Ktetaichinh’s Blog

December 13, 2009

Vietnam Dong begins to float more freely

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:58 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – November saw the State Bank of Viet Nam announce a slew of measures in a proactive attempt to ward off possible economic imbalances, according to a fund management company.

The Viet Nam Asset Management Ltd (VAM), which primarily invests in equity and offers advisory services in Viet Nam, said in a monthly market update that the measures included an adjustment of the exchange rate for the dong (November 26) combined with a reduction in the forex trading

band from 5 per cent to 3 per cent.

A 1 per cent base-rate hike to 8 per cent on December 1, and potential mandatory purchases of the greenback from State-owned Enterprises and other exporters are also important moves.

The depreciation signals that the central bank is moving towards a more free-floating currency regime since the new rate should theoretically bring the dollar in line with black market rates, easing demand concerns.

The move would also help ease potential balance of payment issues as the trade deficit in the first 11 months of this year is estimated to be around US$10.3 billion. The interest rate hike is an effort to ease credit growth, which stood at 33 per cent in the year through October, three per cent higher than the Government’s full year target of 30 per cent.

High credit growth and increasing commodity prices pushed year-on-year inflation up from 3 per cent to 4.4 per cent in November, and the Government is likely to be wary of another bout of runaway inflation like last year.

The third measure is expected to help improve dollar liquidity and alleviate forex concerns.

On a positive note, macroeconomic indicators demonstrate Viet Nam is still in a strong recovery phase. Year-to-date retail sales and industrial production growth rates were 7.3 per cent and 18.5 per cent up compared to the same period last year.

Exports improved slightly from – 13.8 per cent year-to-date growth in October to – 11.6 per cent in November though the trade deficit for November is once again estimated to be high at nearly $2 billion. The HCM City stock market was expectedly down for the month finishing at 504.12, or 14.1 per cent below the previous month’s close.

The main reasons for the fall were the Government’s announcement at the beginning of the month it would crack down on the improper use of subsidised bank credit to invest in the equity market and the SBV’s new measures at the month end.

The looming debt crisis in Dubai that has spooked global investors was another factor.

In the current environment, companies with hard currency revenues and a local cost base, such as aquaculture exporters, would do well.

On the other hand, importers and manufacturers with imported inputs would have difficulty maintaining their margin following the dong’s depreciation. Besides, the recent interest rate hike has caused apprehension about further tightening, especially with inflation creeping up.

The targeted 30 per cent cap in credit growth is another concern not only for banks but also for the private sector, which often faces funding problems when there is a tightening.

“We are cautious about companies with high leverage [credit] as they would be the first casualties in a rising interest rate environment,” the report said.

Advertisements

Gold traders face tougher rules

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:52 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – Under new rules being considered by the State Bank of Viet Nam, investors on gold trading floors may be required to operate only through accounts provided by commercial banks in order to ensure proper risk management and payment capacities,according to Nguyen Quang Huy, head of the State Bank’s foreign exchange management department.

Due to recent chaos in the gold market

, Huy told Viet Nam News yesterday that the State Bank was looking at ways to discourage this investment channel.

“If the gold trading floors are still allowed to operate, administrative regulations must be very strict about security deposits, taxes and scale of trading,” Huy said.

Earlier last week, the central bank submitted a proposal to the Prime Minister that gold trading bourses be closed or security deposit requirements increased to 100-per-cent of total net assets from the meagre 3-7 per cent currently required by gold trading floor operators.

Around 20 gold trading floors are operating nationwide, mostly owned and operated by commercial banks, securities companies and large jewellery companies, and there are currently no regulations to govern them.

Nguyen Duc Thai Han, director of Asia Commerical Bank’s gold trading bourse, warned that closing the trading floors would just push investors into illegal or black market trading, or overseas investments, all of which would be even riskier.

If the security deposit rate were substantially increased, it would discourage investments in gold because such capital was usually borrowed, added Vu Tuan Ha, an investor on Sacombank’s gold trading bourse.

“If managed properly, gold can create a high-liquidity investment market and investors can use derivative tools to control risk,” said Han.

Tran Thanh Hai, director of the Viet Nam Gold Investment Joint Stock Co, also said the gold trading floors helped ensure domestic supplies of gold, cut the costs of importing gold, and encouraging organisations holding gold reserves to return some of them to the market, boosting liquidity.

Gold would always remain a risky market, said market expert Tran Quoc Quynh.

Some countries were known to have even limited this kind of investment to institutional investors or other well-financed players, while smaller investors were limited by stricter regulations, Quynh said.

He joined those who were arguing that regulations should allow all investors to participate in the market, as all investors would be limited by the extent of their own capital, as they have been on the foreign exchange market.

Ai lợi ai thiệt khi USD mất giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 pm
Tags:

Không ít người buồn nhưng khá nhiều người vui khi đồng USD giảm giá.

Kể từ năm 2002, đồng đôla đã mất 1/3 giá trị so với các đồng tiền khác. Điều này có vẻ như không tốt, nhất là với nhà xuất khẩu Nhật hay khách du lịch Mỹ, nhưng bù lại, người lao động Mỹ lại hồ hởi vui mừng.

Các chuyên gia đã nói nhiều về những tác động khi đồng đôla mất giá và ảnh hưởng của nó tới lòng tin vào nền kinh tế Mỹ sau hàng thập kỷ thâm hụt tương mại và đống nợ chính phủ khổng lồ.

Tuần trước, khi Tổng thống Obama triệu tập một hội nghị về thất nghiệp, đồng đôla yếu đã thực sự giúp tạo ra việc làm nhờ giúp hàng hóa Mỹ rẻ hơn ở nước ngoài.

“Tôi nghĩ chẳng công cụ nào lại mạnh như làm mất giá đồng đôla,” nhà kinh tế Kenneth S. Rogoff tại ĐH Havard nói. “Đó là một đòn kích thích ngắn hạn tốt. Toàn bộ ngành công nghiệp sẽ hài lòng nếu đồng tiền mất giá dần dần.”

Nhưng nhà xuất khẩu Mỹ chỉ được lợi đến thế. Một số nhà kinh tế nói hành động này đe dọa nền kinh tế trong dài hạn: doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ đồng đôla yếu mà không cần tăng chất lượng sản phẩm hay cải thiện năng suất. Khi đôla phục hồi, họ lại khó khăn.

Đồng đôla xuống giá “có thể làm chậm lại tốc độ phi công nghiệp hóa,” ông Rogoff nói. Mất giá quá mức có thể khởi động vòng xoáy tăng giá rồi tăng lương, tiền đề của lạm phát.

Ai lợi?

Nhà đầu tư: trước đây, cổ phiếu và đôla thường cùng giảm nhưng gần đây chúng lại biến động ngược chiều. Trong khủng hoảng tài chính, cổ phiếu giảm sâu trong khi đôla lại lên giá do đóng vai trò chỗ trú ẩn cho giới đầu tư.

Khi khủng hoảng đã qua, nhà đầu tư dám chấp nhận rủi ro hơn khiến cổ phiếu tăng. Họ cũng mua vào các đồng tiền khác khiến đôla giảm.

Các quốc gia giàu tài nguyên: nhiều hàng hóa cơ bản như dầu mỏ được định giá và thanh toán bằng đồng đôla. Khi đôla mất giá, giá hàng hóa cơ bản tăng. Đợt tăng giá dầu năm ngoái một phần là nhờ đồng đôla yếu.

Kết quả là cả đồng tiền lẫn nền kinh tế của các nước này đều mạnh lên. Tuy vậy một số sản phẩm xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ.

Công nghiệp Hoa Kỳ: Đôla yếu đi, giá hàng hóa của Mỹ ở nước ngoài giảm nên doanh số và lợi nhuận đều tăng.

Tuy giá nguyên liệu thô và năng lượng nhập khẩu cũng tăng nhưng xuất khẩu tăng có thể giúp doanh nghiệp Mỹ cải thiện sản xuất.

Công nghiệp Trung Quốc: đồng Nhân dân tệ Trung Quốc được neo vào đôla, khi đôla mất giá, nó cũng mất giá theo.

Hàng hóa Trung Quốc bán ở nước ngoài đã rẻ nay lại càng rẻ hơn. Kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng rất nóng, số việc làm tăng giúp che bớt bất ổn xã hội.

Ai thiệt?

NHTW Trung Quốc: Trung Quốc dự trữ nhiều đôla nhất thế giới: hơn 1 nghìn tỷ. Giá trị tài sản Trung Quốc nắm giữ cũng giảm mạnh khi đôla mất giá. Trung Quốc cũng có thể bán tháo đôla nhưng hành động đó chỉ làm tự mình lỗ thêm.

Công nghiệp các quốc gia khác: Hàng hóa của Nhật Bản, Châu Âu và các quốc gia khác (trừ Trung Quốc) trở nên đắt đỏ tại Mỹ.

Doanh nghiệp giảm doanh số tại Hoa Kỳ, thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới. Đồng đôla mất giá đặc biệt đe dọa đến ngành xuất khẩu của Nhật.

NHTW các quốc gia khác: Giống như Trung Quốc, dự trữ ngoại hối của họ cũng mất giá trị. Quan chức nhiều nước bóng gió rằng họ có thể bán tháo đôla, nhưng cho đến nay, đó mới chỉ là lời nói suông.

Người lao động Mỹ được mất những gì?

Có nhiều lý do để người lao động Mỹ vui mừng, nhất là khi cả chuyện nhà cửa lẫn tiền bạc đều tốt lên.

Đầu tiên, thị trường nhà đất sẽ ổn định hơn do đồng đôla kém hấp dẫn giới đầu tư trên toàn cầu nên những khoản đầu tư từng khiến thị trường nhà đất Mỹ trở nên bất ổn cũng không còn được ưa chuộng.

Thứ hai, do tình hình làm ăn của doanh nghiệp Mỹ được cải thiện nhờ đồng đôla yếu, thâm hụt thương mại giảm trong khi số việc làm lại tăng lên.

Cuối cùng, người lao động vẫn đủ tiền mua sắm nhờ hàng giá rẻ từ Trung Quốc vì đồng NDT được neo vào đồng đôla nên hàng hóa Trung Quốc vẫn không đắt thêm nếu đôla mất giá.

Tuy vậy, họ cũng không nên quá lạc quan vì không phải phía trước chẳng hề có rủi ro nào.

Thứ nhất, giá năng lượng nhập khẩu tăng đẩy giá thực phẩm tăng theo.

Thứ hai, đồng đôla có thể tiếp tục trượt giá gây áp lực lạm phát và đẩy lãi suất cho vay tăng.

Thứ ba, giá của hàng hóa từ Nhật và Châu Âu tăng cũng như đi du lịch nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:20 pm
Tags: , ,

ĐCSVN) – Ngày 12-12, Hội thảo lý luận lần thứ 5 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khai mạc tại Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Trưởng Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam – Đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có bài phát biểu tại Hội thảo. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Kính thưa đồng chí Lưu Vân Sơn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng Đoàn đại biểu các nhà khoa học Trung Quốc,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Thực hiện chương trình hợp tác nghiên cứu lý luận hàng năm giữa hai Đảng nhằm góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và ngày càng hiệu quả giữa Việt Nam và Trung Quốc, hôm nay tại thành phố Hạ Môn giàu đẹp và mến khách, chúng ta tiến hành Hội thảo lý luận lần thứ V với chủ đề: “Lý luận và thực tiễn về ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu – Kinh nghiệm Trung Quốc, kinh nghiệm Việt Nam”. Thay mặt đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội thảo, tôi nhiệt liệt chào mừng đồng chí Lưu Vân Sơn, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc; các đồng chí lãnh đạo Đảng và các cơ quan hữu quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc; các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền tỉnh Phúc Kiến và thành phố Hạ Môn cùng các nhà khoa học hai Đảng Trung Quốc, Việt Nam có mặt tại cuộc Hội thảo rất quan trọng và có ý nghĩa này. Xin cảm ơn sự chuẩn bị chu đáo và đón tiếp ân cần của các đồng chí dành cho chúng tôi. Chúc tất cả các đồng chí có mặt tại đây dồi dào sức khỏe và chúc Hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Nửa cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát mạnh, với những diễn biến phức tạp. Và ngay từ giữa năm 2009, chúng ta đã thống nhất được chủ đề Hội thảo: “Lý luận và thực tiễn về ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu – Kinh nghiệm Trung Quốc, kinh nghiệm Việt Nam”. Đây là chủ đề lớn vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, không chỉ cho trước mắt mà cho cả lâu dài. Việc đánh giá đúng bản chất của cuộc khủng hoảng; phân tích một cách toàn diện và sâu sắc các giải pháp ứng phó nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để cùng nhau học hỏi và tham khảo sẽ là rất hữu ích cho việc hoàn thiện chiến lược và đường lối phát triển kinh tế – xã hội của mỗi Đảng, cũng như sự hợp tác chặt chẽ và ngày càng hiệu quả giữa hai Đảng, vì mục tiêu hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực và trên thế giới. Có thể khẳng định rằng, chủ đề của Hội thảo là rất quan trọng, thiết thực và thu hút được sự quan tâm đặc biệt của tất cả chúng ta.

1. Về tính chất và nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay

Giới học giả và hoạch định chính sách ở hầu hết các nước trên thế giới đã rất lo ngại về quy mô và tính chất đặc biệt nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này. Nhiều người cho rằng chỉ có thể so sánh cuộc khủng hoảng lần này với cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 – cuộc khủng hoảng được nhấn mạnh như là điểm nút của sự phá huỷ và sáng tạo khi đưa đến sự ra đời của một chủ nghĩa tư bản có điều tiết, sự gia tăng vai trò kinh tế của các nhà nước tư sản. Lần này, cuộc khủng hoảng cũng bắt đầu từ khủng hoảng tài chính – tiền tệ trước hết lại cũng ở Mỹ – trung tâm phát triển nhất của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa; từ đó lan rộng sang các lĩnh vực khác và tác động với cường độ rất mạnh đến các nước. Cuộc khủng hoảng phản ánh sự bất lực của các thể chế kinh tế tân tự do, sự bất cập của mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, nhưng quy mô và tính chất của nó có nhiều điểm khác hẳn so với các cuộc khủng hoảng trước đó.

Thứ nhất, cùng với tiến trình gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế và theo đó, là sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các nền kinh tế, tác động của cuộc khủng hoảng đã mang đặc tính phổ biến, lây lan rộng khắp và không loại trừ bất kỳ quốc gia nào.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trung tâm âm và thấp kéo dài, trong khi các quốc gia ngoại vi, nhất là ở các nền kinh tế đang phát triển – nơi có độ mở thị trường cao, lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu và FDI, đã trở thành những nước bị tác động nặng nề và sâu sắc hơn.

Thứ ba, ở cuộc khủng hoảng lần này, bên cạnh sự diễn ra đồng thời của khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu và khủng hoảng thể chế, còn là sự bùng nổ đồng thời và nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng về năng lượng, nguyên liệu, lương thực và môi trường. Nói cách khác, cuộc khủng hoảng đã không dừng lại ở các khía cạnh kinh tế mà đã và đang lan rộng ra ở các khía cạnh về xã hội và môi trường – 3 trụ cột của mục tiêu phát triển bền vững mà cả thế giới sẽ phải đối mặt trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

Thứ tư, về mặt lý thuyết, trong và sau cuộc khủng hoảng lần này, người ta bắt đầu bàn nhiều đến sự trở lại của Keynes, vì sự bất lực của chủ nghĩa tân tự do, mà về thực chất, là đi tìm cơ sở lý luận cho việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong bối cảnh mới. Nói cách khác, cuộc khủng hoảng này là dấu mốc của cuộc khủng hoảng về lý thuyết điều tiết kinh tế.

Như vậy, rõ ràng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này có nhiều đặc trưng mới, khác với tất cả các cuộc khủng hoảng trước đó, kể cả cuộc đại khủng hoảng 1929-1933. Việc làm rõ những nội dung này chính là nhiệm vụ mới đặt ra cho giới lý luận của hai Đảng chúng ta trong việc cung cấp luận cứ cho xây dựng chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước trong giai đoạn tới. Hội thảo của chúng ta cần giành thời gian thoả đáng để làm rõ các đặc trưng mới này.

Về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế và ở mỗi nước, cho dù có nhiều kiến giải khác nhau, nhưng tựu chung lại, tương đối thống nhất trên các điểm sau đây:

(1) Sự gia tăng các rủi ro quá mức trên thị trường tài chính, nhất là ở chính sách nới lỏng tín dụng dưới chuẩn khá lâu trên thị trường nhà đất cùng với sự bưng bít thông tin, thái độ vô trách nhiệm của các tập đoàn tài chính ở Mỹ.

(2) Sự khiếm khuyết, yếu kém của hệ thống ngân hàng ở Mỹ và các nền kinh tế chủ chốt khiến cho chúng đã không còn tương thích, thiếu thiết chế và mất khả năng kiểm soát đối với hiệu ứng đổ vỡ ở các khâu yếu trong hệ thống tài chính toàn cầu.

(3) Mâu thuẫn gay gắt giữa quá trình toàn cầu hóa nền sản xuất xã hội với quyền năng to lớn, lợi ích vị kỷ, thái độ vô cảm của các tập đoàn tư bản, nhất là các tập đoàn đầu sỏ tài chính mới. Vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, các thế lực này đã bằng mọi giá thúc đẩy tự do hóa tài chính, khuyếch đại tư bản giả và kinh tế ảo, lũng đoạn chính sách kinh tế – xã hội của các quốc gia và hệ lụy là, họ đã mất khả năng kiểm soát đối với các huyệt điểm chết người do chính họ tạo ra; hay như cách khái quát của C.Mác: chủ nghĩa tư bản đã không thể điều khiển được các âm binh do chính chúng triệu lên. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay.

Như vậy, điều hết sức thú vị là, từ cuộc khủng hoảng lần này, chúng ta tự hào và có cơ hội để nhìn lại sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác, bởi lẽ nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, về cơ bản, vẫn không nằm ngoài nguyên nhân mà C.Mác đã từng phát hiện: đó là mâu thuẫn giữa sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trên qui mô toàn cầu với quan hệ sản xuất và các quyền lực tư bản đã tỏ ra thiếu hiệu quả và mất khả năng kiểm soát đối với các hình thức tổ chức kinh doanh do chính các quyền lực đó tạo ra; rằng sự mở rộng quá mức của tự do hoá và các vấn đề toàn cầu đang mâu thuẫn sâu sắc với các thể chế quản trị mang tính quốc gia; rằng sự buông lỏng vai trò và thiếu khả năng kiểm soát của các nhà nước đang làm cho tính vô chính phủ của thị trường lấn át, thậm chí có thể đe doạ đến sự tồn vong của cả hệ thống kinh tế – xã hội. Một số nhà kinh tế nổi tiếng và có cả chính khách phương Tây cho rằng: Việc áp dụng giáo điều, cứng nhắc mô hình kinh tế của chủ nghĩa tự do mới là sai lầm tệ hại và đã đến lúc phải từ bỏ nó. Giáo sư Joseph Stiglitz đã viết: Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trường tự do ở mức mà ngay cả vị tu sĩ cao cấp nhất của trường phái đó là Alan Greenspan giờ cũng phải thừa nhận là Mỹ đã sai lầm nghiêm trọng trong việc chủ tâm xuất khẩu một thứ văn hoá doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội; và cuối cùng Mỹ đã xuất khẩu cả sự suy thoái đi bốn phương. Tổng thống Pháp Niclas Sarkozy tuyên bố: Phải chỉnh đốn lại chủ nghĩa tư bản theo một mô hình khác, bởi hệ thống thị trường tự điều tiết qua rồi, v.v… Dường như các thất bại của thị trường không thể được sửa chữa bằng các năng lực quản trị nhiều bất cập của nhà nước và ngược lại, các thất bại của nhà nước lại không dễ khắc phục khi thị trường đã mang tính chỉnh thể toàn cầu, nhiều tương tác và khó dự đoán. Đây chính là biện chứng của sự phát triển mới mà phương pháp luận của Mác vẫn giữ nguyên giá trị, giúp chúng ta nhận diện một cách tổng thể mối tương tác giữa chu kỳ phát triển với các vấn đề cơ cấu, thể chế diễn ra đồng thời. Chính vào lúc cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra hiện nay, những tư tưởng khoa học của C.Mác lại càng toả sáng với “cường độ” rất mạnh; và ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa phát triển – trung tâm của cuộc khủng hoảng này, nhiều học giả tư sản lại đang “đổ xô” tìm mua và nghiên cứu lại bộ Tư bản của Mác. Việc trở lại và nắm cho thật vững, sâu sắc, đúng đắn những tư tưởng khoa học và nhất là những giá trị về mặt phương pháp luận của Mác lại càng cần thiết hơn bao giờ hết đối với các nhà lý luận mác-xít chân chính.

2. Về phạm vi, mức độ và chiều hướng tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Ngay sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, hầu hết các dự báo trên thế giới đã khá thống nhất khi cho rằng mức độ suy thoái của nền kinh tế toàn cầu là nghiêm trọng, sâu sắc và kéo dài. Nhiều dự báo thậm chí đã tỏ ra bi quan khi nhận định phải mất vài ba năm, nền kinh tế thế giới mới có thể ra khỏi suy thoái. Hiện nay, sau gần một năm nhìn lại, chúng ta đã có đủ điều kiện để suy xét một cách kỹ lưỡng hơn diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng này.

Cho đến quý II/2009, nhiều nền kinh tế đã thoát đáy khủng hoảng và đặc biệt từ cuối quý III/2009, một số nền kinh tế chủ chốt đã có tốc độ tăng trưởng dương khá cao, trong đó đặc biệt đáng chú ý là của nền kinh tế Trung Quốc và Hoa Kỳ. Các nhận định đã khá lạc quan khi cho rằng nền kinh tế thế giới sẽ phục hồi tích cực trong năm 2010 và tốt hơn trong những năm tiếp theo. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn cần phải hết sức quan tâm đến các cảnh báo về tốc độ phục hồi còn chưa vững chắc của nền kinh tế toàn cầu – nhất là về các tiềm ẩn đang đe dọa nền kinh tế của nhiều quốc gia, như nguy cơ lạm phát, thâm hụt ngân sách, khủng hoảng nợ, các xung đột về xã hội và môi trường đang ngày càng bộc lộ sâu sắc ở nhiều nước. Điều đó cho thấy dường như sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu mới chỉ dừng lại ở sự ổn định tạm thời của khu vực tài chính và dựa vào sự tăng mạnh chi tiêu công của các chính phủ và sự khôi phục nhu cầu bên trong của các quốc gia. Hiện tại, nhìn tổng quát, nền kinh tế toàn cầu vẫn đang phải đối mặt với hàng loạt bất ổn lớn: sự phát triển yếu của các khu vực sản xuất; tình trạng cầu xuất, nhập khẩu thế giới còn rất thấp và mỏng manh; dòng FDI tiếp tục giảm xuống dưới 500 tỷ USD trong năm nay so với 1500 tỷ USD vào năm 2007; đồng USD tiếp tục yếu và giá vàng biến động bất thường; nghịch lý của vấn đề giá năng lượng và nguyên liệu tăng trong khi nhiều nền kinh tế của nhiều nước vẫn còn suy thoái… Đây chính là những bằng chứng xác đáng để khẳng định mức độ tác động phức tạp và có thể còn tiếp tục lây lan sâu rộng hơn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này. Kênh tác động rõ nhất là dòng chu chuyển thương mại thế giới với sự giảm sút to lớn của thị trường xuất khẩu và hệ lụy kéo theo là sự thu hẹp sản xuất và thất nghiệp gia tăng mạnh nhất ở các nền kinh tế tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Cũng tương tự như vậy, khi các thị trường chủ chốt, nơi tập trung các nguồn lực đầu tư và công nghệ, chưa ra khỏi suy thoái, dòng đầu tư giảm đồng nghĩa với tình hình bi đát cho khu vực sản xuất ở các quốc gia mà ở đó, FDI là một bộ phận quan trọng của tổng đầu tư xã hội. Và điều đáng lưu ý hơn lại là ở chỗ đằng sau các tình trạng giảm sút về tăng trưởng, đầu tư, thương mại, mất việc làm là sự bất ổn vĩ mô, là nguy cơ tái nghèo, sự gia tăng các xung đột xã hội và đặc biệt là sự mất niềm tin to lớn của cả các nhà đầu tư kinh doanh cũng như của mọi người dân trong xã hội. Đặc biệt, cần nhấn mạnh đến tác động của cuộc khủng hoảng đối với các vấn đề phát triển trung hạn và dài hạn, trong đó đáng chú ý là vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế khi từ cuộc khủng hoảng này, mô hình tăng trưởng của nhiều nền kinh tế quốc gia đã buộc phải đứng trước yêu cầu đổi mới.

Với một nền kinh tế đã hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, thực sự tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu và chuỗi giá trị cung ứng như hai nước chúng ta, chắc chắn sẽ không thể huy động và phân bổ các nguồn lực, lựa chọn các ưu tiên và đột phá phát triển theo kiểu cũ và cách tiếp cận chính sách như cũ. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào các tín hiệu khả quan của sự phục hồi kinh tế toàn cầu để xem nhẹ tác động của cuộc khủng hoảng và ngược lại, cũng không thể quá nhấn mạnh đến tính chưa vững chắc của sự phục hồi để quá bi quan về diễn biến của nền kinh tế toàn cầu. Chúng ta cần tỉnh táo đánh giá đúng mức tính chất và quy mô tác động của cuộc khủng hoảng, cần phải thảo luận sâu sắc hơn vì sao khu vực nền kinh tế thực vẫn yếu và liệu có hay không sự tác động trễ đối với các nền kinh tế đang phát triển đi sau, khi cả hai nước chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mang tính cơ cấu.

Từ cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu lần này, chúng ta phải xem xét lại một cách nghiêm túc, trên tinh thần phê phán khoa học, cả các mô hình thực tiễn và các lý thuyết kinh tế thị trường đã từng được hay đang được sử dụng. Trong quá trình loài người còn phải tiếp tục sử dụng lâu dài kinh tế thị trường, thì không một ai có thể quả quyết rằng sẽ loại trừ được hoàn toàn các cuộc khủng hoảng. Nhưng rõ ràng là các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực, chính phủ và giới kinh doanh ở tất cả các nước đều phải có trách nhiệm quản lý, hoàn thiện kinh tế thị trường theo những phương pháp mới ngày càng khoa học và dân chủ hơn, hướng kinh tế thị trường vào những tiến bộ xã hội ngày càng lành mạnh và nhân văn hơn, làm cho những mong muốn và nhu cầu cơ bản, đa dạng về cả vật chất và tinh thần của các cá nhân, các nhóm xã hội trong toàn bộ các hệ thống xã hội ngày càng phải được đáp ứng tốt hơn.

3. Ứng phó khủng hoảng và bài học đối với Việt Nam

Thuộc nhóm các nền kinh tế đang phát triển đi sau, với quy mô nền kinh tế còn nhỏ, xuất phát điểm thấp nhưng đã hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới trên tất cả các cấp độ, nền kinh tế Việt Nam chịu sự tác động sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Về căn bản, chúng tôi nhận thức đúng tính chất của cuộc khủng hoảng, kịp thời phát hiện các kênh tác động chủ yếu đến nền kinh tế. Do đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam có độ mở thị trường cao (xuất, nhập khẩu trên 150% GDP) và khu vực FDI tuy chỉ chiếm trên 27% tổng đầu tư xã hội nhưng luôn đạt từ 55 – 70% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu nên sau khi khủng hoảng nổ ra, thị trường xuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột, nền kinh tế Việt Nam đã lập tức rơi vào suy giảm, từ mức tăng trưởng trên 7% năm 2008 xuống còn 3,1% vào quý I/2009. Từ cuối năm 2007, kinh tế và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn do lạm phát tăng cao và suy giảm kinh tế; trong năm 2008 và 2009, thiên tai, dịch bệnh lại liên tiếp xảy ra với cường độ và mức độ lớn hơn những năm trước. Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, đẩy mạnh “diễn biến hoà bình”, kích động bạo loạn, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra và gây tác động, tình hình đã trở nên khó khăn hơn cho Việt Nam.

Xuất phát từ các đặc điểm này và trên cơ sở nhận định đúng diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới và khu vực, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ngay lập tức chuyển đổi mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm từ ưu tiên tập trung chống lạm phát sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế, đồng thời coi trọng bảo đảm an sinh xã hội và quan tâm chăm lo cuộc sống của người dân, nhất là cho người nghèo, các đối tượng chính sách và những vùng khó khăn. Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về tình hình kinh tế – xã hội quý I/2009 và các nhiệm vụ, giải pháp đến cuối năm 2009 đã xác định rõ: “Tập trung cao độ mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động phòng ngừa lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị xã hội, trật tự an toàn xã hội, trong đó mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế”. Đây chính là tầm nhìn sáng suốt, sự lãnh đạo kịp thời, sự đề ra những định hướng chính sách hợp lý của Đảng và Nhà nước Việt Nam về một vấn đề cấp bách và ở vào một thời điểm hết sức khó khăn. Với 8 nhóm giải pháp khá toàn diện, đồng bộ và hợp lý trên nguyên tắc mở rộng chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ – tín dụng nới lỏng, tăng cường vai trò giám sát của Nhà nước, củng cố niềm tin và phát huy đồng thuận xã hội, thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ và tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ tối đa hợp tác quốc tế, thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội trong gần hai năm qua của Việt Nam đã khẳng định tính đúng đắn trong chính sách ứng phó của Đảng và Nhà nước Việt Nam với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Việt Nam cùng với Trung Quốc trở thành một trong số ít những nền kinh tế trên thế giới đạt được tốc độ tăng trưởng khá ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn chưa thoát đáy. Và điều đặc biệt hơn, nền kinh tế của chúng tôi đã nhanh chóng phục hồi tích cực với các mức tăng trưởng cao liên tục trong những tháng cuối năm 2009. Nói cách khác, Việt Nam đã thực hiện có kết quả mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý, bền vững và chắc chắn sẽ đạt mức tăng trưởng khoảng trên 5% của cả năm 2009 như Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết luận từ đầu năm. Việt Nam cũng đã giữ được ổn định kinh tế vĩ mô với bội chi ngân sách ở mức 6,9% và với chỉ số giá cả tiêu dùng tăng khoảng 7%, lạm phát vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ. Các mục tiêu về bảo đảm an sinh xã hội, cải cách hành chính tiếp tục có những chuyển biến tích cực, quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội được giữ vững; hợp tác quốc tế tiếp tục được củng cố và nâng lên một tầm cao mới. Có thể nói, Việt Nam đã ra khỏi suy giảm kinh tế trong khi vẫn bảo đảm ổn định chính trị – xã hội là nét đặc trưng quan trọng nhất trong hệ chính sách ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay.

Tại Hội thảo lần này, chúng ta cần đánh giá thật đúng những bài học kinh nghiệm mang tính phổ biến trong ứng phó chính sách chống khủng hoảng trên thế giới và những bài học thành công riêng có của mỗi nước. Bởi lẽ đây sẽ là những gợi mở quan trọng để mỗi nước tiếp tục duy trì chính sách phù hợp và có hiệu quả cho các giai đoạn phát triển tiếp theo. Chúng tôi nhận thấy rằng trong khi thực hiện các gói kích cầu, tuy vẫn là mở rộng chính sách tài khoá và nới lỏng tín dụng, nhưng cách làm ở mỗi nước là không giống nhau. Do diều kiện nguồn lực hạn chế, Việt Nam đã lựa chọn các lĩnh vực đầu tư công hợp lý vào xây dựng kết cấu hạ tầng như: giao thông, nhà ở; chú trọng phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn còn nhiều dư địa để mở rộng nhu cầu trong nước. Đặc biệt, để tạo lập niềm tin và giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp và người dân, chúng tôi đã áp dụng chính sách hỗ trợ lãi suất 4% trong năm 2009 với một lượng vốn tín dụng cần thiết. Và còn nhiều biện pháp khác như điều hành tỷ giá linh hoạt, nâng cao khả năng thanh khoản và lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, hỗ trợ thu nhập cho các tầng lớp nhân dân dễ tổn thương, nhất là đối với các hộ nghèo và đồng bào các dân tộc thiểu số…

Đến giờ phút này, có thể nói rằng các giải pháp chính sách ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu ở Việt Nam đã thành công. Phân tích, đánh giá các kết quả này, chúng tôi rút ra được một số bài học sau đây:

Một là, phải nhận thức sát, đúng, kịp thời diễn biến của cuộc khủng hoảng; việc đề xuất các giải pháp phải linh hoạt và phù hợp với tình hình đã thay đổi, nghĩa là phải có sự điều chỉnh chính sách nhanh và hợp lý để đạt được mục tiêu đề ra và không phải đối mặt với các hiệu ứng phụ.

Hai là, phát huy cao độ ưu thế của chế độ XHCN, của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tập trung được nguồn lực và sự đồng thuận xã hội để khắc phục khủng hoảng. Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời; Chính phủ quyết liệt trong điều hành và giảm sát thực thi chính sách; khu vực đầu tư công đột phá mạnh để tạo cầu nhằm bù đắp các thiếu hụt tăng trưởng do giảm sút xuất khẩu và FDI; cả hệ thống chính trị tham gia vào việc khắc phục suy giảm, từ công tác tuyên truyền chính sách đến tổ chức triển khai, giám sát thực hiện và đồng hành chia sẻ khó khăn của đất nước. Rõ ràng chế độ XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đã tỏ rõ sức sống to lớn khi đã ứng phó thành công với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Trong khi thế giới đang trở lại bàn thảo nhiều đến vấn đề gia tăng vai trò điều hành và giám sát của nhà nước thì đối với chúng ta, đây đã và luôn là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đây cũng là điểm tương đồng rất đặc trưng giữa hai Đảng chúng ta. Tôi đề nghị Hội thảo chúng ta cần phân tích một cách đầy đủ và sâu sắc bài học này.

Ba là, chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến điều kiện cụ thể của đất nước khi đưa ra các chính sách ứng phó với cuộc khủng hoảng. Hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh là hợp lý nhưng khi nền kinh tế đã ra khỏi suy giảm, chúng tôi sẽ chấm dứt áp dụng chính sách này vào cuối năm 2009 để ngăn ngừa khả năng tái lạm phát.

Bốn là, tiếp cận chính sách ứng phó khủng hoảng phải đứng trên quan điểm phát triển bền vững, không chỉ chú trọng ổn định vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, mà còn phải luôn quan tâm đến các vấn đề xã hội và môi trường. Đây là các trụ cột chủ yếu để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các giải pháp ứng cứu ngắn hạn với các giải pháp phát triển trung và dài hạn. Nghĩa là, trong khi chống suy giảm kinh tế phải kết hợp với các giải pháp về tái cấu trúc nền kinh tế, hướng tới một mô hình tăng trưởng mới dựa trên lợi thế so sánh động, có khả năng tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu để có điều kiện bứt phá phát triển ngay sau khi nền kinh tế thế giới đã ra khỏi khủng hoảng. Chúng tôi lại càng thấm nhuần sâu sắc hơn và kiên trì tổ chức thực hiện những quan điểm cơ bản đã được đúc kết trong gần 25 năm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Tất cả do nhân dân, vì nhân dân, vì mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; phải nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; gắn kết hài hoà, hợp lý các chính sách kinh tế với các chính sách xã hội…

4. Những vấn đề đặt ra và yêu cầu thúc đẩy hợp tác Việt Nam – Trung Quốc trong nghiên cứu lý luận

Cho đến nay, hầu hết các nền kinh tế thế giới đã ra khỏi suy thoái. Tốc độ tăng trưởng của nhiều nền kinh tế đã ở mức cao và theo chiều hướng đi lên, thương mại thế giới đã bắt đầu khởi sắc, đầu tư nước ngoài đã bắt đầu nhịp mới, giá cả thế giới đã tăng trở lại, nghĩa là cầu thế giới và theo đó, nền sản xuất thế giới đã bắt đầu được khôi phục. Tuy nhiên, nhiều dự báo vẫn còn rất e ngại về tính bất ổn và thiếu vững chắc của chiều hướng phục hồi hiện nay. Nền kinh tế Mỹ đã đạt tốc độ tăng trưởng 3,5% trong quý III/2009 nhưng tình hình thất nghiệp vẫn chưa dừng lại, đồng USD tiếp tục suy yếu và tình trạng phá sản của các tập đoàn, công ty vẫn chưa đi đến hồi kết. Vấn đề đặt ra là điều gì sẽ diễn ra khi các nước đã đổ ra hàng nghìn tỷ USD cho kích cầu nội địa để chặn đà suy giảm? Có một điều hết sức rõ ràng là hầu hết các đánh giá đều thống nhất rằng trong năm 2010 và những năm sắp tới, thế giới sẽ phải đối mặt với các vấn đề sau đây:

Một là, do bơm tiền mạnh vào nền kinh tế thông qua các gói kích cầu, nguy cơ lạm phát trên thế giới là không thể xem nhẹ. Cho dù năm 2009, vấn đề lạm phát vẫn nằm trong vòng kiểm soát nhưng sang năm 2010, khi các nền kinh tế vẫn cần và tiếp tục được kích cầu, chắc chắn đây sẽ là nguyên nhân cơ bản tiềm ẩn nguy cơ lạm phát. Nếu các nền kinh tế không đạt được mức tăng trưởng cao, rất có thể có nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng vừa đình trệ, vừa lạm phát diễn ra đồng thời. Theo chúng tôi, đây là vấn đề hết sức nan giải không thể xem thường.

Hai là, đồng thời với nguy cơ lạm phát là nguy cơ gia tăng thâm hụt ngân sách. Để huy động tài chính cho các gói kích thích kinh tế trong điều kiện nguồn lực có hạn, các chính phủ sẽ phải vay nợ dưới nhiều hình thức. Người ta cũng đang cảnh báo đến nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ trên thế giới mà nước Mỹ được coi là địa chỉ đầu tiên có thể xảy ra cuộc khủng hoảng này.

Ba là, bằng mở rộng kích cầu nội địa, liệu có hay không sự trở lại của khuynh hướng bảo hộ mậu dịch và điều này sẽ ảnh hưởng thế nào đến tiến trình tự do hoá dưới tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế ? Nhiều nền kinh tế tăng trưởng hiện nay chủ yếu dựa trên tăng đầu tư công, sự tăng trưởng này phải chăng là chưa hiệu quả và thiếu bền vững?

Bốn là, do thiếu hiệu quả trong hoạt động giám sát, sự lệch hướng của các dòng tiền kích cầu đang đưa đến nhiều mối lo ngại về các bong bóng bất động sản và chứng khoán. Sự thực là nhiều nền kinh tế đã phải đối mặt với các nguy cơ này. Tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn khi các chính phủ vẫn tiếp tục kích cầu, trong khi trên thực tế các giải pháp để ngăn chặn các hệ lụy này vẫn tỏ ra thiếu hiệu quả. Cùng với các nguy cơ về lạm phát, thâm hụt ngân sách, khủng hoảng nợ, biến động giá cả thế giới bất thường, thách thức về ổn định vĩ mô ở các nền kinh tế là rất đáng kể.

Năm là, khủng hoảng được coi là cơ hội để các quốc gia tái cấu trúc nền kinh tế, song tái cấu trúc kinh tế theo hướng nào lại là điều không dễ dàng vì trong điều kiện hiện nay, việc tái cấu trúc nền kinh tế trên định hướng phát triển bền vững đã không còn là vấn đề kinh tế thuần tuý. Việc nhận diện tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng, sự tương tác của các nhân tố an ninh phi truyền thống và cục diện mới của trật tự chính trị – an ninh toàn cầu, của vấn đề phát triển con người và các xung đột xã hội, là những thành tố cần thiết và quan trọng để thiết lập một cơ cấu kinh tế dựa trên công nghệ xanh và giá trị gia tăng cao, bảo đảm hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và thân thiện với môi trường trên quan điểm phát triển bền vững. Điều đó cũng có nghĩa là, trong giai đoạn tới, việc tiếp tục khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu phải được kết hợp chặt chẽ, đồng thời với việc chuẩn bị các điều kiện mang tính nền tảng cho yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế trên quan điểm tư duy mới về phát triển.

Chúng tôi quán triệt sâu sắc các vấn đề chung, phổ quát đặt ra cho thế giới, đồng thời chú trọng các vấn đề riêng có của mình. Mặc dù các vấn đề về thâm hụt ngân sách, lạm phát, nợ Chính phủ vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát, song chúng tôi không xem nhẹ, mà tiếp tục phân tích và có những dự báo chuẩn xác về những nguy cơ đang tiềm ẩn trong nền kinh tế. Trong bối cảnh phức tạp, khó lường của nền kinh tế thế giới và các vấn đề bên trong, chúng tôi càng phải nhấn mạnh hơn các vấn đề an sinh xã hội và chính sách hỗ trợ đối với các tầng lớp dễ tổn thương. Chúng tôi chú trọng mục tiêu xã hội trong nội dung tái cấu trúc nền kinh tế vì nếu không quan tâm đến giải quyết việc làm, thu nhập và khắc phục đói nghèo cũng như ngăn chặn các vấn nạn xã hội thường gia tăng trong những thời khắc khó khăn của nền kinh tế – xã hội, cái giá của sự tăng trưởng thiếu chất lượng và bền vững sẽ là không hề nhỏ. Những người làm công tác nghiên cứu lý luận chúng tôi cần phải có nhận thức sâu sắc và đề ra các giải pháp khoa học và hợp lý cho các tình thế phát triển đã hoàn toàn thay đổi sau cuộc khủng hoảng.

Nhận thức rõ những vấn đề lớn đang đặt ra, trong năm 2010 và những năm tiếp theo, Đảng và Nhà nước Việt Nam sẽ tập trung thực hiện 6 nhóm giải pháp lớn sau đây:

Một là, thúc đẩy đầu tư, phát triển mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện từng bước vững chắc việc tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trên quan điểm phát triển bền vững.

Hai là, đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.

Ba là, tiếp tục thực hiện các biện pháp điều hành linh hoạt, thận trọng chính sách tài chính, tiền tệ để ổn định vĩ mô, ngăn ngừa lạm phát, phục vụ mục tiêu tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.

Bốn là, tăng cường các giải pháp, chính sách để tạo thêm việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống nhân dân.

Năm là, đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Sáu là, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, công tác thông tin tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ đối ngoại, thông tin với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Chắc chắn tại Hội thảo này chúng tôi cũng sẽ được nghe các giải pháp ứng phó chính sách hiện tại và trong tương lai của các đồng chí. Rất mong chúng ta sẽ có nhiều câu hỏi, nhiều bình luận và thảo luận nhằm đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện đường lối, chính sách phát triển của mỗi Đảng, mỗi nước cũng như trong thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc.

Việt Nam đánh giá cao thành công của các đồng chí Trung Quốc trong chính sách ứng với phó cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Trung Quốc hiện được coi như là niềm hy vọng giúp cho nền kinh tế thế giới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và thực tế là các đồng chí đã thể hiện được ưu thế độc đáo của mình và đã giành được nhiều thành công to lớn. Xuất phát từ nhiều điểm tương đồng giữa hai nước chúng ta, bài học kinh nghiệm của các đồng chí sẽ gợi mở nhiều điều cho chúng tôi trong hoạch định chính sách phát triển của mình cũng như trong thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước. Trên tinh thần anh em, cởi mở, tin cậy, thẳng thắn học hỏi và trao đổi lẫn nhau, tôi tin tưởng chắc chắn rằng Hội thảo lý luận lần thứ 5 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ thành công tốt đẹp, góp phần làm giàu kho tàng kinh nghiệm của chúng ta và tăng cường quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc.

Xin trân trọng cảm ơn./.

Central bank to purchase dollar reserves from state corporations

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:12 pm
Tags: , ,

VNBusinessNews.com – Vietnam’s seven largest state-owned corporations had made dollar deposits of about US$1.9 billion in local banks as of the end of November, and the central bank aims to purchase these, an official said.

Of the total figure, term deposits were recorded at around $1.2 billion while the remaining was in demand deposits, local news website VietNamNet quoted Nguyen Quang Huy, head of the central bank’s Foreign Exchange Management Department, as saying Thursday.

Huy said the State Bank of Vietnam would discuss with corporations the purchase their dollar reserves to make sure it is done effectively. He said the central bank would ensure they have enough dollars to meet their needs.

The government had recently asked state-owned corporations to sell their US dollars to ease a shortage of the currency. State Bank Governor Nguyen Van Giau said late last month that local companies, mostly state owned corporations, hold about $10.3 billion in US dollars.

Vietnam’s foreign exchange reserves fell in August to about $16.5 billion from $23 billion at the end of 2008, World Bank data showed in November.

Dong deposits attract more interest with key rate hike

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:00 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – Local banks have increased interest rates on dong deposits to attract funds following the central bank’s move to raise the base rate.

Soon after the benchmark rate was raised from 7 to 8 percent effective this month, commercial banks lifted up their dong deposit rates by 0.7-1.3 percentage points to more than 10.5 percent per year, the State Bank

of Vietnam said in a weekly review.

But the maximum rate was later adjusted down to 10.49 percent, the highest rate possible allowed by the central bank.

Vietnam became the first Asian economy to increase borrowing cost when it raised the benchmark rate. The new cap is 12 percent for lending and 10.5 percent for deposits.

Before the central bank’s move, lenders had said they were finding it difficult to attract funds despite offering up to 10.3 percent a year on deposits. They said they could hardly hike the rate further as the margin between lending and deposit rates was dangerously narrow.

In a positive sign, liquidity at lenders has improved after the key rate hike, the central bank said. One week after the move, total deposits in the banking system surged two percent from the figure at the end of November, extending this year’s growth to 27 percent.

Best option

Cao Sy Kiem, a member of the National Financial and Monetary Policy Advisory Council, told Tuoi Tre newspaper considering all movements in the monetary market, making dong deposits is the best investment option now.

Local banks used to offer higher rates on deposits with longer terms, but it is no longer the case. Viet A Bank and Eximbank, for instance, both set rates on three-month deposits higher than all other terms.

Pham Duy Hung, general director of Ho Chi Minh City-based Viet A Bank, said as most customers favor short term deposits between one and three months for their flexibility, banks have to raise rates on these terms.

Ho Huu Hanh, director of the central bank’s branch in Ho Chi Minh City, said deposit rates would not go up much from now as more expensive funds would create a cost pressure on banks.

With the maximum rate already applied to some term deposits, banks in fact have limited room to raise their rates.

The State Bank of Vietnam said in a statement on December 2 that it would inspect local lenders that offer dong deposit rates of 10.5 percent and higher. Commercial banks will have to cap their deposit rates at less than 10.5 percent to “create stability in the interest rate levels,” the bank said.

Le Xuan Nghia, vice chairman of the National Financial Supervision Commission, said interest rates in Vietnam would remain quite stable through at least the first quarter next year as the central bank would make strong interventions in both interest rates and foreign exchange rates.

Forex market

Liquidity in the foreign currency market has also “improved noticeably,” the central bank said in the weekly review.

It had said earlier this month it would sell US dollars to commercial lenders with foreign-currency deficits of more than 5 percent to help stabilize the market.

“Many companies have started selling foreign currency to the banking system,” it said.

Do Duy Thai, chairman of Viet Steel Group, said his company was able to buy dollars from banks at official rates now. It was unable to do so last month.

Vietnam’s central bank has been struggling to ease a dollar shortage that has extended the gap between official and black-market exchange rates. Policy makers have devalued the reference rate for trading and narrowed the daily trading band for the dong against the US dollar.

The dong traded at 19,600 a dollar on the black market as of Thursday morning, compared with the 19,890 on November 24.

The central bank last week requested the police to pay more attention to illegal activities on the currency market and impose strict penalties against violators.

Những nét nổi bật của TTCK Việt Nam một năm qua

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:54 pm
Tags:
Chủ nhật, 13/12/2009, 17:33 GMT+7
(ATPvietnam.com) – Theo báo cáo của CTCP Chứng khoán Phố Wall (WSS), mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng TTCK thế giới nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng trong năm vừa qua đã nhanh chóng tăng trưởng trở lại theo đà phục hồi kinh tế.

Ảnh: Biến động chỉ số VN-Index từ đầu năm 2009 (Nguồn WSS)

Tại Việt Nam, chỉ số VN-Index xác lập được những đỉnh cao trên 600 trong năm từ mốc thấp nhất 235 điểm tại thời điểm cuối tháng 2/2009. Để có được những thành tựu trên, ngoài sự phản ánh sự hồi phục của nền kinh tế trong nước, tác động của TTCK thế giới và chính sách điều tiết thị trường của chính phủ, thì sự tích cực tham gia của các thành viên trên thị trường cũng đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển bền vững của TTCK.

Sự phát triển về mặt quy mô thị trường

Ngay trong thời điểm đầu năm, rất nhiều chuyên gia đều năm 2009 được dự báo vẫn tiếp tục là thời kỳ cực kỳ khó khăn đối với thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam khi mà đà suy thoái kinh tế thế giới cũng như khủng hoảng thị trường tài chính tiền tệ chưa có dấu hiệu chấm dứt nhưng trên thực tế, thị trường này chỉ giảm sâu đến hết quý 1/2009 và quay trở lại hồi phục trong quý 2/2009 khi những tia sáng về sự hồi phục của nền kinh tế xuất hiện.

Theo WSS, từ cuối tháng 3/2009 đến thời điểm hiện nay (tháng 11/2009) thị trường đã đạt được sự tăng trưởng đáng kinh ngạc và có những thành tựu nhất định. Tính đến tháng 11/2009, đã có 430 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội trong đó tại sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh là 184 loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội là 226.

Tổng giá trị vốn hóa thi trường niêm yết tại hai sàn lên tới hơn 669 nghìn tỷ đồng (39 tỷ USD), tương đương 55% GDP của năm 2008. Mức vốn hoá này đã tăng gần gấp 3 lần so với thời điểm cuối năm 2008 (225 nghìn tỷ đồng).

Các thành viên tham gia thị trường tích cực hơn

Hiện thị trường đã có 105 công ty chứng khoán, 46 công ty quản lý quỹ, 382 quỹ đầu tư nước ngoài, 8 ngân hàng lưu ký. Số lượng công ty chứng khoán đi vào hoạt động tăng không nhiều so với thời điểm đầu năm (đầu năm 2009 số lượng công ty chứng khoán là 102 công ty) do tình hình thị trường chứng khoán trong năm 2009 suy giảm sâu. Tuy nhiên, số lượng công ty chứng khoán hiện nay cũng đã tăng hơn 50% so với thời điểm cuối năm 2006.

Số lượng tài khoản giao dịch đã có sự tăng trưởng đáng kể.

Đến hết tháng 11/2009, số lượng tài khoản giao dịch đạt khoảng 730 nghìn tài khoản trong đó số lượng tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài là 13 nghìn tài khoản, chiếm khoảng 2%, tăng gấp hơn 2 lần so với thời điểm cuối năm 2007 và gấp hơn 7 lần so với cuối năm 2006, tăng 41% so với thời điểm đầu năm 2009. Tổng giá trị giao dịch trên cả 2 sàn đến hết tháng 10/2009 là 490 nghìn tỷ (sàn HoSe là 329 nghìn tỷ và sàn HNX là 161 nghìn tỉ) tăng gấp 2.7 lần so với tổng giá trị giao dịch của năm 2008 và gấp 1.75 lần so với cả năm 2007.

Năm 2010 là năm bản lề cuối cùng cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010, đồng thời nhu cầu của các doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất chuẩn bị cho một đà tăng trưởng mới sau khủng hoảng sẽ tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán có cơ hội phát triển mạnh và trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế.

Đức Tuấn

Phân tích tình thế thị trường những ngày cuối năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:53 pm
Tags:
Chủ nhật, 13/12/2009, 17:16 GMT+7
(ATPvietnam.com) – Bất chấp sắc xanh phủ ngập trên các bảng điện tử của TTCK thế giới, TTCK Việt Nam lấy gam màu đỏ làm nốt nhạc chủ đạo cho mình để duy trì sự khác biệt tạo nên bản sắc riêng.

Ảnh: ATPvietnam.

Thị trường điều chỉnh mạnh với hơn 100 mã giảm sàn/phiên khi Vn-Index lần lượt xuyên thủng các ngưỡng hỗ trợ vào đầu tháng 12. So với đỉnh tháng 10, VN-Index đã giảm 35%. Cổ phiếu bất kể tốt hay xấu đều được giao dịch ở các mức giá sàn và gần sàn.

Một tuần giao dịch kém của TTCK Việt Nam. Một vài nỗ lực bắt đáy cũng không chặn được đà giảm điểm của TTCK. Có lẽ lúc này câu hỏi đáy ở đâu sẽ không còn trong ý nghĩ của các NĐT nữa.

Dường như đã có một sự buông xuôi. Số lượng NĐT tới sàn cũng thưa thớt hẳn. Các cổ phiếu dù đã giảm về mức giá rất hấp dẫn nhưng không có sức cầu. Một số cổ phiếu thì bị giảm sàn một cách gượng ép (Khối lượng đặt bán dù rất ít nhưng vẫn đóng cửa ở mức giá sàn).

Câu chuyện về thị trường lúc này đối với các NĐT là thị trường sẽ rớt về 300 điểm hay 235 điểm là câu chuyện phổ biến trên các sàn giao dịch. Một số khác cố gắng lạc quan hơn về mốc 400 điểm của thị trường. Dòng tiền lớn vẫn thờ ơ đứng ngoài thị trường trong suốt những phiên giao dịch vừa qua.

Thị trường dường như đang lập lại kịch bản của những ngày cuối năm 2008, khi mà chỉ số VN-Index tiếp tục hành trình tìm những mốc đáy mới thấp hơn với nhưng sự hỗ trợ yếu ớt từ sức cầu của một nhóm NĐT ra sức bình quân giá vốn và tiếp tục dò đáy thị trường.

Theo nhìn nhận của CTCP Chứng khoán Vincom, có nhiều lý do để giải thích điều này:

Thứ nhất, Các NĐT lớn lo ngại về kinh tế vĩ mô của Việt Nam và họ ngần ngại trong việc giải ngân.

Thứ hai, Đây là thời điểm cuối năm, thời điểm mà nhiều khối tự doanh của các CTCK, tổ chức tài chính nội sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ sau một năm dài tăng trưởng đã không có nhiều động lực tham gia giải ngân vào giai đoạn này, trừ các tổ chức ngoại tham gia và mua bán theo các mục tiêu đã định sẵn.

Thứ ba, Các NĐT nhỏ dường như đã hết tiền sau giai đoạn sụt giảm vừa qua. Số còn tiền thì cũng rút ra gửi vào hệ thống ngân hàng để hưởng tiết kiệm với mức lãi suất đã lên tới 10,49%.

Kinh tế vĩ mô năm 2010 – Hướng tới sự ngăn chặn các nguy cơ tiềm ẩn

Những yếu tố gây mất cân đối vĩ mô trong thời gian qua được nói tới nhiều là tỷ lệ nhập siêu, sự phá giá của tiền đồng và nguy cơ lạm phát trong những năm tiếp theo do sự mở rộng của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá thong qua gói kích thích tăng trưởng kinh tế trong năm 2009.

Thứ nhất, Tỷ lệ nhập siêu ở Việt Nam bắt đầu có xu hướng gia tăng trong những tháng gần đây bắt đầu với sự phục hồi của nền kinh tế. Điều này làm gia tăng áp lực cầu với USD trong những tháng gần đây, cùng với đó là tâm lý chuộng vàng và đô la khi người dân đánh mất niềm tin vào tiền đồng đã làm cho tình trang khan hiếm ngoại tệ trở lên trầm trọng.

Thứ hai, Gói kích thích kinh tế của chính phủ đã phát huy hiệu quả rất tích cực giúp nền kinh tế Việt Nam phục hồi trở lại nhất là đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có khả năng tăng trưởng xuất khẩu âm kể từ khi Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế nếu trừ đi giá trị xuất khẩu vàng trong những tháng đầu năm. Nhưng gói kích thích này cũng để lại những hậu quả tiêu cực khi mà sự chi tiêu của chính phủ phình to ra nhưng tổng thu lại không thể tăng tương ứng dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách tới mức đáng báo động lên tới 9-10%/GDP.

Thứ ba, Tốc độ tăng trưởng tín dụng nội địa theo một số nguồn tin không chính thức đã lên tới 40% trong năm nay. Điều này tạo ra nguy cơ lạm phát sang năm 2010. Và qua đó có thể gây lên tình trạng bất ổn định kinh tế vĩ mô như năm 2008 nếu chính phủ lại một lần nữa mất khả năng kiểm soát tốc độ tăng trưởng của lạm phát.

Với những tín hiệu phát đi vào những tháng cuối năm 2009, chính phủ đã phát đi những tín hiệu rõ ràng trong việc thực thi chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá thắt chặt trong năm tới nhằm thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế, tài chính mà quốc hội đề ra năm 2010. Chính phủ đã chuyển từ mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá sang mục tiêu ổn định các yếu tố làm mất cân đối nền kinh tế vĩ mô nhằm duy trì sự tăng trưởng trong dài hạn. Nhiều khả năng, chính phủ sẽ thực hiện quyết liệt giải pháp kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng nội địa trong năm 2010 và khả năng sẽ cố gắng đưa tốc độ tăng trưởng tín dụng nội địa năm 2010 về mốc 25%.

Ngoài ra có thể thấy kế hoạch ngân sách năm 2010 của chính phủ mặc đã có sự điều chỉnh lớn so với năm 2009 mặc dù vẫn tương đối mở rộng. Mức thâm hụt ngân sách được quốc hội phê duyệt năm 2010 là không vượt quá 6,2% GDP. Đây là những biện pháp cần thiết của chính phủ nhằm duy trì sự ổn định của nền kinh tế trong năm 2010. Hai chính sách vừa mới ban hành cuối tháng 11 đã phần nào hạ bớt sự căng thẳng của thị trường ngoại hối và giảm bớt tốc độ tăng trưởng tín dụng trong hai tháng còn lại của năm 2010.

Mặc dù hiện tại sự thiếu thanh khoản tiền đồng trong hệ thống ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục căng thẳng trong thời gian gần đây nhưng chúng tôi cho rằng NHNN có khả năng sẽ tăng lãi suất cơ bản lên mức 9% vào mùa xuân. Qua đó có thể giúp cải thiện tình hình trên. Việc tăng lãi suất cơ bản có thể làm gia tăng chi phí lãi vaycủa các doanh nghiệp. Nhưng chỉ cần tỷ lệ này thấp hơn mức 15%/1năm thì đó vẫn là con số chấp nhận được với các doanh nghiệp và qua đó có thể loại bớt các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả ra khỏi nền kinh tế.

Thời kỳ tăng trưởng nhờ chi phí nguyên vật liệu và chi phí sử dụng vốn thấp đã qua và sự phát triển lúc này là sự tăng trưởng nhờ sự tăng doanh số bán hàng (cả doanh thu và chi phí đều tăng lên nhưng tốc độ tăng trưởng chi phí thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng doanh thu).

TTCK Việt Nam – Phòng tuyến thủ cuối cùng theo mô hình TTCK Nhật bản – Hy vọng cuối cùng cho các nhà đầu tư Việt Nam.

TTCK Nhật Bản sau khi đạt mốc đỉnh ở mức 10.766 điểm vào ngày 30/08/2009 cũng đã bước vào chu kỳ điều chỉnh rất mạnh bất chấp sắc xanh của TTCK thế giới lúc đó. Thời điểm đó các NĐT đã dấy lên mối lo ngại nền kinh tế Nhật bước vào chu kỳ giảm phát. Trên đồ thị phân tích kỹ thuật thị trường chỉ số NIKK 225 đã đi xuống cả dưới đường MA (200) ngày và báo hiệu một sự suy thoái kéo dài.

Đúng vào lúc tuyệt vọng nhất thì thị trường bất ngờ bật dậy và tăng mạnh mẽ tới thời điểm hiện tại. Điểm đặc biệt là tại thời điểm đó NIKK 225 cũng rớt về đúng vùng đáy tại thời điểm điều chính tháng 6 trước đó. Trên đồ thị có thể thấy rằng thị trường cũng có một đợt ‘‘Bull trap’’ thứ 2 rồi đi ngang và tiếp tục rơi về mốc 9.000 điểm.

Quan sát trên đồ thị phân tích kỹ thuật VincomSC thấy một điều tương tự đang xảy ra với TTCK Việt Nam. Nếu vậy mốc 410 có lẽ là tuyến phòng thủ cuối cùng của thị trường trong tuần tới mà các nhà đầu tư có thể đặt hy vọng vào sự tăng giá trở lại của thị trường đê không phải chứng khiến sự suy thoái kéo dài như những tháng đầu năm 2009.

Đức Tuấn

Quyền miễn trừ?!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:52 pm
Tags: , ,

“Sau 10 năm được thực hiện, Luật Báo chí hiện hành đã phát sinh nhiều lạc hậu, không còn phù hợp với xu hướng phát triển. Vì vậy, sửa đổi Luật Báo chí là vô cùng cần thiết”. Ông Hoàng Hữu Lượng, Cục trưởng Cục Báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT), nhấn mạnh tại hội thảo Đánh giá thực hiện Luật Báo chí hiện hành và những kiến nghị, đề xuất cần sửa đổi, bổ sung tổ chức tại Thừa Thiên-Huế ngày 12-12.

Đáng lưu ý, dự kiến trong lần sửa đổi này, luật sẽ cho phép những tập đoàn kinh tế lớn có trên 50% vốn nhà nước có thể trở thành chủ quản báo chí.

Hiểu sai quy chế phát ngôn

Vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là thực trạng báo chí đang rất khó tiếp cận thông tin. Thứ trưởng Bộ TTTT Đỗ Quý Doãn cho biết: “Luật Báo chí nêu rõ tổng biên tập có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân trả lời những vấn đề báo chí nêu. Thực tế việc thực thi điều này lại rất hạn chế. Vì vậy mới phải ra quy chế người phát ngôn để tạo điều kiện cho báo chí nhưng nhiều cơ quan lại lợi dụng điều này”.

“Hiện có nhiều thông tin công chúng rất quan tâm và cần được công khai. Tuy nhiên, khi phóng viên đến tìm hiểu thông tin thì những người đứng đầu lại cứ khất lần. Nếu chúng tôi cứ đợi theo lịch hẹn của lãnh đạo thì thông tin đó đã trở thành lạc hậu, lạnh ngắt rồi!” – ông Lưu Vinh, Phó Tổng biên tập báo Công an Nhân dân, bức xúc.

Ông Vũ Mạnh Cường, Phó Tổng biên tập báo Lao Động, cũng dẫn chứng: “Ví như vấn đề của tiểu học thì làm sao ông chánh văn phòng (người phát ngôn) rõ bằng vụ trưởng Vụ Tiểu học? Mục đích của quy chế người phát ngôn là tốt nhưng hiện các bộ ngành quá vin vào quy chế này để làm khó báo chí. Cần quy định rõ chỉ những vấn đề khẩn cấp mới phải có người phát ngôn để quy đầu mối”.

Giải đáp những điều này, Thứ trưởng Doãn khẳng định: “Người phát ngôn là người được thay mặt cơ quan nhà nước để phát biểu những vấn đề của cơ quan với báo chí. Còn những thông tin bình thường thì mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền cung cấp theo tư cách cá nhân và chịu trách nhiệm về thông tin đó”.

Chế tài người không cung cấp thông tin

Cơ chế nào khắc phục việc không cung cấp thông tin cho báo chí cũng được các đại biểu bàn sâu. Ông Lưu Vinh đề xuất cần phải luật hóa để chế tài trách nhiệm của những người từ chối, không chịu cung cấp thông tin cho báo chí. “Trách nhiệm trong luật phải ghi rõ để người làm báo không bị hạn chế trong tác nghiệp” – ông Nguyễn Quang Thông, Tổng biên tập báo Thanh Niên, đồng tình.

Ông Phan Lợi, Trưởng Văn phòng đại diện tại Hà Nội báo Pháp Luật TP.HCM, phân tích: Điều 7 Luật Báo chí đã quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan cung cấp thông tin cho báo chí. Nhưng trách nhiệm này lại không bị chế tài ở Nghị định 56 và dự thảo sửa đổi, từ đó nhiều người đã từ chối cung cấp thông tin hoặc có người cung cấp thông tin sai. “Có người nói đã có luật cán bộ, công chức điều chỉnh nhưng theo tôi, Luật Báo chí cũng phải có chế tài với hành vi này để có sự bình đẳng với báo chí” – đại diện báo Pháp Luật TP.HCM nói.

Được miễn trừ trách nhiệm

Ông Phạm Hiếu, Phó Tổng biên tập báo VNExpress, thắc mắc: “Điều 10 Luật Báo chí hiện hành quy định báo chí phải đưa tin đúng sự thật. Vậy khi đưa tin theo một người có trách nhiệm mà thông tin đó không đúng sự thật thì báo chí có bị xử lý hay không?”.

Ông Hiếu đưa ví dụ về vụ tranh cãi giữa tỉnh Quảng Ngãi và Trung tâm Khí tượng thủy văn trung ương cách đây hai tháng khi bão số 9 đổ bộ vào miền Trung. Tỉnh cho rằng trung tâm dự báo sai và báo chí đưa theo nguồn tin của trung tâm nên sai theo. Căn cứ thông tin đó, tỉnh đã không chuẩn bị phương án đáng kể để đối phó bão và hậu quả rất nặng nề. “Nếu theo đúng luật thì báo chí phải chịu trách nhiệm vì đã không thẩm định thông tin. Thế nhưng làm sao báo chí có thể thẩm định thông tin về dự báo bão được?” – ông Hiếu nói.

Ông Hiếu kiến nghị dự án luật sửa đổi cần quy định “quyền miễn trừ” trách nhiệm thông tin khi được cung cấp bởi nguồn chính thống. Đồng tình, đại diện báo Phụ nữ Thủ đô cho rằng nên quy định trường hợp báo chí được miễn trừ trách nhiệm về hành chính, hình sự và dân sự khi thông tin theo nguồn tin chính thống.

Nhiều điểm mới cần luật hóa

Theo ông Hiếu, Luật Báo chí hiện hành không có điều khoản nào quy định về cải chính trên báo điện tử. “Nhiều lúc chúng tôi đưa tin sai nhưng không biết phải cải chính theo hình thức nào: cải chính ngay trên chính thông tin mà mình đã đưa sai, tức là sửa lại bản tin ban đầu, hay là viết lại một bài khác? Nếu sửa lại bản tin đưa sai thì vi phạm tính nguyên bản của tác phẩm khi lưu chuyển, còn nếu viết lại thì giá trị của nó cũng không còn và người bị thiệt hại cũng sẽ không còn nhu cầu cải chính vì thời gian đã quá lâu. Dự luật sửa đổi nên có thêm quy định này” – ông Hiếu nói.

Cũng theo ông Hiếu, dự luật sửa đổi nên bổ sung quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện một tác phẩm báo chí. “Sau bốn năm chúng tôi nhận được khiếu nại của một người dân cho rằng báo chúng tôi đăng tin sai. Lúc này dữ liệu không còn lưu trữ nên không biết phải xử lý thế nào” – ông Hiếu dẫn chứng.

Ông Doãn kết luận những vấn đề trao đổi tại hội thảo này sẽ là cơ sở cho dự án Luật Báo chí sửa đổi tới.

Không thể đánh thuế như doanh nghiệp

Ông Hoàng Hữu Lượng, Cục trưởng Cục Báo chí, cho biết Luật Báo chí quy định rõ về khung nhuận bút, tuy nhiên vẫn có rất nhiều tờ báo, đặc biệt báo địa phương đã làm sai. Ví dụ, khung nhuận bút của tin theo hệ số từ một đến 10, theo đó tin thấp nhất là 65.000 đồng/tin nhưng thực tế có báo địa phương chỉ trả 23.000 đồng/tin.

Ngay cả vấn đề tài chính, việc đánh đồng các tờ báo đóng thuế giống nhau cũng không hợp lý. Cần phân định báo thương mại giải trí một mức thuế và báo thời sự chính trị mức thuế phải nhẹ hơn. Nhiều cơ quan báo chí cũng phản ánh không thể đánh thuế các tờ báo ngang với doanh nghiệp như hiện nay.

M.PHƯƠNG – N.LINH

http://phapluattp.vn/20091212113022551p0c1013/sua-luat-bao-chi-can-quy-dinh-quyen-mien-tru-cho-nha-bao.htm

Ai được hỏi nguồn tin báo chí?

(PL)- Điều 7 Luật Báo chí hiện hành nói rõ, đối với vụ án đang điều tra, nếu cơ quan tố tụng không cung cấp thông tin thì báo chí có quyền đưa theo nguồn riêng của mình và giữ bí mật nguồn tin.

Tuy nhiên, khi “có yêu cầu của viện trưởng VKSND hoặc chánh án TAND cấp tỉnh trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm nghiêm trọng” thì báo chí phải khai ra nguồn tin.

Dẫn đề tại hội thảo về đánh giá Luật Báo chí, Cục trưởng Cục Báo chí Hoàng Hữu Lượng cho biết văn bản này được soạn thảo và thông qua năm 1999, đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa quy nạp được nhiều vấn đề mới phát sinh. Đại diện báo Pháp Luật TP.HCM phân tích, đối với hoạt động tư pháp, từ năm 2001 đến nay đã có những quan điểm cải cách đột phá nêu trong Nghị quyết 08, Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị. Theo đó, trung tâm của hoạt động tố tụng đã chuyển từ hoạt động điều tra sang xét xử và tòa án trở thành trung tâm của tố tụng.

Do đó việc sử dụng chữ “điều tra” và trao quyền cho viện trưởng VKSND trong thực tiễn đã dẫn tới hiện tượng một số cơ quan công an yêu cầu báo chí khai báo nguồn tin. Sự tham gia của công an (một cơ quan thuộc khối hành pháp) trong nhiều trường hợp khiến các nhà báo và những người cung cấp thông tin cho báo chí “chùn tay”, đặc biệt là trong việc khui ra các vụ tham nhũng liên quan đến quan chức ở khối hành pháp.

Theo Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn, những bản dự án Luật Báo chí sửa đổi trước đây đã “rất tiến bộ” khi chỉ trao quyền này cho chánh án TAND nhưng do “một số ý kiến” nên đã phải đưa ra. Tuy nhiên, quan điểm của Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng đây là yếu tố mấu chốt cho hoạt động báo chí để tránh hiện tượng lạm dụng quyền lực không cần thiết nên Bộ sẽ kiên trì bảo vệ.

Trong lịch sử báo chí, người cung cấp tin là “ân nhân” của báo chí, nuôi sống nghề báo. “Cực chẳng đã” thì tòa báo mới phải khai báo nguồn tin, song việc khai báo này cần tuân thủ quy trình chặt chẽ, như quy trình tố tụng hình sự để vừa đảm bảo “cuộc điều tra công khai” diễn ra tại phiên tòa có hiệu quả, vừa đảm bảo cho nghề báo hoạt động lành mạnh.

PHAN MAI

http://phapluattp.vn/20091212112955942p0c1013/ai-duoc-hoi-nguon-tin-bao-chi.htm

Thuật mời đón và tạm biệt trong email marketing

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:51 pm
Tags:

Người đăng: Dịch thuật Việt on 13 December 2009 / Nhãn: Kinh doanh

Khi một ai đó đăng ký vào danh sách email khách hàng theo bất kỳ phương thức nào (nhận được tin nhắn forward hoặc tin truyền tham khảo của bạn bè) hoặc họ tự ý đăng nhập vào website chính thức thì đó là lúc để bạn tạo nên một ấn tượng tốt đẹp đầu tiên.

Hãy đảm bảo những gì bạn mang đến sẽ làm vững chắc hơn sự kết nối với khách hàng cũng như chăm sóc tốt kể cả những ai không muốn trở thành thành viên bằng những bước đi sau đây:

Với những khách hàng mới đăng nhập: Vượt xa hơn một lời chào đơn giản

Dòng email đón chào khách hàng đến với doanh nghiệp sẽ tự động được gửi đến những đối tượng thành viên mới. Nó đáng được xem như một câu cảm ơn và cái bắt tay thân thiện.

Song một khi ấn tượng đầu tiên đã phai đi thì lời chào ấy chẳng đảm bảo rằng bạn sẽ có được một cuộc tiếp xúc lần thứ hai với khách hàng. Do đó hãy sử dụng thông điệp đầu tiên gửi đến khách hàng này để hướng bước làm quen giữa khách hàng và doanh nghiệp tiến xa hơn và xác định rõ những chuẩn mực như:

– Mẫu và chất lượng nội dung bạn sẽ gửi đi (thư thông tin điện tử, thư khuyến mãi, coupon, thông cáo sự kiện…).

– Tần số của những đợt liên lạc bằng email (hàng tuần, tháng hoặc quý…)

– Danh tính người gửi sẽ xuất hiện ra sao khi email được gửi đến hộp thư thành viên đăng ký.

Phần mềm tự động hồi âm: Khi lời chào chưa đủ

Một số khách hàng tương lai vẫn luôn đòi hỏi thêm những thông tin và chỉ dẫn về sản phẩm hoặc dịch vụ trước khi chi tiền mua nên bạn cần nhìn nhận và tận dụng đó như một quãng “thời gian tìm hiểu”.
Hệ thống hồi âm tự động sẽ gửi phát đi một loạt email nối tiếp, mang đến cho những thành viên mới đăng nhập các thông tin bổ ích và cần thiết để họ dễ dàng đạt đến trình độ kiến thức ngang tầm với những thành viên hiện tại. Các email tự động được gửi với một tần suất nhất định có thể khái quát những điều căn bản mà các thành viên nên biết đến, đồng thời đi cùng lời kêu gọi hành động giúp mối quan hệ giữa họ và bạn tiến xa hơn.

Chẳng hạn, thưởng cho đối tượng thành viên mới đăng nhập bằng loạt các email đi cùng lời khuyên tư vấn, các mẹo vặt chi tiết và hữu ích đối với nhóm thị trường mục tiêu, có cùng một dòng link như “Click vào đây để được tư vấn miễn phí”.

Ngoài ra, cần nắm bắt một điều rằng email không hồi âm tự động nên đi cùng một dòng thông tin ngắn gọn, hấp dẫn, dễ nắm bắt và dễ hướng đến một hành động cụ thể. Nhưng đừng bao giờ xem đây là một cơ hội để đưa ra lời chào hàng, yêu cầu khách hàng chấp thuận tức khắc trong lúc mối quan hệ giữa họ và doanh nghiệp chưa thật sự sâu sắc.

Ngừng tham gia: Chúng ta vẫn là bạn

Trong kinh doanh, có không ít các mối quan hệ dang dở và đi vào ngõ cụt. Những thông tin bạn cung cấp cho khách hàng qua email đâu phải lúc nào cũng đúng với mọi đối tượng người nghe và đúng mãi.

Do đó, thay vì xem việc khách hàng thôi trở thành thành viên của bạn là điều không may, hãy xem đó là một cơ hội học hỏi thêm nhằm nắm bắt tốt hơn nhu cầu, nguyện vọng của khách hàng. Việc khách hàng thôi nhận thông tin mà bạn cung cấp hoàn toàn không có nghĩa rằng họ nói lời tạm biệt với doanh nghiệp của bạn.

Nên xem xét lời yêu cầu ngừng nhận thư từ khách hàng với một thái độ quan tâm và tôn trọng như lúc bạn đưa ra lời chào đầu tiên với họ. Hãy để “vừa lòng khách đi” theo ba bước sau đây:

– Giúp việc ngừng tham gia danh sách nhận email trở nên thật dễ dàng. Đặt hẳn một đường link hoặc nút bấm thôi nhận email trên bất kỳ một email nào gửi đến khách hàng. Tiến hành quá trình ngừng nhận thư thật nhanh chóng và xoá bỏ mọi thông tin địa chỉ khỏi danh sách của bạn.

– Viết một ghi chú việc ngừng tham gia với nội dung thật thân thiện. Gửi đến những cựu khách hàng trực tuyến của bạn một tin nhắn xác nhận mọi việc đã được tiến hành và vẫn duy trì một thái độ hoà nhã như trong những email đã gửi trước đây: “Chúng tôi rất tiếc khi buộc phải nói lời tạm biệt cùng quý khách, nhưng chúng tôi hy vọng rằng quý khách sẽ sớm gặp lại chúng tôi” nghe vẫn thân thiện hơn câu nói: “Quý khách đã đăng xuất khỏi danh sách thành viên thành công”. Cần nhớ rằng mỗi một điểm nhỏ trong cuộc tiếp xúc với khách hàng đó rất quan trọng, kể cả đấy là lời chào từ biệt.

– Học hỏi từ lời nhận xét và phê bình của người ra đi. Ghi chú xác nhận việc thôi tham gia nên được xem như một cơ hội yêu cầu khách hàng cung cấp những ý kiến phản hồi về lý do vì sao người ấy quyết định ngừng nhận thư.

Nguồn thông tin giá trị này sẽ giúp bạn cải tiến quá trình trao đổi thông tin qua email (chẳng hạn khách hàng muốn nhận được ít hơn hay nhiều hơn email hoặc họ đang tìm kiếm một mẫu nội dung mới hoàn toàn khác). Kiểm soát và cải thiện tốt những điểm yếu này sẽ càng khẳng định rằng câu chào tạm biệt không phải là lời nói sau cùng trong mối quan hệ giữa họ và bạn.

Next Page »

Blog at WordPress.com.