Ktetaichinh’s Blog

December 13, 2009

Tam Giáo Tại Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:08 am
Tags: ,

Mỗi dân tộc đều có nền văn hoá, vẻ đẹp và niềm tự hào riêng. Ngô Quyền xưng vương năm 939, dựng kinh đô tại Cổ Loa mở ra thời kỳ độc lập tự chủ hòan toàn cho nước ta sau hơn 1000 năm đô hộ bởi phong kiến phương Bắc. Những nền văn minh chúng ta tiếp thu được qua nhiều thế hệ hàng nghìn năm đã tự biến thành nền văn hoá riêng, cụ thể là ảnh hưởng của Tam Giáo vào văn hóa phong tục tập quán của dân Việt. Ba tôn giáo lớn của Tam Giáo là Khổng, Lão và Phật giáo đã thấm sâu vào hệ tư tưởng của nhân sĩ cho đến đời sống hằng ngày của mọi tầng lớp dân chúng từ hàng nghìn năm trôi qua.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây…” bản nhạc Gia Tài Của Mẹ như một chất vấn của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho đất nướcViệt Nam hôm nay khi chúng ta sửa soạn đi tới năm cuối của thập kỷ đầu của năm 2000. Ôi! Gia tài của mẹ Việt Nam hôm nay còn lại những gì?


A. Khổng Giáo

Ý nghĩa
Khổng Giáo cùng với chữ Hán theo sau với sự đô hộ của nhà Hán đã truyền vào đất Lạc Việt từ thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Khổng giáo cũng được tiếp thu và thưc hành phát triển theo những cách rất riêng ở Nhật Bản và Đại Hàn. Trước tiên ta hãy nói vể những giá trị tốt đẹp của Khổng giáo tác động vào nền văn minh của dân Việt.

Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ: cốt lõi của thực  hành Khổng Giáo đó là tu thân. Việc tu thân có thể được rút gọn trong sự thực hành, biến cải con người trở nên có “Nhân-Trí-Dũng”.  Cũng như trong quan hệ đối xử giữa người với người là: “Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín”, chúng ta thấy cái NHÂN luôn luôn được coi là cốt lõi và đặt lên phía trước tiên. Nhân  là lòng nhân, lòng bao dung, độ lượng, tương đương với Từ bi trong Đạo Phật và Tình yêu thương trong Thiên Chúa giáo.
Người Việt ta hay nói lễ nghĩa đi đội với nhau, nhưng ở đây là nói đến hai đức tính riêng biệt. Lễ là nghi lễ, lễ phép như cái lễ nghi của người Việt thường nói, là đi thưa về trình, nói năng phải cho lễ phép. Còn Nghĩa là chỉ đến đức tính nghĩa khí, ăn ở cho có nghĩa có tình, tức là có nhớ đến những nghĩa cử mà mình đã được nhận. Nghĩa cũng là sự trung thành của người chịu ơn. Ngoài ra còn một yếu tố quan trọng trong Khổng Giáo là Hiếu nghĩa. Sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ là gốc trong đạo hiếu nghĩa.

Trí là trí tuệ, sự khôn ngoan sáng suốt biết phân biệt giả chân, tốt xấu. Đó có thể coi như bản lĩnh, tài trí hay sức mạnh của tri thức chẳng hạn. Khổng Giáo rất coi trọng việc giáo dục, và đây là đức hạnh cho người cầm quyền. Quyền lực cai trị chỉ nên nằm trong tay những người có giáo dục và có trí thức, mới có đủ khả năng và đức độ trong việc thực thi những chánh sách chính đáng ích nước lợi dân. Đây là ý nghĩa gốc của chữ chánh trị hay chính trị, có nghĩa là dùng chánh đạo, chính nghĩa để trị nước (Colin Mackerras trang 83 dòng 7).

Tín là biết giữ chữ tín, nói phải giữ lời, tức là không nói láo hay lật lọng. Tín ở đây cùng với thực hành chữ Dũng là dũng khí, kiên cường đứng vững đương đầu với mọi hoàn cảnh. Tín cùng với tất cả những đức tính kể trên mới đủ để xây dựng nên một con người có nhân cách lớn, mà người xưa thường gọi là quân tử. Đối nghịch với quân tử là tiểu nhân hay là kẻ không có tư cách, là kẻ thiếu một trong những đức tính kể trên, và quan trọng là lòng NHÂN.

Những giá trị của Đạo Khổng ở Việt Nam xưa và nay

Tổ tiên dân Việt ta có truyền thống là lĩnh hội những cái hay của ngoại nhân và biến nó thành của mình, để rồi khi thời cơ đến dùng chính thứ học được của kẻ thù làm vũ khí vùng lên giành lại độc lập. Giành được độc lập rồi các vị minh vương vẫn giữ lấy những lề lối giá trị tôt đẹp ấy để tiếp tục phát triển giang san. Thực tế lịch sử đã chứng minh cái sức mạnh của cơ chế tuyển lựa nhân tài bằng thi cử cho các vị trí then chốt điều hành của đất nước. Cơ chế đó đã tồn tại và tiếp tục sử dụng đến thế kỷ XXI hiện nay, tại tất cả các nước đã và đang phát triển bằng hệ thống thi cử vào các đại học & cao đẳng để đào tạo đội ngũ kế thừa, nhằm cung cấp đào tạo nguyên khí cho quốc gia. Số lượng người tài đức chính là nguyên khí phát triển của một quốc gia.

Ở Việt Nam hiện nay vẫn áp dụng hệ thống thi cử để bồi bổ nguyên khí mà sao cứ như là hết hơi vậy. Sự bổ nhiệm nắm các vị trí then chốt được dựa trên tiêu chuẩn người hiền tài thì ít, mà căn cứ trên lý lịch và Đảng tịch thì nhiều. Chính cái cơ chế này đã bóp chết nguyên khí quốc gia. Xét lý lịch thành phần gia đình vẫn tiếp tục được duy trì để ưu đãi cho các con ông cháu cụ sau hơn 30 năm hòa bình lập lại. Sự áp dụng phân biệt đối xử phi lý đã xua đuổi nguyên khí quốc gia rời bỏ đất nước. Số ở lại thì kẻ có tài chạy qua khu vực tư nhân, hay do chủ có nguồn vốn nước ngoài.

Sự phân chia giai cấp, thành phần gia đình, giới tính cũng là những điển hình trục lợi biến thái từ Khổng giáo chân chính. Khổng Tử chủ chương cơ hội học hỏi tiến thân bình đẳng cho tất cả mọi con dân, không phân biệt ưu đãi cho riêng thành phần thứ dân nào (Colin Mackerras trang 83 dòng 1). Sự biến thái từ gốc rễ ăn sâu vào trong xã  hội Việt Nam, từ sự hành xử của người dân cho đến thái độ của Đảng và  những người cầm quyền. Người dân theo thói quen phục tùng thế quyền, vâng lệnh răm rắp mệnh lệnh từ trên ban xuống, xem tất cả những gì báo đài đưa tin là chân lý. Sự trung thành tuyệt đối không được quyền chất vấn với Đảng, thực chất là áp dụng giá trị Khổng giáo của đức trung nghĩa. Thế nhưng Đảng từ Cách mạng mùa Thu đến nay xem như đã kiên quyết đánh đổ và xóa sạch phong kiến từ lâu rồi. Lề thói gia trưởng trong các gia đình trẻ Việt Nam nơi thành thị đã gần như không còn, nhưng vẫn tồn tại trong thái độ của Đảng và nhà nước trong công việc trị dân, như cha như mẹ ban phát phép tắc cho con cái.

Đó là sự băng hoại đạo đức, nhổ toẹt vào công sức của cha ông ta ngày trước. Ôi, thương thay cho dân Việt với truyền thống “Nhân-Trí-Dũng” đã lụi tàn chỉ sau 35 năm đảng lãnh đạo. Thử hỏi thành phần đã ngang nhiên xổ toẹt Hiệp định Paris được ký kết trước quốc tế thì làm sao có đủ đức thể làm gương hay lãnh đạo đất nước?


Mời các bạn theo dõi Phần II – Lão &Phật Giáo – trong số tới.
Mai Minh


Nguồn Trích dẫn:
http://lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=2&Itemid=3

http://www.saigoninfo.com/vanhoa/religions.php

Eastern Asia an Introductory History, biên tập bởi Colin Mackerras, Longman Cheshire 1994

Nguyên lý cơ bản của Phật giáo


Như vậy chuyện trong lối truyền khẩu dân gian trước khi có chữ viết, người Việt đã biết đến Phật và được gọi là Bụt. Đây là cách phiên âm trực tiếp từ âm BUDDHA của Phạn ngữ. Còn cách phiên âm gọi là Phật là gián tiếp qua chữ Hán khi đạo Phật đưa vào Việt Nam qua ngả Trung Quốc cùng với Khổng và Lão giáo, và kinh điển của Phật giáo cũng mới bắt đầu được giàng dạy tu tập vào khoảng thế kỷ thứ I sau công nguyên. Vậy trước đó người dân Việt học biết được những gì về Bụt trong dân gian. Chúng ta có thể thấy hình ảnh về Bụt mang tính chất thần thoại như những nhân vật siêu hình có những khả năng làm phép thuật kỳ diệu. Bụt như vị thần tốt bụng luôn đứng về những con người có số phận khốn khổ vì bất công và đọa đày. Trong đó niềm tin dân gian cho thấy họ đã tiếp thu một quy luật cơ bản trong Phật học là quy luật về nhân quả. Gieo gió thì gặt bão. Cái hành động ác sẽ gây ra nghiệp ác – karma. Nghiệp ác sẽ theo đuổi cho đến khi kẻ gây ác sẽ phải trả bằng quả báo của cái nhân họ gây ra. Đối nghịch với nghiệp ác là hành thiện, vị tha, giúp đỡ cúng dường, bố thí tha nhân, thường được gọi là phước báu nhân gian. Thì tùy theo công quả của việc bố thí cúng dường mà người hành thiện sẽ được hưởng trong đời hiện tai hoặc kiếp sau những quả lành và lợi lộc về vật chất.

 

Quy luật nhân quả lý giải những hành động trong quá khứ kết trái sanh quả báo cho những sự may mắn hoạc bất hạnh xảy đến cho chúng ta trong đời hiện tại. Bằng quy luật cơ bản này, Phật giáo nguyên thủy có thể áp dụng để giảng giải nguồn gốc, nguyên nhân cho tất cả mọi sự việc xảy ra cho số phận của một con người, một cộng đồng, một quốc gia và cả thế giới. Học thuyết nhân quả gần như không thể chối cãi, phủ nhận nó được trong cái logic của nó. Tuy nhiên học thuyết không nói cho ta biết được khi nào thì quả báo sẽ xảy ra hôm nay, ngày mai, năm sau… Như ngày hôm nay tôi nghèo hèn nhưng ngày mai tôi thành ông hoàng. Ngày hôm nay tôi đang có một sức khỏe hoàn hảo nhưng ngày mai tôi lại mang bạo bệnh ( Obeyesekere, G-1968)

Ở đây giáo lý Phật giáo cũng hướng dẫn con người những bước hành thiện, tu đức để tránh gây những nghiệp ác. Trong niềm tin đó những trái quả của những việc hành thiện bây giờ có thể xóa bỏ những việc làm nghịch lại trước đó là điều có thể xảy ra được. Đây là căn bản của đường lối Phật giáo tiểu thừa bao gồm hành thiện trong đời sống, quy y tam bảo, làm Phật sự, cầu siêu cũng như các nghi lễ khác… có thể làm thay đổi nghiệp báo của một người còn tại thế cũng như người đã khuất (Grant Evans p.289)

Con đường tự giải thoát của chúng sinh


Cách thức tu thân để tránh gây ác nghiệp trong đời sống được chỉ ra trong 5 giới luật của Phật giáo:

  1. Không sát sanh: không giết bất kỳ sinh vật sống nào. Không chỉ là không giết người mà còn bao gồm tất cả các sinh vật lớn nhỏ khác. Trực tiếp gây nghiệp sát như đao phủ, đồ tể, thợ săn,… Gián tiếp gây sát nghiệp là ăn thịt những sinh vật đã bị giết, đánh bắt…
  2. Không trộm cắp: tức là không lấy những cái gì không thuộc sở hữu của bản thân
  3. Không nói láo: là không nói những điều không phải là sự thực, dựng chuyện để dối gạt người khác.
  4. Không được gian dâm: Giới này phân tích kỹ sẽ thấy Phật Giáo rất thoáng, phù hợp cả từ cổ chí kim. Tương tự giới không trộm cắp giới này khuyên người ta không quan hệ tình dục với người không phải của mình, đơn giản thế thôi. Giới này nguyên thủy không hề định nghĩa bạn tình là đồng giới hay khác giới, cưới hay chưa cưới,… Thí dụ xã hội phong kiến ngày xưa đa thê đối chọi với luật một vơ một chồng ngày nay. Có nhiều vợ ngày xưa không là tội ngày nay là phạm tội, thế nhưng xét trong giới này thì ngày xưa cũng như ngày nay các ông nhiều vợ đều không phạm giới nếu như mọi việc xảy ra trong sự đồng thuận, không có ép buộc, chiếm đoạt bắt con gái hay vợ của nguời khác.
  5. Không dùng các chất độc hại có khuynh hướng làm mê ảo tâm trí: bao gồm ma túy, bạch phiến, cocain, thuốc lắc… nhưng phổ biến nhất là rượu và thuốc lá đều được cho là không nên dùng

Trên đây là 5 giới do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy lúc sinh thời. Những lời dạy của Phật đã được đệ tử của Phật là ngài Anan ghi chép xuống bằng Phạn ngữ bằng trí nhớ rất tốt của ông. Những kinh văn này do Edward Conze dịch trực tiếp từ Phạn ngữ.

Năm giới luật này không phải là giới luật chỉ dành cho người xuât gia như mọi người lầm tưởng. Từ lâu trong sự tha hóa của Phật giáo tiểu thừa ở Việt Nam, không còn mấy Phật tử thực sự giữ năm giới này, dần dần họ quan niệm rằng năm giới chỉ dành cho những tu sĩ xuống tóc quy y thôi. Thực tế người xuất gia ngoài năm giới trên Phật còn dậy các tỳ kheo phải giữ thêm 250 giới khác nữa.(Edward Conze p 69,70)

d

Vậy, sự nghiệp của một Phật tử là gì?


Đó là thực hành : Phật Pháp không ly thế gian pháp Cũng vậy, khi ứng dụng tinh thần Trung đạo, bạn không mang tư tưởng phải lìa bỏ thế gian mới đạt đến Niết bàn; mà trái lại, bạn cần phải xây dựng Niết bàn ngay tại thế gian (Cẩm nang của người Phật tử đoạn 68.  Làm sao để có thể ứng dụng tinh thần Trung đạo vào cuộc sống  http://www.thuvienhoasen.org/camnangcuanguoiphattu.htm)

Phật tử, hiểu đơn giản là con của Đức Phật. Tuy nhiên Phật tử bao gồm bốn chúng đó là xuất gia (nam, nữ) và tại gia (nam, nữ). Người xuất gia sống không lập gia đình nên công việc của họ là chuyên cần tu tập đạo giác ngộ, giải thoát. Trái lại, người tại gia lập gia đình, có vợ con .v.v. nên công việc của họ gắn liền với việc xây dựng đời sống hạnh phúc gia đình. Nhưng khi nói đến ý nghĩa sự nghiệp (hiểu theo đúng nghĩa của từ này) của một Phật tử, dầu xuất gia hay tại gia, chúng ta phải đề cập đến nền tảng của đời sống hạnh phúc thực thụ và lâu dài. Trong ý nghĩa này, sự nghiệp của một Phật tử không gì khác hơn là từ bi và trí tuệ.(Cẩm nang của người Phật tử đoạn 85 )Vậy, sự nghiệp của một Phật tử là gì? http://www.thuvienhoasen.org/camnangcuanguoiphattu.htm)

Để xây dựng sự nghiệp từ bi và trí tuệ có thể thâu tóm trong Lục Độ Ba La Mật. Ba La Mật phiên âm từ Phạn ngữ nghĩa là trí huệ tối cao:

  1. Bố Thí
  2. Trì giới
  3. Nhẫn nhục
  4. Tinh tấn
  5. Thiền định
  6. Trí Huệ

Trí huệ hay đồng nghĩa với trí tuệ là cứu cánh đạt tới của người Phật tử. Xây dựng con người theo 6 chế độ này thì tất yếu đạt được tiến bộ của trí tuệ. Trí tuệ như ánh sáng phá tan màn u minh. Quả thật không có cái tội nào tệ lậu hơn cái vô minh. Vô minh nói theo dân gian là ngu. Đã ngu nên không biết và không thể phân biệt được đâu là chánh tà. Ngu cũng thường không có chính kiến dễ bị tuyên truyền lôi kéo, xách động. Ngu lại thường đi đôi với tham, bởi tham nên làm chuyện ngu vì lòng tham làm tối mắt, người có trí cũng có thể còn tham nhưng nhờ có trí tuệ nên biết kiềm chế lòng tham lại để xem trước ngó sau, vì còn kềm lại đuợc nên cái Phật tánh bên trong còn có cơ hội xen vào.

(http://www.thuvienhoasen.org/lucbalamat-thichducthang.htm)

Phật có nói “ Tất cả các chúng sinh đều có Phật tánh ”. Vậy thì con người ta đều có tánh Phật bên trong. Thế nhưng sao xã hội còn quá nhiều những người xấu xa chuyên đi lừa gạt & làm điều ác

Đã có câu nhân chi sơ tính bản thiện của Tam Tự Kinh, điều này đồng nghĩa với Phật ở cái Phật tánh. Khi sanh ra trẻ con vốn tính thiện, chỉ do sự giáo dục học hỏi từ gia đình, học đường, cùng những thói hư tật xấu người đời và xã hội mà sanh ra thói xấu. Vì điều kiện sống mỗi người mỗi  khác, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cá nhân gia đình mà hình thành nên nhân cách khác nhau. Xã hội mà những thói xấu được dung dưỡng mà sanh ra có nhiều ngườ có thói quen xấu. Dưới mắt Phật tất cả chúng sanh bình đẳng, đều chung một Phật tánh ngoài ra tất cả đều do hoàn cảnh mà ra, với Phật chỉ có những người có những thói quen xấu chứ không có con người xấu.

Trở lại với Lục Độ Ba La Mật. Ba La Mật, như vậy để phát triển trí tuệ người ta cần phải thực hành

  • Bố thí: bố thí cũng có nhiều cách, và hình tướng. Ngoài bố thí về vật chất như cứu trợ nạn nhân bạo lụt Quảng Nam Đà Nẵng bằng hiện vật, tiền, tham gia cứu người bị nạn… cũng như các hoạt động từ thiện giúp trẻ mồ côi, trẻ nhà nghèo cần giúp dạy học mở mang kiến thức…còn có loại bố thí cao nhất là bố thí pháp. Bố thí pháp là đưa lời chánh pháp đến cho mọi người, chánh pháp cũng không nhất thiết phải là Phật giáo, mà còn là tât cả những giáo lý của những tôn giáo khác có cùng nội dung, cùng mục tiêu kêu gọi con người cùng làm lành lánh dữ. Phật kêu gọi từ bi, Chúa kêu gọi bác ái, Khổng dậy người biết nhân từ…
  • Trì giới là sống tuân theo năm giới kể trên, trong đó phải kể đến giới sát sanh

“Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp

Hà thời thế giới động đao binh”

Tức là nếu thế giới con người ngưng sát sanh, chuyển sang ăn chay thì tức khắc thế giới sẽ có hòa bình.

Mục đích của ăn chay trong đạo Phật là để tịnh hoá gốc rể của ba nghiệp, đặc biệt là nghiệp sát hại chúng sinh (trực tiếp hoặc gián tiếp) và phát triển tâm từ bi. Tuy nhiên, ngày nay ăn chay được thực hành phổ biến với nhiều lý do như: để tăng trưởng sức khỏe, điều chế sự tham dục, bảo vệ động vật, bảo vệ môi trường .v.v. (Cẩm nang của người Phật tử đoạn 42 Tại sao ăn chay http://www.thuvienhoasen.org/camnangcuanguoiphattu.htm)

“Nothing will benefit human health or increase the chances for survival of life on earth as the evolution to a vegetarian diet.” Albert Einstein

Không có gì lợi ích cho sức  khỏe của loài người và gia tăng cơ hội sinh tồn cho sự sống trên trái đất cho bằng việc tiến hóa lên chế độ ăn chay.


(http://uk.youtube.com/watch?v=gTS2Yp-UgI0 )

  • Nhẫn nhục : Nhẫn nại trước ngịch cảnh, sẵn sàng nhịn và chịu nhục để không đánh mất mục tiêu theo đuổi. Thực hành đức nhẫn cũng gia tăng đức từ bi
  • Tinh tấn : có nghĩa là siêng năng, chuyên cần vì làm người dễ có xu hướng dễ dãi buông thả. Đây là sự rèn luyện ý chí của tất cả những vĩ nhân đã làm lên những công trình đễ đời cho nhân loại.
  • THIỀN ĐỊNH: Thiền là từ lược củaThiền-na (dhyāna) còn dịch là tư duy tu, hay tịnh lự. Tư duy tu có nghĩa là tư duy về đối cảnh mà chúng ta đang để tâm vào mà nghiên cứu tu tập. Còn Định được dịch nghĩa từ chữ Samādhi  Trung Hoa phiên âm là Tam-ma-địa, Tam-mội hay Tam-ma-đề. Đến nay có rất nhiều phương pháp thiền định được truyền bá ở các nước Phương Tây do các dòng thiền của Hari Krisna (nguồn gốc Ấn Độ), Mật Tông của Tây Tạng… Ở Việt Nam ngoài dòng thiền truyền thống Trúc Lâm trong thời kỳ hiện đại còn có Thiền Tông theo truyền thống Làng Mai của Thầy Thích Nhất Hạnh, Thiền Định Vô Vi của Thầy Tám Lương Sĩ Hằng, Đại Đạo ( mang nguồn của Lão giáo), Pháp môn Quán Âm của Thanh Hải Vô Thượng Sư…  Cho dù thực hành bằng bât cứ phương pháp nào nguyên tắc chung nhất là : có Thiền thì phải đạt được Định.

Trạng thái Định còn đươc nói là ‘enter the Samadhi’ mà các hành giả người phương Tây nhắc đến như là kết quả của sự phối hợp tu tập tất cả các chế độ đã nói trên, có thể ví như một vật thể bay cần được chăm sóc, bảo dưỡng, đổ nhiên liệu đúng loại rồi cuối cùng mới có thể cất cánh bay an toàn được. Thân thể hành giả là sân bay đến giờ xuất phát thì ngồi xuống, trụ ý lại và tâm thức bắt đầu bay bổng là đã vào Định, nhập định. Tình trạng nhập định giống như người đã ngủ vì mọi giác quan đã thiếp đi, thiếp đi nhưng không phải là hôn mê hay ngủ, bời vì trong tư thế ngồi bán già hay kiết già nếu hành giả đi vào hôn mê hay ngủ quên đi thì không thể giữ được thân thể thăng bằng và ngã lăn ra ngay. Thời gian ngồi nhập định tùy theo công phu tu tập có người có thể nhập định từ 30 phút đến vài tiếng, và cao hơn nữa có thể vài ngày. Theo kinh nghiệm các hành giả sau khi nhập định thì họ có chung một cảm giác rât sảng khoái, tinh thần phấn chấn, năng lực tràn đầy khi ra khỏi nhập định. Đây là chỉ nói về những kinh nghiệm thể chất, vật lý. Trong nhập định nâng cao tâm thức mới là cái tối hậu cần đạt được trong tu tập của người hành giả, khi hành giả ngồi đó nhưng bên trong họ chỉ còn môt khối tâm thức hiện hữu mà thôi, tâm thức của họ như di hành vào không gian của chiều thứ tư, cho đến trình độ khi thiên nhãn và thiên nhĩ nữa được mở ra. Qua Thiên nhãn ( còn gọi là con mắt thứ ba, mắt trí huệ ở giữa trán) hành giả thấy ánh sáng của cảnh giới thiên nhân. Qua Thiên Nhĩ họ có thể nghe thầy những âm thanh của vũ trụ như là những chấn động của sóng âm thanh ở tần số cao, chấn động này có khi nghe như tiếng nhã nhạc của cung đình, cũng có lúc nghe như tiếng nước chảy, sóng vỗ ( hải triều âm), tiếng sấm (thắng bỉ thế gian âm)… tất cả là những thể nghiệm của tu tập đã có ghi chép trong các kinh Phật. Đạt được những thể nghiệm này hành giả coi như đã đạt được một trình độ của khai ngộ trong Bát Nhã Ba La Mật. Khi ta nói bể học là nói cái vô cùng trong bể học của kiến thức thế gian, thì trong cảnh giới Bát Nhã cũng rộng lớn như vô cùng qua nhiều tầng của tâm thức, cảnh giới cao nhất đó là Niết Bàn nơi an trú của mười phương chư Phật.

  • Trí Huệ : Bằng các bước tu tập và diễn tiến nói trên khi thiên nhãn và thiên nhĩ mở ra thì hành giả cũng bắt đầu ghi danh và được vào trường học làm Phật. Những ánh sáng và chấn động lực như là âm thanh chứa đựng trong đó tất cả những thông tin của siêu thế giới. Ví dụ tương tự như đầu đọc tia laser đọc trên đĩa ghi các ký tự thông tin nhị phân của đĩa CD hay DVD vậy, trong ánh sáng của tia laser đó chứa tất cả các thông tin có thể giải mã cho ra những âm thanh hay hình ảnh digital. Với hành giả đầu đọc ánh sáng và nghe chấn động của vũ trụ của họ là mắt trí huệ, hằng ngày tinh tấn tu tập như vậy thì tât yếu trí huệ càng được mở rộng và nâng cao.

Nhìn lại vị trí của Phật giáo trong lịch sử phát triển xã hội Việt Nam


Lịch sử ghi nhận Phật giáo phát triển cùng với các triều đại từ các nhà Lý –Lê – Trần là một khoảng thời gian liên tục kéo dài của những triều đại văn minh thịnh trị nhất nước ta.

Ða-v các tăng-gia, trong sut đi Lý, vn là trng; nhưng nh-hưởng v chính-tr hình như không có bao nhiêu. V phương-din tinh-thn và luân-lý, thì hn rng Pht-giáo có nh hưởng ln. Nó đã đi cái triu-đình vũ-phu và mc-mc ca các đi Ðinh, Lê, đóng ch đu ngàn cui sông, ra mt triu-đình có qui-mô, có l, gia bình-nguyên, có th so-bì vi các nước khác min bc.

(ĐẠO PHẬT ĐỜI LÝ Hoàng Xuân Hãn)

Phật giáo đã góp phần không nhỏ trong các thành quả to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà bắt đầu dưới triều Lý với những đóng góp to lớn của đạo Phật cho dân tộc (1010 – 1225) Mà sự hình thành nhà Lý là do công của ba vị ái quốc, đó là các ngài: Vạn Hạnh, Đào Cam Mộc và Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây là Phật Giáo vào Giao Châu những năm 580 là gốc Thiền Tông phái Nam Phương, còn gọi là Nam Tông với tổ sư là người Thiên Trúc. Còn phái Quan Bích truyền vào Giao Châu sau hơn 300 năm ( Canh Tý 820) do sư người Quảng Châu mang tới không theo truyền thống của Thiền tông.

phái Nam-phương rất được phát đạt, và đã bành-trướng nhất trong vùng phủ Từ-sơn. Có sư Ðịnh-không, là tổ thứ tám, lập chùa ở làng Dịch-bảng, là quê nhà Lý về sau (trước 808). Sau đó phái Nam-phương có nhiều can-hệ với các triều-đại độc-lập ở nước ta. Sư Pháp-thuận giúp Lê Ðại-hành, sư Vạn-hạnh giúp Lý Thái-tổ, sư  Ðạo-hạnh mà tục-truyền là tiền-thân của Lý Thần-tông, sư Minh-không giúp Lý Thần-tông, đều thuộc phái này cả.

(ĐẠO PHẬT ĐỜI LÝ Hoàng Xuân Hãn)

http://www.thuvienhoasen.org/daophatdoily-03.htm

Cà hai tông phái Phật giáo đều phát triển mạnh trong dân gian từ khi nước Nam trở nên độc lập.

Phật học rất sâu rộng và đã hòa quyện vào đời sống dân Việt từ hàng ngàn năm trước. Đã có thời kỳ Phật giáo hưng thịnh cùng vận nước khi nhà nước triều chính giang sơn phát triển thành một vương quốc hùng mạnh. Khi những nhà truyền giáo phương Tây và thương thuyền lần đầu đặt chân đến Đông Dương họ đều sửng sốt về một vương quốc thống nhất dưới một triều đình có lãnh hải trải dài từ Vịnh Bắc Bộ đến Côn Sơn. Để rồi An Nam không thoát được khỏi số phận bị xâm lược và đô hộ hơn 100 năm bởi người Pháp, cũng kể từ thế kỷ 19 người dân Việt bắt đầu những tháng năm sống trong đày đọa nếu không là do chiến tranh tai ương, thì cũng do cường quyền hút máu dân cưỡi đầu cưỡi cổ. Vận nước đen tối trong đêm dài hơn hai thế kỷ vừa qua. Dân số Việt Nam với 70% nhận Phật giáo là tôn giáo của mình. Chùa chiền vẫn liên tục hoạt động, xây dựng mới nhiều hơn rất nhiều so với thế kỷ 16, bề ngoài về số lượng Phật giáo đã đang phát triển bành trướng không hề suy giảm…nhưng điều đó vẫn không cứu được Viet Nam khỏi thân phận thuộc địa, hay cuộc chiến thảm khốc kéo dài hơn 20 năm, rồi 30 năm thử nghiệm Chủ nghĩa xã hội để rồi ‘đổi mới’ là quay lại làm lại từ đầu. Thời gian 30 năm đủ để cho như Nam Hàn, đảo quốc Đài Loan, Singapore…phát triển để cuộc sống toàn dân trờ nên sung túc, chế độ dân chủ dân quyền văn minh.

Một sự thật hiển nhiên là trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo đã đóng góp vào sự phát triển hưng thịnh của dân tộc sau khi giành lại độc lập từ phương Bắc được khoảng 800 năm an cư lạc nghiệp, nhưng từ cuối thế kỷ 18 đến nay Phật giáo dường như không giúp dân tộc thoát khỏi cảnh điêu linh khi binh lửa cũng như trong đọa đày khi không có chiến tranh. Bàn về sự tha hóa của Phật giáo tiểu thừa ở Việt Nam hiện nay có thể điểm qua một số hiện tượng điển hình:

  • Sự pha trộn với những thực hành mang tính mê tín và ành hưởng cũa những tập tục như xu hướng đi theo các nghi lễ lên đồng, vái lạy thờ thổ thần, thần tài, …
  • Sự pha trộn với những tín ngưỡng ngoại nhập từ người Trung Quốc như: Đốt tiền vàng mã, xe hơi, nhà lầu… với niềm tin là để gửi xuống cho người quá cố.
  • Chú trọng quá vào việc cúng kiến từ cho người đã vãng sanh cho đến cô hồn các đảng: Bản thân việc cúng dựa trên niềm tin là cho những linh hồn không được siêu thoát, vì không siêu thoát nên làm ma đói lang thang. Vậy cúng là cho rằng cha mẹ ông bà chưa siêu thoát làm ma đói nên mới phải cần cho ăn đồ cúng., Thế việc cúng thực (phẩm) có thể làm cho những linh hồn người chết này những gì?

Nếu lúc sống làm nhiều điều xấu ác thì khi mất, dù quyến thuộc tổ chức cầu cúng chu đáo, cũng khó hy vọng vãng sanh về các cõi lành.( 3- Thông Điệp Vu Lan – Paragraph 4, Chuyện về ngài Kiền Liên http://www.thuvienhoasen.org/thonghue-ngaylehoitruyenthong.htm )

  • Sự thâm nhập của nhà nước Cộng Sản Việt Nam vào hàng ngũ tăng ni với ý đồ kiểm soát tôn giáo. Chính quyền can dự trực tiếp vào sự bổ nhiệm các chức sắc trụ trì, tăng lữ… gây nên sự tha hóa, tranh giành, tạo tham mê quyền lực  trong chư tăng, khiến người xuất gia ngày càng ngày rời xa Phật học chân chính, còn những tu sĩ chân chánh phải gian nan lao đao trong cuộc đời tu đạo. Chưa kể nhà nước còn thả nổi những hoạt động thần quyền, lễ rước rình rang, chỉ chú trọng hình thức bên ngoài lôi kéo người dân xa rời chánh đạo của Phật pháp.

Trong bài viết tới về Lão Giáo chúng ta sẽ có dịp trở lại điễm này để nêu rõ lên sự khác biệt to lớn giữa Phật Giáo thời Tiền Lý và phong trào Phật giáo hiện nay tại Việt Nam, hiểu ra được đất nước Việt là nhân địa linh kiệt nó thể hiện ngay trên hình dáng cong của nước Việt bên bờ Thái Bình Dương. Thái Bình nhưng luôn nổi sóng, những cơn sóng lớn quần quật xô tranh nhau trên mảnh đất mang hình Đạo Gia.

Obeyesekere, G-1968 “Theodicy, sin and salvation in a sociology of Buddhism” in Edmund Leach (ed.) Dialectic in Practical Religion, Cambridge Papers in Social Anthropology No.5, Cambridge University Press: Cambridge

Grant Evans 1993 Asia’s Cultural Mosaic – An Anthropological Introdution. Prentice Hall Simon & Schuster (Asia) Pte Ltd Singapore

Đạo khả đạo phi thường Đạo Danh khả danh phi thường danh
Bằng hai câu trên để mở đầu cho cuốn Đạo Đức Kinh, Lão Tử đã để lại cho hậu thế và nhân loại một kiệt tác vô song.
Ngoài Thánh Kinh, Đạo Đức Kinh là tác phẩm có lượng phát hành bằng tiếng nước ngoài lớn nhất. Lão Tử là một trong những nhà triết học được người phương Tây thích nhất. Từ thế kỷ XVI, người phương Tây đã dịch cuốn Đạo Đức Kinh sang các tiếng Latin, Pháp, Đức, Anh… Theo thống kê của các học giả phương Tây, từ năm 1816 đến nay, các bản tiếng Tây của Đạo Đức Kinh đã có trên 250 loại, hiện giờ hầu như mỗi năm lại có từ một đến hai bản dịch mới ra mắt. Theo thống kê của Tổ chức khoa học giáo dục Liên Hiệp Quốc, các danh tác văn hoá thế giới được dịch sang tiếng nước ngoài có lượng phát hành nhiều nhất, ngoài cuốn Kinh Thánh ra chỉ có Đạo Đức Kinh…. (Trần Sơn)
Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử và sinh trước hay sau vài chục năm. Nếu đúng thế tức là khoảng thời gian thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, cùng thời với các triết gia Hy Lạp tiền Socrates như Heraclitus và Pythagoras…
Suốt ngàn năm Bắc thuộc, đất Giao châu không thể tránh ảnh hưởng của Đạo giáo, nhất là trong đời Đường với Thái thú Cao Biền. Cũng như Phật giáo và Khổng giáo, Lão giáo tại Việt Nam không có tính hệ thống thuần nhất với giới tăng lữ được gọi là đạo sĩ,… Tuy thế, từ chân núi đền Hùng với đền Ngọc Hoa cho tới khắp nước, nó vẫn sinh động có lẽ suốt mấy ngàn năm nay, cả trong khoa cử lẫn trong sự thờ phượng của dân gian…Thời Đinh Tiên Hoàng, Lão giáo đã bành trướng mạnh. Vua phong cho Trương Ma Ni là Tăng Lục đạo sĩ. Đời Lý Anh Tông dùng cả tam giáo làm đề thi khoa cử.
Đạo Đức Kinh
Sách chỉ khoảng 5000 chữ, gồm hai phần. Thượng là Đạo Kinh gồm 37 chương, bàn về Đạo lớn của vũ trụ. Hạ là Đức Kinh gồm 44 chương bàn về Đức. Tác giả viết theo hình thức câu dài ngắn khác nhau, giàu âm điệu và đọc lên nghe như thơ tự do thời nay. Súc tích. Không chấm câu. Không lý luận. Không chứng minh dài dòng. Thể được dùng là cổ văn, một loại văn ngắn gọn, dễ thuộc lòng nhưng không dễ hiểu. Vì thế, nó có vẻ như chỉ gợi ý và bắt người đọc phải ngẫm nghĩ, tưởng tượng, lắng nghe tiếng dội lại từ lòng mình. Và người đọc có rất nhiều cơ hội tiếp nối quá trình sáng tạo, tư duy, cho tác phẩm sinh động, thấm sâu, được triển khai thêm theo mỗi lần đọc. (Nguyễn Ước viết v ề Lão Tử )
Có thể nói Lão Tử là triết gia khởi xướng về vũ trụ luận của Phương Đông, đi trước cả Socrate ông thầy triết học của Phương Tây. Sự độc đáo của Lão học chỉ nằm vỏn vẹn trong hai chữ Đạo và Đức. Lão tử đã bao hàm cả vụ trụ và nhân sinh quan của con người nhìn ra thế giới. Các nhà bác học, học giả phương Tây đã tốn rất nhiều trí não, giấy mực để tranh biện về diễn dịch Đạo Đức Kinh như thế nào là chính xác nhất theo đúng cái thần của sách. Giả sử như hai câu mở đầu nêu trên, theo S. Mitchell dịch trong Tao Te Ching là:
The tao that can be told is not the eternal Tao The name that can be named is not the eternal Name.
Theo Nguyễn Hiến Lê: ―Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến‖. Còn có cách dịch của John C.H.Wu:
“Tao can be talked about, but not the Eternal Tao – Đạo có thể đƣợc diễn ngôn, thì không phải là Đạo vĩnh hằng”
Dưới cách diễn đạt của Đạo Đức Kinh Lão Tử đã đưa cái không thể định nghĩa, cái không thể gọi được bằng một cái tên mà ở đây ông dùng cái ám chỉ là TAO nghĩa là Đạo. Theo Lão Tử:
Trời đất muôn vật do Đạo mà sinh thành. Đạo là cái hỗn mang chƣa phân, là cái nguyên thủy và là sự vận động hằng cửu mà ta không thể cảm, không thể biết. Đạo vô danh vô hình, là căn nguyên và cốt lõi của muôn vật. Muôn vật đều khởi đi từ Đạo, đi theo Đạo và quay về Đạo. (Nguyễn Ước viết v ề Lão Tử).
Đây là cái vĩ đại của học thuyết Đạo Đức Kinh, khiến cả hàng ngàn năm sau có rất nhiều học giả Phương Tây còn tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu. Lão tử đã đi trước cả Stephen Hawking – Nhà vật lý học thiên tài đương đại về phát biểu nguồn gốc của vũ trụ, đó là thuyết vũ trụ giãn nở (1) được phát biểu trong phong cách cách rất phương Đông, là chỉ gói gọn trong một vài giòng mà các nhà vật lý học, bác học, triết học phương Tây phải viết cả cuốn sách để lý giải.
Cái tình thâm sâu và rất thâm trầm này đã du nhập vào giới học sỹ Việt Nam hàng ngàn năm trước, hòa quyện hài hòa với thiền tông Phật Giáo hình thành lên xương sống của minh triết Việt trong đời sống. Có thể nói Lão và Phật giáo là linh hồn của học thuyết Việt thường trang bị cho các chí sỹ và các nhà trị nước cái vũ trụ quan từ đời các triều đại Đinh Lý Lê Trần.còn Khổng gíao thì đóng vai trò ứng dụng ra bên ngoài xã hội và đất nước trong cái đạo Việt thường.
Bàn về phần hại là Đức Kinh
Còn Đức? Chữ Đức ở đây không phải là đức hạnh hiểu theo lối luân lý thông thƣờng, mà là phải hiểu theo nghĩa của Lão Tử. Đức là “mầm sống ngấm ngầm” trong vạn vật. Đạo thì sinh ra còn Đức thì nuôi nấng. Ngƣời sống có Đức là sống theo Đạo. Ngƣời bắt chƣớc đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước tự nhiên…
Và Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý mà lƣu hành. Trong cái Đạo của vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tập hợp thành cái trụ cốt, cái bản thể, còn đất trời và sinh linh, v.v. là những thực thể có vị trí thích hợp và chức năng thích hợp, thao tác theo một thể thức tự nhiên. (Nguyễn Ước viết về Lão Tử)
Bài đăng kỳ trước có trình bày về trí tuệ, là bát nhã ba la mật đích đến của hành giả tu tập. Trên mặt hình thức, tƣ tƣởng của Lão Tử có vẻ giống nhƣ giáo thuyết của Phật, nhất là giáo thuyết Bát-Nhã. “Có tức là không – rùpam sùnyàtà” của Bát-Nhã hay “Om mani padme Hùm” đọc là Úm ba ni bát nị hồng = sắc bất thị không , không bất thị sắc nhƣ là cách phát biểu của “vô cực nhi hữu thái cực.” (Huyền học -Lão Tử Đạo Đức Kinh)
Tu tập Bát Nhã chính là ảnh phản chiếu của bồi bỗ Đức trong Đức Kinh được cụ thể hóa qua tu tập Lục Độ Ba La Mật. Có thể nói cách khác là Phật cũng ý thức về Đức cũng như Đạo, Người chỉ ra cách tu tập cụ thể chứ không phát biểu như là triết thuyết như Lão Tử. Phật dậy Lục Độ Ba La Mật vì người biết đây là cách sống tu thuận theo tự nhiên, theo thiên lý để trí tuệ bát nhã phát triển cũng là bồi Đức.
Nói theo ngôn ngữ bình dân là ‗gạn đục khơi trong‘, Chỉ có trong tĩnh lặng tức là trong cái không thì cái sắc mới hiện ra, nhưng cái sắc này không phải là cái ý thức về cái ngã thông thường nữa mà nó là cái ý thức siêu việt, là cái vô ngã theo cách nói của Phật.
Ai có thể đang đục mà lắng xuống để từ từ trong ra ? Ai có thể đang hƣ tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên ? Ngƣời nào giữ đƣợc đạo ấy thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới đƣợc. (Bản dịch tiếng Anh của: Stan Rosenthal)
Nhưng oái oăm thay nhân loại trong đó đặc thù nhất là dân Việt đều đi theo xu hướng tôn thờ biểu tượng.
Cái nôi văn minh của loài ngƣời đƣợc thuyết phục bằng các Huyền thoại và Tôn giáo, hơn là đƣợc ru bằng các “học thuyết” ý thức hệ. (Huyền học -Lão Tử Đạo Đức Kinh)
Tức là dân trí thay vì đáng lẽ phải được học và bồi bổ bằng học thuyết chân chính từ Phật Thích Ca Mâu Ni, Lão tử, thì con người ta lại chạy theo cái tha hóa ra bên ngoài của tôn giáo, nghi lễ, cúng bái, bùa chú… Chúng ta đã không thể có được lịch sử gần ngàn năm từ đời vua Đinh Tiên Hoàng rồi các thời thịnh trị phát triển rực rỡ trong hòa bình cũng như thành công trong bảo vệ tổ quốc trước một nước lớn phương Bắc, nếu các chí sỹ tiền nhân chỉ vướng vào các nghi lễ cúng bái, thờ tự lạy lục các tượng. Thực sự đất Nam Việt đã sản sanh ra rất nhiều minh sư khi Phật giáo còn tu tập bát nhã là chính hài hòa trong nhân sinh quan, vũ trụ quan của Đạo. Sự tha hóa xa rời mất đi cái Đạo bên trong chỉ còn lại Phật giáo tiểu thừa, còn Lão giáo suy đồi như;
Một số hình tƣợng thờ trong chùa và nghi lễ của Phật giáo Bắc Tông nhƣ giải oan, cầu siêu, xin xăm, trừ tà, bùa chú, gọi hồn, v.v. có phần nào kết hợp với lối thờ phƣợng của Lão giáo. Có chùa còn dựng Điện ngay trong khuôn viên mình. (Bản dịch tiếng Anh của: Stan Rosenthal)
Kể từ đó Việt Nam từ từ mất đi cái Đạo, và lịch sử từ thế kỷ XVIII cho đến cận đại dân Việt bị khoác vào cái gông nô lệ của thực dân Pháp, lảm chiến binh nô lệ chém giết lẫn nhau cho các siêu cường. Sự chiến thắng cuối cùng thuộc về chủ nghĩa cộng sản càng làm hưng phấn chủ trương của đường lối bạo động. Tôn thờ tôn giáo Mao ít thưc hành cải cách ruộng đất đánh đổ, trốc cho tận gốc những tư tưởng phong kiến, mê tín xóa bỏ hoàn toàn mọi dấu vết của Đạo
Vũ khí là vật gây lo sợ, ai cũng ghét cho nên ngƣời hiểu đạo không dùng binh khí. Chỉ dùng đến nó khi bất đắc dĩ, khi bảo vệ hòa bình, mà dùng đến thì điềm đạm là hơn cả. Chiến thắng mà vui mừng tức là thích giết ngƣời. Thích giết ngƣời thì không trị đƣợc thiên hạ. Chỗ nào đóng quân thì gai góc mọc đầy. Sau cuộc chinh chiến tất có mất mùa. (LAO TZU’S TAO TE CHING- http://www.advite.com/daoduckinh.htm)
Nghiệm lại sau chiến thắng 1975, thử xét lại xem có phải niềm vui đất nước thống nhất gần như hoàn toàn lu mờ trong thực tế vì sự phô trương của Đảng Cộng sản là đánh đổ hai đế quốc. Số phận hàng triệu triệu người chết trong cuộc chiến gần như không hề bao giờ được đề cập đến trong tất cả sách vở giáo khoa, tài liệu học trong các buổi học chính trị… Chỉ có hình ành tô điểm rực rỡ về chiến thắng và công ơn của Bác và Đảng. Và những năm mất mùa do hạn hán rồi lũ lụt, bệnh dịch… ngay sau những năm 1976-1978 ta thấy học thuyết Đạo Đức Kinh sau 2500 năm vẫn rất chính xác và đúng đắn. Mà đáng lẽ ra người chiến thắng cần phải làm những việc:
Giết hại nhiều ngƣời thì nên lấy lòng thƣơng tiếc mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử. Thắng mà không bức ngƣời, vì vật mạnh thì có lúc suy. Nếu không nhƣ vậy thì là trái Đạo. Trái Đạo thì sớm bị tiêu diệt. (LAO TZU’S TAO TE CHING- http://www.advite.com/daoduckinh.htm)
Thử hòi bao nhiêu cán binh sĩ quan miền Nam của Việt Nam Cộng hòa bị lùa đi cải tạo trong các trại giam tập trung và bị phân biệt
đối xử sau 1975.
Sự trái đạo và vô đạo vẫn tiếp tục tồn tại sau gần 35 năm kết thúc chiến tranh. Sự phân biệt đối xử vẫn tiếp tục theo chính sách ban ơn cho kẻ có công và trừng phạt người có tội. Ngày nay, thực tế hiển nhiên vẫn tiếp diễn cơ cấu ưu tiên gia đình cách mạng. Thực chất là dây chuyền mắt xích kéo theo lý lịch thành phần gia đình tham gia vào các công cuộc kháng chiến, tức là cho những thế hệ sanh sau không dính dáng gì đến cuộc chiến trước đây. Đặc biệt phải cộng thêm yếu tố trọng yếu là, trong gia đình dòng họ vẫn có người còn chân trong bộ máy quyền lực nhà nước (do được cơ cấu trước đó).
Chế độ như vậy sẽ tiếp tục không đứng vững mãi mãi.
Kẻ đứng 1 chân thì không thể đứng đƣợc lâu, kẻ xoạc chân ra thì không thể đi đƣợc, kẻ tự biểu hiện mình thì không bao giờ chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì chẳng khuyên bảo đƣợc ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trƣờng cửu. Thái độ đó đƣợc ví nhƣ đồ ăn thừa, những ung nhọt ai ai cũng ghét. (Bản dịch tiếng Anh của: Stan Rosenthal

Ngày nào chí sỹ Việt Nam chưa trở về với Đạo thì cơ hội phục hưng cũng khó xảy ra nhanh chóng được. Người chí sỹ cần phải hiểu và ứng xử đúng với Đạo trong cái lý vô vi. Vô vi không có nghĩa là khoanh tay không làm gì cả, cứ việc ngồi chớ cho cái ung nhọt thối nát, chết rữa ra thì dân tình phải chịu nhiều khổ ải và đất nước sẽ tan hoang. Kẻ sỹ cần ôn nhớ nằm lòng câu nói của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn:
Lấy chí nhân để thay cƣờng bạo, đem chính nghĩa để thắng hung tàn
Để có chí nhân và chính nghĩa thì phải không bao giờ được xa rời Đạo
Đạo đã có sẵn trong tự nhiên của trời đất và trong mọi hiện tượng đều vận động tuần hoàn trong vũ trụ không ngừng. Kẻ hiểu Đạo là kẻ biết sống thuận theo các quy luật của tự nhiên. Trong phạm vi bài ta không thể đi vào sâu xa để lý giải chứng minh theo kiểu học thuật phương Tây. Các kết luận tuân theo tinh thần của Đạo Đức Kinh đó là
Ngƣời sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, ngƣời bình thƣờng nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, ngƣời tăm tối nghe đạo thì cƣời rộ. Nếu không cƣời thì đạo đâu còn là đạo nữa ? (Bản dịch tiếng Anh của: Stan Rosenthal)
Đã có quá nhiều các sách kinh kệ, lý giải, biện thuyết trong những cố gắng trình bày các học thuyết bài giảng của Phật, Khổng, Chúa Giêsu… Thực tế các Ngài đều giảng dậy loài người chỉ có chung một chân lý duy nhất đó là Đạo, mà Phật thì gọi là Phật tánh, Khỗng tử thì gọi là Trời (Heaven), Chúa Giêsu dậy là ‗The Kingdom of God is within you‘. Nhưng cái chính yếu lời dậy của các Ngài thì gần như bị che phủ hết bởi bao nhiêu kinh kệ, nghi lễ do những tri thức diễn giải, diễn dịch ra, từ đó mới sanh ra các nghi lễ, tế tự, thờ phượng, cúng bái, bùa chú, luyện đơn, kể cả hũ nho…
Càng lý luận chỉ càng sinh ra nhiều rác, thí dụ như cố biện luận ‗chúng ta đã và đang bước vào thời kỳ quá độ‘ chẳng hạn. Cố ôm bám lấy một học thuyết đã bị xào nấu thành một đống rối bòng bong, nhào nặn như thế nào cũng chẳng ra được hình thù gì cả.
Phật có nói ‗kia là trăng, các ngươi theo tay ta chỉ để đến trăng, nhưng ta không phải là trăng‘ là nằm trong cái vi diệu của đại sư vô tri là vậy. Phật Thích Ca đã thấy trước xu hướng thờ lạy bái thần của nhân loại, thần thánh hóa ngay cả đến lãnh tụ vô thần cũng thành thần nốt vì dân đen không thể từ bỏ thói quen thờ lạy.
Kẻ sỹ chỉ có được chí nhân và trở thành chính nhân ngày nào còn ở trong Đạo. Vậy nói cụ thể ra là làm gì? Đó là phải làm cho Đạo được hồi sinh, sống lại trong chính bản thân kẻ sỹ và đi đánh thức Đạo trong lòng mọi người. Đây mới chính thực là hiểu và thực hành tính vô vi của Đạo. Vì đây là Đấu Tranh mà lại không hề Tranh Đấu. Làm mà ‗không làm‘. Trong ngôn ngữ thông thường là Đấu Tranh Bất Bạo Động.
Nhất quyết không được lầm lẫn Đấu Tranh Bất Bạo Động có nghĩa là khoanh tay không làm gì hết, ngay cả ngồi yên bất động đậy cho người đấm đá, chém giết cũng mặc. Kẻ có trí tối thiểu cũng phải biết bỏ chạy chứ đâu có cứ ngồi yên bất bạo động.
Công cuộc Đấu Tranh Bất Bạo Động là cuộc chiến lôi kéo tất cả kẻ sỹ trở về với Đạo. Kẻ sỹ thức Đạo sau đó lôi kéo thức tỉnh người dân trên số đông của toàn dân về lại với Đạo. Đây là chiến thuật
Công cuộc Đấu Tranh Bất Bạo Động không phải là tâm lý chiến mà là cuộc chiến của tâm linh với thanh gươm vũ khí là TRÍ TUỆ Bát nhã. Kẻ không có trí tuệ thì không có trí để chia cho người khác. Đây là chiến lược. Cho nên:
Công cuộc Đấu Tranh Bất Bạo Động là quá trình bồi Đức (đã trình bày ở trên) cụ thể là tu tập Lục Độ Ba La Mật có thể xem thêm chi tiết từ bài viết đăng số trước bài viết về Phật Giáo
Khi dân đã đạt được số nhiều người trong dân chúng thức tỉnh quay về Đạo thì vận mệnh đất nước tức khắc xoay chuyển. Đó là điều chắc chắn và logic.
Đạo Đức Kinh đã chứng tỏ tính đúng đắn, chỉ do bị bỏ quên nên không được người dân Việt biết đến và kế thừa từ tiền nhân. Nguyên Tổng thống Mỹ Reagan trong báo cáo trƣớc Quốc hội đã từng dẫn câu nói của Lão Tử: “Trị đại quốc nhƣợc phanh tiểu tiên” – cai trị một nƣớc lớn có vẻ nhƣ nấu con cá nhỏ. Trong khi phương Tây thì càng ngày càng hiểu hơn và áp dụng Đạo Đức Kinh vào công cuộc phát triển cũng như trong quan hệ giữa các nước trên địa cầu.
Mai Minh
Tham khảo:
Phải nói Đạo Đức Kinh – “Pháp bảo” của người phương Tây (Trần Sơn – Tổng hợp theo tài liệu nước ngoài)
Trần Sơn : Tổng hợp theo tài liệu nước ngoài, việc nghiên cứu Lão Tử ở phương Tây- đăng trên Tuần báo Văn Nghệ, của Hội Nhà văn Việt Nam, số 7, ngày 14/2/2004, trang 12. Link http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=2364 , benbi posted on 30-12-2006
Nguyễn Ước viết về Lão Tử -http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10614&rb=0301
Huyền học -Lão Tử Đạo Đức Kinh 25/12/2008 http://www.giacngo.vn/triethoc/2008/12/25/5B4459/
Bản dịch tiếng Anh của: Stan Rosenthal Đạo Đức Kinh – Lão Tử Theo http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=2364 do VNN posted 11-03-2006
S. Mitchell dịch trong Tao Te Ching http://academic.brooklyn.cuny.edu/core9/phalsall/texts/taote-v3.html
John C.H.Wu http://home.pages.at/onkellotus/TTK/English_Wu_TTK.html

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: