Ktetaichinh’s Blog

December 13, 2009

Vài nét về luật đất đai Việt Nam – TCPT số 28

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:13 am
Tags: , ,

Tháng Mười Một 16, 2009 bởi phthnguyen

d

Người dân Việt Nam không có quyền sở hữu ruộng đất, chỉ có quyền sử dụng đất. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. (Hiến pháp 1992, điều 18; Luật Đất Đai 2003, điều 7). Sau nhiều lần chỉnh sửa, luật sở hữu và quy hoạch đất đai tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Việc cơ quan quản lý kém hiệu quả, thiếu tầm nhìn và các dự án quy hoạch “treo” tràn lan hiện nay đã gây nhiều chú ý.

Tổng quan về chính sách đất đai và chế độ sở hữu đất đai

Chế độ công hữu đất đai ở Việt Nam bắt nguồn từ biện pháp tổ chức quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung dựa trên cơ sở chế độ công hữu. (Lê Văn Tứ 2003). Hiến pháp 1980, lần đầu tiên xác lập chế độ sở hữu ruộng đất, thực chất là “sự chuyển quyền sở hữu đất về danh nghĩa pháp lý cho phù hợp với quyền sử dụng đất đã được công bố quốc hữu hóa trước đó qua chính sách cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp.” (Lê Văn Tứ 2003). Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường diễn ra cuối những năm 1980. Chỉ thị 100 năm 1981 của Ban Bí thư, khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo chuyển biến tốt trong sản xuất kinh tế; dẫn đến Nghị quyết 10 năm 1988 của Bộ chính trị chính thức công nhận các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ (Nguyễn Tấn Phát 2006). Luật đất đai đầu tiên năm 1988 được Quốc hội thông qua để hợp pháp hóa việc giao đất của Hợp tác xã đến các hộ gia đình. (Đặng Hùng Võ 2005).

Hiến pháp 1992 công nhận nền kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa,” nên luật đất đai 1993 bổ sung những nội dung mới vào quyền sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; giá đất được xác định bởi Nhà nước; và người sử dụng đất được cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất. (Đặng Hùng Võ 2003). Luật đất đai sửa đổi năm 2001 trao quyền quản lý việc sử dụng đất của các cá nhân và hộ gia đình cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã. (Đặng Hùng Võ 2003).

Vài nét về Luật đất đai 2003

Luật đất đai 2003 tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. (Điều 5 & Điều 7). Việc quy hoạch, sử dụng đất cần được thực hiện “dân chủ và công khai.” (Điều 21). Ở cấp xã, phường, thị trấn, quy hoạch sử dụng đất chi tiết (gắn liền với thửa đất) phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. (Điều 25, khoản 5). Tuy nhiên, Luật và các văn bản áp dụng không quy định rõ ràng về cơ chế đóng góp ý kiến của dân, và liệu sự tán thành của người dân có phải là điều kiện cần thiết để bản quy hoạch được thông qua. Khoản 5 điều 25 có vẻ phủ nhận khúc mắc này, khi quy định “uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt” – tức là quyết định cuối cùng thuộc về Hội đồng nhân dân và “cơ quan nhà nước có thẩm quyền,” người dân không có quyền phủ quyết. Sau khi được thông qua, kế hoạch sử dụng đất được công bố công khai ở Văn phòng  và trên trang mạng của Uỷ ban nhân dân cấp có liên quan. (Đặng Hùng Võ 2006).

Về thời hạn sử dụng đất, có đất sử dụng ổn định, không có thời hạn, và có đất sử dụng có thời hạn. Đất ở, “đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng” và “đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất” là đất sử dụng ổn định lâu dài. (Điều 66). Đất nông nghiệp, đất phục vụ cho mục đích kinh doanh của các cá nhân và hộ gia đình là đất sử dụng có thời hạn 20 năm và 50 năm. (Điều 67). “Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.” (Điều 67, khoản 1).

Cho đến nay, một số nhà nghiên cứu cho rằng sự khác biệt giữa sự phân biệt “quyền sở hữu ruộng đất” và “quyền sử dụng đất” chỉ là “chơi chữ.” (Tran Nhu Trung 2006). Về bản chất, các quyền lợi và nghĩa vụ đi cùng quyền sử dụng ruộng đất không có nhiều khác biệt so với quyền sở hữu đất. Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng từng khẳng định “Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước.” (Vietnamnet 05/2006).

Tuy vậy, các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai vẫn đang là một vấn đề xã hội nóng bỏng hiện nay, cho thấy còn nhiều điểm bất cập cần được khắc phục.

Các vấn đề cần giải quyết về chính sách đất đai và thi hành luật đất đai

Ở nhiều nước trên thế giới, người dân sở hữu đất đai (qua khai hoang hay mua lại) mặc nhiên có quyền sở hữu và sử dụng mảnh đất đó. (Lê Văn Tứ 2003). Ở Việt Nam, vì đất đai là sở hữu toàn dân, người dân sở hữu quyền sử dụng ruộng đất qua hai bước. Bước đầu tiên là việc cấp đất thuộc sở hữu toàn dân tới người dân, hộ gia đình hoặc các tổ chức để sử dụng. Sau khi quá trình cấp đất hoàn tất, người dân/hộ gia đình biết những quyền họ có trong việc sử dụng đất. Việc cấp đất đai phụ thuộc vào quy hoạch sử dụng đất. Thế nhưng, đến 2005, chỉ có 55% xã có kế hoạch sử dụng đất. (Tran Nhu Trung 2006).

Vấn đề giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ cụ thể cũng là một vấn đề, vì thủ tục quá nhiêu khê, tốn kém. Việc đăng ký sử dụng đất còn gặp trở ngại do việc chồng chéo giữa hai hệ thống đăng ký đất ở – quản lý bởi bộ Tài Nguyên và Môi trường, và hệ thống đăng ký nhà ở – quản lý bởi bộ Xây dựng, khiến việc quản lý càng trở nên phức tạp hơn. (Khánh Tuệ 03/2008). Năm 2006, ước tính có 20% hộ sử dụng đất nông nghiệp và 95% số hộ sử dụng đất chuyên dùng chưa được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. (Nguyễn Tấn Phát 2006). Việt Nam dự định giải quyết vấn đề chứng nhận sử dụng ruộng đất vào năm 2010… (Mathias Lemmens phỏng vấn ông Đặng Hùng Võ, 2008)

Việc không sở hữu ruộng đất lâu dài cho mục đích sản xuất gây trở ngại về mặt tâm lý cho người dân. Người nông dân có thể ngần ngại không muốn đầu tư lâu dài, vì không chắc chắn điều gì có thể xảy ra khi quyền sở hữu ruộng đất hết kỳ hạn. Quyền sở hữu có thể tạo tâm lý ổn định để người dân có kế hoạch đầu tư lâu dài và chú trọng hơn vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Nhiều ý kiến cho rằng nên giao đất vĩnh viễn cho người dân. Ông Mai Ái Trực, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường, trước khi về hưu đã có tờ trình với Chính phủ về việc giao đất không thời hạn cho người dân. (Báo Pháp Luật TP HCM 07/03/2008).

Vấn đề vi phạm luật đất đai, nhất là quy hoạch treo, cũng khiến nhiều người dân bức xúc. Nhà nước, mà cụ thể là chính quyền địa phương, có quyền thu hồi đất sản xuất của người dân cho các dự án phát triển kinh tế. (Luật đất đai 2003, điều 38 và 44). Tuy nhiên, vấn đề quy hoạch đất đai chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2007, cả nước có 1.649 khu vực qui hoạch “treo” với tổng diện tích 244.665 ha, 1.288 dự án “treo” với tổng diện tích 31.650 ha do chậm giải tỏa mặt bằng. (Viện nghiên cứu phát triển thành phố HCM 2007). Doanh nghiệp thiếu đất làm ăn, người dân thiếu đất sản xuất, nhưng các khu đất dự án bỏ hoang lại không phải hiếm. Việc lợi dụng chức quyền để phân bổ, chia chác đất đai diễn ra hầu như khắp nơi – mà theo ông Đặng Hùng Võ, qua 5 chiêu thức “ăn” đất của dân: “1. Tham nhũng dựa vào các chương trình mục tiêu của Nhà nước. 2. Từ các khu tái định cư; 3. Tại các khu giãn dân ở khu dân cư nông thôn; 4. Dưới dạng quyết định thu hồi đất cho một dự án rồi chia nhau phần thừa; 5. Không có dự án gì nhưng vẫn thu hồi đất của dân rồi để đấy.” (Trần Khuyết Nghi 2005).

Phương cách quy hoạch đất kém hiệu quả như hiện nay cho thấy quyền lợi của người dân bị xem nhẹ và vấn đề bồi thường đất bị thu hồi không được thi hành nghiêm túc.  Việc này dẫn đến gia tăng số người khiếu kiện và kéo dài, cũng như cái nhìn tiêu cực của người dân với chính quyền địa phương, tạo ra sự bất ổn trong xã hội. Năm 2005, số đơn khiếu kiện về đất đai là 10.500 lượt, tăng gấp đôi so với năm 2003, trong đó 70% số đơn có nội dung khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. (Vietnamnet 10/2005). Vấn đề mấu chốt không chỉ ở việc thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ sau khi thu hồi đất chưa đến nơi đến chốn, mà còn bắt nguồn từ việc quy hoạch tràn lan, thiếu tầm nhìn, chưa có cơ chế để tiếp thu tiếng nói của người dân một cách tích cực.

Hoàng Lan

Tham khảo:

Hiến pháp 1992; Luật Đất Đai 2003.

Lê Văn Tứ, Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân: Một Số Suy Nghĩ, Tạp Chí Nghiên Cứu Lập Pháp số 10/2003

Trần Khuyết Nghi, Mấy Suy Nghiệm về Đất và Quyền Sử Dụng Đất, Tạp Chí Phát Triển Kinh Tế số Tháng 11/2005

Nguyễn Tấn Phát, Chính Sách Đất Đai ở Việt Nam trong Thời Kỳ Đổi Mới, Tạp Chí Nghiên Cứu Kinh Tế số 1 (332) năm 2006

Viện Nghiên Cứu Phát Triển Thành Phố HCM, Những Bất Cập trong Chính Sách Đất Đai và Hệ Quả  — Tổng hợp từ Tạp chí Nghiên Cứu Kinh tế tháng 07/2007

Vietnam Net tháng 5/2006, Vào WTO, Đất Đai Còn Thuộc Sở Hữu Toàn Dân?

Vietnam Net 18/10/2005, Vì Sao Dân Đi Khiếu Nại Tố Cáo Về Đất Đai?

Khánh Tuệ, theo Pháp Luật TP Việt Nam ngày 10/03/2008, 8 Vấn Đề Liên Quan Đến Luật Đất Đai Sửa Đổi.

Mathias Lemmens, Interview with Mr. Dang Hung Vo, Land Administration in Vietnam, GIM International, Volume 22, Issue 9, September 2008.

Dang Hung Vo, The Vietnamese Land Law 2003 and Significant Renovations on Land Policy Towards the Country’s Industrialization, December 2005.

Trang Nhu Trung, Dao Anh Kiet, Ian Hyde, Vo Dang Hung, Vietnam Land Registration from Terminology to the Practice, October 2006

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: