Ktetaichinh’s Blog

December 13, 2009

CÔNG GIÁO – TCPT số 27

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:20 am
Tags:

Tháng Mười 15, 2009 bởi phthnguyen

d

Công giáo tại Việt Nam được bắt đầu từ khi các nhà truyền giáo phương tây đầu tiên đến Việt Nam từ thế kỷ 16 để rao giảng đạo Công giáo, khi ấy còn gọi là Đạo Gia-tô. Trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi lịch sử, cho đến năm 2005, Công Giáo tại Việt Nam hiện có 5 triệu 700 ngàn tín hữu trong tổng số dân 82 triệu, với 3.100 linh mục, 14.400 tu sĩ, 1.249 đại chủng sinh và 53.800 giáo lý viên.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ Công giáo được dùng dể dịch chữ καθολικος, Catholica (Catholique), với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộng đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào. Vì thế cộng đồng hoặc đoàn thể Công giáo Việt Nam còn được gọi là Công đoàn hoặc Cộng đoàn.

Thời kỳ khai sinh (1533-1659)

Cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, Việt Nam bắt đầu giao thương với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp và cả Nhật Bản ở châu Á để trao đổi hàng hóa và vũ khí quân sự. Thời gian này, Công giáo cũng phát động cuộc truyền giáo quy mô lớn đi đến khắp nơi trên thế giới, trong đó có miền Viễn Đông Á châu.
Trong bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục được soạn thảo dưới triều Tự Đức có nói đến chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa (hay đạo Gia-tô, phiên âm từ Giêsu của chữ Hán). Tiếp tục công cuộc truyền giáo của các vị truyền giáo đầu tiên, đã có rất nhiều nhà truyền giáo thuộc nhiều dòng tu và hội thừa sai khác đã đến Việt Nam. Vì thế, nhiều nhà sử học Công giáo Việt Nam đã chọn năm 1533 là năm khởi đầu cho đạo Công giáo tại Việt Nam.

Những nỗ lực truyền giáo đầu tiên thực tế chỉ là những sự dọ dẫm, chuẩn bị cho giai đoạn khai phá chính thức. Giai đoạn này kéo dài từ năm 1615-1665 với các vị thừa sai Dòng Tên, cùng thời điểm, lãnh thổ Việt Nam chị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, lấy sông Gianh làm ranh giới. Phía Nam gọi là Đàng Trong, do các chúa Nguyễn cai quản. Phía Bắc gọi là Đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh nắm quyền.
Năm 1615, linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đến Cửa Bạng, Thanh Hóa. Từ đó phát triển sự nghiệp truyền đạo không những bằng mục vụ thường xuyên, nhưng nhất là bằng cách hoàn thiện việc thành lập chữ quốc ngữ để phổ biến sự truyền bá Đức Tin và tổ chức Nhà Đức Chúa Trời (1629).  Việc truyền đạo được vua chúa Việt Nam cho phép trong một số nơi với nhiều hạn chế của các quan lại địa phương, nên các tín đồ gặp nhiều khó khăn trong việc giữ đạo.

dlinh mục Alexandre de Rhodes

Thời kỳ hình thành (1659-1802)

Ngày 3 tháng 7 năm 1645 linh mục Alexandre de Rhodes rời Việt Nam về Roma để báo cáo cho Tòa Thánh về những tiến triển mau chóng trong việc truyền đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một số giám mục đến truyền giáo tại Việt Nam, nơi mà ông gọi là “cánh đồng truyền giáo phì nhiêu” để củng cố nền móng cho Giáo hội.
Ngày 9 tháng 9, 1659, Giáo hoàng Alexander VII, qua Sắc chỉ Super Cathedram, quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận và chọn hai vị thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris) làm đại diện Tông tòa. Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm Thành, Chân Lạp do Giám mục Pierre Lambert de la Motte cai quản. Giáo phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tỉnh miền Nam Trung Quốc do Giám mục François Pallu cai quản.
Giáo phận lúc này: Giáo phận Đàng Trong và Giáo phận Đàng Ngoài.

Hội Thừa sai Paris có công lớn với giáo hội Việt Nam bằng cách:
•    Đã triệu tập Hội nghị Mục vụ đầu tiên: ngày 14 tháng 2 năm 1670 tại Đình Hiến tỉnh Nam Định, Giám mục Lambert de la Motte đã qui định thể chế nhà Đức Chúa Trời, và thành lập Dòng Mến Thánh giá, các chị em nữ tu là những cộng tác viên rất đắc lực của hàng giáo phẩm trong việc truyền đạo bên cạnh giáo dân, nhất là trong các vùng thôn quê.
•    Đã xây dựng Đại chủng viện Penang (1870) để đào tạo các linh mục bản xứ Á Châu và Việt Nam: các thánh linh mục tử đạo miền Nam đều xuất thân từ đây; và suốt ba thế kỷ đã gắn bó với giáo hội địa phương cho tới sáng ngày 12 tháng 8 năm 1975, ngày mà các vị thừa sai ngoại quốc sau cùng được mời ra khỏi Việt Nam.
Năm 1679 Giáo hoàng Innocenxio XI lại chia giáo phận Đàng Ngoài thành hai, do hai giám mục cai quản. Đồng thời, linh mục Tổng quyền Dòng Anh Em Thuyết Giáo sát nhập các cơ sở truyền giáo của Hội Dòng tại miền Bắc vào Tỉnh dòng Đức Mẹ Mân Côi tại Phi Luật Tân.

Giáo phận lúc này: Giáo phận Đàng Trong, Giáo phận Tây Đàng Ngoài, Giáo phận Đông Đàng Ngoài.
Giám mục Pigneau de Béhaine, quen gọi là Bá Đa Lộc, Đại diện Tông tòa Đàng Trong (1771-1799), đã hết lòng giúp đỡ Nguyễn Phúc Ánh, khi ông đang bị khốn đốn bởi cuộc vây hãm của quân Tây Sơn. Giám mục này đã đưa hoàng tử Nguyễn Phước Cảnh (lúc bấy giờ mới lên 4 tuổi) sang Pháp và vận động người Pháp giúp đỡ tàu chiến, vũ khí để Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn và chúa Trịnh. Tâm định của các vị thừa sai và của giám mục Bá Đa Lộc là muốn cho người Công giáo Việt Nam được an thân giữ đạo và đạo Chúa được mở rộng. Bá Đa Lộc chết ngày 9 tháng 10, 1799 và hoàng tử Cảnh chết năm 1801 làm dập tắt hi vọng của người Công giáo Việt Nam về một thời kì tự do truyền đạo.

Thời kỳ thử thách (1802-1885)

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, triều đại đầu tiên của nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, Huế. Nhớ ơn Bá Đa Lộc, Gia Long cho phép tự do truyền bá đạo Công giáo. Người Công giáo bắt đầu gặp nhiều cuộc cấm đạo kể từ triều vua Minh Mạng. Đặc biệt là Phong trào Văn Thân với khẩu hiệu “Bình Tây sát Tả” vào những năm 1867-1868, 1873-1874 và 1883-1885.
Năm 1844, Giáo hoàng Gregorius XVI chia giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài và Tòa Thánh tiếp tục chia các giáo phận vào những năm 1848, 1850 và 1883.
Các giáo phận lúc này: ở Đàng Trong: Tây Đàng Trong (Sài Gòn), Đông Đàng Trong (Quy Nhơn), Bắc Đàng Trong (Huế), Nam Vang (Cần Thơ). Ở Đàng Ngoài: Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), Nam Đàng Ngoài (Vinh), Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng), Trung Đàng Ngoài (Bùi Chu) và Bắc Đàng Ngoài (Bắc Ninh).

Thời kỳ phát triển (1885-1960) và trưởng thành (1960 đến nay)

Khi triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Thân 1884 với Pháp, công nhận sự đô hộ của Pháp thì Công giáo Việt Nam lúc đó mới thật sự được tự do, công khai hoạt động. Giáo dân tăng nhanh, cơ sở tôn giáo như: nhà thờ, tu viện, tòa giám mục, trường học, viện dưỡng lão, viện cô nhi được xây dựng khắp nơi. Các giáo phận được chia nhỏ lại tổng cộng là 12 giáo phận. Năm 1925, Tòa Thánh lập Toà khâm sứ ở Đông Dương, đặt tại Phủ Cam (Huế).
Sau Cuộc di cư Việt Nam 1954, Công giáo Miền Bắc bị xáo trộn và Công giáo Miền Nam bị thay đổi cấu trúc. Giáo phận Cần Thơ thành lập, tách ra từ giáo phận Nam Vang; giáo phận Nha Trang thành lập, tách ra từ giáo phận Quy Nhơn.
Ngày 24 tháng 11, 1960, giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam với 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Năm 1975, tại Việt Nam có 3 Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài Gòn với 25 giáo phận. Và cho đến năm 2005, Công Giáo tại Việt Nam hiện có 5 triệu 700 ngàn tín hữu trong tổng số dân 82 triệu, với 3.100 linh mục, 14.400 tu sĩ, 1.249 đại chủng sinh và 53.800 giáo lý viên.

Theo vn.wikipedia.org

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: