Ktetaichinh’s Blog

December 5, 2009

Nhìn lại hiệu quả gói kích cầu đầu tiên

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:11 am
Tags:

TBKTSG) – Thật sự Việt Nam có cần một gói kích thích kinh tế cho năm 2010? Phân tích hiệu quả của gói kích thích kinh tế năm 2009 sẽ giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn về vấn đề này.

Hoàn cảnh ra đời gói kích thích kinh tế

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất hiện từ đầu năm 2008 và chính thức bùng nổ vào cuối quí 3-2008 với sự kiện phá sản của Leman Brother ngày 15-9-2008. Ngày 11-12-2008, Chính phủ đã có Nghị quyết số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, các mục tiêu kinh tế của Việt Nam đặt ra cho năm 2009 vẫn rất tham vọng với GDP tăng 6,5%, xuất khẩu tăng 13%, đầu tư toàn xã hội đạt 39,5% GDP, lạm phát dưới 15%, thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) 4,82% GDP.
Đến hết quí 1-2009, khi so với cùng kỳ, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 3,1%, xuất khẩu chỉ tăng 2,4% (nếu loại trừ 2,3 tỉ đô la tái xuất vàng thì kim ngạch xuất khẩu giảm tới 15%), vốn đầu tư tuy tăng 9%, song vốn FDI lại giảm tới 32% thì chúng ta mới đánh giá hết được tác động sâu sắc của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là tới kim ngạch xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, thông qua đó làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy vậy, đến nửa cuối tháng 6-2009, chúng ta mới điều chỉnh các mục tiêu kinh tế cơ bản trong bối cảnh đã triển khai thực hiện gói kích cầu từ đầu tháng 2-2009.

Theo Nghị quyết Quốc hội ngày 19-6-2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế được điều chỉnh giảm xuống còn 5%, xuất khẩu chỉ tăng 3%, CPI tăng dưới 10%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại không điều chỉnh trong khi thâm hụt NSNN được điều chỉnh lên 7% GDP.

Hiệu quả

Về bản chất, tuy không hẳn là gói kích cầu như ở nhiều nước khác nhưng gói kích thích kinh tế năm 2009 (gói 1) vẫn dựa trên việc nới lỏng cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, bao gồm cả tăng tín dụng, giảm lãi suất, tăng chi tiêu NSNN và giảm thuế.

Liên quan đến việc nới lỏng chính sách tiền tệ

Tính đến 24-9-2009, vốn tín dụng theo Quyết định 131 ngày 23-1-2009 của Thủ tướng (gói hỗ trợ lãi suất 4%) đã giải ngân trên 405.000 tỉ đồng (95%), tín dụng theo Quyết định 443 (hỗ trợ lãi suất 4% cho vay trung và dài hạn) và Quyết định 497 (hỗ trợ lãi suất cho nông nghiệp nông thôn) trên 34.000 tỉ đồng, giải ngân tín dụng bảo lãnh qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên 10.000 tỉ đồng (59%). Tổng số tiền hỗ trợ lãi suất chuyển cho các tổ chức tín dụng ước thực hiện năm 2009 khoảng 10.000 tỉ đồng (59%). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), gói hỗ trợ lãi suất đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận lãi suất thấp, thông qua đó, hạ giá thành sản phẩm, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, tuy nhiên lại không có số liệu chứng minh cụ thể. Thực tế cho thấy đã có sự trùng lắp về đối tượng hỗ trợ lãi suất, việc triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ làm tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao, gây sức ép tăng lãi suất và lạm phát.

Theo các đánh giá khác nhau, có tới 80-92% số doanh nghiệp không được hưởng chính sách ưu đãi này và tổng tín dụng ưu đãi lãi suất cũng chỉ chiếm khoảng 80% tổng tín dụng. Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4% là quá lớn, nên kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước. Đến nay, hiệu quả thật sự của gói hỗ trợ lãi suất 4% chưa được chứng minh trong khi những hệ lụy tiêu cực của nó là rất lớn, làm “méo mó” thị trường tín dụng đang tăng trưởng quá nóng.

Tín dụng đối với nền kinh tế ước đến cuối tháng 10 đã tăng 33,29%, trong khi huy động vốn chỉ tăng 25,72%. Theo dự báo của IMF, từ đầu năm 2009, tín dụng chỉ cần tăng 12,9% đã đảm bảo cho Việt Nam tăng trưởng kinh tế khoảng 4%. Tăng trưởng tín dụng nhanh đã gây sức ép tăng lãi suất, dẫn đến hệ quả là tăng chi phí vốn, làm tăng giá thành sản xuất, khiến việc huy động vốn trái phiếu chính phủ gặp nhiều khó khăn.

Liên quan đến chính sách tài khóa

Tính đến đầu tháng 10-2009, tổng số vốn NSNN đã ứng trước kế hoạch năm 2009 được hoãn thu hồi là 3.400 tỉ đồng (100%). Vốn ứng trước kế hoạch 2010-2011 cho các chương trình dự án đến ngày 30-6-2009 là 15.492 tỉ đồng; vốn ứng trước năm 2010-2011 để bổ sung cho các dự án quan trọng cấp bách là 12.627 tỉ đồng (47%); tổng vốn ứng trước cho kiên cố hóa kênh mương, cấp bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì lao động… khoảng 37.100 tỉ đồng (99,7%).

Nguồn vốn NSNN kế hoạch năm 2008 được kéo dài giải ngân đến hết tháng 6-2009 thực hiện khoảng 22.000 tỉ đồng (97,8%). Vốn trái phiếu chính phủ chuyển nguồn sang năm 2009 giải ngân đến hết tháng 8-2009 đạt 4.500 tỉ đồng (60%). Vốn phát hành bổ sung trái phiếu chính phủ, ước đến hết tháng 9-2009 giải ngân được khoảng 10.000 tỉ đồng (50%). Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết có tới 36/40 đợt phát hành trái phiếu không thành công.

Vị trí đặt quảng cáoTổng thu ngân sách được miễn, giảm, giãn đến hết 7-2009 khoảng 14.700 tỉ đồng, ước cả năm khoảng 20.000 tỉ đồng (71%), trong đó giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp khoảng 9.900 tỉ đồng; giảm thuế giá trị gia tăng khoảng 4.470 tỉ đồng; miễn thuế thu nhập cá nhân khoảng 4.507 tỉ đồng; giảm thu lệ phí trước bạ khoảng 1.140 tỉ đồng. Ngoài ra, giảm, giãn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu năm 2009 khoảng 7.000 tỉ đồng, trong đó giảm thu do giảm thuế 50% tại khâu nhập khẩu ước khoảng 5.000 tỉ đồng; giãn nộp thuế 180 ngày cho máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng ước khoảng 2.000 tỉ đồng. Mặc dù thực hiện miễn giảm thuế như vậy nhưng Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội vẫn đánh giá thu NSNN năm 2009 vẫn vượt khoảng 2,9% so với dự toán.

Bộ KH&ĐT đánh giá, việc thực hiện các ưu đãi về thuế là khẩn trương, đúng đối tượng, góp phần giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, tạo chuyển biến tích cực cho nền kinh tế. Tuy vậy cũng không có số liệu cụ thể chứng minh cho nhận định này.

Ngoài ra, Chính phủ đã cho phép mua dự trữ gạo trị giá 1.300 tỉ đồng, xăng dầu trị giá 1.500 tỉ đồng; ứng chi hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết Kỷ Sửu, hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn, hỗ trợ thay thế xe công nông, xe ba bánh, khắc phục thiên tai… tổng cộng khoảng 7.000 tỉ đồng.

Nới lỏng chính sách tài khóa đã dẫn tới hệ quả trực tiếp là bội chi ngân sách lên đến 6,9% GDP chưa tính đến các khoản chi từ nguồn trái phiếu chính phủ, các khoản Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại. Nợ chính phủ cũng tăng mạnh từ 36,5% GDP năm 2008 lên đến 40% GDP năm 2009 và năm 2010 dự kiến khoảng 44% GDP.Kết quả tổng hợp của gói 1 là góp phần tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, quí sau cao hơn trước, dự kiến quí 4 tăng 6,8% và cả năm đạt mục tiêu 5-5,2%. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu đến hết quí 3 vẫn giảm tới 14,3% so với cùng kỳ (cập nhật đến cuối tháng 11 chỉ còn giảm 11,4%) và tổng vốn đầu tư vẫn tăng 14,4%, trong đó vốn đầu tư nhà nước tăng tới 45,5%, vốn ngoài nhà nước tăng 12,6% nhưng vốn đầu tư nước ngoài lại giảm 11,2% so với cùng kỳ. Dự kiến tổng vốn đầu tư cả năm lên tới 42,2%GDP.

Có tiếp tục hay không?

Như vậy, gói kích thích kinh tế của năm 2009 đã góp phần giải quyết được một số vấn đề trước mắt về tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2009 nhưng những hệ quả tiêu cực mà nó để lại tương đối dài cả đối với khả năng tăng trưởng bền vững cũng như khả năng ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, cần hết sức thận trọng khi quyết định triển khai các biện pháp kích thích kinh tế cho năm 2010 và các năm tiếp theo.

Theo tính toán của Bộ KH&ĐT, tốc độ tăng trưởng năm 2010 tăng 6,5%, lạm phát khoảng 7-8%, GDP theo giá thực tế đạt khoảng 1.931 ngàn tỉ đồng, xấp xỉ 106 tỉ đô la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 1.200 đô la, nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2010 đạt khoảng 801.000 tỉ đồng, bằng khoảng 41,5% GDP… Các mục tiêu này tuy tương đối cao nhưng vẫn có thể đạt được thông qua các biện pháp khác, không mang tính cấp bách, tình thế như gói kích thích kinh tế vừa qua mà nên gắn bó chặt chẽ với chiến lược phát triển tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng ổn định, bền vững và hiệu quả hơn.

Vũ Đình Ánh (Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả)

Advertisements

“Lỗ hổng” vàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 am
Tags: ,

TBKTSG) – “Cơn sốt” vàng ngày 11-11-2009 đã qua đi, nhưng những nguyên nhân gây ra nó vẫn còn đó và âm ỉ bùng phát bởi các lỗ hổng trong chính sách tiền tệ liên quan đến quản lý, điều hành kinh doanh vàng trên tài khoản của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Khi ngân hàng được mở tài khoản vàng…

Huy động và cho vay vàng là một trong những hoạt động đã có từ nhiều năm trước của ngân hàng thương mại. Thường người ta vay vàng để thực hiện các giao dịch nhà đất. Vào năm 2003, thị trường nhà đất đóng băng, vàng cho vay yếu hẳn, một khối lượng lớn vàng từ gửi tiết kiệm của dân tồn đọng ở ngân hàng. Để tháo gỡ sự tồn đọng đó, NHNN cho phép các tổ chức tín dụng được chuyển tối đa 30% vốn huy động bằng vàng thành tiền để cho vay.

Vào thời điểm ấy, đấy là một quyết định đúng. Nhờ chuyển đổi vàng, các ngân hàng có thêm nguồn cung tiền đồng. Tuy nhiên, khi ngân hàng bán thì có thể giá vàng ở mức thấp, khi mua lại để trả cho dân thì giá cao. Giá càng cao, nguy cơ ngân hàng lỗ càng hiển hiện. Giới ngân hàng bắt đầu nghĩ đến các công cụ bảo hiểm rủi ro cho giá vàng. Đầu năm 2004, NHNN chọn lọc và cho phép một số ngân hàng mở tài khoản vàng tại Thụy Sỹ. Trước đó việc mở tài khoản vàng ở nước ngoài chưa từng xảy ra.

Có tài khoản vàng ở Thụy Sỹ, các ngân hàng kinh doanh dễ dàng hơn. Thí dụ ngân hàng XYZ bán 1 tấn vàng miếng (vàng vật chất) trong nước, họ có thể mua ngay lại 1 tấn vàng trên tài khoản. Như vậy, trạng thái vàng của XYZ sẽ cân bằng với điều kiện họ được phép nhập khẩu để 1 tấn vàng trên tài khoản kia trở thành 1 tấn vàng vật chất. Còn nếu không được nhập, thì 1 tấn vàng vật chất bán ra trong nước chỉ được bảo hiểm rủi ro về giá, mà không được bảo hiểm rủi ro thanh khoản, trong khi chính thanh khoản góp phần tạo nguồn cung cho thị trường vàng. Song, việc cho nhập vàng là điều cần cân nhắc vì ngoại tệ đâu mà nhập?

Vị trí đặt quảng cáoTừ môi giới nội địa thành tay chơi quốc tế

Cuối năm 2007 – đầu năm 2008 các kênh đầu tư mất dần sức hấp dẫn. Giá đô la Mỹ trên thị trường tự do thấp hơn giá niêm yết của ngân hàng. Có ngày người dân mang ngoại tệ đến bán, ngân hàng từ chối mua. Chứng khoán tụt dốc và hứa hẹn lao dốc dài dài. Bất động sản phập phù. Ý tưởng lập sàn vàng manh nha trong giới kinh doanh kim loại quý.

Khởi thủy hoạt động của sàn vàng đơn giản chỉ là sự khớp lệnh giữa người bán – người mua. Đó là một sàn vàng vật chất đúng nghĩa, nhưng đơn điệu, ít người tham gia và không được mấy ai quan tâm. Để tạo sức hút cho sàn vàng, các chủ đầu tư, mà chủ yếu là các ngân hàng, bắt đầu sử dụng các công cụ phái sinh. Thay vì chỉ ở vai trò môi giới, liên kết người mua kẻ bán theo kiểu “ai bán tôi mua, ai mua tôi bán”, chủ các sàn vàng trở thành tay chơi trung gian giữa thị trường trong và ngoài nước. Việc mở tài khoản vàng ở Thụy Sỹ đã cho họ cơ hội thực hiện điều đó. Trên sàn, nếu nhà đầu tư bán ra 3 tấn vàng, mua vào 1 tấn, thì các ngân hàng đứng ra mua 2 tấn chênh lệch. Để cân bằng trạng thái, họ sẽ bán 2 tấn vàng qua tài khoản nước ngoài. Ngược lại, trường hợp nhà đầu tư mua nhiều, bán ít, ngân hàng bán ra 2 tấn vàng và mua bù 2 tấn qua tài khoản. Vấn đề là ở chỗ nếu ngân hàng mua vàng trong nước giá cao, mua xong giá quốc tế lên, không mua lại vàng trên tài khoản thì trạng thái vàng của họ âm, còn mua thì lỗ. Để chặn sự lỗ ấy, sàn vàng đôi lúc “ngẫu nhiên” bị sập vì sự cố kỹ thuật.

Giá quốc tế càng biến động, các sàn vàng nội địa càng nhộn nhịp. Lẽ ra khi đó, NHNN – đơn vị cấp phép cho các tổ chức tín dụng và công ty kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài – phải xem xét lại, bổ sung thêm cơ sở pháp lý của việc trên. Nhưng việc kiểm tra, xem xét lại, bổ sung thêm đã không diễn ra. Rõ ràng chúng ta đang thiếu một khuôn khổ pháp lý kịp thời nhằm điều chỉnh vai trò môi giới “xuyên quốc gia” của các công ty kinh doanh vàng hoặc các tổ chức tín dụng được mở tài khoản vàng ở nước ngoài.

“Trái tim ký quỹ” của vàng

Việc NHNN khống chế mức chuyển đổi tối đa 30% khối lượng vàng huy động thành tiền đối với các ngân hàng là một rào cản vững chắc để ngăn chặn rủi ro. Tuy nhiên, các phòng (bộ phận) kinh doanh vàng của các công ty vàng bạc đá quý và ngân hàng đã vô hiệu hóa mức khống chế ấy thông qua việc cho khách hàng vay vàng để bán. Người chuyển đổi vàng thành tiền bây giờ không phải là ngân hàng nữa, mà chính là khách hàng vay.

Giả sử một khách hàng có sổ tiết kiệm 7 lượng vàng SJC (tương đương 189 triệu đồng nếu giá vàng là 27 triệu đồng/lượng). Anh ta ký quỹ sổ tiết kiệm đó và vay được 100 lượng (mức ký quỹ của đa số các ngân hàng hiện là 7%. Một số sàn vàng có ngân hàng đứng sau hỗ trợ, mức ký quỹ còn thấp hơn, từ 3-5%). Bán ngay 100 lượng vàng vay, anh ta có thể có trong tay 2,7 tỉ đồng. 2,7 tỉ đồng đó anh ta lại nộp vào tài khoản cá nhân của chính mình ở ngân hàng, nâng mức tài sản đảm bảo cho khoản vay lên 2,889 tỉ đồng (2,7 tỉ + 189 triệu đồng).

Khi bán vàng như thế, khách hàng kỳ vọng giá xuống sẽ mua lại vàng trả ngân hàng. Nhưng không ngờ giá lên. Mỗi khi giá lên thêm một nấc, anh ta phải nộp thêm tiền ký quỹ. Đến một nấc giá nào đó, anh ta không còn tiền để nộp, buông xuôi. Ngân hàng sẽ xử lý bằng cách lấy tiền tài sản đảm bảo của anh ta mua lại 100 lượng vàng. Khi ngân hàng mua vàng, nhu cầu tăng vọt vì nhiều khách hàng cũng ở trong tình trạng tương tự như anh ta và đây là nhu cầu thực. Cái ảo là ở chỗ anh ta đã “tay không bắt giặc”, thực chất anh chỉ có 7 lượng vàng trong tay, nhưng anh đã bán tới 100 lượng. Ngày 11-11-2009, có ngân hàng cổ phần đã bán ra tới 5 tấn vàng cho khách hàng để xử lý các hợp đồng vay vàng để bán. Lúc đó, có hàng chục công ty kinh doanh vàng và ngân hàng phải xử lý hợp đồng, đẩy nhu cầu mua vàng tăng tới 30-40 tấn chỉ trong vòng chưa đầy sáu giờ đồng hồ từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều ngày 11-11.

Trên thực tế, khi vay được 100 lượng, khách hàng bán ra thị trường. Người mua có thể là người dân, ngân hàng, công ty vàng bạc đá quý… Các tổ chức kinh doanh vàng lại bắt đầu vòng quay bán ra thị trường quốc tế qua tài khoản vàng, hoặc vàng tự “chảy ra” khỏi biên giới qua xuất lậu nếu giá nội địa thấp hơn giá quốc tế, hoặc người dân mua và cất giữ tại nhà. Quan trọng là 100 lượng vàng bán ra đó không còn là một lượng cung tiềm năng nguyên vẹn.

Vào thời điểm xử lý các hợp đồng do khách hàng cắt lỗ, ngân hàng phải mua lại 100 lượng vàng, nhưng lượng cung lại không còn nguyên vẹn và hậu quả là cầu tăng, giá được đẩy lên. Cầu nổi lên, trong khi cung không nổi lên đủ hoặc thậm chí không “xuất đầu lộ diện” và sự mất cân đối cung – cầu là không tránh khỏi.

Cái gốc của vấn đề mất cân đối cung – cầu vàng chính là ở đòn bẩy tài chính: mức ký quỹ quá thấp. Với mức ký quỹ chỉ 7%, các ngân hàng đã tạo cho khách hàng (nhà đầu tư) một điểm tựa để bẩy lên cả một “quả (nhu) cầu vàng” như Acsimet đã nói. NHNN – cơ quan quản lý trực tiếp các tổ chức tín dụng – đã không hề có một khung pháp chế, thậm chí không hề có một quy định nào trong an toàn tín dụng, để hạn chế đòn bẩy ghê gớm này. Trong các thông cáo báo chí định kỳ hàng tuần, hàng tháng trên website của mình, NHNN chưa bao giờ công bố dư nợ tín dụng bằng vàng. Theo một số ngân hàng, dư nợ tín dụng bằng vàng có thể đã tăng ở mức hai con số trong nhiều tháng trở lại đây. Chúng ta đang nỗ lực từng bước hạn chế hiện tượng đô la hóa, nhưng hiện tượng “vàng hóa” lại đang có khả năng lan rộng!

Bịt “lỗ hổng” vàng

Sự can thiệp của NHNN vào thị trường vàng thông qua động thái cho nhập vàng có lẽ chỉ giải quyết được phần ngọn, còn phần gốc “cơn sốt” vàng vẫn chưa được trừ tiệt dứt điểm. Một cựu quan chức cấp cao của NHNN nói với TBKTSG rằng từ nhiều năm nay chúng ta đã có Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng nằm trong quỹ dự trữ ngoại hối và quỹ này thuộc quyền sử dụng của Thống đốc NHNN. Ông cho biết trước đây Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng có khoảng 1 tỉ đô la Mỹ, tuy nhiên gần đây nó đã tăng lên theo mức tăng của quỹ dự trữ ngoại hối. Trong trường hợp quỹ bình ổn sử dụng hết, NHNN sẽ xin Chính phủ cho điều chuyển từ quỹ dự trữ ngoại hối sang theo tỷ lệ hợp lý. Theo ông, từ đầu năm đến nay, NHNN đã sử dụng một lượng ngoại tệ đáng kể từ quỹ bình ổn để ổn định tỷ giá. Trong “cơn sốt” vừa qua, tại sao NHNN đã không sử dụng quỹ bình ổn đó để ổn định giá vàng? Xin nhắc lại tên đầy đủ của quỹ là “Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng”, chứ không phải chỉ có “tỷ giá”!

Song không có quỹ bình ổn nào đủ lớn để can thiệp vào thị trường vàng nếu không đi kèm các biện pháp quyết liệt. Cùng với việc kiểm tra, thanh tra tín dụng vàng, đã đến lúc cơ quan quản lý ngành ngân hàng phải xem lại quy định cho vay vàng của tổ chức tín dụng, như đối tượng vay vàng là ai? Vay vàng làm gì? Vay vàng để bán có được không? Nếu được, thì đến mức độ nào? NHNN cần quy định rõ tỷ lệ ký quỹ khi vay vàng. Thí dụ tỷ lệ ký quỹ khi vay vàng là 80-100%, liệu khách hàng có vay không?

Bên cạnh đó, đối với các ngân hàng và doanh nghiệp có tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài, NHNN cũng nên xem xét số dư nợ hoặc có (bản chất là trạng thái short (bán) hoặc long (mua) của các đơn vị này). Đồng thời NHNN cũng cần khống chế doanh số, quy mô chuyển hóa trên tài khoản vàng. Một mức khống chế quy mô hợp lý sẽ giúp giảm khả năng đầu cơ một khi giá vàng biến động. Điều này, chỉ NHNN mới có thể làm được vì NHNN là nơi cấp phép cho các ngân hàng, doanh nghiệp mở tài khoản vàng ở nước ngoài. Quy định mở tài khoản vàng tính từ đầu năm 2004 đến nay đã gần sáu năm, nhưng không hề được sửa đổi, bổ sung, làm mới để theo kịp diễn tiến tài chính trong, ngoài nước. Nó gần như bị lãng quên hoàn toàn.

Bất ngờ phương án “cấm” sàn vàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:50 am
Tags: ,

(TBKTSG Online) – Trả lời báo Tuổi Trẻ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết đã trình Chính phủ hai phương án xử lý sàn vàng: hoặc là cho dừng hoạt động của sàn vàng, hoặc là nâng tỷ lệ ký quỹ lên 100%. Nhiều công ty kinh doanh vàng hoàn toàn bất ngờ trước tuyên bố này của Ngân hàng nhà nước, vì trước đó chưa có dự thảo nào liên quan đến các phương án trên.

Biện pháp bất ngờ

Trước đó, tháng 10-2008, Ngân hàng nhà nước đã thành lập tổ liên ngành để xây dựng dự thảo quản lý sàn vàng. Trong hơn 1 năm, đã có 11 dự thảo ra đời, đưa ra các quy định, các điều khoản để có thể quản lý sàn vàng một cách quy củ mà vẫn đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư. Lộ trình xây dựng các dự thảo cũng được thực hiện chặt chẽ, lấy ý kiến rộng rãi của các ngân hàng, công ty kinh doanh vàng, hiệp hội kinh doanh vàng và các bộ ngành có liên quan.

Vị trí đặt quảng cáo

Đến tháng 8 vừa qua, theo dự thảo 10, dự thảo duy nhất được công bố rộng rãi thì chỉ có các ngân hàng thương mại mới được mở sàn vàng, đồng thời quy định tỷ lệ ký quỹ là 15%. Như vậy, mặc nhiên các công ty kinh doanh sàn vàng không trực thuộc ngân hàng sẽ phải đóng cửa.

Lý do mà Ngân hàng nhà nước đưa ra là để nhà đầu tư tránh được các rủi ro do tiềm lực tài chính của công ty kinh doanh sàn vàng không mạnh bằng các ngân hàng. Trả lời báo chí, Ngân hàng nhà nước cho biết sẽ trình Chính phủ dự thảo này.

Tuy nhiên, sau đó, dự thảo thứ 11 ra đời, bớt khắt khe hơn so với dự thảo 10, trong đó quy định tỷ lệ ký quỹ chỉ còn 10% và các công ty liên kết với các ngân hàng cũng được hoạt động kinh doanh sàn vàng. Dự thảo này nhận được sự đồng tình của nhiều luồng ý kiến khác nhau, từ hiệp hội kinh doanh vàng, hội đồng vàng thế giới cho đến các ngân hàng, nhà đầu tư… Thế nhưng, Ngân hàng nhà nước đã không trình Chính phủ dự thảo này.

Cơ hội cho tiệm vàng

Theo một chuyên gia, qua việc đề xuất phương án như trên cho thấy có nhiều bất cập trong việc đưa ra chính sách và thực thi chính sách của Ngân hàng nhà nước. Bởi, cách làm đó giống như “quản không được thì cấm”. Mặt khác, cấm sàn vàng vẫn chưa cho thấy đã quản lý được hoạt động đầu tư vàng, do vẫn còn các tiệm vàng nằm ngoài sự quản lý có cơ hội để hoạt động mạnh hơn.

Hiện nay, có nhiều tiệm vàng tham gia đầu tư vàng tài khoản tại nước ngoài. Những hình thức đầu tư này là vi phạm pháp luật, nhưng do quản lý lỏng lẻo nên họ vẫn hoạt động bình thường. Khi đầu tư tại đây, nhà đầu tư có thể mở tài khoản trực tiếp từ nước ngoài hoặc mở tại Việt Nam. Thủ tục khá đơn giản, nhà đầu tư chỉ cần bảng sao hộ chiếu, chứng minh nhân dân kèm theo hóa đơn của bất cứ một dịch vụ nào trong nước để chứng tỏ sự tồn tại của mình và gửi cho nhà cung cấp dịch vụ là có thể tiến hành giao dịch.

Một hình thức khác là ký quỹ giao dịch vàng vật chất tại các tiệm vàng. Với hình thức này, nhà đầu tư đặt tiền cọc mua vàng buổi sáng, nhưng chỉ lấy biên nhận. Đến một thời điểm mà 2 bên thỏa thuận, nhà đầu tư sẽ đến tiệm vàng; nếu giá lên, nhà đầu tư bán ra, thu về lợi nhuận và trả một số tiền lãi cho tiệm vàng, còn nếu giá xuống, nhà đầu tư sẽ đóng thêm tiền cho tiệm vàng. Việc ra đời của các sàn vàng đã đưa hoạt động này đi vào nề nếp vì nhà đầu tư có thể tham gia các sàn vàng mà không phải mua bán với các tiệm vàng, nên độ rủi ro cũng giảm đi nhiều.

Với phương án nâng tỷ lệ ký quỹ lên 100%, nhà đầu tư khó có thể tham gia đầu tư, bởi đặc điểm của loại hình này là sử dụng đòn bẩy tài chính, tức sử dụng một phần vốn vay để đầu tư. Việc nhà đầu tư khó thể tham gia cũng có nghĩa là các sàn vàng sẽ không tìm đâu ra được khách hàng, kết cục cũng sẽ như phương án một, tức đóng cửa sàn vàng.

Nhà đầu tư lo ngại

Theo chị Kiều, nhà đầu tư vàng trên sàn nhiều năm nay thì việc đóng cửa các sàn vàng không phải là một giải pháp hay vì việc kinh doanh vàng tài khoản cũng là một lựa chọn đầu tư. Việc ký quỹ ở mức vừa phải sẽ tạo điều kiện cho nhiều người tham gia, còn nếu áp dụng phương án ký quỹ 100% sẽ đẩy nhà đầu tư vào thế khó, không còn được vay, có bao nhiêu đầu tư bấy nhiêu, không còn hấp dẫn. Và chị cho biết nếu quy định này được thi hành thì chị sẽ bỏ sàn.

Chị cũng cho rằng Chính phủ nên tăng cường quản lý, hạn chế dao động lên xuống của giá vàng trên sàn trong một biên độ nhất định để hạn chế tối đa rủi ro cho nhà đầu tư thay vì áp dụng các biện pháp trên.

Trong khi đó,  anh Bình, một nhà đầu tư khác, cho biết anh đang phân vân. “Nếu 1 trong 2 phương án trên được thực hiện, tôi sẽ không thể tiếp tục đầu tư vàng trên tài khoản, mà cũng khó chuyển sang đầu tư vàng vật chất vì giá hiện nay đã khá cao”, anh Bình nói.

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sỹ Kiêm: Phải có chiến lược giữ tiền cho dân

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:46 am
Tags: ,
Ông Cao Sỹ Kiêm – Ảnh: C.V.Kình

TT – Gặp gỡ đầu tuần với Tuổi Trẻ, tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm – nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước – nhấn mạnh như thế. Ông nói rằng điều hành chính sách tiền tệ phải linh hoạt, kiên quyết và khôn khéo để đồng tiền trong túi người dân không bị mất giá thêm.

Việc điều chỉnh tỉ giá vừa qua tiếp tục khiến đồng VN giảm giá ngay 600 đồng so với USD. “Đó là biện pháp phải làm và cần thiết” – TS Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nói.

Theo ông Kiêm, sắp tới điều hành chính sách tiền tệ cần linh hoạt, kiên quyết và khôn khéo hơn cũng như phải có chiến lược tổng thể để đồng tiền trong túi người dân không bị mất giá thêm. Ông nói:

– Với đợt điều chỉnh tỉ giá vừa qua, muốn mua 1 USD chúng ta phải bỏ thêm 600 đồng nữa và biên độ biến động cho phép là cộng trừ 3%, thực tế chúng ta đã có bước giảm giá đồng VND ở mức tương đối mạnh. Đây là biện pháp dù đau cũng phải làm để đảm bảo nền kinh tế vận hành ổn định, nó sẽ giúp người cần vay có tiền và chống đầu cơ, xuất khẩu thuận lợi hơn… Mặc dù làm như vậy, mỗi USD chúng ta vay nước ngoài sẽ bỗng nhiên tăng thêm 600 đồng phải trả, riêng khoản vay khoảng 17 tỉ USD của doanh nghiệp VN tự nhiên thêm một gánh nặng khá lớn.

Tiền mất giá do nội lực nền kinh tế

Mâu thuẫn

“Trong điều hành hiện nay có mâu thuẫn. Muốn thoát khỏi suy giảm thì phải tung tiền ra để có tăng trưởng nhưng như thế lại có thể gây lạm phát. Nếu run sợ không dám đưa tiền ra để chống suy giảm thì kinh tế lại trì trệ, cũng rất nguy hiểm. Năm nay nếu không tiếp tục bơm tiền ra thì tăng trưởng 5,2% khó lòng đạt được.

Thực tế đồng tiền VN đã mất giá kép vì đồng USD đang mất giá so với một số ngoại tệ và đồng tiền VN tiếp tục mất giá so với USD”.

Ông Cao Sỹ Kiêm

* Thưa ông, trong kỳ chất vấn vừa rồi có đại biểu đã chất vấn thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc để đồng tiền liên tục mất giá. Nếu còn là thống đốc ông sẽ trả lời như thế nào?

– Đó là thực tế ta không thể chống lại. Chúng ta không thể muốn giữ giá đồng tiền của mình ở mức nào cũng được, lâu dài phải đưa tiền về giá thực của nó. Đồng tiền thể hiện nội lực của nền kinh tế, nó liên quan đến nhiều yếu tố. Với nền kinh tế VN, sản xuất tuy đã phát triển nhưng hàm lượng công nghệ chưa cao, khả năng xuất khẩu của chúng ta còn hạn chế, các nguồn thu ngoại tệ chưa nhiều, trong khi ngân sách vẫn phải bội chi, nhập siêu liên tục… thì giá trị đồng tiền của chúng ta cũng phải ở mức tương ứng.

Trung Quốc sở dĩ giữ giá được đồng tiền, thậm chí giá trị đồng tiền còn tăng, vì sản xuất của họ phát triển, năng suất cao, họ liên tục xuất siêu với giá trị rất lớn… Ngay các nước châu Âu, có thời gian đồng euro cao gần gấp đôi đồng USD nhưng sau đó khi kinh tế gặp vấn đề thì giá lại giảm. Như lần này có bốn nguyên nhân chúng ta phải điều chỉnh giá tiền VN so với USD.

Thứ nhất là cung cầu, mấy tháng gần đây dù kinh tế đã đi lên nhưng cung cầu ngoại tệ lúc nào cũng căng như dây đàn.

Thứ hai có yếu tố đầu cơ do có những kẽ hở. Việc cho vay lãi suất ưu đãi, theo tôi, không loại trừ có doanh nghiệp vay được vốn ưu đãi đã chuyển sang mua USD gửi lại vào ngân hàng để vừa ăn lãi suất, vừa chờ điều chỉnh tỉ giá.

Thứ ba là một số doanh nghiệp phải nhập hàng nhưng khi đi tìm ngân hàng mua USD thì không mua nổi. Họ phải tìm ra thị trường bên ngoài hoặc chấp nhận mua ngoại tệ từ ngân hàng với giá cao hơn. Chỉ cần một vài doanh nghiệp phải làm động tác này, ngay lập tức sẽ hình thành tâm lý tăng giá USD. Nếu chúng ta giải quyết sớm ngoại tệ cho ngân hàng thì có thể giải tỏa được tâm lý này nhưng nhiều doanh nghiệp đã không được giải quyết.

Nguyên nhân thứ tư là yếu tố tâm lý. Người dân vẫn có tâm lý thích trữ USD, trong khi thị trường chứng khoán, bất động sản và sản xuất phập phồng càng tăng tâm lý trên. Nên ta buộc phải điều chỉnh tỉ giá theo hướng giảm giá VND.

* Cái đáng lo hơn là với việc giảm giá VND, lạm phát đang có nguy cơ quay lại? Ta vừa quyết tiếp tục kích cầu bằng bù 2% lãi suất, giờ lại tăng lãi suất cơ bản 1% sẽ khiến chi phí doanh nghiệp tăng, tất cả lại dồn vào giá bán?

– Với việc nới tỉ giá thì đồng tiền VN đã giảm giá. Việc tăng lãi suất cũng khiến chi phí của doanh nghiệp tăng lên, nên lo ngại lạm phát không phải không có cơ sở. Nhưng nếu chúng ta không điều chỉnh tăng giá đồng USD so với VND thì dễ diễn ra tình trạng nhiều doanh nghiệp có USD sẽ găm USD không bán, doanh nghiệp cần sẽ không có USD nhập khẩu hàng để sản xuất…

Theo tôi, lạm phát năm 2009 có lẽ không có vấn đề gì, nhưng lạm phát sẽ là vấn đề khó nhất trong điều hành kinh tế vĩ mô năm 2010. Giữ đúng mục tiêu lạm phát 7% mà Quốc hội đề ra cho năm 2010 là rất khó.

Khách hàng theo dõi tỉ giá ngoại tệ tại Ngân hàng Đông Á – Ảnh: T.Đạm

Cần chiến lược và điều hành linh hoạt

* Các sàn vàng, cơ sở thu đổi ngoại tệ đã góp phần không nhỏ vào tâm lý găm giữ vàng, tăng giá USD. Theo ông, sắp tới nên quản lý như thế nào?

– Theo tôi, các sàn vàng có biểu hiện hoạt động vô lối, là nơi tạo những cơn sốt để đầu cơ, cần phải siết chặt quản lý, thậm chí cho đóng cửa. Không thể để những tổ chức có thể làm giá, gây rối loạn thị trường như thế được. Các cơ sở buôn bán ngoại tệ không có giấy phép, Nhà nước chưa có biểu hiện gì đã tạo tâm lý để tăng giá ngoại tệ cũng cần phải được xem lại. Công tác quản lý phải sát hơn, cứ thả lỏng rồi đứng hô thì không thể hiệu quả được. Ngay các ngân hàng cũng không thể cho phép bán ngoại tệ cho doanh nghiệp theo một tỉ giá cao hơn tỉ giá Ngân hàng Nhà nước công bố.

Thời gian qua có thể không hồi tố nhưng sắp tới thì không nên để các ngân hàng tự đặt ra một tỉ giá theo hướng hạ thấp giá đồng VN. Muốn vậy, Ngân hàng Nhà nước cần chủ động, nhanh nhạy và quyết liệt hơn, tránh việc gì cũng phải xin ý kiến, trình Thủ tướng. Thị trường hiện nay cần những quyết định hợp lý nhanh hơn. Như việc cho nhập vàng thời gian qua nói kịp thời nhưng không hẳn vậy. Nếu kịp thời thì anh phải cho nhập ngay khi vừa có cơn sóng tăng giá để triệt tâm lý găm giữ, đầu cơ. Khi người ta đã đầu cơ xong, thu tiền về anh mới cho nhập thì tác dụng không lớn.

Hay Thủ tướng nói tập đoàn phải bán ngoại tệ cho ngân hàng thì Ngân hàng Nhà nước cần cụ thể hóa xem họ bán theo giá nào, bán rồi thì lúc mua có mua được đúng giá đã bán hay không. Chủ trương cần đi kèm chính sách cụ thể mới phát huy tác dụng nhanh được.

* Thưa ông, trước nguy cơ lạm phát vẫn rình rập, là người tham gia chống lạm phát phi mã những năm trước đây, theo ông, cần giải pháp gì để tiền của dân không bị “bay hơi” một cách thầm lặng?

– Theo tôi, ngoài việc phải giúp người VN tin tưởng vào đồng tiền VN hơn, lâu dài, điều hành những năm sau vẫn phải tập trung làm tốt những việc đã nói nhiều lần như: không chạy theo con số tăng trưởng đẹp mà quên ổn định vĩ mô, lơ là hiệu quả sử dụng vốn, gây lạm phát… Nghiêm khắc với chỉ số lạm phát cần được nhất quán. Lâu dài, để đồng tiền không mất giá thì cần chiến lược tổng thể tăng lực của nền kinh tế.

Quan trọng bậc nhất là tái cơ cấu thế nào để hàng VN sản xuất có giá trị cao, VN có đội ngũ doanh nghiệp mạnh, môi trường kinh doanh lành mạnh, ít chi phí ngầm, hàng VN cạnh tranh được khi xuất khẩu… Những chiến lược trên chúng ta đều đã nhận ra, không quá khó, vấn đề là cần bắt tay làm và làm thật. Chỉ khi có thực lực kinh tế mạnh thì đồng tiền mới mạnh được.

Hiểm họa từ vàng – Kỳ 2: Sàn vàng xài ngoại tệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:38 am
Tags:

TT – Cũng như đầu cơ vàng miếng, hoạt động đầu cơ trên sàn vàng sử dụng vốn vay ngân hàng nhưng “máu lửa” hơn nhờ được vay gấp nhiều lần vốn tự có. Ngân hàng không chỉ bơm hàng ngàn tỉ đồng mà còn ưu tiên ngoại tệ cho hoạt động đầu cơ vàng.

Quy trình đầu cơ trên sàn vàng bằng vốn vay ngân hàng (theo giá vàng 28 triệu đồng/lượng)

>> Kỳ 1: Bán khống, mua thật, hại tỉ giá

Hiện cả nước có hơn 20 sàn vàng. Chỉ riêng năm sàn vàng lớn nhất hiện nay, doanh số mua bán mỗi ngày lên đến 2 triệu lượng (75 tấn vàng), trị giá khoảng 3 tỉ USD (56.000 tỉ đồng).

Tiền tỉ cho đầu cơ vàng

Chẳng ai có nhiều tiền để có thể mua/bán số vàng này. Từ đó, các chủ sàn vàng đã áp dụng nghiệp vụ kinh doanh ký quỹ. Người đầu cơ chỉ cần ký quỹ số tiền 5-7%, còn lại ngân hàng cho vay. Tiền ít nhưng cho vay nhiều, vì thế ngân hàng rất chặt chẽ và luôn nắm đằng cán để thu nợ. Do vậy với nhà đầu cơ vàng, khả năng mất tiền ký quỹ là rất lớn.

Siết sàn vàng, không khó

Một quan chức Ngân hàng Nhà nước nói rằng sẽ quản lý lại sàn vàng bằng cách rà soát cơ sở pháp lý và buộc các đơn vị phải thực hiện đúng quy định, như ngân hàng không được trực tiếp tổ chức sàn mà phải lập công ty để thực hiện hoạt động này.

Tuy nhiên, những người am hiểu nghiệp vụ phái sinh tiền tệ thì nói rằng nếu cứ loay hoay với câu chuyện pháp lý thì còn lâu mới quản lý được sàn vàng. Quản sàn vàng không khó, chỉ cần quy định tăng tỉ lệ ký quỹ lên cao. Nếu tỉ lệ ký quỹ là 75% thay cho 5-7%, khi chỉ được vay 25% thì tự khắc nhà đầu cơ sẽ bỏ sàn vì không còn cơ hội “máu lửa” như tỉ lệ ký quỹ hiện nay. Ngân hàng là người cho vay vì thế việc này nằm trong tầm tay của Ngân hàng Nhà nước.

Trước đây, tỉ lệ ký quỹ là 10% nhưng do cạnh tranh nên nhiều sàn đã giảm xuống, hiện phổ biến là 5% và khối lượng giao dịch tối thiểu là 5 lượng. Như vậy một người chỉ cần có chưa tới 10 triệu đồng là đã trở thành nhà đầu cơ vàng.

Giám đốc một sàn giao dịch vàng cho biết do tỉ lệ ký quỹ thấp, đầu cơ chủ yếu bằng tiền ngân hàng nên nhiều người đầu cơ vàng miếng đã chuyển sang đầu cơ trên sàn vàng. Với 100 tỉ đồng, chưa đủ để mua 4.000 lượng vàng miếng nhưng vào sàn nhà đầu cơ có thể mua/bán đến 80.000 lượng vàng. Với lực mua này, nhà đầu cơ có thể chi phối giá để kiếm lợi.

Ưu tiên ngoại tệ cho đầu cơ vàng

Sàn vàng trong nước được liên thông với sàn vàng trên thế giới. Khi các lệnh mua/bán ở sàn vàng trong nước chênh nhau thì chủ sàn phải đặt lệnh mua/bán vàng ở nước ngoài để cân bằng cung – cầu. Chẳng hạn cuối ngày có 1.000 người mua 100.000 lượng vàng nhưng chỉ có 900 người bán 90.000 lượng vàng, chủ sàn phải đặt lệnh mua từ nước ngoài 10.000 lượng để cân bằng cung cầu. Theo một số sàn vàng, thông thường dư mua/bán mỗi ngày khoảng 10.000 lượng/sàn. Chỉ cần năm sàn cần phải đặt lệnh mua ở nước ngoài mỗi sàn 10.000 lượng, cả thảy là 50.000 lượng (gần 1,9 tấn vàng), trị giá 76 triệu USD. Tuy nhiên, nhờ sàn vàng ở nước ngoài cũng áp dụng giao dịch ký quỹ nên số ngoại tệ mà ngân hàng chi ra có ít đi nhưng cũng lên đến 5 triệu USD, chưa kể ngân hàng còn phải trả lãi suất bằng ngoại tệ cho số tiền vay để mua vàng.

Trong trường hợp giá vàng thế giới tăng hoặc giảm đúng như dự đoán của nhà đầu cơ thì ngân hàng sẽ thu thêm ngoại tệ. Tuy nhiên thời gian qua, nhiều nhà đầu cơ vàng trong nước đã đoán sai hướng đi của giá vàng dẫn đến thua lỗ. Chỉ tính riêng trong năm tháng trở lại đây, giá vàng thế giới đã liên tục tăng, từ mức 900 USD/ounce lên gần 1.200 USD/ounce. Trong khi đó, giới đầu cơ tại VN lại luôn đầu cơ giá xuống, vì thế số ngoại tệ bị mất do đầu cơ vàng là không ít.

Cũng có ngân hàng nói rằng ở một số trường hợp, họ có lời và mang ngoại tệ về. Thế nhưng, theo chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng cổ phần thì sàn vàng chẳng đem lại lợi ích gì cho nền kinh tế, dù có đem lại lợi nhuận cho ngân hàng và cơ hội phiêu lưu khi kiếm tiền cho một số đối tượng.

Điều đáng nói là trong khi nhập vàng thì các công ty và ngân hàng luôn dùng USD giá cao để quy đổi ra giá bán. Còn với nhà đầu cơ vàng, tỉ giá để quy đổi ra giá vàng lại là tỉ giá chính thức. Trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đỏ mắt, thậm chí phải trả giá cao để mua ngoại tệ nhập khẩu hàng hóa, đẩy giá hàng hóa nhập khẩu tăng thêm ít nhất 10% thì sàn vàng cần bao nhiêu ngoại tệ để mua vàng cũng được đáp ứng theo giá chính thức.

Nhà đầu cơ lãnh đủ

Từ khi có sàn vàng đã xảy ra rất nhiều cuộc cãi vã giữa chủ sàn vàng và người kinh doanh, kể cả ở các sàn lớn như ACB, SBJ đến các sàn nhỏ. Mới đây nhất vào ngày 25-11, nhiều người kinh doanh cho rằng chủ sàn đã tự ý áp dụng tỉ giá mới, từ 17.886 lên 18.500 đồng/USD trước thời hạn, đẩy giá vàng trên sàn tăng cao nhưng lại chậm thông báo điều chỉnh tỉ giá đến người kinh doanh. To chuyện nhất là tại sàn vàng Thế Giới (79 Nguyễn Công Trứ, Q.1, TP.HCM). Chủ sàn đã… tắt luôn giao dịch báo giá (giao dịch mà chủ sàn làm trung gian tạm mua, tạm bán) khi có tin Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỉ giá. Người lỡ mua vàng trước đó như ngồi trên lửa vì giá vàng tăng mà không thể cứu tài khoản. Buổi chiều, sàn mở lại giao dịch báo giá nhưng lần này đến lượt người tranh thủ mua vàng khi có tin tỉ giá tăng lại rơi vào cảnh lời hụt vì chủ sàn lại sử dụng mức tỉ giá cũ. Thế nhưng, ông Lâm Minh Chánh, tổng giám đốc sàn vàng Thế Giới, lại nói chủ sàn không vi phạm hợp đồng vì đây chỉ là giao dịch cộng thêm nên trong hợp đồng ký kết với người kinh doanh chủ sàn không đề cập!? Để giải quyết những trường hợp lời… hụt, sàn vàng đang xem xét cơ chế hỗ trợ nếu người kinh doanh chứng minh được đã lỗ trong thời điểm này?!, đồng thời nâng dần tỉ giá trong… ba tháng tới để bằng với tỉ giá quy đổi mà các sàn vàng khác đã áp dụng kể từ ngày 26-11.

Hiểm họa từ vàng – Kỳ 1: Bán khống, mua thật, hại tỉ giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:18 am
Tags:

TT – Người dân không mua vàng như trước nhưng thị trường vẫn sốt giá vàng do đầu cơ. Những cơn sốt này không ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội nhưng là mầm mống tạo ra cơn sốt tỉ giá VND/USD, từ đó tác động đến các ngõ ngách của đời sống kinh tế.

>> Phải có chiến lược giữ tiền cho dân

Hoạt động đầu cơ vàng bằng vốn vay ngân hàng đang gây áp lực rất lớn lên tỉ giá – Ảnh: THANH ĐẠM

Mặc dù cho vay để đầu cơ vàng là “nồi cơm” của nhiều ngân hàng, nhưng lãnh đạo hội đồng quản trị của một ngân hàng cổ phần bức xúc nói nếu không chấn chỉnh hoạt động cho vay đầu cơ vàng thì khó kéo tỉ giá giảm, vì mầm mống đẩy tỉ giá tăng cao vẫn còn đó.

Bán khống, mua thật

Cần đánh giá
quy mô đầu cơ vàng

Những người làm ngân hàng bức xúc trước nạn đầu cơ vàng nói rằng Ngân hàng Nhà nước cần phải thống kê lại toàn bộ dư nợ vàng mà ngân hàng đã cho vay để đầu cơ, trên cơ sở đó có giải pháp xử lý trước khi đưa ra các biện pháp chặt chẽ hơn để hạn chế hoạt động đầu cơ vàng từ vốn vay.

“Bán khống, sau đó mua thật, tạo ra lực cầu khổng lồ về vàng – mà thời gian qua nhiều người tưởng rằng do người dân mua vàng để cất giữ – dẫn đến những cơn sốt giá vàng, gây sức ép đẩy tỉ giá VND/USD tăng”, vị lãnh đạo ngân hàng cổ phần này khái quát hoạt động đầu cơ vàng từ tiền vay ngân hàng. Ông mô tả quy trình bán khống, mua thật như sau:Khách hàng X nộp vào ngân hàng 22 tỉ đồng tiền mặt, sau đó cầm sổ tiền gửi vay lại 1.000 lượng vàng và bán luôn cho ngân hàng với giá 20 triệu đồng/lượng. Không có vàng nhưng ông X vẫn bán cả ngàn lượng vàng với nhận định giá vàng sẽ giảm, tranh thủ bán trước, giá giảm sẽ mua lại để trả nợ ngân hàng. Nếu vàng giảm 1 triệu đồng/lượng, ông X bỏ túi gần 1 tỉ đồng sau khi trừ lãi vay. Số lãi này sẽ tăng thêm nếu giá vàng giảm sâu. Nhưng sau đó giá vàng không giảm mà lại tăng. Ông X đã đoán sai hướng đi của giá vàng. Rơi vào trường hợp này, nhà đầu cơ phải quyết định cắt lỗ. Với 1.000 lượng vàng vay đã bán, nhà đầu cơ sẽ lỗ thêm 1 tỉ đồng nếu giá vàng tăng thêm 1 triệu đồng/lượng.

Ngày 11-11, giá vàng vẫn tăng, giới đầu cơ đã mệt mỏi do liên tục phải châm thêm tiền cho tài sản thế chấp. Ngân hàng đưa ra tối hậu thư sẽ xử lý hợp đồng vay nếu giá tăng lên 29 triệu đồng. Giới đầu cơ buộc phải mua vàng bằng mọi giá để trả nợ, cắt lỗ. Lệnh mua vàng được tung ra. Thị trường giá 27 triệu thì người đầu cơ ra giá mua 27,5 triệu đồng, thị trường lên 27,5 triệu đồng thì họ đẩy lên 27,7 triệu đồng/lượng. Cứ thế, cuộc đuổi bắt giá chỉ chấm dứt khi bên mua có đủ vàng để trả nợ hoặc… hết tiền.

Các lệnh mua cắt lỗ là cực lớn vì không rải ra mà tập trung vào một thời điểm. Lý do là giới đầu cơ vàng thường theo một hướng, thời gian qua chủ yếu là đầu cơ giá xuống. Cơn sốt giá vàng ngày 11-11 là đỉnh điểm của hoạt động cắt lỗ khi hàng trăm nhà đầu cơ buộc phải mua vàng. Người ít thì một vài ngàn lượng, người nhiều cả chục ngàn lượng…

Hại tỉ giá

Hoạt động đầu cơ vàng không chỉ tạo ra lực cầu khổng lồ về vàng, đẩy giá tăng cao mà còn dẫn đến một hoạt động đầu cơ khác, đó là đầu cơ làm giá USD. Vì sao đầu cơ vàng ảnh hưởng đến tỉ giá VND/USD?

Thời gian qua Chính phủ hạn chế, có lúc dừng nhập khẩu vàng. Trong khi đó, các lệnh mua vàng để trả nợ, cắt lỗ cứ liên tục được tung ra, từ đó làm cho thị trường vàng luôn căng thẳng, dù không thiếu vàng nhưng giá vàng trong nước bị đẩy lên cao hơn so với giá thế giới cả triệu đồng/lượng. Từ đây đã tạo ra mảnh đất béo bở cho hoạt động đầu cơ USD. Mỗi khi thị trường có nhu cầu gom USD tiền mặt để nhập lậu vàng, giới buôn USD lại găm hàng đẩy giá.

Giá USD bị đẩy theo nhu cầu nhập lậu vàng, đồng thời giá vàng cũng bị đẩy lên để đảm bảo người nhập lậu vàng bằng USD giá cao luôn có lãi.

Khi giá VND/USD tại thị trường tăng cao thì giá USD tại ngân hàng cũng chộn rộn. Có một thực tế là thời gian qua trong hoạt động mua bán USD tại hệ thống ngân hàng, tỉ giá trên thị trường tự do luôn được các doanh nghiệp có ngoại tệ dùng làm thước đo để định giá bán USD cho doanh nghiệp nhập khẩu.

Nếu bên mua ngoại tệ không chấp nhận giá theo thị trường tự do thì bên bán găm giữ. Nhà nhập khẩu đến một thời điểm nào đó đành phải chấp nhận USD giá cao, có lúc lên đến gần 20.000 đồng/USD. Khi nhà nhập khẩu phải mua USD giá cao, người tiêu dùng lãnh đủ.

Cắt đầu cơ giá vàng, không khó

Sau cơn sốt giá ngày 11-11, hoạt động đầu cơ vàng vẫn tiếp tục dù có thận trọng hơn. Vì vậy, áp lực lên giá vàng và giá USD vẫn còn đó. Một người điều hành ngân hàng nói rằng giấy phép nhập khẩu vàng mà Ngân hàng Nhà nước đã cấp trong giữa tháng 11-2009 chẳng thấm vào đâu so với nhu cầu cắt lỗ của giới đầu cơ, nếu lại xảy ra một cơn sốt giá vàng. Nếu vốn vàng từ ngân hàng vẫn tiếp tục được dùng cho hoạt động đầu cơ thì thị trường sẽ còn phải chịu nhiều cơn sóng dữ.

Theo vị lãnh đạo ngân hàng này, cắt cơn sốt vàng do đầu cơ không khó. Chỉ cần quy định như Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng với hoạt động cho vay bằng ngoại tệ. Theo đó, chỉ những người có hợp đồng mua nhà, đất phải trả bằng vàng thì mới được vay. Ngân hàng không cho vay nếu không có mục đích thanh toán rõ ràng, hoặc dùng số vàng đó để đầu cơ.

Các ngân hàng có cho vay vàng để đầu cơ thì phân bua rằng do Ngân hàng Nhà nước không cấm vì vậy nếu họ không làm thì ngân hàng khác cũng sẽ làm. Giải thích này cũng dễ hiểu vì cho vay đầu cơ vàng là một nguồn thu của ngân hàng, dù có chứa đựng rủi ro cho xã hội. Điều đáng nói là Ngân hàng Nhà nước lại chưa để mắt để chấn chỉnh hoạt động này.

Vốn vàng phục vụ đầu cơ

Trước đây, các ngân hàng huy động vàng và cho người dân vay để mua nhà, một số doanh nghiệp vay bán lấy VND để kinh doanh. Khi đó, giá vàng ổn định trên dưới 5 triệu đồng/lượng, lãi suất vay vàng rất thấp. Từ năm 2001 giá vàng tăng liên tục, lãi suất vay vàng tăng, những người vay vàng cho mục đích trên giảm hẳn. Từ đó, các ngân hàng đã chuyển sang cho vay để đầu cơ vàng.

Blog at WordPress.com.