Ktetaichinh’s Blog

December 8, 2009

Lỗ dài, lương vẫn hàng tỷ đồng/năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:35 pm
Tags:

TP – Qua 17 năm, kể từ ngày thành lập (từ năm 1991), Jestar Pacific Airlines (JP) chưa năm nào có lãi. Năm 2008, con số lỗ ở mức kỷ lục là 546 tỷ đồng. Tuy nhiên, cũng trong năm này, các lãnh đạo người Việt trong Cty nhận lương mỗi người hàng tỷ đồng.

Còn một phó tổng giám đốc người nước ngoài nhận mức lương khủng tới trên 5 tỷ đồng.

17 năm qua, JP thua lỗ nhưng lãnh đạo Cty hưởng lương kỷ lục. Ảnh: Bảo Khánh

Lỗ triền miên

Cty JP có vốn góp của bốn cổ đông. Cơ cấu vốn góp đến 31-12-2008 là: Tổng Cty Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) góp 490 tỷ đồng (chiếm 76%), Qantas Asia Investment Company (Hàng không Úc) góp 116 tỷ đồng (chiếm 18%), Tổng Cty Du lịch Sài Gòn góp 40 tỷ (chiếm 6%), ông Lương Hoài Nam, Tổng giám đốc (nay đã nghỉ) mua lại cổ phiếu của một cổ đông 200 triệu đồng (chiếm 0,04%).

Điều đáng buồn là 17 năm qua, từ khi thành lập đến nay (từ 1991 đến 2008), chưa năm nào doanh nghiệp này có lãi. Năm 2008 con số lỗ ở mức kỷ lục là 546 tỷ đồng, lỗ lũy kế đến 31-12-2008 là 1.137 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đến 31-12-2008 đã âm 121 tỷ đồng.

Nguyên nhân thua lỗ chính của Jestar Pacific Airlines trong năm 2008 là tham gia nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro xăng dầu (hedging). Theo báo cáo của SCIC, năm 2008 HĐQT JP chưa có kinh nghiệm và cũng chưa biết rõ về nghiệp vụ hedging này.

Tuy nhiên, theo đề xuất của Ban điều hành, đầu năm 2008, HĐQT công ty này đã họp thống nhất chủ trương thực hiện nghiệp vụ này và giao nhiệm vụ cho “phó tổng phụ trách tài chính và phó tổng phụ trách kinh doanh đồng chấp thuận việc hedging đối với ít nhất 15% tổng nhu cầu nhiên liệu kế hoạch sử dụng cho năm 2008”.

Có chủ trương của HĐQT, nhưng trong quá trình thực hiện hai phó tổng giám đốc này đã không tuân thủ tuyệt đối các nguyên tắc thực hiện và báo cáo với HĐQT, Ban điều hành như quy định trong việc đặt giá phòng ngừa rủi ro giá xăng dầu. Họ đã thực hiện theo hợp đồng với số lượng lớn và thời gian dài từ tháng 7-2008 đến tận tháng 5-2009.

Trong thời điểm giá xăng dầu có nhiều biến động xấu, phức tạp, đến tháng 5-2009 giá xăng dầu đã giảm sâu, nên chỉ vì tham gia nghiệp vụ này mà JP đã thua lỗ khoảng 31,2 triệu USD (trong đó năm 2008 lỗ 8,9 triệu USD, từ tháng 1 đến tháng 5-2009 dự kiến lỗ 22,5 triệu USD).

Kiểm toán Nhà nước cho rằng, Ban điều hành Jestar Pacific Airlines đã không tuân thủ các nguyên tắc chỉ đạo, hướng dẫn của HĐQT và chính HĐQT cũng chưa kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc triển khai nghiệp vụ này dẫn đến tổn thất lớn về tài chính cho công ty.

Lương cao nhất: trên 5 tỷ đồng/năm

Thua lỗ lớn và triền miên như vậy, nhưng nhìn vào bảng lương của Ban lãnh đạo JP, những người làm công ăn lương giật mình. Nếu như năm 2007, lương của Chủ tịch HĐQT Cty chỉ 360 triệu đồng thì năm 2008 tăng vọt lên 986 triệu đồng.

Năm 2007, Tổng Giám đốc Cty nhận mức lương khá khiêm tốn là 444 triệu, thì một năm sau mức lương của ông này đã đại nhảy vọt lên hơn 2,2 tỷ đồng. Lương của hai phó tổng giám đốc người Việt cũng đều gần tỷ đồng/năm. Còn hai phó tổng giám đốc người nước ngoài thì lương và thu nhập ở mức không tưởng, 3- 5 tỷ đồng/năm.

Bảng lương năm 2008 của lãnh đạo JP người nước ngoài

Phó Tổng giám đốc Daniela: 5,1 tỷ đồng (lương và thu nhập khác)

Phó Tổng giám đốc Tristan Freeman: 3,3 tỷ đồng (lương và thu nhập khác của 10 tháng năm 2008)

Không thể lý giải nổi một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ triền miên nhưng lương của lãnh đạo Cty lại tăng chóng mặt. Một lãnh đạo tập đoàn kinh tế nhà nước bình phẩm:

“Đây là điều không thể chấp nhận được. Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ hai năm liền là giám đốc điều hành đã bị mất chức, trong khi ở đây doanh nghiệp lỗ nhưng lãnh đạo vẫn nhận lương cao ngất trời”.

Kiểm toán Nhà nước yêu cầu SCIC kiểm tra làm rõ trách nhiệm cá nhân và tập thể của Ban lãnh đạo tại Jestar Pacific Airlines trong việc thực hiện nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro xăng dầu năm 2008, gây thiệt hại hơn 31 triệu USD (tương đương 525 tỷ đồng). SCIC phải xem xét lại việc chi trả quỹ tiền lương cho thành viên HĐQT, Ban điều hành tại Jestar Pacific Airlines từ năm 2007 đến nay.

Tuy nhiên, trao đổi với Tiền Phong, bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động-Tiền lương (Bộ LĐTB&XH) cho biết: Theo quy định, với công ty cổ phần quỹ tiền lương do đại hội cổ đông quyết định, còn việc trả lương cho lãnh đạo doanh nghiệp do HĐQT quyết định. Mà trong HĐQT thì đại diện sở hữu vốn nhà nước cũng chỉ có một phiếu, nên dù Nhà nước chiếm cổ phần chi phối thì Nhà nước cũng khó mà can thiệp hay chi phối được vấn đề trả lương”.

Như vậy, ở đây rất có thể lãnh đạo SCIC cũng như lãnh đạo HĐQT JP đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tự thưởng cho mình mức lương cao ngất, dù doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Hiện SCIC đang có cổ phần ở hơn 800 doanh nghiệp, trong đó phần lớn là doanh nghiệp mà vốn Nhà nước chiếm đa số. Nếu doanh nghiệp nào cũng trả lương kiểu như JP thì không mấy chốc, Nhà nước sẽ trắng tay.

Advertisements

Món phở “Bò Tái Chín”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:31 pm
Tags:

Phở là món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng có thể xem là món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực nước nhà. Trong các loại phở, bò tái chín là ngon nhất. Những năm cuối 1980, đám chúng tôi đi làm hợp đồng bên Bộ Tài chính (BTC), anh em gọi đùa đây là Bộ “Bò Tái Chín”.

Quả thật, một nơi cầm chìa khóa két quốc gia, nắm quyền sinh sát trong việc định mức lương cho cán bộ cả nước, làm việc ở bộ này như hưởng món “bò tái chín” hàng ngày thời đói kém.

Mấy hôm nay báo TP đưa tin, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam vừa phát hiện lương tháng của lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) lên tới trên 78 triệu đồng (4.500 đôla Mỹ).

Ban lãnh đạo của SCIC bao gồm nhiều quan chức tầm thứ, bộ trưởng đương quyền. Chủ tịch HĐQT (gồm bảy vị) là Bộ trưởng BTC Vũ Văn Ninh. Ba vị khác là các thứ trưởng Công thương, Kế hoạch-Đầu tư và Tài chính.

SCIC có hai chức năng chính là quản lý và đầu tư vốn của Nhà nước. Nguồn vốn của SCIC là số cổ phần của Nhà nước trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng, SCIC là một thử nghiệm nhằm giải quyết tình trạng chủ sở hữu nhà nước bị phân tán ra các bộ, ngành và các cấp địa phương chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, còn Bộ Tài Chính thì lo quản lý tài sản. Mô hình đó có rất nhiều sơ hở và kém hiệu quả, phân tán vốn nhà nước.

SCIC là công ty tư nhân thì ai bàn lương cao thấp làm gì. Và SCIC với hãng máy bay Jet Star ăn nên làm ra chắc cũng chẳng ai để ý đến lương 5000$/tháng. Ở Việt nam, đầy các đại gia lương cao chục ngàn đô la một tháng trở lên.

Tuy thế, Jet Star thua lỗ nhưng tổng giám đốc hưởng lương trên 2 tỷ đồng một năm. Tướng lương cao kéo theo quân lương cao, chả lẽ ăn một mình. Đó là luật bất thành văn của những nơi lấy “bàn tay chia mật”.

Trong quản lý nhất là quản lý tầm quốc gia, người ta kiêng kỵ nhất là xung đột lợi ích. Một nơi như Bộ Tài chính, nắm chìa khóa két bạc của 86 triệu người dân, càng phải tránh điều cấm kỵ này.

Nhưng lạ thay, người ta hiểu qui luật vàng này nhưng không muốn làm theo. Ai cũng biết tham nhũng phá hoại đất nước, vấn nạn phong bì làm băng hoại đạo đức xã hội, nhưng khi hỏi quan chức lớn, đều được cái lắc đầu “chuyện này tế nhị và khó nói”. Tay đã chấm mút thì làm sao mà mở miệng.

Lại một vụ bê bối về tài chính được báo chí phanh phui. Người ở xa băn khoăn, dạo này nhiều chuyện lên mặt báo thoải mái thế. Na ná thời PMU18 và trước thềm đại hội Đảng.

Lý do gì chăng nữa thì cũng là điều mừng. Minh bạch một chút, kiểm toán độc lập và báo chí thay vì tuyên truyền đang được làm đúng nhiệm vụ phản biện, dân thường biết được khối chuyện hậu trường.

Lương cao chót vót bên SCIC, một quan hưởng mấy lương (không hiểu có đóng thuế thu nhập lũy tiến hay không), người ta tự duyệt thang lương cho chính bản thân, gây ra xung đột lợi ích. Làm ăn thua lỗ nhưng lĩnh đều đều vài tỷ hàng năm. Đó là căn bệnh chung của những công ty nhà nước.

Hàng chục triêu dân nghèo (15% dân số) nai lưng làm lụng với thu nhập 365$/năm, trong khi cựu Thứ trưởng Tài chính Trần Văn Tá, hiện là Tổng giám đốc SCIC nhà nước lại có mức lương trên 52.000 đôla Mỹ/năm.

Hỏi rằng công bằng xã hội ở đâu khi những bát phở “bò tái chín đặc biệt” được người ta “nấu” ở tầm quốc gia tại một nơi như Bộ Tài chính.

Tầm nhìn của SCIC đăng tải trên website của tổng công ty này là: “Trở thành nhà đầu tư chiến lược của Chính phủ Việt Nam thông qua việc đem lại giá trị tối đa và sự tăng trưởng bền vững cho các khoản đầu tư”.

Không biết SCIC thành nhà đầu tư chiến lược và hoạt động hiệu quả như thế nào trong bối cảnh hiện nay.

Tuy thế, nhìn vào thang lương của các quan chức, ít nhất tầm nhìn SCIC đã “giúp” các vị này đã “đem lại giá trị tối đa” cho chính cái ví của họ.

Bất động sản: “Bong bóng” đang… xì hơi?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:54 am
Tags:

TỪ NGUYÊN
10:34 (GMT+7) – Thứ Sáu, 4/12/2009

Những diễn biến bất thường vừa qua khiến nhiều người lo ngại về một kịch bản xấu cho thị trường bất động sản thời gian tới

Những diễn biến bất thường vừa qua khiến nhiều người lo ngại về một kịch bản xấu cho thị trường bất động sản thời gian tới.

Điều đó cũng có nghĩa, một lần nữa, kiểu “sốt nóng, sốt ảo” tương tự hồi cuối năm 2007 trên thị trường bất động sản lại có khả năng tái hiện. Và tất nhiên, đằng sau những diễn biến bất thường này, người ta lại có quyền đặt câu hỏi: đâu là yếu tố giữ vai trò chi phối, điều khiển thị trường bất động sản hiện nay?

“Sốt” nhanh, hạ chóng

Theo khảo sát của VnEconomy, sau khi đột ngột tăng giá trong tháng 10, giá căn hộ, đất nền tại nhiều dự án “tên tuổi” của thị trường hiện đã bắt đầu chững lại. Lượng khách cũng như giao dịch thành công tại nhiều sàn giao dịch đã giảm 60-80%, cá biệt một số sàn từ đầu tháng đến nay gần như không mua bán.

Tại một số dự án như Kim Chung – Di Trạch, Tân Tây Đô, Cienco 5… đều đang ở trạng thái “án binh bất động”, không có người hỏi mua mặc dù giá giảm từ 1 – 3 triệu đồng/m2. Giá căn hộ được rao bán còn khoảng 21-25 triệu đồng/m2, thay vì từ 25 – 28 triệu đồng/m2 chỉ cách đây vài tuần.

Ông Hoàng Mạnh Dương, Trưởng phòng Môi giới bất động sản của Công ty Đầu tư và Xây dựng Quang Minh, cho biết vào thời điểm này, giá bất động sản tại hầu hết các dự án trên địa bàn ngoại thành Hà Nội đều đang trong cơn giảm giá mạnh.

Theo vị này, phân khúc đất nền sau một thời gian “sốt nóng” cùng căn hộ, nay cũng đang trong cơn giảm giá khá mạnh. Đất nền tại dự án Cienco 5 đã bắt đầu được các trung tâm nhà đất “xuống thang” ở mức 11 -12 triệu đồng/m2, thay vì “hét” 14 – 17 triệu đồng/m2 hồi tháng trước. Còn ở các dự án như Geleximco, khu C Dương Nội, Vân Canh…giá cũng bắt đầu hạ nhiệt, xuống còn 23 – 32 triệu đồng/m2, tùy dự án.

Theo ông Nguyễn Văn Trọng, chuyên viên Sàn giao dịch Bất động sản Detech Land, giá đất nền và chung cư niêm yết hiện nay đa phần đều đã được chủ nhân điều chỉnh giảm, cá biệt mới có chủ giữ nguyên giá. Thế nhưng, lượng khách tìm đến các sàn giao dịch bất động sản, thay vì đưa ra quyết định mua bán nhanh chóng như hồi tháng trước, nay đã tỏ ra dè dặt, cẩn trọng bởi những diễn biến quá bất thường của một thị trường vốn sinh lời lớn nhưng rủi ro cũng không hề nhỏ.

“Khóc” chung cư

Diễn biến trên thị trường bất động sản trong hai tuần qua đã hoàn toàn khác với những gì xảy ra trong tháng 10 và đầu tháng 11. Khi đó, dù có tiền hay không nhưng câu chuyện mua nhà chung cư đã trở thành chủ đề “nóng”. Đi đến đâu cũng thấy người người bàn chuyện… chung cư.

Còn với giới đầu tư, không ai bảo ai, nhưng dường như chung cư được họ đưa vào diện ưu tiên số 1 trong kế hoạch đầu tư cuối năm của mình, đặc biệt là sau những cơn “sốt” ở các dự án của Nam Cường, An Khánh, Usilk City, Tricon Towers..

Thế nhưng, cũng không ai bảo ai, diễn biến trên thị trường đã đột ngột thay đổi khi số người tìm hỏi mua nhà chung cư cứ lần lượt thưa dần.

Anh Nguyễn Mạnh Tân (Thanh Xuân, Hà Nội) cho biết, hồi tháng 10, may mắn lắm anh mới mua được một phiếu bốc thăm quyền góp vốn tại dự án của Nam Cường với giá 30 triệu đồng của một tay môi giới.

Không những thế, anh còn phải chấp nhận trả tiền chênh lệch đặt cọc cho môi giới hơn 200 triệu đồng cho một căn hộ tại khu nhà ở HH2. Anh Tân cho biết, khi đó, anh đã mừng thầm vì nghĩ mình là một trong số ít mua được nhà… sát giá gốc.

Thế nhưng, “vui ngắn chẳng tày gang”, chỉ hơn một tháng sau, trong câu chuyện với tác giả, khóe mắt anh đã đỏ hoe khi cho biết, chủ đầu tư Nam Cường đang công bố bán nhiều căn hộ chung cư với giá gốc mà cũng không mấy ai mua.

“Tôi không phải dân đầu tư, buôn bán gì mà chỉ mong sao có căn nhà để yên ổn. Thế nhưng, chỉ trong một tháng đã mất hơn 200 triệu đồng thì không đau sao được”, anh nói.

Theo khảo sát, trường hợp mất tiền cho việc đăng ký mua nhà chung cư như anh Tân không phải là ít. Tại các dự án như Khu đô thị Đại Mỗ, No5 Đông Nam Trần Duy Hưng, khu Lê Trọng Tấn, An Khánh… hàng chục người đã chấp nhận “bỏ cọc” lên đến hàng trăm triệu chỉ vì giá hiện tại đã xuống thấp hơn nhiều so với giá họ đã ký trong hợp đồng hồi tháng trước.

Ông Dương cho biết, tại sàn giao dịch bất động sản của công ty này, số người đã “trót” mua nhà chung cư tại các dự án nói trên, ngoài việc rao bán tại sàn, họ đã trực tiếp “ăn chực nằm chờ” tại sàn chỉ mong tìm được người hỏi để có cơ hội trực tiếp thỏa thuận, mua bán.

Tuy nhiên, theo ông, cũng chính vì tâm lý đám đông nên số người sẵn sàng chi tiền mua nhà vào thời điểm này là rất ít, vì ai cũng lo ngại thị trường sẽ còn lâm vào cảnh khó khăn hơn, giá nhà đất có thể lại sụt giảm nữa.

Lỗi tại ai?

Trước những diễn biến bất thường của thị trường nhà đất, nhiều chuyên gia lo ngại, một kịch bản tương tự năm 2007 sẽ tái hiện trong thời gian tới, thậm chí diễn biến sẽ còn phức tạp hơn nhiều.

Tuy nhiên, điều mà nhiều người thắc mắc hiện nay là nguyên nhân nào khiến thị trường lại thay đổi nhanh chóng và có chiều hướng đi vào “vết xe đổ” của những năm trước.

Trao đổi với VnEconomy, Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản Nguyễn Mạnh Hà thừa nhận, đúng là có hiện tượng “bong bóng” bất động sản trong thời gian qua. Theo ông, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do chúng ta đang thiếu hụt nguồn cung và các dự án vẫn quá ít so với nhu cầu.

Tuy nhiên, khi được hỏi, liệu cơn “sốt ảo” vừa qua có góp tay của các chủ đầu tư hay không và cơ quan quản lý đã có ý kiến gì, câu trả lời chỉ là sự…im lặng.

Trong khi đó, bình luận về câu chuyện giá bất động hiện nay, ông Nguyễn Trường Tiến, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Xây dựng Hà Nội cho hay, thực tế đến thời điểm này, chúng ta không có tổ chức nào đứng ra thẩm định khâu định giá bất động sản, dù Bộ Xây dựng cũng đã có khá nhiều quy định về lĩnh vực này.

Theo ông, giá lên xuống phần lớn là do ý chí của chủ đầu tư bởi thực tế thị trường vẫn thiếu các dự án của nhà nước đầu tư để trở thành dự án mẫu để có chuẩn về giá.

Tuy nhiên, ông Tiến cũng cho rằng, những diễn biến bất thường trên thị trường nhà đất vừa qua cũng có thể có sự góp tay của chủ đầu tư, “chung tay” của nhà đầu tư, trong đó có cả môi giới, tạo thành “group” để làm giá.

Theo ông, cũng chính vì không có mặt bằng giá chuẩn nên nhiều khi, chính chủ đầu tư cũng phải chạy theo nhà môi giới. Điều đó cũng giải thích vì sao, câu chuyện giá bất động sản đang như một mớ “bòng bong”, mang lại khoản lợi nhuận kếch xù cho một số người, nhưng cũng khiến không ít người rơi vào cảnh thua lỗ nặng.

Nhưng, điều đáng nói nhất ở đây chính là sự nhập nhằng, thiếu minh bạch trên thị trường bất động sản hiện nay, đang làm cho giấc mơ có được một căn nhà của nhiều người dân trở nên xa xôi hơn bao giờ hết.

Cơ hội “vàng” cho gạo Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:34 am
Tags:

Với vai trò “độc nhất vô nhị” của loại lương thực nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới, trong đó chủ yếu là các quốc gia đang phát triển, an ninh lúa gạo thế giới đứng trước nguy cơ thêm một năm bị đe doạ sau sáu năm liên tục “bồ thóc”của thế giới rất “vơi”, thị trường gạo thế giới đang có những biến động bất ngờ. Trong bối cảnh như vậy, nếu đón bắt được xu thế, chúng ta sẽ không bỏ lỡ cơ hội vàng hiếm có này.

FAO hoàn toàn có lý khi liên tục cảnh báo rằng, an ninh gạo thế giới từ nhiều năm nay đã không được bảo đảm. Các số liệu thống kê tiêu dùng và dự trữ gạo thế giới cho thấy, nếu như bình quân dự trữ gạo trong suốt 17 năm từ 1987 đến 2003 bảo đảm cho thế giới có thể tiêu dùng trong 17,44 tuần lễ, thì con số này trong sáu năm trở lại đây đã “rơi tự do” xuống chỉ còn 9,82 tuần. Trong đó, nếu như năm 2009 kết thúc với mức dự trữ ước tính 10,83 tuần, thì dự báo năm 2010 sẽ giảm xuống chỉ còn 10,23 tuần.

“Quýt làm, cam chịu” ?

Đương nhiên, triển vọng rất đáng lo ngại đó của an ninh gạo thế giới tuy bắt nguồn từ những biến động trong sản xuất lúa của gần 90 quốc gia và trong tiêu dùng gạo của trên 100 quốc gia. Nhưng sự chao đảo của thị trường gạo thế giới hiện nay chủ yếu lại bắt nguồn từ những động thái của một số quốc gia chủ yếu sản xuất, tiêu dùng và XNK gạo.

Trong đó, nếu như từ cách đây gần bốn tháng, thị trường gạo thế giới bắt đầu rung động trước việc Ấn Độ, quốc gia giữ vị trí thứ hai trong sản xuất và tiêu dùng gạo thế giới, bị mất mùa lớn, thì trong hơn một tháng gần đây thực sự chao đảo trước những bước đi dị thường của Philippines, quốc gia liên tục giữ vị trí NKgạo nhiều nhất thế giới từ năm 2006 đến nay.

Cụ thể, ở thời điểm tháng 7 vừa qua, thế giới còn dự báo Ấn Độ sẽ tiếp tục đạt kỷ lục mới trong sản xuất 99,5 triệu tấn gạo năm 2010 (năm nay đạt kỷ lục gần 99,4 triệu tấn), thì đầu tháng 8, thị trường gạo thế giới thực sự bị dội một gáo nước lạnh khi Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo rằng, do thiên tai rất nặng nề, sản lượng gạo của Ấn Độ sẽ chỉ đạt 84 triệu tấn, còn theo dự báo ngày 12/11 vừa qua thì sẽ tiếp tục “co lại” chỉ còn 83 triệu tấn, tức là giảm tới 16,15 triệu tấn và 16,29% so với năm nay.

Do vậy, Ấn Độ chính là “thủ phạm chính” kéo sản lượng gạo thế giới năm 2010 giảm xuống 432,1 triệu tấn so với 445,8 triệu tấn trong năm nay, trong khi tiêu dùng gạo của nước này tuy phải “thắt lưng buộc bụng” 4,15 triệu tấn so với năm nay, nhưng vẫn còn đạt 89 triệu tấn (năm nay tiêu dùng 93,15 triệu tấn), cho nên cao hơn sản lượng tới 6 triệu tấn và 7,23%. Rõ ràng, việc Ấn Độ buộc phải dốc gần 42% “bồ thóc” dự trữ không lớn của mình cho tiêu dùng (7,1 triệu tấn trong tổng số 17 triệu tấn) cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến an ninh gạo toàn cầu vốn đã rất mong manh hiện nay càng trở nên mong manh hơn như đã nói ở trên.

Như vậy, tuy ba trận cuồng phong liên tiếp đổ vào Philippines làm mùa màng nước này bị tổn thất 1,3 triệu tấn lúa, quy ra gạo khoảng 845 nghìn tấn, khiến quốc đảo này chắc chắn sẽ phải gia tăng nhập khẩu. Nhưng rõ ràng là tổn thất này không khác gì “giọt nước làm tràn ly”, bởi chính Ấn Độ mới là tác nhân chủ yếu làm cán cân cung cầu gạo thế giới nghiêng ngả.

Đây cũng chính là lý do buộc Ấn Độ vừa phải có những động thái dọn đường cho gạo thế giới đổ vào thị trường trong nước, vừa phải có những bước đi đầu tiên thăm dò phản ứng của thị trường. Cho nên đây cũng chính là căn cứ rất xác đáng của những đồn đoán, rằng Ấn Độ thay vì vốn đã quá quen thuộc với vị trí cường quốc xuất khẩu gạo thứ ba thế giới, sẽ NKkhoảng 2-3 triệu tấn, thậm chí 5 triệu tấn gạo. Cho nên sẽ “tranh ngôi” NKgạo nhiều nhất thế giới của quốc đảo Philippines.

Việc giá bình quân 250 nghìn tấn gạo 25% tấm của Thái Lan và nước ta trúng thầu trong phiên đấu giá đầu tiên của Philippines ngày 4 tháng trước đã tăng rất mạnh lên 468,5 và 480 USD/tấn. Còn năm gói 100 nghìn tấn chắc chắn cũng sẽ trúng thầu trong phiên đấu giá thứ hai ngày 1 tháng 12 vừa qua để mua 600 nghìn tấn với giá bình quân xấp xỉ 623 USD/tấn chắc chắn là không thể tránh khỏi sức ép này, bởi như chính Bộ trưởng Nông nghiệp nước chủ nhà khẳng định ngay trước ngày đấu giá: “Giá gạo thế giới có thể tăng trở lại mức kỷ lục của năm 2008 do thời tiết xấu làm giảm mạnh sản lượng thu hoạch khiến một số nước phải NK gạo”.

“Nước cờ” sai của Philippines ?

Thế nhưng, việc Philippines buộc phải tăng khối lượng gạo NK khoảng 600 nghìn tấn do sản lượng bị giảm khoảng 300 nghìn tấn so với năm nay trong điều kiện Ấn Độ có những động thái “tranh ngôi” NK gạo nhiều nhất thế giới của mình, cho nên thật khó để Philippines có thể NK đủ khối lượng gạo cần thiết cho mình với giá “mềm”, nhưng dường như cách thức mà quốc đảo này tiến hành NK trong thời gian vừa qua lại không khác gì việc “đổ thêm dầu vào lửa để chữa cháy”. Suy đoán này dựa trên hai căn cứ chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, những bước đi trong việc liên tục mở thầu mua gạo cho năm 2010 đã có không ít dấu hiệu không bình thường.

Trước hết, đó là việc mở thầu mua 250 nghìn tấn gạo sớm hơn bình thường ít nhất 2 tháng và sau cuộc đấu thầu cho là thành công này là ba cuộc đấu thầu khác chỉ trong vòng nửa tháng (vào các ngày 1, 8 và 15 tháng 12) cùng mua 600 nghìn tấn gạo 25% tấm đã được công bố.

An ninh lúa gạo thế giới đứng trước nguy cơ thêm một năm bị đe doạ khi Ấn Độ đang đứng trước nguy cơ mất mùa lớn, hơn thế thị trường gạo thế giới cũng đang tiềm ẩn nhiều biến động bất ngờ. Vì thế, nếu đón bắt được xu thế, chúng ta sẽ không bỏ lỡ cơ hội vàng hiếm có này.

Trong đó, rõ ràng là nhận định nói trên của Bộ trưởng Nông nghiệp nước này ngay trước cuộc mở thầu đầu tiên không thể không gây bất lợi cho chính quốc đảo này, bởi trong điều kiện giá gạo thế giới năm 2010 có thể tái lập kỷ lục năm 2008 thì đương nhiên giá gạo nước này NK phải tăng. Còn sau khi đã đấu thầu, việc công khai nhận định mức giá chào 468,5 USD/tấn của Cty Daewo Co Ltd (Thái Lan) và 480 USD/tấn của Vinafood II (giá C&F, tương ứng với giá FOB 420 USD/tấn, tức là tăng tới 70 USD/tấn và 20% so với một tháng trước đó) là “giá mềm, giá tốt” và việc cả thế giới đều được biết là ngân sách mà quốc đảo này chuẩn bị sẵn sàng để trả là 543 USD/tấn rõ ràng chứng tỏ rằng người mua đã sẵn sàng chấp nhận mức giá cao hơn trên 13%.

Không những vậy, việc quốc đảo này công khai nguồn ngân sách 325 triệu USD để có thể NK600 nghìn tấn gạo 25% tấm trong cuộc đấu thầu đầu tiên trong một chuỗi ba cuộc đấu thầu liên tiếp chỉ trong vòng nửa đầu tháng này rõ ràng không khác gì việc Cơ quan Lương thực quốc gia (NFA) mặc nhiên thừa nhận sẽ chấp nhận giá NKsẽ được đẩy lên gần 542 USD/tấn, tức là sẽ tăng 66,3 USD/tấn và gần 14% so với với giá trúng thầu 475,4 USD/tấn đối với 250 nghìn tấn gạo 25% tấm ngày 4 tháng 11 trước đó.

Cuối cùng, rất có thể là do không kịp xoay xở cho cuộc đấu giá thứ hai trong đầu tuần này, nhưng việc NFA vừa công bố ngân sách dành cho việc mua cũng 600 nghìn tấn gạo 25% tấm trong phiên đấu thầu thứ ba vào giữa tháng này lên 398 triệu USD, tức là tăng 63 triệu USD và 22,5% giá sẽ chấp nhận mua so với cuộc đấu thầu đầu tháng này càng chứng tỏ quốc đảo này chấp nhận mức giá trên 663 USD/tấn để NK bằng được 600 nghìn tấn tấn gạo nữa.

Thứ hai, điều đặc biệt chính là ở chỗ, các động thái nói trên được tiến hành trong bối cảnh Ấn Độ đã chính thức tuyên bố không NK gạo và hủy bỏ ba đơn xin NK tổng cộng 30 nghìn tấn gạo chắc chắn chỉ nhằm thăm dò thị trường từ cách đây trong hai tuần lễ với lý do chính thức là có đủ gạo dự trữ, nhưng lý do đích thực có lẽ không ngoài việc giá gạo NK quá cao, cộng với việc quốc gia này có nguồn lúa mỳ dự trữ rất dồi dào, có thể tăng cường sử dụng thay thế một phần rất lớn sản lượng gạo bị mất mùa. Rõ ràng là nguyên nhân lớn nhất khiến giá gạo thế giới tăng bùng nổ nếu không bị loại trừ hoàn toàn, thì chí ít cũng đã được kìm nén lại.

Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, trong khi những động thái trên thị trường thế giới cho thấy khả năng giá gạo có thể chùng xuống, nhưng dường như chính bản thân người NK gạo chủ yếu của thế giới lại liên tục kích thích giá thế giới tăng. Một tờ báo của nước này cuối tuần qua cũng phải thốt lên rằng, “Thật khó để hiểu những gì Philippines đang làm với việc tích cực đấu thầu và các quan chức của họ nói về khả năng giá gạo lại thêm một lần bùng nổ”.

Phía sau những bước đi đúng

Gần như chắc chắn các DN XK nước ta đã thắng thầu 3 trong 5 lô 100 nghìn tấn gạo 25% tấm với giá bình quân cao ngất ngưởng 625 USD/tấn trong phiên đấu thầu ngày 1/12 vừa qua và cũng phải tới đầu tuần sau chúng ta cũng mới có thể biết được kết quả của phiên đấu thầu đang diễn ra tại Philippines ngày hôm nay. Nhưng rõ ràng là kết quả đầu tiên này đã là một thành công mỹ mãn. Sở dĩ như vậy là bởi lẽ, trong điều kiện theo như hai ông Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực nước ta (VFA), thị trường gạo thế giới đang biến động mạnh, không thể lường hết được và dự báo giá gạo còn có thể tiếp tục tăng sau khi Philippines mở ba đợt thầu gạo với số lượng lớn, mặc dù mang đi 6 “gói” gạo 100 nghìn tấn, nhưng không nên trúng hết các gói thầu, cho nên việc chỉ trúng ba gói tổng cộng 300 nghìn tấn với giá 598 USD/tấn; 630 USD/tấn và 648 USD/tấn, tức là bình quân đạt 625 USD/tấn, tức là cao hơn chút ít so với giá bình quân 615,9 USD/tấn của hai gói 599 USD/tấn của Cty Thương mại toàn cầu Dreyfus (đặt trụ sở tại Singapore) và 639,95 USD/tấn của Chaiyporn Co Ltd (Thái Lan) là một kết quả rất đáng phấn khởi. Sở dĩ như vậy là vì, ngoài việc “để dành” nguồn hàng có hạn của nước ta cho hai cuộc đấu thầu trong hai ngày 8 và 15 tiếp theo với giá có nhiều khả năng còn cao hơn, không những chúng ta đã tăng rất mạnh giá gạo XK so với của chính chúng ta chí ít là từ đầu năm đến nay, mà với giá này khoảng cách của chúng ta với cường quốc XK gạo Thái Lan đã được “san phẳng”.

Thế nhưng, với việc trúng thầu một khối lượng gạo không nhỏ với giá cao như vậy, thì trên bình diện quốc gia, trong khi đương nhiên khoản lợi “kép” mà các DN XK gạo được hưởng vốn đã lớn lại càng lớn hơn, thì rõ ràng quyền lợi của những người nông dân làm ra hạt gạo lại càng nhỏ lại.

Trước hết, về phía các DN xuất khẩu gạo, như kết quả tính toán của một thương nhân trong nghề cho biết, nếu quy đổi giá C&F bình quân 625 USD/tấn ra giá FOB (đã trừ đi khoản lãi suất ngân hàng do khách hàng trả chậm 9 tháng), thì 300 nghìn tấn gạo 25% tấm trúng thầu vừa qua có giá vào khoảng 560 USD/tấn, tức là chỉ sau chưa tròn một tháng đã tăng được 140 USD/tấn (so giá FOB với 420 USD/tấn do thắng thầu 150 nghìn tấn ngày 4 tháng 11 trước đó) và tăng tổng cộng 42 triệu USD.

Hiển nhiên, đây là khoản lợi nhuận thực sự khổng lồ trước hết là do sự xô đẩy của thị trường thế giới đem lại cho các DN XK gạo nước ta.

Thế nhưng, bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận rằng, những khoản hỗ trợ không nhỏ của Chính phủ trong thời gian qua cũng giữ vai trò “xây nền” cho khoản lợi nhuận “kếch xù” này. Bởi lẽ, với việc Chính phủ mạnh tay áp dụng giải pháp hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay dự trữ 900 nghìn tấn gạo trong thời hạn 4 tháng trong thời gian gần đây, trong đó chính sách ưu đãi này đối với nửa triệu tấn gạo vẫn đang còn hiệu lực đến hết ngày 20/1/2010. Đây là “liều thuốc bổ” giúp các DN trong VFA tích cực mua được một khối lượng gạo dự trữ có lẽ kỷ lục từ trước tới nay.

Không những vậy, đương nhiên nguyên nhân đích thực của việc Chính phủ phải chi ngân sách hỗ trợ các DN tăng thu mua lúa gạo là không ngoài mục đích giảm thiểu tình trạng được mùa mất giá, cho nên rất có thể khoản lợi mà các DN XK gạo được hưởng do giá lúa gạo trong nước tụt dốc trong chính thời đoạn tăng mua tích trữ còn lớn hơn nhiều so với phần được hưởng lợi trực tiếp từ khoản chi ngân sách nói trên của Chính phủ. Trong khi các DN XK gạo được hưởng những khoản lợi như vậy, những người nông dân làm ra chính những hạt gạo XK này lại không được chia sẻ  vì họ đã bán lúa từ lâu. Mặc dù vậy, công bằng mà nói, cái mà họ có thể được hưởng là hi vọng ở vụ thu hoạch tới.

Giảm căng thẳng ngoại hối

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:28 am
Tags: ,

Trong Bản tin nợ nước ngoài của Bộ Tài chính công bố dư nợ nước ngoài của Chính phủ năm 2008 là 21,8 tỷ USD, tăng 2,6 tỷ USD so với mức 19,2 tỷ USD của năm 2007.

Tuy nhiên, báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội lại đưa ra số liệu khác: “Nợ Chính phủ tăng cao, năm 2008 ước 36,5% GDP; năm 2009 khoảng 40% GDP và năm 2010 chừng 44% GDP”. Nợ của Chính phủ ở đây, ngoài nợ nước ngoài, còn bao gồm cả nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị trường trong nước. Tại hội thảo “khủng hoảng tài chính và giám sát an toàn vĩ mô” do Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia tổ chức tại Hà Nội, cho biết theo số liệu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm từ 23 tỷ USD vào cuối tháng 11-2008 xuống còn 17,3 tỷ USD cuối tháng

7-2009. Nếu số liệu của ADB chính xác, thì trong vòng 6 tháng, dự trữ ngoại hối sụt giảm tương đối nhanh tới 5,7 tỷ USD. Vì sao dự trữ ngoại hối giảm? Trước hết, luồng ngoại tệ qua kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp năm nay tuy không bằng năm 2007 nhưng so với năm 2008 cũng không thấp hơn nhiều. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được hơn 8 tỷ USD.

Các ngân hàng cho vay khoảng 8,5 tỷ USD cho những dự án dài hạn nên đây không phải là áp lực hay rủi ro tiềm ẩn lên tỷ giá. Bộ Tài chính dự báo kiều hối năm 2009 đạt khoảng 6,8 tỷ USD, chỉ thấp hơn 400 triệu USD so với năm 2008. Song, số liệu từ phía ngân hàng lại không khả quan như vậy. Các ngân hàng phản ánh lượng kiều hối về ít hơn, nhưng quan trọng là người nhận không bán cho ngân hàng theo tỷ giá niêm yết.

Họ nhận bằng ngoại tệ sau đó gửi tiết kiệm ngoại tệ hoặc mang ra mua bán ngoài thị trường tự do. “Nút thắt” của sự cân đối luồng ngoại tệ vào và ra chính là nhập siêu. Tổng cục Thống kê ước tính nhập siêu 10 tháng đầu năm nay là 8,78 tỷ USD. Nhập siêu cả năm có thể vượt 10 tỷ USD. Xét về lý thuyết, việc giải ngân vốn đầu tư nước ngoài, vay nước ngoài, kiều hối… có thể bù đắp nhập siêu.

Song, thực tế lại vẽ ra một “bức tranh” khác: Các nhà xuất khẩu và các công ty có nguồn thu ngoại tệ đều “găm giữ” ngoại tệ trên tài khoản, vốn huy động ngoại tệ từ dân cư tăng mạnh, khiến USD huy động dư thừa mà USD thương mại lại thiếu hụt. Ai cũng biết rằng, nợ nước ngoài bằng ngoại tệ thì nước ta phải trả bằng ngoại tệ. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào việc Việt Nam có “kiếm” đủ ngoại tệ để trả các khoản nợ đến hạn hay không, chứ việc tính toán bằng tiền đồng dường như chả có ý nghĩa gì trên bình diện quốc gia.

Nói một cách nôm na, nếu mình vay của hàng xóm 20 cân gạo thì phải làm sao có được 20 cân gạo để trả, chứ không phải là tính toán quy đổi 20 cân gạo thành ngô khoai sắn. Khả năng trả nợ của một quốc gia có thể trông chờ vào khả năng tích lũy ngoại tệ trong dài hạn. Công thức của mọi quốc gia là: ngoại tệ tích lũy = dòng tiền chảy vào – dòng tiền chảy ra.

Tóm lại, để giảm căng thẳng ngoại hối, tăng khả năng trả nợ hay tích lũy quốc gia, các chính sách tiền tệ phải nhắm tới việc tăng dòng tiền chảy vào, nhất là dòng tiền thuộc sở hữu của quốc gia và giảm bớt dòng tiền chảy ra, nhất là chi cho nhập khẩu hàng hóa dịch vụ. Tức là, điều chỉnh đồng tiền trong nước theo hướng có lợi cho xuất khẩu, cho sản xuất trong nước, những ngành có lợi thế cạnh tranh, sẽ làm cho kinh tế tăng trưởng và gia tăng khả năng trả nợ.

Thành tựu, con số và câu chuyện giảm nghèo

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:27 am
Tags: , ,

SGTT – Theo công bố của Chính phủ với các nhà tài trợ, trong năm 2009 đầy khó khăn này, 1% các hộ gia đình ở Việt Nam dự kiến sẽ thoát nghèo. Như vậy, sau gần bốn năm của nhiệm kỳ thủ tướng đương nhiệm, Việt Nam đã đạt được một sự bứt phá đáng kinh ngạc trong sự nghiệp giảm nghèo, khi tỷ lệ hộ nghèo giảm 9% từ mức 20% vào thời điểm cuối năm 2005.

Tuy nhiên, nhìn kỹ đằng sau thành tựu giảm nghèo người ta lại nhìn thấy những con số và những câu chuyện khác.

Hai câu chuyện thoát nghèo

Ông Nguyễn Văn Thắng, 42 tuổi, quê xã Tân Thành, huyện Kim Sơn, Ninh Bình, được xếp vào diện nghèo, do ông đau ốm từ lâu, và thu nhập gia đình chủ yếu dựa vào tiền công đan chiếu cói của bà vợ và cô con gái đầu lòng. “Trồng lúa chủ yếu để có gạo mà ăn, chứ nếu tính đầy đủ hầu như chẳng có mấy lãi, do giá lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu, hay thuê cày bừa, ngày càng tăng”, ông Thắng nói.

Nhưng thấy những trợ cấp của Nhà nước không đủ thuốc thang cho cha, và đảm bảo tiền học hành cho mình, hai cô con gái sau của ông lần lượt nghỉ học, sau khi học hết lớp 9, để phụ mẹ đan cói. “Bốn mẹ con cháu đổ đồng mỗi ngày kiếm được 60 ngàn đồng, cả tháng được ngót nghét 2 triệu. Trừ tiền thuốc thang cho tôi, gia đình tôi với năm khẩu đã được xếp lên diện cận nghèo”, ông hồ hởi khoe với phóng viên SGTT.

Trong khi đó, hộ bà Nguyễn Thị Lụa, cùng xóm với ông Thắng, lại được đưa ra khỏi danh sách nghèo theo một cách khác. Bà kể rằng mỗi ngày bà kiếm được khoảng 8 ngàn đồng tiền công đan sọt, cô con dâu kiếm gấp rưỡi, còn anh con trai trong làng ai thuê thì làm, còn không thì đi đánh giậm kiếm thêm con cua, con cá cho bữa ăn có thêm dinh dưỡng. Theo bà, hồi đầu năm nay, khi lập danh sách ở xã người ta đã đưa gia đình bà, gồm năm người kể cả hai đứa cháu nội, vào diện nghèo. Nhưng sau đó ra bình bầu, gia đình bà lại được chuyển sang danh sách cận nghèo.

“Mình tuy nghèo, nhưng có những người còn nghèo hơn, để người ta hưởng trợ cấp trước. Cùng bà con làng xóm cả, tranh cãi làm gì. Thế nào chẳng đến lượt”, bà lão giáo dân đã hơn 70 tuổi, vừa vòng một cánh tay ra sau đấm lưng, vừa thủng thẳng nói.

Một thành viên ban lãnh đạo xã Tân Thành, giấu tên, giải thích: “Huyện bảo năm ngoái, tỷ lệ hộ nghèo ở xã là 11%, năm nay phải phấn đấu đưa xuống dưới 10%. Chúng tôi đành chọn con số 9,9%, tính ra số hộ, rồi để họ tự bình bầu với nhau”.

Các con số nói gì?

Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008, được tiến hành cùng với tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới (WB) nhận xét rằng Việt Nam tiếp tục đạt được tiến bộ trong lĩnh vực giảm nghèo, tuy có sự khác biệt về phương pháp tính toán giữa tổ chức này và Chính phủ. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2008, theo WB, là 14%, so với 12%, theo Chính phủ.

Ông Martin Rama, chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Hà Nội, đồng ý rằng, bên cạnh những nỗ lực đáng khen ngợi của Chính phủ, việc Việt Nam giữ nguyên chuẩn nghèo suốt mấy năm vừa qua, bất chấp tỷ lệ lạm phát từng năm khá cao, là một trong nguyên nhân đạt được thành tích trên. Theo quyết định 170 của Thủ tướng Chính phủ, ký ngày 8.7.2005, chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 là 200 ngàn đồng/người/tháng ở nông thôn và 260 ngàn đồng/người/tháng ở thành thị. Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng 2006, 2007, 2008 và (dự kiến) 2009 lần lượt tăng 6,6%, 12,6%, 23% và (dự kiến) 6%.

Không phải chính phủ không nghĩ tới chuyện này. Hồi tháng 7.2008, thời điểm diễn ra hội nghị ban chấp hành Trung ương, trong đó có bàn về nông dân (chiếm tỷ lệ nghèo nhiều nhất), chính Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo bộ Lao động – thương binh – xã hội lập phương án điều chỉnh chuẩn nghèo, áp dụng cho giai đoạn 2009 – 2010. Năm tháng sau, bộ này đã trình Thủ tướng phương án nâng chuẩn nghèo lên 50% so với chuẩn nghèo 2005.

Tuy nhiên, phương án này đã không được phê duyệt, và một trong những nguyên nhân, theo các chuyên gia, là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và ưu tiên cần dành cho những đối tượng khác. Theo ông Nguyễn Quang Thắng, vụ trưởng Lao động, văn hoá và xã hội, bộ Kế hoạch – đầu tư, số hộ thuộc diện cận nghèo (cao hơn chuẩn nghèo đang áp dụng và dưới chuẩn nghèo theo đề nghị điều chỉnh) là hơn một triệu.

Liên quan đến tỷ lệ nghèo theo chuẩn hiện tại, ông Thắng lại nhấn mạnh đến một thách thức rất đáng quan tâm (mà Trung Quốc đã mắc phải và đang chịu những hệ luỵ). Đó là nghèo hiện nay không còn là hiện tượng dàn trải trên diện rộng mà tập trung ở những địa bàn, những nhóm nhất định, chủ yếu là ở khu vực người dân tộc thiểu số sinh sống. “Có những nơi họ chiếm tới 95%, thậm chí 100%, số hộ nghèo”, ông Thắng nói.

WB cũng chia sẻ nhận định này, dựa trên những điều tra riêng của mình. “Báo cáo điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008 cho thấy tiến bộ trong việc giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số là rất khiêm tốn. Tỷ lệ nghèo đói chỉ giảm từ 52,3% năm 2006 xuống 49,8% năm 2008, so với tốc độ giảm nghèo ở người Kinh và người Hoa (từ 10,3% xuống 8,5%)”, báo cáo của các chuyên gia WB viết.

Hành động của Chính phủ

Thay vì điều chỉnh chuẩn nghèo nói chung, cuối tháng 12 năm 2008, Thủ tướng đã ký nghị quyết 30a về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 (nay là 62 do chia tách) huyện nghèo nhất nước. Gói giải pháp bao gồm các chính sách cụ thể về hỗ trợ sản xuất, dưới hình thức tiền, hỗ trợ lãi suất tín dụng, hay gạo, để tạo việc làm, tăng thu nhập. Những thanh niên dân tộc, chưa một lần đặt chân tới các thành phố, thậm chí cũng được định hướng học nghề và ngoại ngữ để sang lao động ở các nước phát triển cao như Nhật Bản, hay Hàn Quốc.

Bộ trưởng Lao động Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đã cam kết với các nhà tài trợ rằng trong năm tới, chuẩn nghèo mới sẽ được xây dựng cho thời kỳ 2011 – 2015, tương ứng với nhiệm kỳ của một Chính phủ mới. “Với chuẩn nghèo mới, không hẳn là tỷ lệ nghèo ắt phải tăng lên lại, nhưng, chắc chắn, sẽ có rất nhiều việc cho Chính phủ trong thời kỳ đó”, giám đốc WB tại Việt Nam Victoria Kwakwa nhận xét.

Nợ công và ODA

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:26 am
Tags:

ANH QUÂN
09:51 (GMT+7) – Thứ Ba, 8/12/2009

Sau cam kết tài trợ ODA hơn 8 tỷ USD được công bố, vấn đề nợ công một lần nữa lại được hâm nóng

Sau khi cam kết tài trợ ODA năm 2010 với hơn 8 tỷ USD được công bố trong phiên bế mạc hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam lần thứ 16, vấn đề nợ công một lần nữa lại được hâm nóng.

Trước đó, những kế hoạch phát triển đầy tham vọng của Chính phủ như: phát hành trái phiếu Chính phủ tổng cộng 146 nghìn tỷ đồng trong nước và khoảng 1 tỷ USD ra nước ngoài trong năm 2010, được cho là có thể khiến nợ công tăng lên nhanh chóng, đã được “mổ xẻ” tại diễn đàn Quốc hội.

“Soi” vào tỷ lệ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài… so với GDP, có thể những quan ngại về nguy cơ tiệm cận ngưỡng bất ổn cũng có cái lý của nó. Tuy nhiên, quan điểm của các bên liên quan trong thời điểm hiện nay dường như còn khá yên tâm với tình trạng nợ của Việt Nam.

Trong ngưỡng an toàn

Báo cáo công tác quản lý nợ công của Bộ Tài chính phát đi ngày 30/11 tại hội nghị ngành tài chính cho hay, nợ công (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương), dự kiến đến cuối năm 2009 khoảng 44,7% GDP.

Trong con số này, nợ Chính phủ chiếm 35,4% GDP; nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 7,9% GDP; và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,4% GDP.

Nếu tính thêm 146 nghìn tỷ đồng và 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ, cùng với số vốn ODA tài trợ mới trong năm tới, đến hết năm 2010, tỷ lệ nợ công sẽ cao hơn nữa, có thể sẽ đạt mức 50% GDP.

Liệu nợ công có đảm bảo trong ngưỡng an toàn? Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, ông Trịnh Huy Quách cho biết, quan điểm về ngưỡng an toàn trong tỷ lệ nợ công so với GDP cũng khác nhau.

Trong khi theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp các nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP, thì theo tìm hiểu của Phó chủ nhiệm Quách, có khá nhiều nước tỷ lệ này lên đến trên 80% GDP.

Bình luận về những tương quan so sánh kể trên, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa cho rằng, tỷ lệ nợ công của Việt Nam hiện nay thấp hơn rất nhiều so với các nước (Hoa Kỳ khoảng 300% GDP). “Nếu nợ công cao hơn nữa, vẫn đảm bảo trong giới hạn an toàn cho phép”, ông Nghĩa khẳng định.

Một điểm đáng chú ý khác được Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp lưu ý trong cuộc trao đổi với VnEconomy chiều qua, đó là cơ cấu nợ. “Nợ công theo cách hiểu là Chính phủ đi vay trên thị trường, theo lãi suất thị trường thì Việt Nam không có”, ông Nghiệp cho biết.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2009, cơ cấu nợ công gồm nợ Chính phủ chiếm 79,3%; nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 17,6% và nợ chính quyền địa phương chiếm khoảng 3,1%. Trong nợ Chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 60% (trong đó 85% là ODA); nợ trong nước chiếm 40%.

“Xét về thời hạn, nợ trung và dài hạn chiếm 97%; nợ ngắn hạn (tín phiếu kho bạc) chỉ chiếm 3% trong tổng số dư nợ Chính phủ. Đó là điểm khác biệt giữa nợ công của Việt Nam với các nước”, Thứ trưởng Nghiệp dẫn lại một phần nội dung báo cáo về nợ công mà ông trình bày tại hội nghị ngành tài chính hôm thứ Hai vừa rồi.

Trên cương vị lãnh đạo cơ quan giám sát tài chính quốc gia, Phó chủ tịch Nghĩa cho biết thêm: “Các khoản vay ODA lãi suất thấp, thời hạn 40 năm, ân hạn 10 năm thì coi như cho không. Nếu có vay nhiều hơn nữa cũng không ảnh hưởng gì đến an ninh tài chính quốc gia”.

Thông tin thêm về việc phát hành trái phiếu Chính phủ trị giá 146 nghìn tỷ đồng và 1 tỷ USD trong năm 2010, Phó cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính, ông Hoàng Hải tiết lộ, thời hạn tối thiểu đối với trái phiếu Chính phủ phát hành trong năm tới là 10 năm, có loại 15 năm, với mức lãi suất hợp lý.

Nợ nước ngoài: Không đáng lo

Số liệu của Bộ Tài chính cho hay, tổng dư nợ nước ngoài trung và dài hạn của Việt Nam hiện nay (không bao gồm dư nợ ngắn hạn nước ngoài của các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng) vào khoảng 30,5% GDP.

Cụ thể, tính đến cuối năm 2009, tổng số vốn ODA đã đàm phán và ký kết các Hiệp định vay ODA và vay ưu đãi ước tính  trị giá 37,5 tỷ USD; giải ngân được 19,5 tỷ USD, chiếm 52% so với tổng số vốn ODA đã ký vay.

Bên cạnh việc huy động nguồn vốn ưu đãi ODA, trong thời gian qua, Chính phủ cũng đàm phán, ký kết một số khoản vay thương mại nước ngoài để cho vay lại một số dự án đầu tư trong các lĩnh vực điện, than, xi măng, dầu khí…

Theo Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, nợ nước ngoài trong cơ cấu nợ quốc gia tuy có cao, nhưng vẫn nằm trong ngưỡng cho phép, trong khả năng trả nợ của Việt Nam. “Hàng năm, Chính phủ vẫn dành một khoản ngân sách để trả nợ vay nước ngoài, và chúng ta chưa trả chậm bất kỳ khoản vay nào”, ông Phúc khẳng định quan điểm này trong buổi họp báo chiều nay.

Tiếp lời người đứng đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đại diện hai nhà tài trợ quan trọng là WB và ADB cũng nhất trí quan điểm trên. Bà Victoria Kwakwa nói thêm: “Không có lý do gì để chúng tôi phải lo lắng về khả năng trả nợ của Chính phủ cho khoản nợ tích lũy đến thời điểm này. Chúng tôi vẫn giám sát chặt chẽ nợ nước ngoài của Việt Nam”.

Cũng liên quan đến vay nước ngoài là nợ của khối doanh nghiệp, có hoặc không được bảo lãnh của Chính phủ. Theo Thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp, tỷ lệ nợ của doanh nghiệp nhà nước chiếm rất ít, nợ doanh nghiệp tư nhân cũng không nhiều trong cơ cấu nợ nước ngoài.

Báo cáo của Bộ Tài chính ước tính, đến cuối năm 2009, tổng giá trị vay nước ngoài được Chính phủ cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn theo số cam kết là 9,6 tỷ USD. Tuy nhiên, dư nợ bảo lãnh vay vốn nước ngoài của doanh nghiệp mới chỉ đạt 3,8 tỷ USD.

“Theo tôi, vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp đã được siết quá chặt trong thời gian gần đây. Có rất ít các hợp đồng vay vốn được ký kết, các khoản vay hiện nay chủ yếu đã ký từ trước”, Phó chủ tịch Nghĩa chia sẻ.

Cũng theo ông Nghĩa, một nguyên nhân khác khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận các khoản vay nước ngoài là do lãi suất cho vay hiện nay đã tăng từ Libor+1 trong thời gian trước lên Libor+3. “Chi phí vốn đắt hơn khiến nhiều doanh nghiệp không dám vay thêm”, Phó chủ tịch Nghĩa cho biết.

Tuy vậy, vẫn còn một điểm nữa không thể không nhắc đến. Phó chủ nhiệm Quách lưu ý rằng: “Cho dù có thể nợ công vẫn trong ngưỡng cho phép, nhưng vấn đề giải ngân thế nào để cho các khoản vay được sử dụng có hiệu quả cũng rất cần được lưu tâm”.

Blog at WordPress.com.