển nhiên trở thành một thứ “đạo dân tộc” hay “Việt đạo”. Có thể nói, việc này còn mang đậm nét ý nghĩa “dân tộc trường tồn, tổ tiên chánh giáo”!
6.- Thấy mặt đặt tên:
Người Việt từ xưa, chẳng những có quyền có tên họ cho mình, mà còn có quyền đặt tên cho những người khác trong xóm làng thường gặp gỡ. Đây là một thứ quyền tự nhiên.
Chị Nguyễn Thị Hên, thứ Tư; người trong xóm gọi chị là “chị Tư Hên”. Bỗng một hôm chị bị tai nạn và mang tật ở một chân mà từ hôm đó chị đi khập khễnh. Người lối xóm bắt đầu đổi tên chị thành “chị Tư què” hay “chị Tư thọt”. Anh Lê Thành Châu chơi gà nòi nổi tiếng nhờ những trận đá lớn, gà của anh đều thắng cuộc. Trong nhà của anh lúc nào cũng có những chú gà lẫm liệt. Người lối xóm, hoặc những người quen biết anh bèn gọi anh là “Châu gà nòi”. Anh Nguyễn Văn Năm có tên “Năm lùn” vì bề cao của anh không quá một thước rưỡi theo thước ta.
Tên có khi được người lối xóm hoặc quen biết đặt cho theo nghề nghiệp, nơi cư ngụ hoặc theo thói quen đặc biệt của người đó. Chị Bảy bán chè đậu được mọi người gọi chị là “chị Bảy chè đậu” để phân biệt với chị Bảy khác, vì ở Nam kỳ, người ta gọi bằng Thứ, tránh gọi bằng tên chánh. Anh Lê Văn Hùng vì có một đặc tánh nào đó nên được mọi người biết đến, người ta bèn gọi anh là “anh Hùng Xóm Cống” vì anh cư ngụ ở Xóm Cống.
Ngoài ra, còn có những tên hàm chứa tình thương, sự trìu mến của gia đình dành cho con cháu trong nhà như “chó con”, “tí”, “cu”, “nhít”…. Những tên này có khi được dùng để gọi những đứa trẻ mãi đến lúc chúng đã trưởng thành.
Ca sĩ Bảo Hân nổi tiếng khắp thế giới, nhưng cả gia đình, từ ông bà, cô dì, cậu mợ … đều gọi “Tít ơi, Tít”! Lấy làm “bất mãn” vì không được gọi Hân, cô nàng bèn đem tên Hân của mình biếu cho thằng cháu trai, con của chị. Và cu này mang tên Hân là tên chánh, tức là tên ghi trong khai sanh của cu cậu.
Có khi người ta chọn một tên thật xấu để đặt cho một đứa trẻ để đứa trẻ được mạnh giỏi, mau lớn, tránh không bị người khuất mặt “quở”. Gia đình sanh con trai khó nuôi, bèn dùng tên con gái đặt cho cu cậu để lừa người khuất mặt rằng đó là con gái đấy.
Tên và cách đặt tên này vẫn còn lưu hành đến ngày nay. Chỉ có việc kiêng cử trùng tên với quan chức hoặc người trong xóm, làng thì ngày nay đã giảm bớt hay không còn giữ nữa. Việc “phạm huý” thì hoàn toàn bị xóa bỏ. (

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: