Ktetaichinh’s Blog

December 6, 2009

Lãi vay thông thường lên 12%/năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:10 am
Tags: , ,

LĐ) – Phá vỡ ngưỡng 10,5%/năm, lãi suất huy động VND đang được các ngân hàng điều chỉnh lên ở mức vừa phải và không ồ ạt với dự báo lãi cho vay sẽ lên đến 12%/năm sau ngày các quyết định của NHNN có hiệu lực.

Tăng vào

Chỉ ít ngày sau khi NHNN điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản, một vài các NHTM bắt đầu điều chỉnh tăng lãi suất huy động VND với mức tăng, theo như ghi nhận của NHNN vào khoảng 0,5-1,2%/năm và lên mức cao nhất 10,5%/năm đối với kì hạn trên 24 tháng. Như vậy, lãi suất huy động VND bình quân từng kỳ hạn của các TCTD đạt mức tăng 0,1-0,6%/năm so với trước khi NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản.

Trong biểu lãi suất huy động mới nhất chính thức được Techcombank áp dụng từ trưa ngày hôm qua (1.12), có đến 8 kỳ hạn khác nhau có mức lãi suất trên 10%/năm, trong khoảng 10-10,35%/năm. Đáng lưu ý trong số này có đến 3 kỳ hạn ngắn gồm 1, 2 và 3 tháng. Cộng với mức lãi suất thưởng ứng với số tiền gửi, tối đa lên đến 0,15%/năm đối với số tiền gửi từ 3 tỉ đồng trở lên, lãi suất huy động cao nhất tại Techcombank cũng đạt mức 10,5%/năm.

Một loạt các ngân hàng khác như PGBank, Vietcombank hay MB trước đó cũng sớm ban hành biểu lãi suất huy động mới với nhiều điều chỉnh. Song biểu lãi suất huy động của Tinnghiabank mới thực sự gây sốc khi đồng loạt áp dụng mức lãi suất trên 10,2%/năm đến 10,44%/năm đối với 17 kỳ hạn gửi tiền VND từ 1 tháng đến 36 tháng. Chú trọng vào nguồn vốn trung hạn, Tinnghiabank cũng công bố áp dụng mức lãi suất huy động tối đa 10,44%/năm cho đồng loạt 4 kỳ hạn 6, 7, 8 và 9 tháng.

Song với chỉ đạo các NHTM nhà nước không được đưa lãi suất huy động vượt ngưỡng 10,5%/năm của NHNN cùng với bối cảnh kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng cuối năm, cuộc đua tăng lãi suất huy động khó có thể có được những biến động ồ ạt như nhiều đợt sóng trước đây. Nhiều NHTM thay vì đưa mức lãi suất cụ thể lại ấn định mức sàn cho từng kỳ hạn, như Vietcombank ấn định mức 9,4-9,9%/năm cho các kỳ hạn 1-12 tháng và 10,5%/năm đối với các kỳ hạn trên 24 tháng. Trong một thông báo mới nhất, Vietcombank đưa ra mức lãi suất 10,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho các tổ chức kinh tế.

Tăng ra

Tác động nhanh chóng đến lãi suất cho vay VND, theo nhận định của NHNN, lãi suất cho vay VND (thông thường) vốn phổ biến ở mức 10-10,5% vào cuối tuần qua sẽ được các NHTM đưa lên sát mức 12%/năm, mức lãi suất tối đa theo quy định kể từ ngày 1.12. Vietcombank là ngân hàng hiếm hoi công bố công khai mức lãi suất cho vay VND cụ thể, vốn hiếm khi được các NHTM thực hiện. Chính thức áp dụng từ ngày 1.12, lãi suất cho vay VND ngắn hạn được Vietcombank công bố ở mức tối đa 12%/năm. Riêng với cho vay trung và dài hạn, lãi suất được tính bằng lãi suất 12 tháng của các chi nhánh cộng với 3,6%.

Cũng trong quyết định mới này, Vietcombank công bố áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống tối đa 14%/năm. Sau Vietcombank, chắc chắn sẽ có thêm nhiều NHTM khác áp dụng lãi suất cho vay tối đa đối với khoản vay thông thường khi chênh lệch giữa nguồn vốn đầu vào và đầu ra hiện chỉ còn trung bình trên dưới 2%/năm.

Cùng với các điều chỉnh lãi suất VND, nhiều NHTM trong các ngày gần đây cũng điều chỉnh tăng lãi suất huy động USD với mức tăng khoảng 0,2-0,6%/năm và lãi suất huy động cao nhất lên mức 3,6%/năm đối với kỳ hạn trên 12 tháng. Những điều chỉnh này nhánh chóng đưa lãi suất cho vay USD tăng khoảng 0,1-0,6%/năm và đưa lãi suất cho vay USD ngắn hạn tại các NHTMCP lên mức 5,5-7,0%/năm và 6,0-8,0%/năm đối với trung, dài hạn.

Các ngân hàng vẫn thăm dò

Dù mặt bằng LS huy động đã được nâng lên, nhưng nhiều ý kiến từ các NHTM cho biết là huy động vốn vẫn  khó khăn, người đến gửi tiền mới ít, chủ yếu là khách hàng đến đổi sổ sang kỳ hạn mới để hưởng LS cao hơn. Thực chất với những khoản tiền gửi lớn (hàng tỉ đồng trở lên) trước đây, một số NH đã phải thực trả cho khách hàng mức LS cao hơn  cả mức áp dụng ngày 1.12.2009 qua các hình thức tặng thêm và lãi suất thưởng. Tiền trong xã hội vào NH không còn nhiều. Có chăng sẽ có sự dịch chuyển luồng tiền từ NH lãi suất thấp sang NH lãi suất cao.

Có thể nhìn thấy trước cho dù mặt bằng LS huy động VND đã tăng hơn nhưng tình hình huy động vốn của các NHTM sẽ vẫn không được cải thiện nhiều. Thêm vào nữa, trong bối cảnh các NH rất hạn chế cho vay lại và cho vay mới nên  nhiều khách hàng không muốn trả nợ vì sợ không vay lại được. Nay với việc trần LS vay vốn sẽ tăng lên là 12%/năm từ tháng 12.2009 thì nguồn vốn trả nợ lại càng ít. Mấy ngày đầu áp dụng LS mới là thời gian các NH thăm dò và nhìn nhau. Điều các NH sợ nhất bây giờ là tiền gửi của NH mình bị chảy sang các NH có lãi suất cao hơn. Vì vậy thời gian tới thị trường sẽ còn chứng kiến các đợt điều chỉnh tăng LS huy động VND nữa của các NH hiện còn để thấp hơn mặt bằng chung.

Sự thay đổi lãi suất NH lần này đối với các DN và NĐT thì sẽ tăng thêm chi phí lãi vay. Việc tăng LS đột ngột trước thời gian chấm dứt HTLS ngắn hạn sẽ khiến các DN khó khăn trong việc ổn định kế hoạch tài chính phù hợp với tiến trình hồi phục sức mua, đồng thời làm tăng mức chi phí vốn. Tuy nhiên, tăng LS cho vay cũng khiến cho nhiều DN phải cân nhắc kỹ lưỡng khi vay vốn, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả. Việc tăng LS cho vay chắc chắn sẽ làm giảm tăng trưởng tín dụng, do vậy sẽ tác động làm giảm cung tiền và giảm tỉ giá hối đoái, do đó giảm sức ép lên lạm phát. Châu Giang

Văn Nguyễn
Advertisements

Nguồn cung ngoại tệ vẫn chưa khai thông

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:06 am
Tags: ,

Ngân hàng Nhà nước cần đẩy mạnh kết hối ngoại tệ bằng cách thu mua toàn bộ số ngoại tệ của doanh nghiệp đang găm giữ

Sau gần một tuần áp dụng chính sách tỉ giá mới, thị trường ngoại tệ có phần lắng dịu. Các ngân hàng (NH) đã mua được ngoại tệ từ doanh nghiệp (DN) nhưng không nhiều, nguồn cung USD vẫn còn hạn chế.
Khách hàng gửi tiết kiệm USD tại VIB. Ảnh: H.Thúy
Cạnh tranh đầu vào
Ngày 30-11, tỉ giá liên NH do NH Nhà nước VN (SBV) công bố giảm 5 đồng/USD so với ngày đầu tiên điều chỉnh tỉ giá mới là 17.961 đồng/USD, xuống còn 17.956 đồng/USD (ngày 26-11). Với biên độ 3%, các NH thương mại đồng loạt niêm yết giá bán ngoại tệ kịch trần 18.495 đồng/USD, giá mua vào thấp hơn giá bán ra từ 50 – 100 đồng/USD.
Tuy nhiên, giá mua USD của nhiều NH có sự khác biệt. Tại NH Ngoại thương (VCB) và NH Đầu tư Phát triển (BIDV) mua ngoại tệ tiền mặt lẫn chuyển khoản đều ở mức 18.485 đồng/USD. NH Xuất nhập khẩu, NH Á Châu mua ngoại tệ tiền mặt thấp hơn VCB từ 50 – 100 đồng/USD nhưng giá mua USD chuyển khoản ngang bằng với VCB và BIDV. Còn giá mua USD chuyển khoản tại NH Sài Gòn Thương Tín cao hơn VCB 50 đồng/USD…
Lãnh đạo các NH cho biết giá thu mua USD giữa các đơn vị chênh nhau từ 50 – 100 đồng/USD là để bảo đảm yếu tố cạnh tranh. Trọng tâm của chính sách tỉ giá mới là khuyến khích các cá nhân, DN có USD bán lại cho NH. Tuy nhiên, nguồn cung USD tăng lên chưa đáng kể, phần lớn lượng USD của các DN hiện là tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Các DN này đến thời điểm đáo hạn mới bán. Do đó, NH  phải nâng giá mua USD cao hơn NH bạn, kích thích người bán ngoại tệ. Trong khi đó, các DN nhập khẩu cho biết đã chờ đợi hơn 2 ngày nhưng chưa mua được ngoại tệ từ NH.
USD tự do tiếp tục giảm giá
Trên thị trường ngoại tệ tự do, giá USD giảm 100 đồng/USD, bán – mua quanh mức 19.500- 19.450 đồng/USD.

Một số đầu mối ngoại tệ lớn tại Hà Nội cho biết người bán USD nhiều hơn mua; tuy nhiên, số lượng bán nhiều nhất chỉ từ 10.000- 20.000 USD/ khách hàng, không có đầu mối nào đặt mua hàng trăm ngàn USD. Tại TPHCM, chủ một DN tư nhân kinh doanh vàng đồng thời là một đầu mối USD cho hay giao dịch ngoại tệ ế ẩm. Thị trường không có những DN đặt mua USD với số lượng nhiều. Theo ông này, có lẽ khách hàng đang chờ mua USD từ NH nên không tìm đến thị trường tự do. Một số đầu mối khác cho rằng tuy hạ nhiệt nhưng các đại gia ngoại tệ chưa có động thái xả hàng nên giá  USD tự do vẫn còn cao hơn NH khoảng 1.000 đồng/USD. Nếu DN nhập khẩu nhanh chóng mua được ngoại tệ của NH, USD tự do sẽ giảm giá sâu.

PGS – TS Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TPHCM:

Găm giữ ngoại tệ là đầu cơ
SBV cần đẩy mạnh kết hối ngoại tệ bằng cách thu mua toàn bộ số ngoại tệ của DN đang găm giữ tại các NH, sau đó phân phối cho các NH có trạng thái ngoại tệ âm. Đồng thời quy định sau một thời gian nhất định kể từ ngày DN xuất khẩu nhận tiền bán hàng nhưng không bán ngoại tệ cho NH, SBV có quyền thu mua. Bởi khi thị trường khan hiếm ngoại tệ, đối tượng nào găm giữ USD chứng tỏ đối tượng đó đầu cơ. Trong khi đó, Chính phủ đang quyết liệt chống hiện tượng đầu cơ để ổn định thị trường.

TS Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng chính sách tiền tệ quốc gia:

Cần triển khai các giải pháp đồng bộ
Thủ tướng đã chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty xuất khẩu bán USD để tạo cung cầu mới nhưng chưa thể thực hiện ngay được, thực tế các DN cũng mới bán rất ít, trong khi dự đoán họ còn giữ vài tỉ USD. Muốn họ bán USD theo yêu cầu còn phải có thiết chế kèm theo, cụ thể là có cơ chế giá cho người ta đỡ thiệt, thủ tục hành chính đỡ phiền hà và quan trọng là phải bảo đảm cam kết khi họ cần ngoại tệ, ngân hàng phải cung cấp ngay để phục vụ nhu cầu nhập khẩu.

Vừa rồi, SBV nâng lên để giá USD sát hơn với giá thị trường nhưng thực chất mới chỉ là điều chỉnh dần, chưa thể sát giá thị trường và chưa thể giải quyết tận gốc. Chúng ta cũng chưa đặt vấn đề kết hối vì mệnh lệnh hành chính được hạn chế sử dụng. Đồng thời với việc điều chỉnh chính sách tỉ giá từ ngày 26-11, cần song song triển khai tiếp các biện pháp đồng bộ khác. Đó là điều hành lãi suất nội tệ, ngoại tệ hợp lý hơn không để  nhà đầu tư lợi dụng vay nội tệ mua ngoại tệ bán chênh lệch. Đến nay, cung cầu tổng thể về ngoại tệ chưa căng lắm nhưng điều hành có vấn đề, có thời điểm, người bán không bán kịp, người mua không mua được số lượng lớn, phải ra chợ đen nên giá USD được đẩy lên. Vừa rồi cũng có tác động kép là giá vàng thế giới tăng cao đúng thời điểm căng thẳng về USD do các nguồn thu ngoại tệ đều giảm nên thị trường căng thẳng.

‘Bật đèn đỏ’ về môi trường kinh doanh Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:05 am
Tags:

Bật đèn đỏ” Chính phủ vấn đề cơ sở hạ tầng, các nhà đầu tư trong và ngoài nước cho rằng “nút thắt” quen thuộc này sẽ trở thành cản trở lớn với đầu tư nước ngoài và xuất khẩu của Việt Nam, nếu không được giải quyết mạnh mẽ thời gian tới.

Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – hoạt động trước thềm Hội nghị các nhà tư vấn tài trợ cho Chính phủ (CG) diễn ra sáng nay (1/12) tại Hà Nội. Với chủ đề “Phục hồi kinh tế Việt Nam“, Diễn đàn xoay quanh những vấn đề “hậu khủng hoảng” kinh tế, đặc biệt những điều tra mới nhất về cảm nhận môi trường đầu tư, kinh doanh Việt Nam năm 2009.

Sức ép quản lý tiền tệ, vàng

Đại diện cho khối doanh nghiệp trẻ, Phó Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ Hà Nội Trần Vương Anh đề cập ngay vấn đề quản lý ngoại tệ, vàng đang diễn biến phức tạp, khó lường, khiến các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng gặp rất nhiều khó khăn.

Ông Trần Vương Anh cho hay các doanh nghiệp lo ngại về việc điều hành kinh tế vĩ mô liên quan đến các thị trường như tiền tệ, chứng khoán, bất động sản, thị trường vàng hiện không có điều tiết thống nhất dẫn đến mỗi biến động của thị trường thế giới đều tác động đến hành vi đầu cơ, do vậy đầu vào của doanh nghiệp sản xuất không thể kiểm soát và hiệu quả xuất khẩu có thể bằng 0 hoặc âm.

Mô tả ảnh.
Ảnh: XL

“Với việc đồng Việt Nam hiện đã mất giá khoảng hơn 20% so với USD, giá cả nhu yếu phẩm tiếp tục tăng, các mặt hàng chiến lược như xăng dầu luôn được điều chỉnh theo thị trường thế giới và tỷ giá ngoại tệ, sức ép lên doanh nghiệp và người lao động sẽ ngày càng gia tăng”, Phó Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ phản ánh.

Bỏ thủ tục không nhất quán

Năm nay, lĩnh vực thay đổi rõ nhất được các doanh nghiệp trong và ngoài nước ghi nhận là quá trình cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính của Nhà nước.

Đánh giá cao động thái thống kê và công bố bộ thủ tục hành chính cũng như mục tiêu Thủ tướng giao các bộ, ngành, địa phương giao phải đơn giản hóa ít nhất 30% số thủ tục hiện nay, song cộng đồng doanh nghiệp đòi hỏi có những cải cách mạnh mẽ hơn.

Chủ tịch Phòng Thương mại Úc (Auscham) Paul Fairhead cho rằng các thủ tục hành chính vẫn “thiếu hiệu quả, phức tạp và phát sinh các chi phí không cần thiết làm cản trở các hoạt động kinh tế”.

Ông Alain Cany, Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu (Eurocham) thì chỉ ra quy trình cấp phép thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn phức tạp.

Khẳng định sẽ theo dõi chặt chẽ các biện pháp của Chính phủ thực hiện Đề án 30, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ Thomas Siebert cũng cho rằng cải cách hành chính, bao gồm cả việc đơn giản hóa quá trình phê duyệt, cho phép đủ thời gian để góp ý, rà soát luật, giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư là công việc quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

“Nếu Thủ tướng thực hiện các biện pháp mà ông đã hứa, thì thế giới sẽ biết rằng Việt Nam nghiêm túc trong cải cách và trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh tốt hơn. Nếu dự án này không tiến triển, cộng đồng doanh nghiệp sẽ nghi ngờ quá trình cải cách và cam kết cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam”, ông Thomas nhấn mạnh.

Trong số 5 giải pháp hàng đầu quan trọng nhất khuyến nghị Chính phủ thực hiện ngay để cải thiện môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp trong nước nhận định ưu tiên số một cần làm là tiếp tục cải cách hành chính, bãi bỏ các giấy phép, quy định, thủ tục không cần thiết và không nhất quán.

Chất lượng cơ sở hạ tầng

Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài cho rằng để cải thiện môi trường kinh doanh, ưu tiên số một là cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng.

Đã nhiều lần đề cập đến vấn đề cơ sở hạ tầng trong nhiều cuộc họp của Diễn đàn doanh nghiệp, song lần này, cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước “bật đèn đỏ” nếu Chính phủ không mạnh mẽ hơn để giải quyết “nút thắt” quen thuộc này, các vấn đề về cơ sở hạ tầng sẽ là cản trở lớn cho quá trình thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam.

Có tới 87,8% doanh nghiệp nước ngoài và 83% doanh nghiệp trong nước được hỏi cho rằng chất lượng cơ sở hạ tầng là kém và rất kém. Một trong những lời giải hiến kế cho Chính phủ là tạo động lực thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển cơ sở hạ tầng.

“Sự tham gia của khu vực tư nhân vào xây dựng, cung cấp nguồn tài chính và quản lý hạ tầng là vô cùng cần thiết, nhất là trong sản xuất điện năng và cảng nước sâu”, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ kiến nghị.

Theo ông, trong xây dựng hạ tầng cơ bản, vẫn còn tình trạng “thiếu” và “chậm trễ”, nhất là đường liên tỉnh, cầu, kể cả đường tiếp cận, điện năng, cảng biển có vị trí chiến lược, các công trình hạ tầng trên đất liền có liên quan và giao thông nội đô như hệ thống xe điện nhẹ.

Chủ tịch Eurocham tại Việt Nam Alain Cany:

Eurocham cho rằng việc Chính phủ chú trọng kích thích tài chính có thể làm chệch hướng của Việt Nam trong quá trình cải cách chung. Chúng tôi tin rằng Chính phủ không nên “đi chệch đường” bằng việc phục hồi mạnh trong ngắn hạn, mà phải tập trung vào việc giải quyết các rào cản căn bản ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo cảm nhận chung, chúng tôi cho rằng đường hướng đúng đắn của Chính phủ trong tình hình hiện nay là thúc đẩy thay đổi cơ cấu kinh tế sao cho có thể tăng năng suất và phát huy tối đa các tiềm năng tăng trưởng.

# Báo cáo của Goldman Sachs: Vietnam: Strong growth recovery with emerging cyclical risks (3-12-09) ◄

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:40 am
Tags: ,

http://www.viet-studies.info/kinhte/Goldman_Sachs_Decl_2009.pdf

Tình trạng thiếu tự do ngôn luận cản trở phát triển ở Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:38 am
Tags:

Trên đây là nhận định của các nhà tài trợ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam khai mạc hôm nay tại Hà Nội. Đối với chính quyền Hà Nội, mạng Internet là nơi lan truyền mọi thông tin ” độc hại và có dụng ý xấu ” và là nơi tập hợp ” những lực lượng thù địch ”.

In bài

Gửi bài

Bình luận bài

Đối với chính quyền Hà Nội, mạng Internet là nơi lan truyền mọi thông tin ” độc hại và có dụng ý xấu ” và là nơi tập hợp ” những lực lượng thù địch ”, như lời của Bộ trưởng Thông tin và Truyền Thông Lê Doãn Hợp tuyên bố trước Quốc hội vào tháng trước.

Thực tế cho thấy là Internet ngày càng trở thành một không gian để người dân Việt Nam hành xử quyền tự do ngôn luận, điều mà họ không thể làm được trên các mặt báo chính thức. Nhưng ngay cả trên không gian này, quyền tự do ngôn luận đang ngày càng bị siết chặt, khiến các nhà tài trợ phương Tây nay phải lên tiếng.

Tuyên bố tại buổi khai mạc hội nghị thường niên các nhà tài trợ cho Việt Nam hôm nay, đại sứ Mỹ tại Hà Nội Michael Michalak đã cho rằng, ” tăng trưởng kinh tế và sự phát triển cần một môi trường thông thoáng và minh bạch cho mọi tác nhân Việt Nam cũng như quốc tế.”

Ông Michalak chỉ trích việc chính quyền Hà Nội gần đây ” siết chặt không gian dành cho các thông tin trung thực và đáng tin cậy ”. Đại sứ Mỹ bày tỏ mối quan ngại trước những thông tin theo đó, việc truy cập vào mạng xã hội Facebook ở Việt Nam trong thời gian gần đây rất khó khăn.

Theo ông, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền trao đổi các thông tin, các ý tưởng cũng như ảnh hưởng đến quyền kinh doanh.

Về phần đại sứ Thụy Điển Rolf Berman cũng bày tỏ mối quan ngại tương tự và  nhân danh Liên hiệp châu Âu, ông đã đã kêu gọi chính phủ Hà Nội bãi bỏ các biện pháp kiểm soát Internet.

Tại hội nghị hôm nay (3/12), các nhà tài trợ cũng tỏ vẻ quan ngại về những quy định mới, mà theo họ, sẽ hạn chế chặt chẽ hơn các phương tiện truyền thông và các tổ chức phi chính phủ.

Theo lời đại sứ Thụy Điển Bergman, ” chính phủ Việt Nam phải cho phép báo chí giám sát các cơ quan quyền lực. Các tổ chức phi chính phủ phải được khuyến khích để tham gia giám sát ‘‘, để có thể giúp Việt Nam đạt mục tiêu trở thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020.

Đại sứ Mỹ Michalak cũng đề cập đến quyết định 97 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nghiêm cấm các tổ chức nghiên cứu tư nhân công bố các ý kiến phản biện những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Theo đại sứ Mỹ, quyết định nói trên ” khiến Việt Nam bớt hấp dẫn hơn so với các đối tác ngoại quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, nhưng không chỉ trong lĩnh vực này”

Việc nghiên cứu và quyền tự do ngôn luận sẽ còn bị hạn chế hơn với nghị quyết 88 sửa đổi về thành lập hội. Cho nên, Hoa Kỳ kêu gọi chính phủ thông qua một đạo luật không cản trở ” sự phát triển nhanh chóng của xã hội dân sự xuất phát từ tiến trình tự do hóa kinh tế”.

Về phần đại sứ Canada, bà Deanna Horton, yêu cầu chính phủ Việt Nam phải bảo đảm là ” mọi quy định luật lệ mới về các tổ chức xã hội dân sự và báo chí đều phải tạo điều kiện tốt hơn cho người dân tham gia vào sự phát triển của đất nước, thay vì đặt ra thêm những hạn chế mới”. Bà Horton cũng phát biểu nhân danh các nước Na Uy, Thụy Sĩ và New Zealand.

Những lời kêu gọi nói trên được đưa ra vào lúc mà vào tháng trước, theo hãng tin AFP,  một công ty cung cấp dịch vụ Internet cho biết đã nhận được lệnh của Bộ Công An ngăn chận việc truy nhập mang xã hội Facebook ở Việt Nam.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền Thông rào soát tất các các trang Web”, kể cả các trang Web đã được cấp phép và xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm.

Chính phủ Việt Nam cũng đang xem xét các quy định mới về xử phạt hành chính những tờ báo nào có những bài viết bị coi là có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước và ” đi ngược lại lợi ích của dân tộc”.

Sợ trách nhiệm, ngân hàng không dám quyết!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:35 am
Tags: , ,

Tình hình hiện nay, việc điều hành rất phức tạp, nếu NHNN đương đầu, hoặc tự động ra quyết định mà chưa được sự nhất trí cao, chưa được chỉ đạo trực tiếp, độ rủi ro sẽ lớn, tất cả các mũi nhọn đều tập trung vào NHNN và ông thống đốc.

“Tín dụng đang ở giai đoạn tình thế”

Ông Cao Sỹ Kiêm – Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước NHNN Việt Nam: Mục tiêu tổng thể của NHNN Việt Nam là phải kết hợp hài hòa an ninh sức mua đồng tiền, an ninh hệ thống với phục vụ tăng trưởng

Vấn đề ưu tiên vẫn là ổn định sức mua đồng tiền và đảm bảo an ninh hệ thống là nhiệm vụ phải phấn đấu hướng tới.

Và tất nhiên là thực hiện hai nhiệm vụ kia phải gắn với nhiệm vụ rất quan trọng thứ 3 là góp phần tăng trưởng.

Không nên đặt góp phần tăng trưởng lên đầu vì việc ấy không phải nhiệm vụ chính của ngân hàng nhà nước mà có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kể cả chính sách tài khóa sẽ được thực hiện. Nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước là ổn định sức mua đồng tiền, là bảo đảm an toàn hệ thống, là góp phần tăng trưởng.

ĐBQH Cao Sỹ Kiêm. Ảnh Việt Hưng – Dân Trí

Không có chuyện Chính phủ bảo thế này, NHNN làm thế khác

– Thực tế hiện nay, các chính sách của mình đã phục vụ mục tiêu nào là chủ đạo?

Vừa qua, chúng ta đang chuyển dần lên ổn định sức mua đồng tiền và an toàn hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi, hoạt động của NHNN hơi nặng về phục vụ tăng trưởng.

– Điều gì thúc đẩy hệ thống ngân hàng của chúng ta chuyển đổi, thưa ông?

Một là, căn cứ vào thực tiễn của tình hình kinh tế đất nước bức xúc và đòi hỏi. Hai là do yêu cầu của hội nhập. Ba là phụ thuộc trình độ của đội ngũ hệ thống ngân hàng kể cả quản lý và chuyên môn nghiệp vụ. Tất nhiên chúng ta theo hướng ấy để đào tạo, nâng cấp.

– Theo quan sát của ông, việc chuyển ưu tiên đó là kết quả của sự chuyển đổi mang tính hệ thống hay đơn thuần, đó chỉ là sự điều chỉnh nhất thời, trước mắt do đòi hỏi của tình hình?

Đây không phải là do tình thế mà là yêu cầu lâu dài, thực tiễn buộc chúng ta phải nhận thức và hành động như thế. Nó vừa giải quyết được tình thế vừa tạo điều kiện lâu dài cho chúng ta phát triển bền vững và có hiệu quả hệ thống ngân hàng.

– Việc chuyển từ mục tiêu tăng trưởng sang đảm bảo ổn định đồng tiền và an toàn hệ thống, theo ông khó khăn lớn nhất với NHNN là gì?

Đó là việc chuyển nhận thức và thay đổi hệ thống luật lệ. Hai cái tạo yếu tố, điều kiện, khi mà nó thay đổi nhận thức và luật lệ rồi thì tạo điều kiện cho ngân hàng có khả năng quyết định chính sách của mình một cách rộng hơn, tự chủ hơn và có khả năng giải quyết những vấn đề liên quan đến an ninh tiền tệ như thanh tra, kiểm tra, vấn đề lương bổng, lộc tô, trách nhiệm tài chính, chi tiêu tài chính.

Tất cả những cái đó là yếu tố để ngân hàng thực hiện chức năng của mình và nó phải được giải quyết dần dần, đồng bộ các mục tiêu này.

– Vậy thì để uyển chuyển, điều chỉnh đó phải bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu từ luật. Luật phải đảm bảo 4 vấn đề: một là, xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ là phải xếp thứ tự như thế: ổn định đồng tiền, an ninh và góp phần tăng trưởng.

Thứ hai là, xác định vai trò của NHTW theo mô hình hiện đại, mô hình hiện đại có hai việc: giao cho họ quyền quyết định, tạo điều kiện cho họ có đủ điều kiện giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh.

Thứ ba là, xây dựng một hệ thống thanh tra kiểm tra chuyên ngành riêng biệt để đủ sức phát hiện các vấn đề mà hoạt động tiền tệ gây nên kể cả giám sát điều tra, cả xử lý tại chỗ.

Nếu có cơ quan giám sát của Chính phủ như ban giám sát tài chính hiện nay phải có sự quy định và phối hợp rất rõ ràng. Phải giao quyền, giao bộ máy, giao chức năng cho hệ thống ngân hàng phải tự thanh tra, kiểm tra nghề nghiệp của mình, nghiệp vụ của mình và có thể uốn nắn thường xuyên, giải quyết thường xuyên.

– Giả sử khi NHNN đã xác định ưu tiên là ổn định đồng tiền và an toàn hệ thống nhưng chính phủ vẫn ưu tiên tăng trưởng, gây áp lực về vấn đề tăng trưởng thì giải quyết như thế nào?

Vấn đề đó không thể xảy ra được. Đã làm thì phải thống nhất, và có sự chỉ đạo từ chính phủ. Không thể có chuyện chính phủ chỉ đạo như thế này, mà ngân hàng lại thế khác được.

Phải làm thế nào để tạo sự hiểu, sự nhận thức được sự đồng hành, sự giải quyết thống nhất, chủ động chỉ đạo từ chính phủ về vấn đề này vì lợi ích quốc gia, vì sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng

Hiện nay, ngân hàng là người tham mưu đề xuất, nhưng phải đưa qua chính phủ, thậm chí có một hội đồng hoặc có sự tham gia của các ngành nhưng sau này có thể giảm bớt đi. Quyền tự chủ, tự quyết định chủ động của ngân hàng phải được nới ra.

Chính phủ chưa muốn buông, Ngân hàng chưa dám nhận

– Hiện nay, ngân hàng được tự quyết định những vấn đề gì?

Nói chung là được quyết định hết nhưng xin ý kiến chính phủ trước. Nói cách khác, Chính phủ phải được báo cáo.

“Trước đây, chúng ta chưa có quy định, nên mình có thể tuỳ nghi hành động, và chịu trách nhiệm với cái hành động đó. Hơn nữa, khi chưa có quy định, thì sau này xem xét, người ta cũng có phần chiếu cố”. Ảnh: Nhà báo và Công luận

Có 2 lẽ: một là luật lệ của chúng ta bây giờ quy định như thế. Thứ hai, ngân hàng cũng muốn như thế để đỡ trách nhiệm. Tình hình hiện nay, việc điều hành rất phức tạp, nếu NHNN đương đầu, hoặc tự động ra quyết định mà chưa được sự nhất trí cao, chưa được chỉ đạo trực tiếp, độ rủi ro sẽ lớn, tất cả các mũi nhọn đều tập trung vào NHNN và ông thống đốc.

– Nghĩa là theo ông, NHNN chưa độc lập vì bản thân ngân hàng cũng sợ chịu trách nhiệm?

Một mặt pháp luật chưa giao quyền cho, mặt khác, sự vươn lên, sẵn sàng chịu trách nhiệm của ngân hàng chưa rõ.

– Phải chăng vì thế, dự thảo luật NHNN đang thảo luận với việc nới lỏng một phần cho NHNN mà vẫn trực thuộc Chính phủ là một giải pháp mang tính thỏa hiệp?

Thực ra dự thảo cũng đã mở ra khá nhiều. Tuy nhiên, một mặt, khả năng vươn lên, khả năng đáp ứng của NHNN có hạn. NHNN cũng chưa dám nhận trách nhiệm.

Mặt khác, Chính phủ cũng chưa muốn “buông” ra ngay, và muốn buông ra cũng không được, nhất là với hai cuộc khủng hoảng vừa rồi, cả hệ thống chính trị đã phải cùng xông vào, Chính phủ và các ngành cùng làm mới xử lý nổi.

Vả lại, vai trò quyết định của NHNN bị ràng buộc bởi các luật khác, chưa đồng bộ, thống nhất. Nếu trao quyền ngay cho NHNN, để họ “tự tung tự tác”, sẽ có vấn đề. Cơ chế chính sách chưa đáp ứng ngay được, nên chúng ta phải làm dần từng bước.

Hơn nữa, lúc này, sau khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới, bắt đầu từ tiền tệ với việc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn, người ta đang xét lại hoạt động của ngân hàng, tăng cường quản lý với hệ thống các ngân hàng, đảm bảo an ninh nền tiền tệ và tài chính quốc gia.

Đó là ba lí do buộc việc điều chỉnh lần này chưa giải quyết đầy đủ và chấp nhận bước quá độ.

“Co lại”

Như ông đã phát biểu ở diễn đàn Quốc hội, Với quy định hiện nay khiến điều hành chính sách tiền tệ giật cục, vấp váp và khiến người điều hành chính sách thiếu tự tin khi ra quyết định. Từng ở vị trí Thống đốc ngân hàng nhà nước, ông có gặp trường hợp tương tự khi đưa các quyết định?

Trước, quy định của luật pháp không như hiện nay. Giao trách nhiệm, quyền hạn cũng có mức độ. Việt Nam chưa hội nhập sâu, thông lệ quốc tế chưa phải áp dụng nhiều. Bây giờ mình hội nhập sâu hơn, tất cả các nguyên tắc thị trường chúng ta phải tuân thủ chặt chẽ theo. Những cái vấp váp, thiếu tự tin vì thế cũng khác.

– Khác như thế nào, thưa ông?

Trước đây, chúng ta chưa có quy định, nên mình có thể tuỳ nghi hành động, và chịu trách nhiệm với cái hành động đó. Hơn nữa, khi chưa có quy định, thì sau này xem xét, người ta cũng có phần chiếu cố. Còn bây giờ mọi thứ đặt thành luật rồi mà anh làm sai là phải chịu xử lí ngay, hoặc anh ngần ngại, co lại, không dám làm.

Với những quy định hiện nay, liệu đã đủ mở để người chịu trách nhiệm lãnh đạo NHNN dám làm hay chưa?

Chưa. Chính vì thế đấy là bước chưa hoàn tất. Giao quyền hạn, giao trách nhiệm chưa thực sự mạnh mẽ, để người ta đủ quyền lực, vị trí để quyết đinh. Quyết định của NHNN vẫn nhất thiết phải phụ thuộc chính phủ, thông qua chính phủ.

Một mặt, NHNN muốn làm như thế cho an toàn, tránh trách nhiệm. Chính phủ nghĩ buông ra NHNN chưa làm được, nếu có gì sai sót là ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia ngay.

Có thể nói, tâm lý Chính phủ trong tình hình này chưa buông ra ngay được, và ông NHNN cũng chưa thể giữ trọng trách.

“Giằng kéo”

– Thưa ông, NHNN chưa thể hay chưa muốn giữ trọng trách và độc lập?

Cả hai yếu tố đó.

Nguyên nhân thì có hai lẽ: quy định của luật pháp, không chỉ Luật ngân hàng chưa mạch lạc, đồng bộ, nên có giằng chéo lẫn nhau. Vì thế nên không thể. NHNN tự động quyết định, nhưng không chỉ đạo được các ngành khác, chưa có sự phối hợp được với các ngành khác là bị ngay.

Chưa muốn là khi tình hình rối ren và quy trách nhiệm cao thế này, cái gì phức tạp, tránh ra được, an toàn là anh tránh, thay vì chấp nhận mạo hiểm, ra làm, và gánh trách nhiệm.

– Ông vừa nói Thống đốc khi ra quyết định bị giằng kéo bởi quy định khác. Cụ thể là gì, thưa ông?

Ví dụ, giữa trách nhiệm và quyền hạn của anh. Quyền hạn thì giao chưa đủ nhưng trách nhiệm thì gánh toàn bộ. Cái đó gây khó cho Thống đốc NHNN.

Hai là, luật của anh là luật chuyên ngành, trong khi liên quan đến nhiều luật khác: ngân sách, thương mại, bảo hiểm, và các ngành có liên quan khác.

– So với thời kì ông làm Thống đốc NHNN, cái giằng kéo có gì khác so với bây giờ?

Thời tôi làm, mọi thứ chưa có định hướng rõ ràng. Vừa làm vừa dò. Đó là giành kéo khó khăn nhất.

Bây giờ rõ rồi, có đường ray rồi, chỉ lo điều hành bộ máy, điều kiện để tăng tốc lên. Đó là cái khác lớn nhất.

Cái khó nhất là lúc chưa rõ còn bây giờ đã có an toàn hệ thống. Trước không có dây an toàn nào hết, rủi ro là phải chấp nhận thôi. Trước đây không có trích quỹ bảo hiểm tiền gửi, không trích quỹ dự phòng rủi ro, mất vốn là mất vốn…Bây giờ những cái đó ngày càng rõ và đảm bảo hơn. Cho vay thì có chính sách cho vay rõ. Vấn đề bảo hiểm: cho vay có bảo hiểm, quỹ dự phòng rủi ro. Vì thế, bây giờ an toàn rồi.

Bây giờ có quy định mức dự trữ, lãi suất cơ bản theo nguyên tắc quốc tế rồi, điều mà trước đây không có.

– Đã có an toàn hệ thống, nhưng xem ra điều hành đôi lúc vẫn “có vấn đề”?

Trục trặc do giao trách nhiệm và quyền hạn không dứt khoát, rõ ràng, không mạch lạc, không khai thác được quyền tự chủ của người ta, gắn với trách nhiệm của người ta.

– Vừa rồi, có người lo với dự thảo mới, nhiều quyền trao cho Thống đốc như vậy, liệu có cơ chế nào để giám sát tránh lạm quyền?

Đúng là có nhiều quyền hơn. Đó chính là sự mở ra hơn để tạo độc lập cho NHNN, tuy nhiên, nó chưa phải là trao sự độc lập hoàn toàn cho NHTW như nhiều nước.

Trong quyền hạn và trách nhiệm có ràng buộc. Đó chính là cơ chế. Ví dụ, anh được phép sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ, thì khi có hệ quả, anh phải chịu trách nhiệm với vấn đề này. Không phải quyền anh bung ra nhưng anh lại không phải gánh trách nhiệm, hệ quả gì hết. Như thế là không được.

Thực tế, như ĐBQH đã nêu, chúng ta quyết mức lạm phát, chỉ tiêu thâm hụt ngân sách, thế nhưng, đến khi chỉ tiêu đặt ra không đạt được, không ai phải chịu trách nhiệm? Mà tình trạng này, chắc chắn chưa cải thiện được ngay.

Đơn cử, Quốc hội quyết định mức lạm phát 7%, nhưng sau này, có khi không đạt được 7% thì quy trách nhiệm cho ai? Trách nhiệm của Quốc hội là nơi quyết, hay trách nhiệm thuộc về nơi đề xuất, hay Quốc hội quyết định hướng, còn chính sách cụ thể không đúng hướng với tôi, thì trách nhiệm thuộc về Chính phủ?

Đấy là những điểm nhập nhèm, chưa rõ.

– Dự thảo Luật NHNN đang thảo luận và chuẩn bị thông qua lần này liệu có xử lý được những nhập nhèm này?

Vẫn chưa. Thế nên mới nói chưa tiến được theo hướng mạnh mẽ, mạch lạc. Đây chính là những vấn đề cần làm rõ từ nay tới khi bấm nút.

Vẫn còn trở ngại để Việt Nam nâng chất lượng tăng trưởng’

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:35 am
Tags:

Hệ thống ngân hàng yếu kém, cơ sở hạ tầng hạn chế, nhân công có tay nghề còn thiếu… là những trở ngại để Việt Nam nâng chất lượng tăng trưởng. Đó là nhận định của Trưởng đại diện Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) Fiona Lappin khi trao đổi với VietNamNet trước giờ khai mạc Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG 2009), sáng nay (3/12) tại Hà Nội.

Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân

Tại kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu đã chất vấn Chính phủ về chất lượng tăng trưởng. Từ góc nhìn của nhà tài trợ, bà nhận định thách thức hướng tới chất lượng tăng trưởng theo chiều sâu ra sao, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực trở thành nước có thu nhập trung bình?

Theo tôi hiểu, tăng trưởng chất lượng cao là tăng trưởng mang lại lợi ích cho số đông mọi người. Tôi chia sẻ quan tâm của các đại biểu Quốc hội đối với vấn đề này.

Vẫn còn nhiều trở ngại để Việt Nam có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng ví dụ như hệ thống ngân hàng còn yếu kém, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, việc sử dụng các nguồn lực chưa hiệu quả, minh bạch, tình trạng quan liêu nặng nề và nhân công có tay nghề còn thiếu.

Mô tả ảnh.
Bà Fiona Lappin: Chính phủ đã nỗ lực rất nhiều, nhưng các chương trình giảm nghèo phối hợp với nhau kém hiệu quả. Ảnh: DFID

Các đối tác phát triển, trong đó có Vương quốc Anh, luôn sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam giải quyết các thách thức này trong quá trình trở thành quốc gia có thu nhập trung bình và tiếp tục phát triển.

Một trong những mối quan tâm của DFID tại hội nghị CG là việc tạo ra nhiều việc làm chất lượng cao cũng như cải thiện khả năng kiếm được việc làm của những người mới gia nhập thị trường lao động. Vì sao DFID quan tâm vấn đề này, thưa bà?

Gần 52% dân số Việt Nam đang làm việc trong lĩnh vực nông thôn. Hàng năm, khoảng 300.000 người bỏ nông thôn ra thành phố tìm việc trong lĩnh vực dịch vụ hoặc sản xuất, cùng với khoảng 1-1,5 triệu thanh niên mới gia nhập thị trường lao động.

Ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đối với cầu về lao động làm cho việc tạo công ăn việc làm trở thành thách thức lớn hơn bao giờ hết.

“Điều quan trọng là bảo vệ mọi người không tái nghèo và đưa ra những biện pháp bảo trợ xã hội mới, để giải quyết được các thách thức phát sinh từ việc trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, như tình trạng bất bình đẳng tăng cao hay nghèo đô thị”.
Việt Nam có khoảng 77% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và phi chính thức – hình thức tự doanh nhỏ lẻ và nhân công là người trong gia đình không được trả lương. Đây là những đối tượng dễ bị tổn thương: thu nhập không đủ sống, làm việc trong điều kiện tồi tàn và không được tiếp cận với bảo hiểm xã hội. Đa phần trong số họ là phụ nữ.

Chính vì vậy, chúng tôi khuyến khích Chính phủ Việt Nam có những biện pháp thực tế để tạo ra các công việc có chất lượng, nâng cao khả năng kiếm việc làm của những đối tượng mới gia nhập thị trường lao động.

Tôi nghĩ rằng Chính phủ nên tạo môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tư nhân, vì họ đóng vai trò lớn trong việc tạo việc làm cũng như đào tạo nhân công phù hợp với nhu cầu thị trường nhất.

Không lơ là thách thức giảm nghèo

DFID cũng lưu tâm Chính phủ không nên lơ là trước những thách thức trong việc giảm nghèo khi khủng hoảng, suy thoái kinh tế đã tạo ra những dư chấn nhất định với người nghèo. Điều này cần được hiểu rõ như thế nào?

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc giảm nghèo, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phía trước. Vẫn còn một số nhóm đối tượng mà tỉ lệ nghèo cao, tốc độ giảm nghèo còn chậm. Ví dụ, người dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14,5% dân số nhưng tỉ lệ nghèo lên đến 52%. Hay vấn đề nghèo của người nhập cư đang ngày càng rõ nét.

“Có những khía cạnh quan trọng khác của nghèo, như việc thiếu tiếp cận với các dịch vụ xã hội, hay không có tiếng nói trong quá trình ra các quyết định có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mình”.
Mặc dù Chính phủ đã nỗ lực rất nhiều, nhưng các chương trình giảm nghèo phối hợp với nhau kém hiệu quả. Sự song trùng và thiếu đồng bộ đã dẫn đến sự chồng chéo trong các nỗ lực giảm nghèo hướng tới một số nhóm đối tượng, trong khi có thể lại bỏ qua những nhóm đối tượng khác, ví dụ như người nhập cư. Đồng thời, chi phí vận hành cũng tăng cao, nên hiệu quả của các chương trình đối với người nghèo bị giảm xuống.

Bên cạnh đó, các chương trình giảm nghèo ở Việt nam có khuynh hướng sử dụng tiền tệ làm thước đo và biện pháp can thiệp đối với vấn đề nghèo mà không nhìn nhận thấu đáo về bản chất rất đa dạng của nghèo.

Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009 là một lời cảnh tỉnh rất nghiêm túc. Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực giảm nghèo nhờ những nỗ lực vượt bậc có thể dễ dàng bị xóa bỏ và các hình thức nghèo mới lại xuất hiện. Chính vì vậy, điều quan trọng là bảo vệ mọi người không tái nghèo và đưa ra những biện pháp bảo trợ xã hội mới, để giải quyết được các thách thức phát sinh từ việc trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, như tình trạng bất bình đẳng tăng cao hay nghèo đô thị.

Bà có thể phân tích thêm nhận định rằng các chương trình giảm nghèo ở Việt Nam có khuynh hướng sử dụng tiền tệ làm thước đo và can thiệp đối với vấn đề nghèo mà không nhìn nhận thấu đáo về bản chất rất đa dạng của nghèo?

Hiện tại, mức nghèo ở Việt Nam được xác định bởi thu nhập: ngưỡng nghèo là 200.000 đồng đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng ở thành phố. Tuy nhiên, có những khía cạnh quan trọng khác của nghèo, như việc thiếu tiếp cận với các dịch vụ xã hội, hay không có tiếng nói trong quá trình ra các quyết định có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mình.

Không phải bất cứ người Việt Nam nào cũng có thể tiếp cận các dịch vụ công trong giáo dục, y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường. Số liệu gần đây nhất công bố cho thấy chỉ có 55,6% hộ gia đình dân tộc thiểu số được tiếp cận với nguồn nước uống an toàn. Việc thiếu tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản sẽ giam hãm mọi người trong vòng luẩn quẩn của đói nghèo.

  • Xuân Linh

“Thống kê giá cả vĩ mô của Nhà nước phải xem lại”!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:28 am
Tags: ,

Ông Vũ Vinh Phú, Uỷ viên Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội nhận định.

Mặt bằng giá mới đã hình thành

Ông
Ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội

Thưa ông, ông nhận xét như thế nào về tình hình giá cả trong thời gian gần đây, khi liên tục có nhiều mặt hàng “bứt phá” quá cao?

Hiện nay, các mặt hàng thiết yếu từ 2007 đến nay  tăng gấp đôi gấp rưỡi. Ví dụ một chai dầu 5 lít trước 80 nghìn đồng, nay tăng lên 150 nghìn đồng, củ su hào trước 1.500 đồng, bây giờ tăng lên 4 nghìn, một mớ rau muống trước đây 1000 đồng bây giờ tăng 3000 – 5000 đồng, một cân thịt bò trước 70 nghìn bây giờ lên 140 nghìn đồng, 1 cân thịt lợn trước 40 nghìn giờ tăng lên 80 nghìn đồng…

Mặc dù chỉ số giá 2009 Tổng cục Thống kê công bố là 4-5% gì đó nhưng mặt bằng giá cao rồi nên giá cũng sẽ không thể xuống nữa, chỉ có lên thôi, đã hình thành một mặt bằng giá mới.

Nguyên nhân của việc giá cả tăng cao là do đâu, thưa ông?

Hiện nay hệ thống phân phối qua nhiều tầng nấc trung gian, kể cả chi phí tiêu cực, cả chi phí chính thức. Một viên thuốc qua tới 3-4 khâu phân phối. Một con tôm qua đến 4-5 lần thương lái rồi mới đến tay người tiêu dùng.

Thứ hai, năng suất lao động của mình trong sản xuất là rất thấp, theo thống kê năng suất của mình thấp từ 2-32 lần so với thế giới nên giá thành cao. Tôi ví dụ chỉ có 5 người nông dân ở Mỹ sang vùng ngoại thành Hà Nội mà chăn nuôi tới mấy vạn con lợn, hay đưa công nghệ trồng cà chua của Isarel năng suất từ 10 tấn/ha lên tới 60 tấn/ha. Những việc đó mình vẫn chưa làm được.

Một nguyên nhân nữa là nguyên liệu đầu vào hiện nay phụ thuộc nhiều vào thế giới, từ năng lượng, xăng dầu, phụ liệu đều phụ thuộc vào nước ngoài, nên họ sốt giá thì mình cũng sốt theo, họ gian lận thì mình cũng phải gian lận theo…

Thứ ba, nghiên cứu cho đầu tư phát triển sản xuất ít.

Thứ tư, kỹ năng tay nghề của người lao động, sản xuất ít.

Thứ năm là quản lý nhà nước yếu kém, đã giá cả thấp rồi hàng giả, buôn lậu cũng nhan nhản, kiểm soát buôn lậu mới chỉ là chạm vào phần nổi của tảng băng chìm.

Cuối năm giá cả tăng 2-5%

Vậy giải pháp phải làm thế nào để người có thu nhập thấp đặc biệt là đại bộ phận người dân nông thôn có thể tiếp cận được hàng hóa giá rẻ, thưa ông?

Quan trọng nhất phải có vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước, phải có trách nhiệm làm trong sạch lực lượng công an, hải quan biên giới, quản lý thị trường chống hàng lậu, hàng giả bảo vệ cho sản xuất trong nước…

Trong chỉ đạo điều hành của nhà nước phải có một nhạc trưởng, phải tạo chuỗi cung ứng từ sản xuất đến tiêu thụ bán lẻ khép kín, ít trung gian mà hiệu quả. Nếu không làm được chuyện này thì con tôm chở từ tỉnh Thái Bình vẫn sẽ phải mất phí cầu đường, phí thương lái, phí tiêu cực này nọ.

Những phí tiêu cực đó nó chui vào con tôm thôi chứ chẳng chui đi đâu. Một kg tôm từ 80 nghìn lên đến Hà Nội thành 160 nghìn/kg ngay.

Phải thiết lập, xây dựng, quy hoạch hệ thống phân phối, phải có chỗ để người dân đưa hàng hóa vào, đừng ngăn sông cấm chợ, đừng thu phí gì cả, tạo điều kiện cho người dân đưa hàng hóa vào chợ bán. Hiện nay các siêu thị mới đáp ứng được 15% nhu cầu hàng hóa, còn lại là chợ, cửa hàng bán lẻ.

Chúng ta cứ hay nói chợ cóc chợ tạm mất mỹ quan đô thị, nhưng nếu tính độ hiệu quả thì nó tiết kiệm được tới 5% chi phí cho người dân. Nếu quy hoạch tốt thì con số tiết kiệm này còn tăng lên nữa.

Trong thống kê giá cả vĩ mô của Nhà nước phải xem lại. Chứ hiện nay giá cả tăng cao nhưng thống kê lại rất thấp. Tôi ví dụ từ đầu năm đến nay tăng giá xăng 8 lần, nhưng giảm có một lần 500 đồng, gas tháng 11 vừa rồi tăng ba lần.

Thưa ông, còn một vấn đề mà người tiêu dùng rất quan tâm là với việc giá cả cá mặt hàng thiết yếu liên tục tăng như vậy thì vào dịp cuối năm liệu người tiêu dùng có phải chịu một đợt tăng giá mới hay không?

Như hiện nay là giá cả tăng cao rồi, nên vào dịp tết thì giá cả có tăng lên một chút thôi nó rơi vào con gà, cân thịt thăn, nải chuối xanh thôi chứ không lên nhiều. Mức tăng khoảng 2-5% thôi. Cái chính là mặt bằng giá cao nên người dân sẽ mua không được nhiều hàng hóa thôi.

Thưa ông, còn “Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn” có góp phần khắc phục tình trạng giá rẻ để người nông dân được tiếp cận hàng hóa, đặc biệt vào dịp tết?

Thực ra đây cũng chưa hẳn thành một thị phần cố định mà mới dừng ở phong trào. Nếu muốn người dân nông thôn tiếp cận hàng hóa thì lâu dài anh phải đặt hệ thống phân phối đại lý ở nông thôn một cách đều đặn.

Nhưng dù sao trước mắt người nông dân cũng đã tiếp cận được nguồn hàng phong phú từ chính những doanh nghiệp sản xuất nội địa.

Xin cảm ơn ông!

Mạnh Hùng(thực hiện)

Trần Ngọc Sương – ‘Chốt thí’ của tranh giành đất đai

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:27 am
Tags: , ,


Lữ Tống (Viết riêng cho Người Việt)

Lời Tòa Soạn báo Người Việt: Trong những ngày gần đây, báo chí và dư luận trong nước xôn xao về vụ án xử bà Trần Ngọc Sương (thường gọi là Ba Sương), nguyên giám đốc Nông Trường Sông Hậu thuộc tỉnh Cần Thơ. Theo truyền thông nhà nước, bà Ba Sương bị tòa án huyện Cờ Ðỏ, tỉnh Cần Thơ xử 8 năm tù về tội tham nhũng, lập “quỹ trái phép.” Nhưng dư luận thì nghĩ bà chỉ là “con chốt thí” trong việc tranh giành đất đai của giới cầm quyền tại Việt Nam. Vụ bà Ba Sương gây chia rẽ dư luận khi người bênh, kẻ chống. Nó “nổi tiếng” đến mức ngay cả cựu Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình, đương kim Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng “nhảy vào” có ý kiến. Vậy bà Ba Sương là ai và vì sao vụ án này “nổi tiếng” như vậy? Bài viết dưới đây của tác giả Lữ Tống sẽ giải thích phần nào cho những câu hỏi này.

1.  ‘Anh hùng’ hay ‘nạn nhân’ của mô hình XHCN?

Năm 1981, bà Trần Ngọc Sương bước vào Nông Trường Sông Hậu thuộc huyện Cờ Ðỏ, thành phố Cần Thơ, chính thức làm một cán bộ nông trường. Năm 2000, bà thừa hưởng vị trí giám đốc nông trường do cha bà là ông Trần Ngọc Hoằng để lại sau khi ông qua đời. Ông Hoằng được phong danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.” Cũng trong năm 2000, bà được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” và đây là trường hợp hiếm hoi mà trong một gia đình cả cha và con cùng được phong danh hiệu này.

Vậy mà trớ trêu thay, người được phong “danh hiệu anh hùng” vài năm trước giờ đang phải đối mặt với bản án 8 năm tù về tội “lập quỹ trái phép.”

Bà Sương chính thức bị công an thành phố Cần Thơ khởi tố vì “lập quỹ trái phép” trên 9.2 tỉ đồng. Các sai phạm của bà Sương được báo chí công bố qua chứng cứ thu thập được từ cơ quan điều tra xác định Ban Giám Ðốc Nông Trường Sông Hậu mà cụ thể là bà Sương đã ra lệnh cho bộ phận kế toán, thủ quỹ chi hết số tiền này vào các việc như: mua nhà, đất, mua cổ phần, quà sinh nhật, chi phí đi công tác không minh bạch… trên 3 tỉ đồng; chi biếu tặng cá nhân, các cơ quan, ban ngành, chi cho đoàn kiểm toán, đám tiệc, để tiếp khách… trên 5 tỉ đồng. Kết quả giám định tài chính cho thấy việc chi nguồn quỹ trái phép hơn 9 tỉ đồng nêu trên làm ngân sách bị thiệt hại 5,3 tỉ đồng.

Báo chí cũng đưa tin cơ quan điều tra phát hiện bà Sương đã ra lệnh xuất quỹ tiền mặt của nông trường hơn 9 tỉ đồng khác để mua 32 miếng đất, 1 căn nhà với tổng diện tích trên 203,000m2, giao cho người nhà của bà và 7 cá nhân ở NTSH đứng tên chủ sở hữu. Trong số tiền này, bà Sương hưởng 243 triệu đồng khi vào năm 2003 bà ra lệnh mua căn nhà số 22 Ðinh Tiên Hoàng, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và 337 triệu đồng mua căn nhà số 17 Ðiện Biên Phủ, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.

Cơ quan điều tra còn phát hiện được nhiều phiếu chi từ các nguồn tiền trên từ năm 2000 đến năm 2006 như: chi mua 16 lượng vàng 24K để mừng sinh nhật và chúc tết bà Trần Ngọc Sương.

Ông Trần Ngọc Hoằng, nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu, cha bà Sương, đã chết từ Tháng Bảy, năm 2000, nhưng bà Sương vẫn tiếp tục ra lệnh cho kế toán lập chứng từ chi trả lương kiêm nhiệm và trợ cấp lương cho ông Hoằng hằng tháng, từ Tháng Bảy, 2000 đến Tháng Mười Hai, 2007, với số tiền trên 250 triệu đồng do bà Sương trực tiếp ký nhận… Bà Sương cũng đã ra lệnh thủ quỹ xuất tiền quỹ trái phép của Nông Trường Sông Hậu để cho nhân viên của nông trường đứng tên 6 lô đất trên 70,000m2 và 1 căn nhà, sau đó bà Sương chỉ đạo bán 4 lô, với diện tích 25,000m2 được trên 4 tỉ đồng để ngoài sổ sách. Cơ quan điều tra cũng phát hiện bà Sương đã ra lệnh lấy 14,449m2 đất của Nông Trường Sông Hậu chuyển cho bà đứng tên chủ quyền…

Danh sách sai phạm của bà Trần Ngọc Sương còn dài, tuy nhiên tất cả những chia chác của bà Sương nếu tính lại thì không thấm vào đâu so với những vụ tham nhũng khác, chẳng hạn như PMU 18 hay gần đây nhất là vụ Huỳnh Ngọc Sỹ. Có điều lạ là khi tòa phúc thẩm Cần Thơ tuyên y án 8 năm tù giam cho bà Sương thì dư luận lập tức phản ứng. Trước tiên là các tên tuổi, chức sắc cao cấp nhất của chế độ, tiếp đến là mặt trận báo chí và sau cùng kéo theo một số blogger tên tuổi nhập cuộc.

Căn nguyên nào mà vụ việc lại trở nên lùm sùm như vậy?

Như ở phần mở đầu, bà Sương và cha bà là ông Trần Ngọc Hoằng từng được phong tặng anh hùng khi Nông Trường Sông Hậu liên tiếp gặt hái nhiều thành quả đáng kể mà theo báo chí tường thuật thì từ tay không, ông Hoằng đã gây dựng lên nhiều ngàn héc ta đất canh tác, quy tụ hàng trăm hộ nông dân và sau một thời gian ngắn nông trường ngày trở nên trù phú và thu hoạch khá nhiều kết quả. Nhà nước nhận thấy đây là mô hình theo kiểu tập trung sản xuất thành công nhất từ trước tới nay nên khuyến khích bằng cách phong tặng danh hiệu anh hùng cho cả hai cha con bà Sương với mục đích nhân rộng điển hình của mô hình xã hội chủ nghĩa.

Và từ danh hiệu anh hùng này, bà Sương rơi dần vào sai trái khi một mình nắm cả cơ đồ trong tay. Nông Trường Sông Hậu chỉ thành công ở giai đoạn đầu, tức là thời kỳ đổi mới. Càng về sau, khi tiếp cận với thị trường cạnh tranh nó trở nên chậm chạp, chi nhiều hơn thu, kế hoạch nào cũng thất bại và nợ nần ngày một cao dần lên. Bà Sương chạy không khỏi kết quả do mình tạo ra khi những người ủng hộ bà lúc xưa dần dần bỏ đi, người chết, người về hưu và trong đó không ít người đã thất sủng. Còn lại vài người cảm thấy phải bảo vệ cho bà nên buộc phải lên tiếng cho dù vị thế của họ không còn trọng lượng như xưa, trong đó bà Nguyễn Thị Bình, nguyên phó chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một.

Bên lề cuộc họp Quốc Hội, bà Bình lên tiếng cho rằng bản án này rất bất công khi xử một con người từng được phong tặng danh hiệu anh hùng. Rằng bà Sương xứng đáng được đặc xá và bản án này cho thấy có dấu vết sai phạm và cần được xét lại.

Sau bà Bình là bà Hà Thị Khiết, bí thư Trung Ương Ðảng kiêm Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương. Rồi đến Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường. Ông Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trần Quốc Vượng, cùng với Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình, rồi Ban Thường Trực Ủy Ban T.Ư Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, và cuối cùng đích thân thủ tướng Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng cũng lên tiếng cho là cần xem lại vụ án này.

Báo chí nhập cuộc ngay sau khi Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng, người biện hộ cho bà Sương tranh luận trước tòa rằng cả hai cha con bà Sương đều là anh hùng vì vậy nếu tuyên án bà Sương tức là nã đại bác vào quá khứ. Ông Trừng còn nhấn mạnh “đây không phải là quá khứ bình thường, đây là quá khứ đã được tôn vinh.”

Nhiều bài báo vận động sự thông cảm của dư luận cho bà Sương vì hiện nay bà đang trong tình trạng nghèo túng. Vì bà là nạn nhân của cơ chế và vì gia đình bà có công thành lập một nông trường hiện đang bảo bọc cho hơn ba ngàn con người. Báo chí đòi xét nhân thân để đặc xá cho bà và cuối cùng người ta lôi ra những chi tiết chứng minh rằng bà Sương là nạn nhân của một thế lực đang có âm mưu tống bà vào tù để họ thành lập khu công nghiệp cao ngay trên mảnh đất của Nông Trường Sông Hậu.

Báo chí cũng đưa ra những bằng chứng cho thấy tỉnh ủy tỉnh Cần Thơ đã chỉ đạo vụ án ngay từ đầu và vì vậy vi phạm nghiêm trọng đến thủ tục tố tụng của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam.

Mặc cho dư luận chống đối, tỉnh Cần Thơ không có dấu hiệu bỏ cuộc khi Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Cờ Ðỏ tiếp tục khởi tố thêm nhiều tội khác của bà Ba Sương.

Nhà báo Phan Lợi tức blogger Bút Lông viết trong một bài tổng hợp các nguồn tin từ báo chí: “Bất chấp dư luận đang phản ứng dữ dội bản án 8 năm đối với Ba Sương, Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Cờ Ðỏ tiếp tục khởi tố Ba Sương về tội tham ô… Cú này coi như Cần Thơ thách đấu với dư luận xã hội!”

Dư luận đặt câu hỏi tại sao báo chí và nhiều ông to bà lớn cùng đứng chung một phía để bênh vực cho bà Trần Ngọc Sương đến như vậy. Phải chăng Tòa án tỉnh Cần Thơ đã vi phạm Bộ Luật Hình Sự khi kết tội bà Sương và phải chăng sự kết tội này nhằm triệt tiêu tiếng nói của bà để thành ủy Cần Thơ dễ dàng thu hồi 4,000 ha đất của Nông Trường Sông Hậu nhằm quy hoạch xây dựng khu công nghiệp nằm trong dự án khu đô thị mới – một dự án siêu lợi nhuận – kéo theo quyền lợi của một số người có chức có quyền ở thành phố Cần Thơ?

Còn điều gì khuất tất nữa phía sau vụ án này? Nếu tòa án Cần Thơ làm đúng chức năng của mình thì đúng ở điểm nào? Tại sao dư luận báo chí trước đó từng lên án việc xét nhân thân đối với Huỳnh Ngọc Sỹ nay lại cùng lúc nói tiếng nói chung là đòi xét nhân thân cho bà Sương?

Xin đón xem tiếp phần sau chúng tôi sẽ trình bày những ẩn khuất đang được một số báo chí cố tình che giấu hay luồn lách sự thật khi đưa những nhận định một chiều có lợi cho bị cáo.

2.  Những đường tên lỗi thời

… Kết luận của Thẩm Phán Nguyễn Văn Trinh đưa ra như một tiếng súng chát chúa vang lên tại phòng xử. Người tin vào công lý thỏa mãn với kết quả mà tòa đạt được. Kẻ liên lụy thở dài thiểu não vì mọi nỗ lực bào chữa đều không có kết quả.

Theo báo chí đưa tin thì bà Trần Ngọc Sương không có mặt tại phiên tòa và đại diện cho bà là Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng sau nhiều ngày nghiên cứu hồ sơ đã không tập trung nhiều vào các tình tiết tố tụng, ông chỉ đặt các vấn đề để mong Hội Ðồng Xét Xử suy nghĩ. Vấn đề chính mà Luật Sư Trừng đưa ra để tòa “suy nghĩ” là “một đơn vị như Nông Rrường Sông Hậu đã 2 lần anh hùng, ông Trần Ngọc Hoằng là anh hùng. Con gái ông Hoằng là bà Sương cũng là anh hùng. Cha con đều là anh hùng, đơn vị được nhiều lần tôn vinh. Nếu không xem xét, thì theo ông Trừng chính phiên tòa hôm nay sẽ nã đại bác vào quá khứ. Mà đây không phải là một quá khứ bình thường. Ðây là một quá khứ đã được tôn vinh”

Kêu gọi tòa giảm nhẹ mức án có nhiều cách nhưng lấy thành quả chính trị để xa gần đòi hỏi tòa phải nhượng bộ là một cách tranh luận lạ lùng. Luật Sư Trừng đồng thời là đại biểu Quốc Hội và hiện đang giữ chức chủ nhiệm kiêm bí thư đảng Ðoàn Luật Sư Thành Phố Sài Gòn. Mang nhiều chức vụ như vậy nhưng ông quên rằng trước tòa án mọi người đều bình đẳng như nhau, yếu tố nhân thân có thể áp dụng để giảm án nhưng không thể dựa vào đó như một cái khiên che những cáo buộc cho hành vi phạm tội.

Ông Trừng cũng cho rằng công trạng của bà Sương làm nên của cải cho nông trường rất lớn vậy thì bà có tiêu xài ngoài mục đích vài tỷ cũng chưa đủ số tiền đáng ra bà đã được hưởng theo phần trăm mà Bộ Tài Chánh đưa ra. Ông Trừng quên rằng số huê hồng nếu có chỉ hợp pháp khi mọi thu chi đã công khai và chứng minh được lợi nhuận thật sau khi thi hành thuế. Ông không chứng minh được điều này trước tòa do đó mức án phúc thẩm vẫn giữ như bản án sơ thẩm.

Bản án đưa ra được chờ đợi những tiếng khen vì đã quyết liệt căn cứ trên các bằng chứng cũng như lời khai của nhân chứng lẫn bị can và không áp dụng yếu tố nhân thân như các quan tòa trước đây từng bị dư luận đả kích. Thẩm Phán Nguyễn Văn Trinh tỏ ra cứng tay đối với mọi sức ép và dư luận khá ngạc nhiên về những phán quyết này của ông. Có thật là Thẩm Phán Nguyễn Văn Trinh muốn làm người hùng giữa lúc hệ thống tòa án Việt Nam đang ngày một xuống cấp hay không?

Báo chí không nghĩ như vậy. Họ có cách lý luận khác, và những lý luận này không căn cứ trên những quy định của pháp luật. Lý do mà hầu hết báo chí đưa ra là Tỉnh Ủy Cần Thơ đã vi phạm pháp luật khi chỉ đạo vụ án. Lý do thứ hai quan trọng hơn, động lực thúc đẩy họ không phải chỉ đơn thuần bênh vực cho bà Sương mà còn nhằm chận đứng âm mưu lấy 4,000 héc ta đất của Nông Trường Sông Hậu để thành lập khu công nghiệp mà theo đánh giá của ông Phạm Thanh Vận, phó bí thư Thành Ủy Cần Thơ thì khi đi vào thực hiện khu vực này sẽ trở thành ‘khu công nghiệp thương mại dịch vụ, xóa những dấu tích nông nghiệp trước đây theo mô hình mới. Ông Vận cho biết Thành Ủy đã xin ý kiến chính phủ chuyển đổi toàn bộ đất của cả hai nông trường Sông Hậu và Cờ Ðỏ, tổng cộng hơn 12,000 héc ta để thành lập khu đô thị mới.

Trong đó có cả phi trường, đường cao tốc, sân golf…

Ông Vận cũng khẳng định hiện đang có các nhà đầu tư của Mỹ, Hàn Quốc và một số nhà đầu tư lớn khác xin vào đầu tư. Thường Vụ Thành Ủy đang chọn lựa xin ý kiến và kiểm tra năng lực của các nhà đầu tư. Sẽ giao đất hai nông trường Sông Hậu và Cờ Ðỏ cho các nhà đầu tư theo kiểu đầu tư từ đầu tới cuối, kể cả đầu tư, khai thác, thiết kế… Ðây là hướng tương lai mà Thường Vụ Thành Ủy đang giải quyết.

Phát xuất từ những vụ tham nhũng từ trước tới nay, báo chí đánh hơi thấy đây là một phi vụ lớn mà nếu trở thành hiện thực thì người hưởng lợi nhiều nhất chính là các quan chức trong UBND tỉnh cùng các giới chức liên quan.

Thế là hầu như cùng lúc, mọi mũi tên đều chĩa về hướng này như một xác quyết, một định hướng đúng đắn bảo vệ quyền lợi đất nước. Và niềm tin này chưa thấy ai phản hồi trên mặt báo.

Người ta lo ngại tham nhũng trên tất cả mọi dự án. Và người ta luôn luôn đúng trong tình hình hiện nay, ít ra trong một thời gian dài sắp tới.

Thấy cây cong nhớ đến cung nỏ là tâm lý tự kỷ và tâm lý này che chắn mọi nỗ lực thúc đẩy đất nước trên bước đường phát triển. Nếu thật sự dự án lấy đất Nông Trường Sông Hậu để thành lập khu công nghệ mới đúng như kế hoạch mà tỉnh Cần Thơ đưa ra sẽ giúp cho tỉnh này phát triển mạnh mẽ thì mọi ngăn trở xa gần có đáng được đề cao hay không? Chưa thấy ai làm một nghiên cứu về câu hỏi này để tìm hướng thoát ra khỏi chiếc vòng kim cô mang tên “nghi ngờ” vây bủa mọi nỗ lực tìm sự phát triển cho đất nước.

Nhà báo Huy Ðức rất nổi tiếng với trang blog Osin đã viết: “Sở dĩ, hàng vạn tập đoàn, hợp tác xã, nông trường… được hình thành theo phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa đã tan tác hoặc chỉ còn tồn tại như những thây ma từ cuối thập niên 80, trong khi nông trường Sông Hậu vẫn tồn tại cho đến ngày nay là bởi có những con người thực lòng trung thành như cha con bà Ba Sương và có những nhà lãnh đạo muốn họ tiếp tục giữ mô hình ấy như một minh chứng: chủ nghĩa xã hội cũng có thể trở thành hiện thực.”

Có thật là mô hình này đã và đang thành công hay không khi chính tin tức trên VNNet cho biết theo kết luận của cơ quan điều tra thì sau nhiều năm làm giám đốc Nông Trường Sông Hậu, bà Trần Ngọc Sương đã “góp phần” đưa tổng số tiền nông trường này đang nợ ngân hàng lên đến 260 tỉ đồng, hằng tháng phải trả lãi ngân hàng gần 3 tỉ đồng. Ngoài ra, nông trường cũng đang nợ 2 tỉ đồng thuế từ nhiều năm chưa thanh toán được.

Vụ án này không nằm trong phạm vi nhà nước mà thoát hẳn ra ngoài. Báo chí đưa tin có 110 chữ ký của nông trường viên tình nguyện ở tù thay cho bà Sương vì cảm kích những việc làm của bà với họ trong thời gian qua. Mặc dù 110 chữ ký này chưa hề được chứng minh bằng căn cước thật nhưng dư luận vẫn chấp nhận như là một thành tố chứng tỏ bà Sương luôn được kính trọng vì những việc làm tốt đẹp của bà dành cho nông trường viên. Có điều đáng tiếc là trong bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát thì nhiều cá nhân đã nợ nông trường nhưng sau đó đã được lãnh đạo xóa nợ. Số tiền xóa nợ mà cơ quan điều tra xác định lên đến trên 7,6 tỉ đồng, trong đó có hai Việt kiều ở nước ngoài được xóa trên 2,5 tỉ đồng và 14 ngàn USD.

Vấn đề xóa nợ và hiện tượng 110 người đứng tên xin ở tù thay khiến người ta dễ dàng liên tưởng đến tình trạng Thái Lan hiện nay. Câu chuyện của Thủ Tướng Thaksin cho nông dân vay tiền để mua hàng hóa do thuộc hạ và gia đình ông ta sản xuất dưới danh nghĩa yểm trợ nông thôn rồi sau đó xóa sạch nợ cho họ khi họ không thể trả nổi. Sự xóa nợ đã làm cho hàng triệu nông dân vay vốn nhà nước cảm kích Thủ Tướng Thaksin và vẫn tranh đấu đến cùng cho chiếc ghế của ông ta mãi cho đến hôm nay vẫn chưa chấm dứt.

Riêng trong trường hợp bà Trần ngọc Sương thì phải hiểu việc bà xóa nợ cho nhiều nông dân lẫn viên chức có ý nghĩa như thế nào?

Nhà báo Phạm Viết Ðào có lẽ là người hiếm hoi đi khác lề với tất cả nhà báo khác. Ông viết trên trang blog của mình: “Qua vụ án Trần Ngọc Sương cho thấy hình như đã xuất hiện trận tuyến giữa một bên là báo chí với một số quan chức của các cơ quan trung ương và bên kia là các cơ quan quyền lực của thành phố Cần Thơ? Vậy đất nước ta đang ở thời kỳ “tiền Tam Quốc” hay “hậu Tam Quốc” đây?

Vụ án Trần Ngọc Sương liệu có là “khối u” của cơ chế mà không sớm thì muộn, không chỗ này thì chỗ kia cũng sẽ bục vỡ ra bởi trong cơ chế này mỗi con người đôi khi vừa là nạn nhân lại đồng thời là thủ phạm…”

Mũi tên bắn bà Sương từ Thành Ủy Cần Thơ và những mũi tên khác từ báo chí cũng như những quan chức khác phe bắn trả lại khiến người ta lo nghĩ về một vấn nạn đang xảy ra trên đất nước này đó là “Nạn Sứ Quân.” Nạn sứ quân tuy còn manh nha nhưng âm ỉ và không kém phần mãnh liệt. Bà Sương ngồi chính giữa nhận đòn từ nhiều phía, kể cả bên được xem là bênh vực cho bà. Bênh vực với những luận cứ thiếu thuyết phục chỉ làm cho sự thật mờ thêm. Và vì thế những đường tên vun vút trong không gian có vẻ như đã lỗi thời mặc dù chúng chưa đi đến đích.

Lữ Tống

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=104956&z=2

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=105036&z=2

Doanh nghiệp quyết định con đường để VN khác TQ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:26 am
Tags:

Việt Nam có những điểm đặc biệt có thể dựa trên đó để gây dựng nên các nét “riêng biệt”, định vị một con đường phát triển khác với Trung Quốc – Đại sứ Thương mại Mỹ Susan Schwab.

“Người môi giới” danh dự

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chào các bạn, lúc này bà Đại sứ Susan Schwab, nguyên đại diện thương mại Mỹ, người từng được mệnh danh là người đàn bà quyền lực đóng vai trò chính trong hoạch định chính sách thương mại Mỹ đã có mặt tại trường quay VietNamNet để thảo luận với bạn đọc VietNamNet của chúng ta ngày hôm nay.

Trước tiên, xin cảm ơn bà đã tới dự cuộc bàn tròn này. Mấy ngày qua, bà đã trao đổi nhiều điều về thương mại, kinh doanh, giờ đây, tôi muốn hỏi bà câu đầu tiên – có thể không liên quan nhiều tới công việc kinh doanh, mà là về cá nhân bà.

Bà đã sống nhiều cuộc đời trong một cuộc đời, trải nghiệm ở các vị trí lãnh đạo doanh nghiệp, giảng dạy, chính khách của chính phủ,  và ở lĩnh vực nào bà cũng giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt. Bà thấy những công việc đó thế nào và bí quyết để bà có thể lúc nào cũng thể hiện được vai trò và năng lực lãnh đạo của mình, dù ở cương vị nào?

Đại sứ Susan Schwab: Trước hết, cảm ơn VietNamNet đã mời tôi tham dự bàn tròn trực tuyến hôm nay. Thật tuyệt  vời khi  được trở lại Việt Nam và cảm nhận sự mến khách của các quan chức cũng như các doanh nhân, người dân cũng như các sinh viên mà tôi đã gặp.

Như ông đã biết, tôi đã được hưởng một đặc ân trong cuộc đời là có một sự nghiệp xuyên suốt từ khu vực công cho tới lĩnh vực tư nhân và phi lợi nhuận tại Đại học Maryland, ở đó tôi là một giảng viên. Có thể nói, ĐH Maryland là một khúc thú vị trong phần đời của mình để tôi nhớ về, cũng là quãng thời gian tôi suy ngẫm về những gì mình đã làm ở khu vực khác.

Ảnh: Lê Anh Dũng

Hệ thống của nước Mỹ rất thú vị và hơi khác so với thế giới ở chỗ, mọi người có thể chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ công việc này sang công việc khác, tùy thuộc vào việc ai là người nắm quyền lãnh đạo đất nước, và các cơ hội công việc là gì.

Cuộc đời của tôi phản ánh điều đó: tôi có quãng thời gian làm kinh doanh trong hãng Motorola, giữ một vài vị trí trong Chính phủ và giờ đây là giảng viên đại học nhưng đồng thời là Chủ tịch – Giám đốc của những công ty như Fedex.

Tôi nghĩ lý do mà tôi có thể làm được điều đó là ở quá trình học tập liên tục và tôi thích ý nghĩ  mình là một người “môi giới” danh dự – góp phần lý giải lĩnh vực này với lĩnh vực khác. Những kiến thức ở các lĩnh vực và vị trí khác nhau giúp ích rất nhiều cho công việc của tôi, nhất là trong việc giảng dạy chính sách công. Chúng ta nhận ra rằng không chỉ ở Hoa Kỳ mà nước nào cũng thế, công việc của mỗi người sẽ có liên quan tới khu vực công của chính phủ, khu vực tư nhân và phi lợi nhuận. Ngày nay,  các mối quan hệ đối tác công – tư rất phát triển. Và sự nghiệp của tôi phản chiếu sự đan chéo đó.

Tiếp tục đổi mới

Nhà  báo Nguyễn Anh Tuấn: Nếu các lãnh đạo Việt Nam muốn bà tư vấn để cải thiện kinh tế Việt Nam, trong câu trả lời của bà, ba ưu tiên hàng đầu sẽ là gì?

Đại sứ Susan Schwab: Câu hỏi này thật hay. Tôi nghĩ, đầu tiên, chính phủ cần tạo nên một môi trường trong đó các nhà đầu tư và doanh nghiệp có thể thành công tại Việt Nam. Đó là gợi ý đầu tiên của tôi.

Chính phủ Việt Nam cũng đã được khuyến nghị về việc tiến hành đổi mới nền kinh tế và các bạn đã làm rất tốt trong khoảng 8-10 năm qua. Đã có những minh chứng tuyệt vời về thành công mà công cuộc đổi mới này mang lại cho nền kinh tế của Việt Nam.

Tiếp tục hướng đi này để đảm bảo rằng sự chuyển biến đó sẽ vẫn được duy trì và đầu tư cả từ nước ngoài cũng như của các DN Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng là điều rất quan trọng.

Gợi ý thứ hai của tôi là Việt Nam nên xem xét việc kí kết hiệp định đầu tư song phương với Hoa Kỳ và xem xét thỏa thuận thương mại, như sáng kiến quan hệ đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương.

Gợi ý thứ ba của tôi là Việt Nam cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng bao gồm hạ tầng nhân lực thông qua đầu tư vào giáo dục, hạ tầng cứng: đường xá, cầu cảng, điện năng… để đón nhận tăng trưởng thương mại và kinh tế.

Nhà  báo Nguyễn Anh Tuấn: Chính phủ Việt Nam hiện rất quan tâm tới vấn đề giáo dục đại học. Tuy nhiên, điều này đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Theo bà, Việt Nam nên bắt đầu việc cải cách giáo dục ĐH từ đâu bởi vì ngay cả khi có tiền và có tư duy đúng họ cũng thiếu nguồn lực con người để triển khai. Bà có lời khuyên gì giúp họ ?

Đại sứ Susan Schwab: Sáng nay tôi có cơ hội gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Gia Khiêm và chúng tôi trao đổi về mối quan tâm của cá nhân ông cũng như của Chính phủ Việt Nam trong việc đầu tư vào giáo dục.

Tôi đã đưa ra đề xuất ban đầu về việc tạo điều kiện cho sinh viên được học tập và hưởng nền giáo dục tốt ở Mỹ và các nước, khác trong đó có chương trình trao đổi sinh viên giữa các trường  ĐH Việt Nam và Mỹ, cũng như việc các trường ĐH nước ngoài xây dựng cơ sở đào tạo tại Việt Nam cũng như giúp xây dựng chương trình giảng dạy.  Những đề xuất này thực ra cũng đang được Chính phủ Việt Nam triển khai rồi.

Các lĩnh vực tôi thấy cần quan tâm là đầu tư vào là toán học, khoa học, chính sách công, quản lý nhà nước, quản trị kinh doanh, ngôn ngữ…. như chúng tôi thực hiện tại Đại học Maryland, nơi mà tôi làm việc. Đào tạo kỹ năng là một sự đầu tư đúng đắn trong giáo dục.

Giảng dạy ĐH giúp định hướng cho tương lai dân tộc mình

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:Chúng ta giả định đã có rất nhiều sinh viên Việt Nam  theo học tại các trường đại học tốt của Mỹ, chẳng hạn như trường Maryland của bà. Nhưng khi trở lại Việt Nam,  họ đã chuyển sang khu vực tư nhân, mà  không chọn  làm việc ở các trường đại học. Vậy, làm thế nào để chúng tôi có thể thu hút, thuyết phục họ làm việc và đóng góp ở các trường đại học Việt Nam?

Đại sứ Susan Schwab: Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để thu hút người giỏi làm việc ở trường ĐH cũng như trong cơ quan công quyền và khu vực tư. Để thu hút nhân lực cho các trường đại học,  những người có bằng tiến sĩ luôn sẵn lòng về các trường ĐH làm việc nếu như họ được trao cơ hội vừa nghiên cứu, vừa giảng dạy.

Một cách tiếp cận khác mà chúng tôi đã áp dụng tại Mỹ, tại trường Maryland và các trường khác là, chúng tôi lựa chọn những người vừa là học giả vừa đang hành nghề khác – chẳng hạn như bản thân tôi – và những người có sự nghiệp trong khu vực tư hoặc khu vực công, nhưng bây giờ lựa chọn tham gia giảng dạy. Giờ đây nhiều người chuyển qua các lĩnh vực khác nhau, phân bổ thời gian của mình cho cả khu vực tư nhân và việc giảng dạy tại trường đại học.

Thí dụ thứ ba là, nhiều người đã có một công việc trong chính phủ, thậm chí cả trong lĩnh vực tư nhân, họ sẽ trở lại nhà trường để lấy thêm chứng chỉ. Khi họ quyết định từ bỏ công việc trong chính phủ, nhiều người trong số họ đã ở lại trường đại học để giảng dạy.

Rất nhiều người làm công việc giảng dạy giống như tôi đã tìm thấy những niềm vui lớn khi làm việc cùng với các bạn trẻ, và hiểu rằng chúng tôi đang định hướng cho tương lai của chính dân tộc mình.

Chương trình tiến sĩ tốt là phải hướng họ vào việc giảng dạy

Nhà báo Nguyễn Anh TuấnNhưng vấn đề là, làm thế nào để chúng ta có thể nhận ra và tuyển dụng, thúc đẩy những tài năng khi họ quay trở lại Việt Nam – vào lĩnh vực công và trường đại học? Bà có thể chia sẻ kinh nghiệm của bà về vấn đề này?

Đại sứ Susan Schwab: Có một điều là, một chương trình đào tạo tiến sĩ tốt là chương trình hướng các tiến sĩ vào việc giảng dạy. Khi đang học tiến sĩ, họ có thể giảng dạy cho các sinh viên hoặc trở thành trợ giảng tại chương trình đào tạo thạc sỹ. Do đó, họ sẽ có kinh nghiệm giảng dạy và sẽ được các giảng viên có kinh nghiệm giám sát. Những nghiên cứu sinh đó có thể nhận được sự tiến cử về kinh nghiệm mà họ có được. Cái đó được gọi là nhận ra các tài năng sớm. Tuy nhiên, đó là cả một quá trình dài.

Trong những năm qua, tôi đã làm việc với rất nhiều nhân vật rất thú vị và cũng đã đạt được thành công trong chính phủ Việt Nam. Một số trong đó – tôi đảm bảo là họ có thể trở thành những giáo sư vô cùng xuất sắc.

Tôi không biết là họ đã diễn thuyết bao giờ chưa, nhưng nếu họ có thể truyền tải những kinh nghiệm quý báu của họ trong thời gian làm việc ở Chính phủ tại tại các buổi đào tạo cấp cao chính thức, họ có thể là những giáo sư tuyệt vời và khi nghỉ hưu, họ có thể tham gia công việc giảng dạy.

Nhà  báo Nguyễn Anh Tuấn: Làm thế nào mà chúng ta có phương pháp, giải pháp để thuyết phục họ, thu hút họ vào những vị trí và công việc trong lĩnh vực công và giáo dục đại học tại Việt Nam? Bà có đưa ra lời khuyên nào cho Chính phủ Việt Nam về vấn đề này không?

Đại sứ Susan Schwab: Ông có thể chọn những cá nhân đã là lãnh đạo trong công việc của họ, hoặc ai đó được chính phủ “phát hiện ra” để trở thành lãnh đạo trong tương lai và đào tạo về kỹ năng cho họ. Hoặc ông có thể chọn những cá nhân được đào tạo bài bản và cung cấp cho họ các kinh nghiệm làm lãnh đạo trên thực tế. Nhưng cũng rất khó để có thể học làm lãnh đạo chỉ bằng việc đọc sách, vấn đề là phải biết kết hợp các yếu tố.

Nhà  báo Nguyễn Anh Tuấn: Bà có rất nhiều kinh nghiệm quý báu từ công việc kinh doanh, giảng dạy và cả trong chính phủ với tư cách là một chính trị gia. Tôi được biết là ở Hoa Kỳ có một chương trình rất đặc biệt, đó là White House Fellows cho các tài năng trẻ. Bà có thể chia sẻ thêm thông tin về chương trình này?

Đại sứ Susan Schwab: Ồ, chắc chắn rồi. Chúng tôi có các chương trình khác nhau, nhưng chương trình White House Fellows danh giá nhất và đầy tính cạnh tranh dành cho các sinh viên, thậm chí là các cử nhân đã tốt nghiệp trên khắp đất nước, với 2 năm làm việc tại các cơ quan khác nhau của chính quyền.

Kết hợp với một nhóm gồm các học viên cũ của chương trình, White House Fellows trở thành một hệ thống kết nối kinh ngạc của những cá nhân có các kinh nghiệm tuyệt vời và họ biết rất nhiều người trong chính phủ. Sau khi chương trình kết thúc, rất nhiều người đã trở lại làm việc cho chính phủ. Một số người ở lại, một số người ra đi. Nhưng họ biết rõ hơn về chính quyền và họ am hiểu cũng như ủng hộ cho chính phủ từ phía bên ngoài, ngay cả khi họ làm việc trong khu vực tư nhân.

Một ví dụ khác mà tôi cũng nghĩ đến, đó là chương trình sinh viên thực tập.  Không biết Chính phủ Việt Nam có quan tâm không, nhưng ở Mỹ, ở các cấp khác nhau, như chính quyền bang, liên bang có chương trình thực tập dành cho sinh viên trong kỳ nghỉ hè hoặc đôi khi là môn học chính thức ở nhà trường, làm việc bán thời gian ở các cơ quan của chính phủ trong vòng 3 hoặc 6 tháng, hoặc 1 năm. Nhờ vậy, họ có thêm kinh nghiệm cũng như cảm nhận được về môi trường làm việc trong chính quyền là như thế nào.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Đó quả là những kinh nghiệm hữu ích và tôi cho rằng chính phủ Việt Nam nên tham khảo và có thể áp dụng chúng.

Đại sứ  Susan Swab: Những kinh nghiệm đó thực sự rất dễ áp dụng.

Nhà  báo Nguyễn Anh Tuấn: Còn tại VietNamNet, chúng tôi đã áp dụng các kinh nghiệm này rồi.

Đại sứ Susan Schwab: Vậy thì thật tốt. Nếu áp dụng điều này trên một nền tảng cạnh tranh, với sự kết hợp chặt chẽ, các bạn có thể đưa các sinh viên với các chuyên ngành học khác nhau, từ các địa phương khác nhau, cấp độ và mức thu nhập khác nhau, mang sự đa dạng của cộng đồng vào chính quyền.

Học từ sai lầm của Trung Quốc

Nhà  báo Nguyễn Anh TuấnXin cảm ơn bà và bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang một chủ đề khác. Bà đã có một bài thuyết trình rất hay, rất ấn tượng trước công chúng Việt Nam. Qua đó, bà đã gửi tới một thông điệp rất thú vị, đó là Việt Nam nên tìm ra một con đường riêng, khác biệt với Trung Quốc, chứ không phải đi theo rồi trở thành một “Trung Quốc thứ hai”. Rất nhiều người Việt Nam thích chủ đề này nhưng làm thế nào chúng tôi có thể tạo nên sự khác biệt với Trung Quốc thì đó thực sự là một câu hỏi lớn. Bà có thể chia sẻ và đưa ra lời khuyên nào cho công chúng Việt Nam?

Đại sứ Susan Schwab: Chắc chắn rồi. Tôi có thể mô tả một số nét về Trung Quốc mà Hoa Kỳ không hài lòng mà Việt Nam có thể làm theo cách hoàn toàn khác.

Tôi cũng sẽ chỉ ra những điểm vô cùng đặc biệt Việt Nam có thể làm nền tảng để dựa vào đó để tạo dựng các nét “riêng biệt”.

Khi nói về Trung Quốc, tôi không nói với tư cách một người chỉ trích Trung Quốc mà với tư cách một người bạn của Trung Quốc – vì tôi cũng đã có nhiều kinh nghiệm thú vị khi làm việc với các doanh nghiệp Trung Quốc. Nhưng có những điều tôi cho rằng Trung Quốc đã làm theo cách không nên làm. Và, Việt Nam có thể làm theo một cách hoàn toàn khác, học từ những sai lầm đó.

Trung Quốc bắt đầu mở cửa nền kinh tế của mình vào năm 1979 và phát triển khá nhanh trong suốt khoảng 15 năm qua. Nhưng trong khoảng 2 năm vừa qua, dường như là Trung Quốc đã bị tụt lùi. Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong kinh tế và chủ nghĩa bảo hộ đang là một vấn đề nổi lên ở Trung Quốc.

Chẳng hạn như, đẩy mạnh các ngành mũi nhọn của quốc gia, bảo hộ bằng các chính sách của nhà nước mà gần đây nhất là các quy định được đưa ra về vấn đề tài chính. Trong trường hợp của Việt Nam, Việt Nam có vẻ như vẫn tiếp tục mở cửa trong lĩnh vực kinh tế, chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường. Chẳng hạn như là đưa ra các tuyên bố trong các kỳ họp của Việt Nam tại WTO. Việt Nam rất thông minh trong việc mở rộng tự do trong cách tiếp cận với khu vực dịch vụ.

Ví dụ thứ hai mà tôi đưa ra là về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Trung Quốc thiếu quyền sở hữu trí tuệ và bị chỉ trích rất nặng nề vì đã không bảo vệ đầy đủ quyền này cũng như làm cho quyền này thiếu tính hiệu lực, ví dụ như trong việc kinh doanh phần mềm, đĩa CD, xâm phạm tác quyền trên internet… và các loại bản quyền khác cũng như bảo vệ thương hiệu.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Rất nhiều sản phẩm mang nhãn Luis Vuiton, Gucci được sản xuất bất hợp pháp và có chất lượng rất tệ “được sản xuất tại Trung Quốc”, chúng ta có thể nhìn thấy đầy rẫy tại Quảng Châu với giá rẻ không thể tưởng tượng được…

Đại sứ Susan Schwab: Đúng như vậy. Bên cạnh câu chuyện về các loại hàng hóa xa xỉ, còn có các mối lo ngại về an toàn cho sức khỏe liên quan tới việc sao chép bất hợp pháp và đóng gói sản phẩm.

Chính phủ có thể có nguồn thu lớn từ việc buôn bán những loại sản phẩm này, nhưng đối với nền kinh tế nói chung, nó sẽ gây tổn hại cho hoạt động kinh doanh chính đáng. Và nó tác động xấu tới việc đầu tư, cũng như việc xây dựng thương hiệu của Trung Quốc.

Nó cũng có ảnh hưởng không tốt tới công chúng nước ngoài khi muốn sáng tác các bản nhạc hoặc viết các phần mềm mới cho máy tính.

Ấn tượng của tôi là Chính phủ Việt Nam cũng nhận ra một số vấn đề tại Việt Nam ở khía cạnh sao chép bất hợp pháp và đóng gói sản phẩm. Tuy nhiên, điều quan trọng là các bạn đang nỗ lực để giải quyết vấn đề trên.

Có những vấn đề khá nhạy cảm, thế nhưng, Chính phủ Việt Nam cũng có thể quyết tâm làm khác với Trung Quốc, đó là thực hiện cởi mở với internet, không hạn chế, và chống tham nhũng.

Đúng là internet cũng có mặt ảnh hưởng tiêu cực, thế nhưng, lợi ích tích cực của việc tiếp cận đầy đủ internet lại lớn hơn rất nhiều, đặc biệt trong việc giáo dục, cung cấp thông tin cho người dân, và thương mại điện tử. Tuy nhiên, có những chính phủ thấy rằng họ có ưu tiên khác. Họ cần hiểu rằng, điều này đồng nghĩa với việc họ đã hi sinh lợi ích giáo dục, thương mại của mình bằng việc hạn chế internet.

Còn với vấn đề tham nhũng, hãy đảm bảo công chức, viên chức có thu nhập đủ sống, và vì thế, họ không cần phải tham nhũng.

Tự giám sát để giảm tham nhũng

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thực ra, không phải vì lương thấp mà gây ra tình trạng tham nhũng ở Việt Nam. Có trường hợp quan chức Việt Nam giàu có nhưng vẫn tham nhũng, thậm chí tham nhũng còn nặng hơn?

Đại sứ Susan Schwab: Ông đã nêu một vấn đề rất thú vị. Tôi có thể đưa ra hai gợi ý. Một là liên quan đến việc thi hành pháp luật. Hiện nay, tham nhũng có nhiều hình thức được xem là hợp pháp. Tuy nhiên, cũng có sẵn câu trả lời cho vấn đề này, liên quan đến cách thức chính phủ hoạt động và điều hành. Một khi quy trình và hoạt động của chính phủ được minh bạch, công khai, khả năng tham nhũng sẽ khó hơn rất nhiều. Có cạnh tranh mở, những yêu cầu về quy trình hoạt động đều công khai trên mạng, tất cả các bên có thể tham gia, theo dõi và thực hiện. Có thể nói, đó là cách thức cơ quan công quyền có thể tự giám sát và nhờ đó, các quan chức, viên chức khó lòng có thể tham nhũng.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Không chỉ ở Việt Nam mà ngay ở Mỹ, chúng ta vẫn đang tiếp tục vận động cho sự cởi mở, công khai hoạt động của cơ quan công quyền. Tôi có một người bạn, đồng nghiệp ở ĐH Harvard bà Mary Graham từng viết cuốn sách Full Disclosure liên quan đến vấn đề này. VietNamNet cũng từng giới thiệu cuốn sách này  và nhận được sự quan tâm  của độc giả.

Tuy nhiên, việc áp dụng cách thức  minh bạch không dễ với một nước đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam…

Hơn nữa, minh bạch cũng không phải vấn đề riêng của Việt Nam. Ngay cả các DN đến đầu tư tại Việt Nam, không phải DN nước ngoài cũng muốn minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, mà còn sẵn sang đưa hối lộ, tạo ra  tham nhũng, miễn là có được giấy phép, miễn là thắng thầu .Trong khi đó chính phủ Mỹ kiểm soát chặt  và nghiêm trị  việc này, vậy có làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Mỹ ?

Đại sứ Susan Schwab: Ông hoàn toàn đúng. Ở Mỹ, luật về chống tham nhũng ở nước ngoài rất chặt chẽ và rõ ràng. Các DN của Mỹ bị ngăn cấm dính líu vào bất kì vụ việc tham nhũng quốc tế nào khi đầu tư, giao thương với bên ngoài. Và đôi khi, cách ứng xử của DN nước khác lại gây hại cho việc kinh doanh của các DN Mỹ. Để tôi đưa ra một ví dụ.

Hãy quay trở lại với vấn đề tôi đã đề cập trước đó: đào tạo về quản lý nhà nước. Một trong những điều có thể giúp ích là xây dựng hệ thống, giáo dục các công chúng trong hệ thống về cách thức để điều hành chính phủ cởi mở, minh bạch và có trách nhiệm giải trình hơn.

Minh bạch và trách nhiệm giải trình giảm mức độ tham nhũng. Và giáo dục có thể giúp sức cùng với chính sách công trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Một trong những ý tưởng tôi đã nêu ra trong buổi diễn thuyết trước các DN Việt Nam là, Việt Nam nên xem xét tham gia Hiệp định về đấu thầu chính phủ trong khuôn khổ của WTO. Đài Loan đã tham gia. Trung Quốc đang đàm phán để tham gia Hiệp định thế nhưng, có vẻ những cam kết của Trung Quốc thì quá ít đến mức đáng xấu hổ. Sẽ còn chặng đường dài để Trung Quốc tham gia các quy định đầu thầu của WTO.

Nếu Việt Nam thực hiện bước nhảy, tham gia Hiệp định này, những quy định của Hiệp định sẽ góp phần tạo dựng sự minh bạch trong đấu thầu của Việt Nam, giảm khả năng tham nhũng.

Một quy trình đấu thầu minh bạch, cạnh tranh sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam và các DN Việt Nam trong việc thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Cũng như vậy, nó sẽ giúp các DN Việt Nam tiếp cận được đấu thầu trên toàn thế giới, ở Mỹ, EU…

DN Việt Nam quyết định con đường để Việt Nam khác Trung Quốc

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Trong các cuộc diễn thuyết, bà tư vấn, Việt Nam cần phải tìm con đường đi riêng để phát triển, khác với Trung Quốc.  Tuy nhiên, theo bà, làm thế nào để Việt Nam tạo ra sự khác biệt?Liệu có sản phẩm, ngành hàng nào Việt Nam có thể tạo vị trí đặc biệt, chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Đại sứ Susan Schwab: Tôi nghĩ, vấn đề này phụ thuộc vào chính các DN Việt Nam. Họ phải là người đưa câu trả lời cho câu hỏi này.

Tuy nhiên, hãy nhìn vào những đặc tính tích cực mà Việt Nam có thể mang tới, góp vào thị trường thế giới: Việt Nam có rất nhiều đất và một nền nông nghiệp thành công; con người Việt Nam đầu óc cởi mở, sẵn sàng tiếp thu cái mới và làm việc chăm chỉ cùng với một chính phủ luôn biết tự phê bình, dám nhìn lại bản thân,  suy nghĩ về các cách thức tiếp cận khác nhau và thể hiện khả năng tiến hành đổi mới. Đây là ba đặc tính rất quan trọng và không nên đánh giá thấp.

Như tôi đã nói trong buổi thuyết trình trước đó, Việt Nam đang trở thành một địa chỉ hấp dẫn trên chuỗi giá trị toàn cầu. Bằng chứng là Intel đã đầu tư vào Việt Nam. Khi thảo luận về Hiệp định Đầu tư song phương Việt – Mỹ, sẽ ngày càng nhiều DN Mỹ đầu tư vào Việt Nam ở lĩnh vực điện tử, viễn thông… và các lĩnh vực khác và nó sẽ giúp Việt Nam tăng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Cần đảm bảo an toàn không chỉ cho DN Mỹ mà còn DN nước ngoài cũng như DN Việt Nam khi họ giữ hoặc đầu tư vào tiền Việt Nam và xây dựng nhiều DN bản địa hơn nữa.

Hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới đều hiện diện ở Trung Quốc bởi quy mô kinh tế của nước này thế nhưng, họ không muốn phụ thuộc vào Trung Quốc, không muốn nước này là nơi duy nhất các tập đoàn sản xuất và tìm kiếm thị trường.

Vấn đề là họ có thể đến nơi nào khác? Việt Nam là một trong những phân khúc thị trường được coi là điểm đến của các DN nước ngoài. Có rất nhiều việc phải làm trong chiến lược được Chính phủ Việt Nam đưa ra.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bà nghĩ thế nào về triển vọng của các ngành công nghiệp mới như ngành công nghiệp sáng tạo và nội dung số?Mặc dù là ngành rất mới nhưng tới nay Việt Nam có khoảng 200DN hoạt động trong lĩnh vực nội dung số, cung cấp nội dung và  truyền thông trên mạng điện thoại di động. Đó đang là ngành rất mới và năng động. Liệu đó có phải đó là ngành có tương lai để Việt Nam tạo ra sự khác biệt và nổi trội ?

Đại sứ Susan Schwab: Truyền thông mới là một ví dụ điển hình về cơ hội để bước lên nấc thang mới trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đài Loan là một ví dụ. Có rất nhiều đầu tư vào lĩnh vực nội dung số và các DN này hoạt động rất hiệu quả, giúp cho sự phát triển của nền kinh tế này: phát triển game, kinh doanh phần mềm, chương trình ứng dụng…. Đó là các cơ hội có thể giúp Việt Nam cạnh tranh hơn và xây dựng cầu nối với thế giới.

Đó cũng là ví dụ minh chứng cho tầm quan trọng của internet. Bởi vì qua internet, qua những trang như facebook, twitter… người ta có thể học tập cũng như trao đổi, buôn bán để thu lợi.

Không cho phép tiếp cận internet, bạn sẽ không thể thu lợi trong giáo dục cũng như lợi ích thương mại từ nó. Bạn cũng sẽ không thể học và phát triển được những chương trình ứng dụng mới.

Và hạn chế internet sẽ tạo hố sâu ngăn cách, không cho phép tận dụng cơ hội của truyền thông mới.

Có thể nói, truyền thông mới là một ví dụ tuyệt vời. Việt Nam có dân số đông, cả trong nước và ở nước ngoài, và nhiều người yêu thích các nội dung tiếng Việt. Đóng cửa internet, ngôn ngữ Việt Nam cũng không có điều kiện qua internet để ra với thế giới.

Không nước nào muốn tự đá vào chân của mình

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tôi băn khoăn, không riêng gì Mỹ mà cả EU cũng phàn nàn về hàng giả, hàng nhái của Trung Quốc. Tại sao thế giới không hợp tác cùng nhau buộc Trung Quốc thực hiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ?

Đại sứ Susan Schwab: Khi còn là Đại diện thương mại Mỹ, chúng tôi đã đưa Trung Quốc hội nhập WTO. Có những ý kiến phản đối vì chính sách của Trung Quốc không bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hiện nay, chúng tôi cũng đang có tư vấn cho Trung Quốc về những việc nước này cần làm để sửa sai trong chính sách về quyền SHTT.

Một số nước cũng bày tỏ mối quan ngại về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc và may mắn là, với WTO, chúng ta có được phương tiện để giải quyết vấn đề.

Nhưng tôi nghĩ, vấn đề là, không nước nào muốn tự đá vào chân của mình bằng cách không bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đó chính là động lực để xử lý vấn đề này. Bởi nếu không, bạn sẽ làm tổn thương chính các DN của mình, gây tổn thương các nhà đầu tư, các đối tác. Việc làm hàng nhái, hàng giả ngày càng trở thành tội phạm có tổ chức. Vì thế, tôi ngạc nhiên khi Trung Quốc không làm nhiều hơn.

Họ có làm nhưng không đủ. Và theo thời gian, họ sẽ nhận ra, chính họ là nạn nhân của tình trạng này, nền kinh tế sẽ phải trả giá cho cách làm ngắn hạn của mình.

Được linh hoạt, đồng nhân dân tệ mới được coi trọng

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Liệu vị trí của đồng đôla có thể bị đe dọa thay thế bởi một đồng tiền thanh toán quốc tế khác như nhiều người quan ngại và cũng là vấn đề được Trung Quốc nêu ra?

Đại sứ Susan Schwab: Rõ ràng là, đây là vấn đề rất nóng hiện nay. Tôi tin đồng USD vẫn sẽ tiếp tục là đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế trong vài năm tới.

Giám đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã đề xuất một đồng tiền thanh toán quốc tế khác, đồng “quyền rút vốn đặc biệt” SDR thế nhưng thực tế, đồng tiền này đã lưu hành vài năm, và chỉ rất ít quốc gia sẵn lòng bỏ tiền để mua đồng tiền này làm đồng tiền dự trữ quốc gia.

Về phía Trung Quốc, chỉ khi nước này cho phép đồng nhân dân tệ được linh hoạt, phản ánh biến chuyển của kinh tế vĩ mô thì lúc đó, đồng nhân dân tệ mới được coi trọng và cạnh tranh với đồng USD. Cho tới lúc đó, đồng nhân dân tệ không thể là đồng tiền dự trữ quốc tế và không thể là đồng tiền dự trữ quốc tế tốt.

Nhiều người hiện nay đánh giá hơi quá cao sức mạnh của nền kinh tế Trung Quốc cũng như hơi đánh giá thấp sức mạnh của nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, nước Mỹ chúng tôi cũng phải làm rất nhiều để xử lý những vấn đề của mình trong kinh tế vĩ mô. Chúng tôi cần tiết kiệm nhiều hơn, tiêu dùng ít hơn, giảm thâm hụt thương mại. Đó cũng là phần trách nhiệm của chúng tôi nếu chúng tôi muốn USD vẫn tiếp tục là đồng tiền dự trữ quốc tế. Chính quyền Obama đã nhận thức được vấn đề này.

Tạo đường riêng để giành và giữ sự quan tâm của thế giới

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: TS Larry Summer, cựu Hiệu trưởng trường Harvard, Cố vấn trưởng về kinh tế của Tổng thống Obama có nhận xét các nhà vận động hành lang Mỹ đang sử dụng “danh sách các bác sĩ nhận bảo hiểm gắn với nguy cơ chết người”  như một chiến thuật nhằm ngăn chặn việc lập ra một cơ quan bảo hiểm về tài chính cho người tiêu dùng. Bình luận của bà?

Đại sứ Susan Schwab: Tôi đã ở Việt Nam vài ngày qua, khá bận rộn nên chưa đọc được bình luận của TS Summer. Ở Mỹ, thời gian qua, người ta dành sự quan tâm, và tập trung vào vấn đề cải cách hệ thống y tế và bây giờ, chúng tôi bắt đầu chuyển sang vấn đề cải cách tài chính kinh tế. Và có vẻ như cuộc tranh luận ở Nghị viện cũng như giữa một bên là giới tài chính và bên kia là chính quyền đã bắt đầu nóng lên.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bên cạnh một đối tác khổng lồ và lớn mạnh như Trung Quốc, liệu Việt Nam có nguy cơ bị các đối tác như Mỹ, EU lãng quên? Hoặc Việt Nam sẽ như thế nào nếu bỏ qua các đối tác như Mỹ, EU ? Và làm thế nào để Việt Nam có thể xác lập và củng cố vị thế của mình trong con mắt của các đối tác khác, đặc biệt là Mỹ và giới doanh nhân Mỹ?

Đại sứ Susan Schwab: Trong vài năm qua, Việt Nam đã nhận được sự quan tâm và đánh giá cao của Mỹ và thế giới nhờ những thành tựu cải cách kinh tế của mình. Và Việt Nam đang tiếp tục quá trình đổi mới, cải cách này, với việc tiến hành đổi mới kinh tế, xã hội và chính trị. Tất cả các khía cạnh đổi mới này đang được triển khai và thảo luận ở Việt Nam.

Việt Nam có thể tiếp tục được xem là thay thế đáng hài lòng cho Trung Quốc ở khu vực trong con mắt của các DN Mỹ để đa dạng hóa đối tác ở khu vực.

Việt Nam là một điểm đến đầy hứa hẹn với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, với những đặc tính như tôi đã mô tả.

Việt Nam đang tạo con đường của mình để giữ và giành sự quan tâm tích cực từ các Chính phủ khác cũng như giới doanh nhân trên toàn thế giới.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhều người quan ngại, chính sách của Mỹ và các nhà vận động hành lang của Mỹ có thể bị tác động bởi chính phủ và DN Trung Quốc?

Đại sứ Susan Schwab: Tôi không nghĩ đó là vấn đề lớn. Như tôi đã nói hôm qua, giới doanh nhân Việt Nam có rất nhiều mối quan tâm và lợi ích chung với giới DN Mỹ. Ví dụ, khi PNTR được thảo luận ở Nghị viện Mỹ, rất nhiều các DN Mỹ đã tới để vận động Quốc hội Mỹ trao PNTR cho Việt Nam.

Nói cách khác, càng có nhiều thương mại và đầu tư giữa hai bên, sợi dây kinh tế thương mại này sẽ tạo nên những nhóm vận động hành lang riêng cho Việt Nam. Nó không nhất thiết phải là một nhóm vận động hành lang được đăng kí và đóng tiền một cách chính thức mà là lợi ích chung giữa cộng đồng DN và nhân dân hai nước.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Cảm ơn ơn bà Susan Schwab đã dành thời gian cho độc giả VietNamNet và có cuộc trò chuyện rất thú vị. Chúc bà có chuyến đi bổ ích ở Việt Nam, chúc nền kinh tế Mỹ sớm phục hồi và tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn 5%.

Blog at WordPress.com.