Ktetaichinh’s Blog

November 28, 2009

Mark-to-market Accounting

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:58 pm
Tags:

Mark-to-market Accounting (kế toán theo giá trị thị trường) không phải là một đề tài mới, thực tế nó là vấn đề tranh cãi từ lâu, đặc biệt là sau vụ gian lận của Enron, và tác động của nó trong khủng hoảng tài chính vừa qua. Tôi tổng hợp lại một vài ý kiến.

Mark-to-market (kế toán theo giá trị thị trường) hay fair value accounting (kế toán theo giá hợp lý) là chuẩn mực kế toán mà ghi nhận giá trị của các công cụ tài chính theo giá hợp lí trên thị trường hiện tại, hoặc giá của các công cụ tương tự.


Ở Mỹ

Enron

Enron phá sản ở Mỹ chưa phải lớn nhất (sau vụ Worldcom), song lại chứa đựng rất nhiều thông tin về sự gian lận kế toán khi sử dụng phương pháp tính theo giá trị hợp lý. Enron sử dụng phương pháp mark-to-market để khai báo doanh thu. Enron sử dụng cho hàng tồn kho, ngoài ra còn có các giao dịch forwards, swaps, options, các hợp đồng vận chuyển năng lượng và các loại hợp đồng khác. Các hợp đồng dài hạn do được điều chỉnh theo giá hợp lý, được tính bằng cách ước lượng giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai, nên đã thổi phồng con số lợi nhuận. Đặc biệt, Enron dùng kế toán mark-to-market cho các công ty con chuyên biệt, được gọi là price-risk-management. Enron ghi nhận lợi nhuận ngay khi ký một hợp đồng dài hạn với một công ty công nghệ, khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn (thật ra không có công nghệ nào) nhưng Enron vẫn tiếp tục ghi nhận lợi nhuận mặc dù lỗ.

FAS 157

Tiêu chuẩn FAS 157 bắt đầu có hiệu lực ngày 15/11/2007, theo đó các tài sản của các financial institutions sẽ chia làm 3 level:

* Level 1: Tài sản có giá thị trường
* Level 2: Tài sản không có giá thị trường, chúng được định giá theo một mô hình. Mô hình này được tính dựa theo giá những loại chứng khoán tương tự, mức lãi suất …
* Level 3: loại này không có giá thị trường, cũng chẳng có mô hình để tính toán, nên người ta sẽ đưa ra giả định khi lập báo cáo tài chính.

Như vậy, ai cũng dễ dàng thấy sơ hở của loại tài sản level 3 này. Giả định thế nào thì gọi là hợp lí. Vấn đề của kế toán mark-to-market ở đây là luôn phải ghi nhận theo giá trị thị trường. Tuy nhiên , khi kinh tế gặp khủng hoảng, nhiều loại tài sản, hay công cụ tài chính bỗng chốc mất tính thanh khoản. Giá thị trường thị tụt dốc không kìm hãm được. Nếu các tổ chức tài chính có tài sản lớn đặc biệt các loại chứng khoán tổng hợp sử dụng phương pháp mark-to-market sẽ ghi nhận những khoản lỗ lớn khi mà các nhà đầu tư hoảng sợ, cả thị trường chỉ bán, và thậm chí nhưng giao dịch. Bank for International Settlements đề nghị kế toán theo giá trị của các chứng khoán thế chấp dưới chuẩn được xếp hạng AAA (sử dụng ABX index). Điều này làm cho các khoản lỗ trầm trọng hơn.

Ngày 9/4/2009, FASB đã cập nhật bản FAS 157: sẽ lới lỏng không quy định mark-to-market khi thị trường không ổn định. Nhóm đầu tiên sẽ áp dụng từ 15/3, còn tất cả sẽ áp dụng từ 15/6.

Ở Việt Nam

Các quy định về kế toán theo giá thị trường rất chung chung, ngay cả trong Thông tư số 210/2009/TT-BTC (ngày 6/11/2009) hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính tại Việt Nam. Xin trích vài ý:

Điều 3, khoản 6: Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một tài sản tài chính hoặc một khoản nợ phải trả tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
a) Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh. Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh, nếu:
(i) Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn;
(ii) Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; hoặc
(iii) Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả).
b) Tại thời điểm ghi nhận ban đầu, đơn vị xếp tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính vào nhóm phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Khoản 14: Giá trị hợp lý: Là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch trao đổi ngang giá.

Điều 17. Trình bày các loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính

Giá trị ghi sổ của từng loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính sau được trình bày trong bảng cân đối kế toán hoặc trong thuyết minh báo cáo tài chính:

1- Tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó tách riêng tài sản tài chính được đơn vị xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và tài sản tài chính nắm giữ để kinh doanh;
2 – Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn;
3 – Các khoản cho vay và phải thu;
4 – Tài sản tài chính sẵn sàng để bán;
5 – Nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó tách riêng nợ phải trả tài chính được đơn vị xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và nợ phải trả tài chính nắm giữ để kinh doanh;
6 – Nợ phải trả tài chính được xác định theo giá trị phân bổ.

Điều 18. Thuyết minh đối với tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

1 – Nếu đơn vị phân loại một khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) vào nhóm được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đơn vị sẽ phải thuyết minh về:
a) Mức độ rủi ro tín dụng tối đa của khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) tại ngày báo cáo;
b) Mức độ giảm thiểu rủi ro tín dụng của các công cụ phái sinh tín dụng có liên quan hoặc các công cụ tương tự;
c) Giá trị hợp lý của khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) cuối kỳ, những thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ do thay đổi về rủi ro tín dụng của tài sản tài chính;
d) Giá trị hợp lý cuối kỳ và thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ của các công cụ tài chính phái sinh tín dụng có liên quan hoặc các công cụ tương tự kể từ khi khoản cho vay hoặc phải thu được phân loại vào nhóm này.

2 – Đơn vị phải thuyết minh

Advertisements

November 27, 2009

Vietnam’s Devaluation Alarms Rival Exporters

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:40 am
Tags:

By JAMES HOOKWAY in Hanoi and ALEX FRANGOS in Hong Kong

Vietnam’s decision to devalue its currency raises tensions across Asia as the region’s export-driven economies jostle for an edge amid a slow recovery in orders from the U.S. and Europe.

Vietnam shaved 5% off the value of its currency, the dong, on Wednesday, its third devaluation since June 2008. It also increased interest rates by one percentage point, to 8%. The moves were driven primarily by domestic concerns, including a need to combat speculative pressure that has weighed on Vietnam’s economy for more than a year.

Agence France-Presse/Getty ImagesA factory worker in the northern Vietnamese province of Vinh Phuc helps assemble a motor scooter. Vietnam’s currency devaluation this week gives it an edge over other Asian exporters.

vietnam

vietnam

The devaluation makes Vietnam’s manufactured goods cheaper than those of many other Asian countries, improving its relative position in global trade. That puts Vietnam in the same camp as China, another country that has kept its currency weak compared with its neighbors, sparking complaints from manufacturers and leaders in the region who want China to let its currency, the yuan, rise.

Thai Finance Minister Korn Chatikavanij, whose country has spent at least $15 billion this year to slow the appreciation of its currency and keep it competitive with the yuan, said in a phone interview Wednesday that Thailand could see some “marginal impact” in low-margin export industries such as textiles after Vietnam’s devaluation, but that he was hopeful the broader Thai economy wouldn’t be buffeted too much.

Industry leaders, however, are worried. “The Thai baht is rising too quickly in comparison with some of our competitors, and we in the private sector are telling the government that it is rising too quickly — but it seems they aren’t doing anything,” said Thamrong Tritiprasert, chairman of the footwear section of the Federation of Thai Industries, a trade association.

[vietnam currency]

He said it wasn’t just Thailand’s shoe industry that would suffer because of Vietnam’s devaluation, but potentially all industries. The two countries compete for markets for agricultural products such as rice.

Economists say Vietnam’s move is unlikely to trigger copycat devaluations elsewhere. Vietnam’s economy is relatively small, and most Asian countries are more concerned with currency policies in China — a much bigger rival than Vietnam.

But Vietnam’s actions matter a great deal in some industries, including textiles and agriculture, and could accelerate a longer-term shift of manufacturing to the country, which already has the advantage of a large and low-cost labor force. Vietnam’s exports grew faster in percentage terms than other Asian economies’ in recent years, and the country attracted more foreign direct investment in 2007 than its much-larger rival Thailand. It is among the world’s top exporters of rice, coffee and shrimp.

Vietnam has economic problems, though, many of which contributed to the decision to devalue. In sharp contrast to many other emerging markets, whose currencies have gained value against the dollar this year, Vietnam continues to face severe downward pressure on its currency, in part because it is one of Asia’s only economies with both a fiscal budget deficit and a current-account deficit.

Vietnam’s problems stem from years of rapid expansion from 2000 to 2007, when gross domestic product grew an average of 7.5% a year, making the country a darling of global investors. Policy makers were unable to manage the massive inflows of capital, and inflation began, reaching a peak of 28% in August 2008 and threatening an economic crisis.

The global credit crunch helped to ease inflation by depressing oil and food prices. But it also knocked out much of the foreign direct investment on which Vietnam had come to depend, and exports slumped. The trade deficit ballooned, reaching $10.2 billion in the first 11 months of the year, while dollar sales aimed at stabilizing the dong shrunk foreign reserves. All that — coupled with billions of dollars in spending on economic stimulus — added to the pressure on the dong.

Wednesday’s devaluation, in which the central bank lowered the midpoint of the dong’s daily trading range 5.16%, was an attempt to help stabilize the situation. The accompanying one-percentage-point rise in interest rates, in effect Dec. 1, was designed to make sure there will be no further depreciation.

“This time our solution is to strongly intervene,” State Bank of Vietnam Governor Nguyen Van Giau said.

Many economists say they are skeptical that will be enough to halt the downward pressure on the dong. “The authorities are buying themselves some time with this move,” says Tim Condon, head of Asian research at ING in Singapore. But Vietnam needs the global recovery to pick up steam to boost exports and reduce the country’s trade and balance-of-payments deficits before the situation can be remedied, he and others say.

Growth is still relatively strong in Vietnam, though, and the lower currency values could give a further shot to exporters. The World Bank expects Vietnam’s GDP to climb 5.5% this year, compared with 6.2% in 2008.

Write to James Hookway at james.hookway@wsj.com and Alex Frangos at alex.frangos@wsj.com

November 26, 2009

Việt Hoàng – Tỉ giá USD/VNĐ bao nhiêu là hợp lý?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:18 pm
Tags:

Việt Hoàng
“…Điều quan trọng nhất là nhà nước cần tuyên truyền cho người dân hiểu rõ những tác động tích cực của việc giảm giá đồng tiền Việt Nam và khi thực hiện cần phải có lộ trình minh bạch, rõ ràng…”

Sau khi hạ nhiệt được một tuần sau ngày lập kỷ lục (11/11/2009) thì giá vàng và đô la lại quay lại mốc cũ với vàng là gần 29 triệu đồng/lượng và đô la chạm ngưỡng 20.000VNĐ. Có lẽ lần này giá đô la sẽ nằm luôn ở tỉ giá mới. Một câu hỏi khiến nhiều người quan tâm đó là tỉ giá giữa đồng đô la và đồng Việt Nam bao nhiêu là hợp lý?

Tôi sẽ đưa ra vài nhận định chủ quan của mình trên cái nhìn của một doanh nhân chứ không phải là cái nhìn của người làm chính trị.

Điều đầu tiên mà chúng ta phải đồng ý với nhau là bất cứ một chính sách nào của nhà nước đều có hai mặt: tích cực và tiêu cực, nhiều người có lợi và sẽ có người thiệt thòi. Tiêu chí để cho ra đời và thực thi một chính sách đó là quyền lợi của đất nước, của đa số người dân. Nếu chúng ta không đồng tình với quan điểm này thì có cãi nhau cả ngày cũng không đi đến đâu.

Hiện nay trong hoạt động của thị trường ngoại tệ tồn tại song song hai tỉ giá giữa đồng đô la và đồng Việt Nam, một tỉ giá mang nặng tính hình thức của Ngân Hàng Nhà Nước và một tỉ giá thực sự để trao đổi do thị trường “chợ đen” ấn định. Chuyện này diễn ra đã lâu đến nỗi nhiều người đã quen với chuyện đó. Thế nhưng chuyện hai tỉ giá này là hoàn toàn không bình thường, nó gây khó khăn cho các doanh nghiệp như thế nào và hạ uy tín của Ngân hàng nhà nước, chính phủ ra sao thì báo chí đã nói nhiều rồi.

Nhiều chuyên gia (trong và ngoài nước) đã tính toán rằng đồng Việt Nam đang mất giá so với đồng đô la, các tính toán này dựa hoàn toàn vào thực tế chứ không hề mang động cơ chính trị. Thế nhưng cho đến bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Văn Giàu vẫn khăng khăng rằng sẽ không phá giá đồng Việt Nam. Theo ông Nguyễn Văn Giàu giải thích thì nếu hạ giá đồng tiền Việt Nam thì tiền nợ mà chính phủ và các doanh nghiệp đã vay của nước ngoài (bằng đô la) sẽ tăng lên. Giải thích này nếu của các nhóm lợi ích thì ta không nói làm gì nhưng nếu là lập trường của chính phủ Việt Nam thì rõ ràng là không ổn.

Không hiểu ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem việc phát triển kinh tế của đất nước với việc trả nợ nước ngoài thì cái nào quan trọng hơn? Nếu chính phủ Việt Nam lo việc trả nợ hơn là lo làm việc thì sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn và sẽ không có cái đối sách thích hợp.

Tôi xin đi vào cụ thể, đầu tiên là các mặt tích cực của việc giảm giá đồng Việt Nam:

1. Khuyến khích xuất khẩu

Việt Nam là nước đang phát triển vì vậy trong thời gian trước mắt việc xuất khẩu sẽ là ưu tiên quan trọng của chính phủ. Việc đồng tiền Việt Nam (VNĐ) rẻ sẽ khiến hàng hóa Việt Nam rẻ và xuất khẩu sẽ gia tăng. Điều này cứ nhìn vào Trung Quốc là thấy rõ. Dù bị Hoa Kỳ và Châu Âu chỉ trích nhưng chính quyền Trung Quốc vẫn không chịu tăng giá đồng nhân dân tệ mà cứ để nó rẻ hơn so với thực tế cần thiết.Và mục đích là để hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết thị phần trên thế giới kể cả trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua.

2. Khuyến khích phát triển sản xuất trong nước

Đặc biệt là ngành công nghiệp phụ trợ. Khi VNĐ hạ giá thì hàng nhập khẩu sẽ tăng giá và đương nhiên là hàng hóa sản xuất trong nước sẽ tăng theo. Lợi nhuận tốt sẽ kích thích sản xuất, kích thích người dân bỏ vốn sản xuất thay vì đầu tư vào đất đai hay chứng khoán hoặc găm giữ đô la, vàng…

Việc VNĐ vẫn cao như hiện nay khiến hàng nhập khẩu rẻ đã góp phần bóp chết sản xuất trong nước.

Việc giảm giá VNĐ cũng làm xì hơi bong bóng bất động sản cũng như chứng khoán. Việc giá bất động sản của Việt Nam bị thổi giá lên từ 30-50 lần theo lời một vị Đại biểu quốc hội là chuyện không bình thường và gây bất lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước.

3. Giảm nhập siêu

Việt Nam là nước xuất khẩu nhưng năm nào cũng bị thâm thủng mậu dịch do nhập siêu quá lớn. Cộng với tham nhũng và buôn lậu hoàng hành nên hàng nhập khẩu ngày càng rẻ khiến nhập siêu càng tăng cao. Việt Nam đã tham gia vào WTO nên không thể bảo hộ mậu dịch bằng cách tăng thuế được vì sẽ đi ngược lại với các cam kết quốc tế. Việc VNĐ giảm giá sẽ tạo ra một hàng rào thuế quan vô hình làm cho hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn và như vậy sẽ làm giảm nhập siêu.

4. Thoả mãn kỳ vọng của dân chúng

Cho dù nhà nước ra sức trấn an nhưng dân chúng Việt Nam vẫn kỳ vọng vào việc giảm giá VNĐ vì thế họ vẫn cố găm giữ đô la khiến cho thị trường ngoại tệ trở nên căng thẳng. Việc giảm giá đồng đô la có lộ trình và dứt khoát sẽ làm bình thường thị trường ngoại tệ sau khi thoả mãn kỳ vọng của dân chúng. Một tích cực nữa là khi hàng nhập khẩu đắt thì người dân sẽ quay sang dùng hàng sản xuất trong nước do giá rẻ hơn và như thế là phù hợp với khẩu hiệu “Người Việt dùng hàng Việt” của Bộ chính trị.

* * *

Bên cạnh các mặt tích cực thì việc giảm giá VNĐ cũng sẽ có nhiều tiêu cực:

1. Các nhà nhập khẩu sẽ bị ảnh hưởng

Các nhóm lợi ích này chắc chắn sẽ phản đối việc giá VNĐ giảm vì hàng nhập khẩu sẽ trở nên đắt đỏ và như vậy tiêu thụ sẽ kém đi. Thế nhưng về lâu về dài, khi kinh tế đất nước phát triển, thu nhập người dân tăng lên thì sức tiêu thụ sẽ tăng lên. Vì vậy các nhóm nhập khẩu cần chịu thiệt trước mắt để có lợi cho tương lai và đồng thời các doanh nghiệp nhập khẩu cũng cần lựa chọn các mặt hàng mà người dân thực sự cần thiết chứ không thể nhập “thượng vàng hạ cám” như hiện tại được.

2. Nợ của nhà nước vay mượn nước ngoài (bằng đô la) sẽ tăng lên

Và lấy đâu ra tiền để tăng lương cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước?

Đây là cơ hội tốt để thực hiện việc cải cách hành chính, tinh giảm bộ máy biên chế quá cồng kềnh của chính phủ. Có cơ quan gồm 13 cấp phó, giảm bớt hai phần ba số người đó để dồn lương cho những người còn lại. Việc này không dễ làm nhưng sẽ thực hiện được nếu chính phủ có quyết tâm. Thực hiện bằng cách công khai lựa chọn như bỏ phiếu kín chẳng hạn…

Những người không ăn lương nhà nước thì hãy để thị trường tự điều chỉnh.

Còn nợ nước ngoài tăng lên vài phần trăm không đáng ngại khi kinh tế đất nước phát triển. Dám làm mới có tiền để trả nợ. Sản xuất phát triển thì thuế sẽ thu nhiều hơn và sẽ có tiền để trả nợ.

3. Ảnh hưởng đến các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp vay nợ nước ngoài và người dân gửi tiết kiệm bằng VNĐ

Đây là các thành phần cần được nhà nước hỗ trợ để họ tránh thiệt thòi, nhất là người dân gửi tiền tiết kiệm. VNĐ mất giá bao nhiêu phần trăm thì nên bù cho người dân bấy nhiêu phần trăm. Các nguồn cho vay của ngân hàng dành cho các doanh nghiệp sản xuất thì nên được nhà nước bù lỗ hoàn toàn còn các nguồn cho vay để đầu tư bất động sản và chứng khoán thì nhà nước dứt khoát không bù lỗ. Ngân hàng phải có trách nhiệm cho vay tiền để thúc đẩy phát triển sản xuất chứ không phải tạo bong bóng bất động sản và chứng khoán.

Như vậy tôi là người ủng hộ khuynh hướng giảm giá đồng Việt Nam.

* * *

Bây giờ câu hỏi tiếp theo là VNĐ và USD nên nằm ở tỉ giá nào thì hợp lý?

Nhiều chuyên gia đã đưa ra con số là 20.000-22.000VNĐ/1USD. Hiện tại, theo tôi, nên duy trì tỉ giá 20.000VNĐ và sẽ tiếp tục giảm từ từ đến 22.000VNĐ/1USD. Chính phủ cần có thái độ rõ ràng và dứt khoát cũng như lộ trình giảm giá VNĐ một cách công khai và minh bạch để người dân không hoang mang và thì trường không hỗn loạn như đợt tăng giá ngày 11/11 vừa rồi.

Ngân hàng nhà nước cần ấn định tỉ giá VNĐ/USD theo đúng tỉ giá cần thiết chứ không thể chạy theo thị trường chợ đen. Một tỉ giá VNĐ/USD ổn định là lý tưởng nhất để nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Việc giảm giá VNĐ là việc làm bắt buộc do tình hình chung của nền kinh tế Việt Nam và thế giới.

Như đã nói ở trên, bất cứ chính sách nào cũng có hai mặt tiêu cực và tích cực. Điều đáng lo ngại nhất khi giảm giá đồng Việt Nam là việc tăng giá các mặt hàng thiết yếu như lương thực phẩm. Thế nhưng Việt Nam vẫn có thể thực hiện được việc giảm giá VNĐ do các mặt hàng chiến lược (như xăng dầu, điện, nước…) đều nằm trong tay các Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ. Nếu các doanh nghiệp lợi dụng việc giảm giá VNĐ để thu lợi bất chính thì nhà nước cần có các biện pháp chế tài thật mạnh để răn đe.

Điều quan trọng nhất là nhà nước cần tuyên truyền cho người dân hiểu rõ những tác động tích cực của việc giảm giá đồng tiền Việt Nam và khi thực hiện cần phải có lộ trình minh bạch, rõ ràng.

Việt Hoàng

(Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

Giá đất đai tại đô thị lớn đã vượt quá xa giá trị sử dụng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:17 am
Tags:
Theo TS. Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM, giá cả đất đai hiện nay tại các đô thị lớn đã vượt quá xa giá trị sử dụng.

Trước những lo ngại về khả năng mất kiểm soát của nhà đầu tư đối với phần vốn góp vào dự án bất động sản, TS. Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM, đại biểu Quốc hội cho rằng, ngân hàng cũng phải có trách nhiệm nếu tham gia giải ngân vốn góp những dự án này.

Để đảm bảo an toàn, Luật Kinh doanh Bất động sản quy định, dự án nhà ở, khu đô thị phải làm xong hạ tầng, nhà ở phải làm xong phần móng mới được huy động vốn của khách hàng. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều chủ đầu tư vẫn huy động và chiếm đoạt vốn góp. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Tôi cũng đã nhiều lần kiến nghị với Quốc hội rằng, Luật Kinh doanh bất động sản không nên quy định việc người dân góp vốn vào dự án bất động sản. Trong vấn đề góp vốn, việc người dân góp vốn bao nhiêu không quan trọng, quan trọng là dự án đó được cơ quan nhà nước phê duyệt và chịu trách nhiệm về các yếu tố pháp lý của dự án.

Còn việc khách hàng, nhà đầu tư tham gia góp vốn đầu tư dự án bất động sản là đương nhiên, vì không có một chủ đầu tư nào có đủ tiền để thực hiện một dự án bất động sản có quy mô rộng hàng trăm, hàng ngàn héc – ta mà không phải huy động vốn.

Điều quan trọng là tiền vốn góp của khách hàng phải được gửi vào một tài khoản ngân hàng và ngân hàng chỉ giải ngân phần vốn đó cho đúng dự án đó thôi. Việc này sẽ khắc phục được hiện tượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản lấy tiền góp vốn dự án của khách hàng đi làm chuyện khác.

Thời gian qua, giá bất động sản tại Hà Nội liên tục tăng cao. Theo ông, liệu thị trường có chứa đựng yếu tố “bong bóng”?

“Bong bóng” hay không còn tuỳ theo quan điểm của từng người, nhưng theo tôi, xét về lý thuyết, giá cả đất đai hiện nay tại các đô thị lớn đã vượt quá xa giá trị sử dụng. Không có một cách xác định thống nhất về giá cả bất động sản, nhưng theo lý thuyết của Các Mác, thì giá của một mảnh đất được tính bằng lợi nhuận bình quân mà nó tạo ra trong khoảng 25 năm.

Nhà nước cũng đã có một số biện pháp về thuế, đầu tư nhà ở xã hội, nhưng “bong bóng” này không xẹp được. Theo ông, vì sao lại như vậy?

Theo tôi, có 2 lý do.

Thứ nhất là đất đai của Việt Nam đang trở thành một loại tài sản tích trữ của người dân. Người người giữ của bằng đất, mua nền nhà để đó cất giữ.

Thứ hai, đất đai là hàng hoá đặc biệt, không có yếu tố thay thế (địa điểm là duy nhất và không thể di chuyển), nên thị trường bất động sản là thị trường cạnh tranh không hoàn toàn.

Chừng nào Nhà nước chưa có chính sách điều chỉnh 2 yếu tố đó thì “bong bóng” bất động sản không thể xẹp đi được. Hiện nay, tất cả đất đai mà chúng ta định quy hoạch thì giới đầu cơ mua và luôn luôn đẩy giá lên cao.

Việc đầu cơ tích trữ đất đai và giá đất liên tục bị đẩy lên ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế?

Đây là một hành vi phi kinh tế kép. Tiền nằm bất động trong đất là lần phi kinh tế thứ nhất. Mảnh đất, ngôi nhà không được sử dụng là lần phi kinh tế thứ hai. Nếu như xét về góc độ cá nhân, thì hoàn toàn chính đáng, nhưng xét về phương diện quốc gia, thì rất có hại cho nền kinh tế.

Rất tiếc là, ở tầm vĩ mô hiện nay không thấy đặt ra yêu cầu giải quyết vấn đề này. Đa số các khiếu kiện hiện nay xuất phát từ đất đai. Quá trình phân hoá giàu nghèo diễn ra trong những năm gần đây cũng xuất phát từ đất đai…

Có cách nào hạn chế tình trạng này không, thưa ông?

Thị trường bất động sản hiện nay chủ yếu là bán thành phẩm (sản phẩm chưa hoàn thiện, nhà xây thô bỏ đó, hạ tầng không có…) dẫn đến khan hiếm hàng hoá, giá cả bất động sản liên tục bị đẩy lên cao gây ra tâm lý đầu cơ tích trữ trong dân. Nếu hàng hoá làm ra nhiều, nguồn cung dồi dào, thì tình trạng này sẽ giảm đi.

Còn yếu tố thứ hai là đất đai không có yếu tố thay thế (địa điểm là duy nhất và không thể di chuyển) có thể dùng công cụ quy hoạch để hạn chế (di dời Thủ đô, xây mới trung tâm thành phố…) để giảm tính độc quyền của vị trí đất.

Theo Quang Hưng
Báo Đầu tư

Nhiều cơ hội cho giá vàng tăng cao

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:13 am
Tags:
Chưa bao gờ thị trường vàng lại trở nên hấp dẫn như hiện nay. Tâm lý mua vào đang chiếm ưu thế trên khắp toàn cầu bởi hầu hết nhà đầu tư lớn nhỏ đều kiếm được ít nhất một lý do để nhận định dự trữ vàng không bao giờ thừa.

Vốn được xem là “vịnh tránh bão” hàng đầu dành cho giới đầu tư mỗi khi có những nỗi lo lắng đeo đẳng thị trường, giá vàng thế giới thời gian qua liên tục leo thang trước sự suy yếu của đồng USD, thâm hụt ngân sách phình to ở Mỹ, châu Âu và chính sách lãi suất thấp. Giới phân tích nhận định lo ngại một bong bóng tài sản mới sẽ hình thành và rốt cục sẽ vỡ tung, giới đầu tư quốc tế đang ồ ạt tìm đến với vàng bởi loại tài sản này được xem là có độ an toàn cao.

Giá vàng liên tục lập đỉnh mới.

Trong 5 phiên giao dịch tuần trước, giá vàng có tới bốn ngày tăng giá, điều quan trọng đó là mỗi ngày giá vàng đều lập được một kỷ lục mới. Chưa dừng lại ở đó, giá vàng phiên giao dịch đầu tuần còn thiết lập mức cao $1.174 USD một ounce. Tuy sau đó có quay đầu giảm đôi chút nhưng kết thúc phiên giao dịch giao dịch hôm qua, giá vàng vẫn chốt ở mức rất cao là 1.169,50 USD một ounce. Trong phiên giao dịch ngày hôm nay, giá vàng lại bất ngờ bật mạnh và tiến sát mốc cao kỷ lục mới là $1179/oz.

Nhiều dự đoán tích cực từ các chuyên gia

Các nhà kinh tế nhận định, vàng sẽ còn được mua vào nhiều hơn nữa và đà tăng giá hiện nay có thể kéo dài thêm một thời gian. Tính từ đầu năm đến nay, giá kim loại quý này tăng khoảng 32%.

Do vậy, các cơ quan dự đoán gần đây liên tục điều chỉnh tăng mức dự đoán của họ đối với giá vàng. JP Morgan dự báo giá vàng trung bình là $1.106 vào năm sau; Deutsche Bank cho rằng giá vàng sẽ tăng 30% vào năm 2010, lên mức $1.150; Barclays tin rằng xu hướng giá vàng là $1.500/oz vào năm sau.

Trong báo hàng quý về hàng hóa gần đây nhất, Standard Chartered dự đoán giá vàng sẽ hoạt động tốt nhất là trong quý 4 của năm tới vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiếp tục kéo nền kinh tế toàn cầu đi xuống. Ông Helen Henton, trưởng phòng nghiên cứu hàng hóa của ngân hàng này cho biết “Nguồn cung vàng quặng tăng lên khi giá tiến tới mức kỉ lục mới có thể đẩy giá vàng lên $1,300/oz trong Q4 2010 một khi đôla tiếp tục suy yếu.” Một khi thanh khoản còn đang dồi dào, giá hàng hóa dù có giảm cũng sẽ không giảm sâu.”

Blake Robben, thuộc Lind-Waldock cũng có ý kiến tương tự “Món nợ khổng lồ của Mỹ có khả năng giữ đôla dưới áp lực, điều này ủng hộ cho vàng. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy giá vàng sẽ ngừng tăng nếu Fed còn tiếp tục chính sách tiền tệ thời khủng hoảng.”

Đặc biệt là. Jim Roger, người được nổi danh là nhà đầu tư hàng hóa toàn cầu cũng cho rằng, ông đang nghiêng vào đầu tư vàng vì vàng mới là tài sản thực. Ông cũng dự đoán vàng sẽ có một bước đột phá kinh ngạc $2.000/oz trong vòng một thập kỷ tới. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs cũng nhất trí với mức giá dự đoán này.

Chính phủ các nước đang đẩy mạnh hoạt động thu mua vàng.

Theo ông Bridges, vàng đang lôi cuốn cả những ngân hàng và Chính phủ các nước. Nhiều quốc gia muốn tăng tỷ lệ vàng trong kho dự trữ, bởi vậy họ sốt sắng thu mua kim loại quý này. Mở màn cho làn sóng đầu tư “cấp nhà nước” này là Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ. Ngân hàng này quyết định mua 200 tấn vàng của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) khi thị trường lên mức cao nhất. Thương vụ này đưa Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ tăng thêm 10 cấp trong bảng xếp các ngân hàng dự trữ vàng lớn trên thế giới. Tiếp đó, ngân hàng Trung ương Mauritius cũng mua hai tấn vàng của IMF trị giá 71,7 triệu USD.

Ngay sau đó, Trung Quốc đánh tiếng muốn mua một phần hoặc toàn bộ số vàng mà IMF dự định bán ra. Bắc Kinh không che giấu rằng đến cuối năm, Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi lượng dự trữ vàng. Kể từ năm 2003, nước này đã không ngừng tăng lượng dự trữ vàng lên 76% tính đến tháng 4. Hiện nay, Trung Quốc là nước dự trữ vàng lớn thứ 5 thế giới với 1.054 tấn.

Ngoài ra, cuộc khảo sát mới đây của Standard Chartered của Anh cũng cho thấy, đầu tư vàng đang trở nên hấp dẫn các ngân hàng ở London và có sự thay đổi trong đầu tư giữa các khách hàng nhỏ lẻ, họ đã chuyển sang đầu tư vàng vì lợi nhuận cao hơn với sự biến động mạnh của thị trường.

Giới đầu tư cũng đặc biệt quan tâm đến nguồn dự trữ vàng khi Nga, một trong những nước lớn nhất về sản xuất kim loại quý, quyết định không bán vàng ra thị trường nước ngoài mà chỉ chuyển dự trữ “từ túi này sang túi khác”. Dự trữ vàng của NHTW Nga đã tăng 0.5 triệu oz(15.6 tấn) tương đương 2.6% trong tháng 10 lên 19.5 tỉ oz (606.5 tấn). Nguồn tin cũng cho biết giá trị trữ lượng vàng của NHTW này đã tăng lên $20.4 tỉ hôm 1/11. Vàng chiếm 4.7% trong tổng lượng dự trữ vàng và ngoại hối của nước này-nước có trữ lượng dự trữ vàng lớn thứ ba thế giới đứng ở mức $434.43 tỉ đầu tháng 11. Bộ Trưởng tài chính Nga Alexei Kudrin tuần trước cho biết Gokhran-một cơ quan thuộc bộ sẽ bán 30 tấn vàng cho NHTW trong năm nay.

Lực mua vào của các quỹ đầu tư

Yếu tố đầu cơ và mua vào của các quỹ đầu tư vàng là nguyên nhân chính nữa khiến vàng tăng giá. Nhìn lại thời kỳ dầu thô tăng lên 147 USD một thùng trong năm 2008, các chuyên gia phân tích thị trường giải thích cho việc giá dầu tăng vọt này là do một loạt yếu tố cơ cấu. Nó tương tự như sự hình thành bong bóng đầu cơ trên thị trường vàng. Chuyên gia tiền tệ Hart cho rằng, ETF bị coi là thủ phạm của việc tăng giá dầu và cũng đang đóng vai trò thao túng trên thị trường vàng. ETF tích cực tung tiền ra mua vàng vào đầu năm 2009, các hợp đồng giao dịch kỳ hạn và khối lượng vàng giao dịch tại Ủy ban giao dịch hàng hóa kỳ hạn (CFTC) đã tăng lên mức kỷ lục. Đáng chú ý là, trong đêm hôm qua và hôm kia, Quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR đã liên tiếp mua vào, hiện lượng nắm giữ của quỹ này đang là 1,122.37 tấn.

Với nhiều lý do như vậy, thị trường vàng hoàn toàn có lý do để khẳng định vị thế độc tôn trong bối cảnh hiện nay. Nói cách khác, nhiều nhà đầu tư có thể an tâm dốc hầu bao để đầu tư vào kim loại quý này.
Theo giavang.net

Bất cập chính sách tỷ giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:10 am
Tags:
Dù Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng, nhưng khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và chính thức đến nay ngày càng xa hơn.

Dù Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng, nhưng khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và chính thức đến nay ngày càng xa hơn. Trên thị trường tự do, tỷ giá vừa vọt lên 20.000đ/USD. Theo nguồn tin của SGTT, sắp tới Ngân hàng Nhà nước có hướng kết hối ngoại tệ.

Sẽ kết hối?

Cho đến cuối tuần qua, để mua được một USD trong hệ thống ngân hàng thương mại, doanh nghiệp phải bỏ ra 19.450 đồng (với các thủ thuật lách qui định), phó tổng giám đốc một ngân hàng cho biết. Trong khi đó, tính đến nay, giá cả đồng ngoại tệ này ngoài thị trường tự do đang “nhảy nhót” ở mức 20.000đ/USD.

Chính vàng là nguyên nhân gây ra cuộc đột biến về tỷ giá USD/VND mới đây. Việc Ngân hàng Nhà nước cho nhập vàng trấn an thị trường, theo phó tổng giám đốc trên, nhiều doanh nghiệp cũng không thể có tiền (USD) để nhập.

Cầu ngoại tệ căng thẳng, ngoài nguyên nhân chính là cán cân thanh toán chung, một phần còn từ hoạt động đầu tư vàng và USD của nhiều người dân. Chỉ trong vòng một tuần qua, quyết định thu gom USD của người dân có thể lãi 5% – 6%, một tỷ lệ hấp dẫn và lôi kéo nhiều người chạy theo món lợi này hơn.

Và chính vì USD hấp dẫn và bị đầu cơ càng đẩy cầu ngoại tệ chính thức trở nên căng thẳng. Nhiều người không gửi ngoại tệ ở ngân hàng mà tìm lợi nhuận trên thị trường tự do. Trong khi đó, tỷ giá chính thức niêm yết của các ngân hàng thương mại vẫn thấp hơn nhiều so với thị trường tự do, mua vào bán ra ở mức 18.882 đồng/USD (ngày 24.11).

Chính vì vậy, theo nguồn tin của SGTT, vì khó nới biên độ tỷ giá lên cao hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước một lần nữa đang gỡ bài toán khó bằng phương án kết hối ngoại tệ (doanh nghiệp có ngoại tệ phải bán ngay một phần hoặc toàn bộ cho ngân hàng). Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ yêu cầu một vài tổng công ty lớn bán ngoại tệ cho ngân hàng. Dự tính, khoảng 5 – 6 tỉ USD sẽ được bán ra trong thời gian tới, sẽ làm dịu đi cơn “khát” USD và “dập tắt” cơn sốt trên thị trường tự do. Tuy nhiên, chưa rõ tỷ lệ và thời gian kết hối là bao nhiêu và bao lâu.

Những rủi ro

Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, chuyên gia kinh tế, một lượng ngoại tệ không nhỏ bị tỷ giá cao trên thị trường tự do lôi kéo và nằm ngoài hệ thống ngân hàng. Một hệ lụy khác là các nhà nhập khẩu phải điều chỉnh giá bán hàng hóa, nguyên liệu, thiết bị nhập về ra thị trường để cân đối theo tỷ giá, mà nơi đến là người tiêu dùng cuối cùng.

Theo các chuyên gia kinh tế, thực tế đang phản ánh cung cầu về ngoại hối gặp vấn đề, xuất phát chính từ cán cân thanh toán chung. Theo T.S Nguyễn Minh Phong, trong bài viết “Tỷ giá và ổn định kinh tế” ngày 27.2.2009, khả năng cạnh tranh của xuất khẩu, trạng thái cán cân thương mại và thanh toán, dự trữ quốc gia, biến động cơ cấu sản xuất, niềm tin vào tiền đồng, vào chính phủ, vào tương lai phụ thuộc lớn vào tỷ giá hối đoái chính thức.

Theo TS. Vũ Thành Tự Anh, chính sách tỷ giá hiện nay tác động lớn đến nền kinh tế. Theo đó, xét về mặt vĩ mô, có rủi ro về tỷ giá và rủi ro về dự trữ ngoại hối.

Theo đó, khi tỷ giá chính thức thấp hơn tỷ giá ngoài thị trường tự do, đến một lúc lượng cầu lớn hơn lượng cung có trên thị trường, thì luôn có sức ép đẩy tỉ giá tới tỷ giá thật. Khi thị trường ngoại hối căng thẳng, Ngân hàng Nhà nước “bơm” ngoại tệ ra, và “bơm” ra bao nhiêu thị trường lại “hút” hết bấy nhiêu. Việc này làm cho dự trữ ngoại hối giảm, nhưng lại không làm bớt căng thẳng thị trường ngọai hối. “Vì vậy, can thiệp thì việc Ngân hàng Nhà nước phải làm, nhưng lại chưa thiết lập được cân bằng thị trường”, ông Tự Anh nói. Theo ông, nếu tình trạng kéo dài, có thể khiến nhiều người vì lo ngại sự mất giá của tiền đồng mà chuyển sang nắm giữ đồng USD.

Rủi ro kế tiếp là ở doanh nghiệp. Phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp liên quan hoạt động xuất nhập khẩu. Trong chuỗi các giá trị đó, khi tỷ giá bấp bênh, người xuất khẩu không bán USD, người nhập khẩu không mua được USD, thì không nhất thiết thị trường mất cân bằng cũng đưa đến sự căng thẳng.

Một rủi ro nữa là rủi ro về tỷ giá hiện nay là lớn, trong khi phần lớn doanh nghiệp không phòng vệ được, đưa đến sản xuất hoạt động kinh doanh bị hạn chế một phần

Về quyết định phá giá VND 5.44%

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:05 am
Tags:

Trưa 25/11, thống đốc NHNN đã có một quyết định dũng cảm, dù hơi muộn, là phá giá VND ở mức 5.44% đồng thời nâng lãi suất cơ bản lên 8%.

Như thế, chính phủ đã chính thức xác nhận VND mất giá (ít nhất) là 5% và vì mất giá vậy nên đương nhiên là lãi suất cơ bản (giá sử dụng VND) cũng tăng lên 1%. Vậy, ngay trong tháng tới, lạm phát sẽ phải cộng thêm ít nhất là 5% (chưa tính đến hiệu ứng tâm lý). Kéo theo là:

Vàng: giá vàng cơ bản sẽ biến động theo giá thế giới do chúng ta tạm thời mở cửa, sẽ không có biến động lớn do tác động của quyết định phá giá VND này do hiện nay giá vàng luôn dc tính theo tỷ giá chợ đen. Tuy nhiên nếu ta lại hạn chế NK vàng như trc, vàng sẽ lại tăng vọt như cơn điên 11/11 vừa qua do tâm lý bất an, cần găm giữ tài sản có giá trị trong dân.

USD: Với việc điều chỉnh tăng vọt ~900VND/USD (chứ không phải nhỏ giọt một vài VND mỗi lần như trc) thì phản ứng tâm lý trong dân sẽ rất mạnh. Nếu cộng cả biên độ +3% thì cao nhất tỷ giá sẽ là 18500, theo nghĩa thông thường tức là nhà nước sẽ dùng mọi biện pháp để đảm bảo tỷ giá neo ở mức này (sử dụng dự trữ ngoại hối, các biện pháp hành chính như kết hối, siết chặt quản lý thị trường tự do). Phản ứng tức thời là tỷ giá chợ đen sẽ giảm đôi chút, nhưng trong 1 vài ngày tới, sẽ không ngạc nhiên nếu tỷ giá vượt 20k/USD.

Bất động sản: đặc biệt tại HN sẽ tạm thời trầm lắng trong thời gian ngắn do các tài phiệt tay to đánh hơi thấy cơ hội mới trong đầu cơ ngoại tệ và vàng.

Chứng khoán: phá giá VND, tăng lãi suất cơ bản tức là tăng chi phí sản xuất, tức là các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, tức là chứng khoán sẽ suy giảm. Rõ ràng là hôm nay chứng khoán đã phản ứng cực nhanh, với việc giảm gần hết biên độ xuống sát 500 điểm. Cộng với hàng loạt chính sách thắt chặt cho vay, chấn chỉnh T+ thì cả nhà đầu tư nhỏ lẽ lẫn tổ chức sẽ phải thận trọng. Nếu tâm lý bi quan bị thổi phồng quá đáng, chứng khoán sẽ xuống rất mạnh, thử thách sắp tới sẽ là ngưỡng 450, nếu nó bị vượt qua thì tình hình sẽ trở nên đáng báo động. Phán quyết sẽ thấy ngay trong tuần.

Đầu tư nước ngoài: theo lý thuyết thì đầu tư nước ngoài vào quốc gia phá giá tiền sẽ giảm do lo sợ khả năng trả nợ quốc gia suy giảm. Tuy nhiên đây là vấn đề dài hạn và chưa thực sự đáng lo.

Chia sẻ một số suy nghĩ thoáng qua sau khi hay tin quyết định của thống đốc.

November 24, 2009

Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doanh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:56 pm
Tags: ,

Vũ Quang Việt

 

*Đây là bản viết lại bài “Vietnam’s Economic Crisis: Policy Follies and the Role of State-Owned Conglomerates” trong
Southeast Asian Affairs 2009, tr. 389-417

 

Nhập đề

Năm 2007 đã để lại một dấu ấn quan trọng trong lịch sử kinh tế  khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007 sau khi gói đề nghị của Việt Nam được Đại Hội đồng của WTO chấp nhận vào ngày 7 tháng 11 năm 2006. Đối với giới lãnh đạo chính trị và dân chúng Việt Nam, trở thành thành viên WTO là cuộc vượt rào cản cuối cùng để Việt Nam hoàn toàn có thể hòa nhập với cộng đồng thế giới, đặc biệt khi mà Mỹ lúc đó vẫn có khả năng ngăn chận chuyện này, và như thế chặn đường phát triển kinh tế của Việt Nam nhằm mục đích đòi hỏi các nhân nhượng về chính trị.  Việc gia nhập WTO do đó được các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam coi là một thắng lợi lớn.  Và như tất cả các cuộc thắng lợi lớn trong quá khứ, dù là đối với Pháp hay với Mỹ, họ như được uống liều thuốc thánh, trở nên mê hoặc với các kế hoạch vĩ đại bất chấp thực tế.

Lần này, chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tin rằng việc nhanh chóng bắt kịp các nước trong khu vực đã nằm trong tầm tay. Kế hoạch năm 2008 đặt mục tiêu tăng GDP ở mức 8.5-9%, bằng cách vừa tập trung kêu gọi nước ngoài đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính gián tiếp, vừa tăng cường vai trò của các tập đoàn quốc doanh và các công ty con của chúng bằng cách cung cấp đất công, tiền ngân sách và tín dụng một cách dễ dãi.

Về mặt chính trị, nội các của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rất có thể đã tin rằng kế hoạch kinh tế này sẽ được sự ủng hộ của đảng viên và các chính quyền địa phương cả nước bởi vì nó mang lại lợi ích cho họ qua việc phát triển của các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh bằng cách cấp tiền vốn ngân sách, phân phát quyền sử dụng đất, tạo ra cổ phần trong hàng trăm các công ty nửa tư nửa công mà các tập đoàn và tổng công ty nhanh chóng dựng nên. Nhưng ngay trong năm 2008 kế hoạch này cũng nhanh chóng,làm lạm phát nhảy vọt, thị trường chứng khoán suy sụp và nền kinh tế bị đe dọa trầm trọng bởi khả năng xảy ra khủng hoảng cán cân thanh toán. Việc này chưa làm mất ghế, nhưng đã làm mất uy tín của vị thủ tướng trẻ, người hình như có đầy tham vọng tập trung quyền điều hành kinh tế vào cá nhân mình. Vào tháng 11 năm 2008, chính phủ Việt Nam đã phải giảm chỉ tiêu tăng GDP xuống 6,7%,[1] nhưng rồi cuối cùng cũng chỉ đạt được 6,2%.

Phần đầu của bài viết sẽ đánh giá những nét quan trọng về kết quả đạt được trong nền kinh tế. Phần này sẽ là cơ sở để tìm hiểu về hệ quả chính trị có thể có trong phần hai.     

I.  Thành tích kinh tế

Tăng trưởng kinh tế

Nói về GDP, kinh tế Việt Nam có những thành tích khá, tính từ năm 2002. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 2002-2007 là 8,1%. Mặc dù không quá thấp hơn tốc độ bình quân hàng năm của Trung Quốc (là 8,8%), tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cao hơn bình quân của Ấn Độ (6,8%).  Nói chung, tốc độ của Việt Nam là cao hơn hầu hết các nước khác ở Đông Nam Á (xem Bảng 1).

 

BẢNG 1
Tốc độ tăng GDP và lạm phát ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ, 2002-2007

 

Quốc gia GDP 2007 (tỷ USD) GDP đầu người năm 2007 (USD) Bình quân năm  2002-2007 2002 2003 2004 2005 2006 2007

 

 

 

Tốc độ tăng GDP Tốc độ lạm phát năm tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Brunei 12 31,759 1.7 -2.3 0.3 0.9 1.2 0.1 0.3
Cambodia 9 598 11.4 3.2 0.3 3.9 5.8 4.7
Indonesia 433 1,869 5.5 11.9 6.8 6.1 10.5 13.1 6.4
Lào 4 711 6.9 10.2 16.0 10.8 6.8 7.3
Malaysia 187 7,027 6.0 1.8 1.1 1.4 3.1 3.6 2.0
Myanmar 19 379 5.4 57.1 36.6 4.5 10.5 18.9 34.6
Philippines 144 1,639 5.5 3.0 3.5 6.0 7.6 6.3 2.8
Singapore 161 36,370 7.1 -0.4 0.5 1.7 0.5 1.0 2.1
Thailand 245 3,841 5.6 0.6 1.8 2.8 4.5 4.6 2.2
Viet Nam 71 815 8.1 3.9 3.2 7.8 8.4 7.4 8.3
Ấn Độ 1,141 976 6.8 4.3 3.8 3.8 4.2 6.2 6.3
Trung Quốc 3,400 2,604 8.8 -0.8 1.2 3.9 1.8 1.5 4.8

Nguồn: Số liệu GDP và CPI ở các nước Đông Nam Á là từ ASEAN Secretariat, nhưng CPI của Việt Nam là số liệu đã điều chỉnh lại củaTổng cục Thống kê Việt Nam. Số liệu GDP bình quân đầu người, GDP bằng USD là từ Cục Thống kê LHQ. CPI của TQ và Ấn Độ là từ Asian Development Bank (ADB).

Các chỉ tiêu khác cũng cho thấy kinh tế Việt Nam nói chung là tốt, ít nhất là đến cuối năm 2006, mặc dù nhiều dấu hiệu xấu đã xuất hiện từ năm 2004, đòi hỏi sự điều chỉnh chính sách tiền tệ và các chính sách liên quan khác. Những dấu hiệu xấu này là lạm phát và thiếu hụt cán cân thương mại quốc tế tăng cao, do chính sách phát hành tiền và mở rộng tín dụng.  Lạm phát tăng từ dưới mức 4% hàng năm trước năm 2004 lên khoảng 7-8% từ năm 2005 và năm 2006, rồi sau đó tăng mạnh hơn nữa. Cán cân thương mại trở nên âm, ở mức khá cao, hơn 5%. Cũng vào thời kỳ này, may mắn là mức nợ nước ngoài so với GDP tương đối thấp và tiền trả nợ hàng năm cũng thấp, tất cả là vì các nước đã xóa nợ cho Việt Nam. Dự trữ ngoại tệ tăng lên đạt khoảng 20,7 tỷ US vào tháng 6 năm 2008, dù vậy cũng rất thấp, chỉ đủ 3 tháng nhập khẩu.[2]

Thành quả kinh tế có thể coi là quan trọng nhất là việc giảm tỷ lệ dân số nghèo đói từ 37% năm 2000 xuống 19,4% năm 2004.[3] Tuy vậy một nghiên cứu mới nhất cho thấy tỷ lệ nghèo đó 14.6% năm 2007 đã tăng lên 17% năm 2008, khi ngưỡng nghèo đói cá nhân được điều chỉnh lại theo lạm phát.[4] Điều này có nghĩa là lạm phát đã xóa đi một phần những thành quả đạt được kể từ năm 2004. 

BẢNG 2
Các chỉ số quan trọng khác về kinh tế Việt Nam, 2000-2006

 

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

2007

Tốc độ tăng GDP (% ) 6,8 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,3
Tích lũy /GDP (%) 29,6 31,2 33,2 35,4 35,5 35,6 36,8 41,7
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tỷ USD) 1,1 1,3 1,4 1,4 1,6 1,9 2,3 6,6
Đầu tư gián tiếp tài chính (tỷ USD)* 0 0 0 0 0 0,9 1,3 6,2
Kiều hối (tỷ USD) 1,6 1,1 1,8 2,1 2,9 3,2 3,8 6,2
Thiếu hụt ngân sách nhà nước /GDP (%) -4,3 -3,5 -2,3 -2,2 0,2 -1,1 -1,8 -5,4
Cán cân thương mại (tỷ USD) 1,2 1,5 -3,0 -6,5 -8,5 -4,6 -4,6 -14,6
Cán cân thanh toán (tỷ USD) 3,6 2,1 -1,7 -4,9 -3,5 -1,1 -0,3 -9,8
Chỉ số giá tiêu dung -CPI (%) -1,6 -0,04 3,9 3,2 7,8 8,4 7,4 8,3
Tốc độ tăng tiền – M2 (%) 39,0 25,5 17,6 24,9 29,5 29,7 33,6 46,0
Tốc độ tăng tín dụng (%) 73,3 23,2 25,5 32,1 37,1 34,7 24,7 50,2
Nợ thêm nước ngoài trung và dài hạn – thuần (net) (tỷ USD)

 

0,1

 

0,5 1,2 0,9 1,0 2,0
Tổng nợ nước ngoài (tỷ USD) 12,8 12,6 13,3 16,0 18,0 19,2 20,2

 

Tổng nợ nước ngoài /GDP (%) 41,7 40,5 38,7 41,0 40,5 37,7 33,2

 

Nợ trả hàng năm/xuất khẩu (%) 8,9 7,8 6,7 3,6 2,7 2,8 2,2 2,4
Dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) 3,4 34 4,1 6,2 7,0 9,0 13,3 20,7
Tỷ lệ dân số nghèo đói 37 32 28,9 19,5

 

 

14,6

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam và Ngân hàng châu Á (ADB).

Ghi chú: Bao gồm cả cố phiếu và trái phiếu Việt Nam phát hành (thí dụ gồm cả US$750 triệu trái phiếu chính phủ phát hành năm 2005 để cấp vốn cho Vinashin).

Với thành tích phát triển kinh tế tốt và với việc trở thành thành viên WTO, Việt Nam tưởng như mở ra thời kỳ thu hút mạnh đầu tư nước ngoài (FDI) và chính vì thế mà báo chí Việt Nam đã nói đến thời cơ vàng cho quốc gia mình. FDI thực hiện tăng gần gấp ba trong một năm từ 2,3 tỷ USD năm 2006 lên 6,6 tỷ USD năm 2007 (coi Bảng 2).  Chỉ số chứng khoán nhảy vọt tới hơn 300% từ 300 đầu năm 2006 lên 1.150 đầu năm 2007 khi Việt Nam chính thức trở tham gia WTO (coi Bảng 1).  Tuy nhiên thời cơ vàng dường như đã trở thành giấy lộn vì chính sách kinh tế sai lầm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng và khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán, những điều mà bài viết sẽ phân tích sau. Thị trường chứng khoán gần như sụp đổ khi chỉ số chứng khoán Việt Nam tụt đến điểm 345 vào ngày 24 tháng 10 năm 2008.


HÌNH 1
Chỉ số chứng khoán Việt nam

 

Nguồn: Vietstock.

 

Lạm phát

Tốc độ lạm phát ở hầu hết các nước trong thời điểm năm 2008 nói chung cao hơn trước nhưng vẫn ở mức có chấp nhận được, trong khi những gì xảy ra ở Việt Nam thì ngược lại. Ở các nước phát triển cao, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng từ 2,2% năm 2006 lên 3,5% 2007 trong khi ở các nước đang lên châu Á lạm phát tăng từ 2,2% lên 4,8% trong cùng thời kỳ.[5] Tuy nhiên ở Việt Nam chỉ số CPI đã là 8,3% năm 2007 và vọt lên 23,15% trong 10 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007. Vào tháng 5 năm 2008 lạm phát đạt mức cao nhất tính từ năm 2000  ̶  ở mức 3,9% so với tháng trước đó và nếu tính theo năm thì ở mức 60%. Lạm phát rõ ràng là do tăng mức phát hành tiền và tăng tín dụng quá trớn trong năm  2007 đạt mức tăng 48% và 50%  theo từng loại tương ứng so với năm trước.

Lạm phát giảm xuống vào tháng 9 và tháng 10 năm 2008 vì chính sách thắt cổ mức tăng tín dụng – chỉ tăng ở mức 18% so với 30% cùng kỳ của năm 2007.[6]

HÌNH 2
Tốc độ tăng lạm phát ở Việt Nam vào năm 2007 và 2008
(từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 10 năm 2008)

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

 

HÌNH  3
Tốc độ tăng hàng năm về cung tiền (M2) và tín dụng từ 1993 đến 2007

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Châu Á (ADB) .

Như vậy lạm phát đã là mối đe dọa kể từ năm 2004 khi đó lạm phát ở mức 9,7% năm 2004,  8,8% năm 2005 và 7,5% năm 2006; những mức này đều cao hơn mức ở các nước có buôn bán lớn với Việt Nam, dù ở châu Á hay các vùng khác, và ngày càng trở nên trầm trọng hơn kể từ khi ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành Thủ tướng vào ngày 26 tháng 6 năm 2006 với chính sách nhằm đạt được chỉ số GDP thật cao.

Tình trạng lạm phát nhảy vọt vừa qua là kết quả của nhiều yếu tố: chính sách bơm tín dụng cho doanh nghiệp quốc doanh,  sự kiện tư bản tài chính nước ngoài ồ ạt đổ vào do các báo chí tài chính quốc tế thổi phồng về viễn tượng phát triển ở Việt Nam, kế hoạch kinh tế rầm rộ của những người nắm quyền và sự xông xáo không đắn đo nắm lấy cơ hội làm tiền của những người có quan hệ, và dĩ nhiên là tình trạng thiếu khả năng xử lý cũng như không muốn xử lý đúng lúc của những người cầm quyền ở Việt Nam. Những vấn đề này nằm ngoài giới hạn mà bài viết muốn phân tích nhưng cũng cần được nêu lên như những đề tài nghiên cứu trong tương lai. Các vấn đề này cũng là hậu cảnh cho việc phân tích các hệ quả chính trị có liên quan ở phần sau của bài viết.

Cán cân thương mại quốc tế và cán cân thanh toán – vấn đề bắt nguồn từ yếu kém về điều hành và nỗi ám ảnh tốc độ tăng GDP

Vấn đề lạm phát và cán cân thanh toán dường như là kết quả của nỗi ám ảnh quyết đạt tốc độ tăng GDP cao bằng chủ trương xây dựng tổng công ty nhà nước và các tập đoàn quốc doanh.   Để nhằm đạt tốc độ cao, tích lũy cũng đã được đẩy mạnh đạt tỷ lệ rất cao. Tỷ lệ tích lũy trên GDP tăng từ 29,6% năm 2000 lên 41,7% năm 2007, điều hiếm có trong lịch sử kinh tế thế giới (coi Bảng 2).  Tuy nhiên so với Trung Quốc và Ấn Độ thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam trong thời kỳ này lại thấp hơn. Yếu kém về điều hành chính là lý do. Hệ số tích lũy trên tăng sản lượng (ICOR) ở Việt Nam rất cao,[7] trung bình là 5,2, nhưng chỉ đạt được tốc độ tăng GDP bình quân năm là 7,7%  trong khoảng 2000-2007.  Hệ số ICOR của Trung Quốc trong thời kỳ 2001-2006 là 3,9 với mức tăng GDP bình quân năm là 9,7%.  Còn Nam Hàn với hệ số ICOR là 3,0 nhưng đạt tốc độ tăng bình quân năm là 7,9% vào thời kỳ 1961-1980 tức là thời kỳ chuyển tiếp trước khi đạt mức được coi là có thu nhập cao. Thái Lan vào thời kỳ 1981-1995 đạt tốc độ tăng 8,1% với hệ số ICOR là 4,1.  Malaysia có hệ số ICOR là 4,6 và tốc độ tăng bình quân năm là 7,1% những năm 1981-1995.[8] Không có nước nào có hệ số ICOR tệ như Việt Nam, điều này chứng tỏ rằng nền kinh tế Việt Nam thiếu hiệu quả, năng suất rất thấp.

BẢNG 3
Hệ số ICOR ở Việt Nam  2001-2007

 

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Hệ số ICOR 5,14 5,28 5,31 5,22 4,85 5,04 5,38

Nguồn: Tính từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam tụt xuống mức khủng khoảng vào cuối năm 2007 vì chính sách đạt tốc độ tăng GDP cao và sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước. Thiếu hụt năm 2007 là 14 tỷ USD, bằng 19,8% GDP (coi Bảng 4), tăng gấp ba so với ba năm trước đó. Nếu mà không có quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam chận đứng ngay chính sách sai lầm của chính phủ (sẽ được phân tích kỹ hơn dưới đây) thì nhập siêu rất có thể sẽ đạt 30 tỷ USD vào cuối năm 2008, chắc chắn sẽ dẫn đến cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán với nước ngoài vì lúc đó dự trữ ngoại tệ chỉ có khoảng 22 tỷ USD, nhất là lúc tư bản tài chính đã chấm dứt đổ vào Việt Nam vì thị trường chứng khoán đã suy sụp.

Số liệu 9 tháng đầu năm 2008 cho thấy nhập siêu đã giảm từ 3 tỷ USD một tháng vào tháng đầu năm xuống dưới 1 tỷ USD. Điều này là hệ quả của việc áp dụng  các mệnh lệnh hành chính nhằm ngăn chặn đầu tư và cắt tín dụng cho các tập đoàn quốc doanh, nhằm hãm phanh lạm phát. Dù với chuyển đổi chính sách giữa dòng nhằm ngăn chận nhập siêu như vậy, nhập siêu cũng đã ở mức 15 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm, và cuối cùng vẫn đạt mức 18 tỷ USD vào cuối năm 2008, bằng 20% GDP: một tỷ lệ cực kỳ cao. Bảng 4 cho thấy thống kê chi tiết.  Qua thống kê ta cũng thấy là nhập siêu có nguyên nhân chính từ các nhà sản xuất Việt Nam chạy theo tốc độ tăng GDP, chứ không phải từ các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vì các nhà đầu tư nước ngoài có xuất siêu ngay cả trong 9 tháng đầu năm 2008.

HÌNH 4
Cán cân thương mại 2000-2008
[9]

 

Nguồn: Số liệu năm là từ Tổng cục Thống kê; số liệu tháng là từ Bộ Công Thương.


BẢNG 4
Xuất nhập khẩu hàng hóa trong 10 tháng đầu năm 2008 (triệu USD)

2008 Tổng xuất Xuất của FDI Tổng nhập Nhập của FDI Tổng cán cân xuất nhập Cán cân xuất nhập của FDI
Tháng giêng 4.500 2.500 7.939 2.743 -3.439 2.497
Tháng hai 2.243 2.617 5.059 4.006 -2.816 -1.389
Tháng ba 6.283 2.441 7.394 2.102 -1.111 339
Tháng tư 5.235 3.030 8.968 2.644 -3.733 386
Tháng năm 5.137 2.852 8.457 3.472 -3.320 -620
Tháng sáu 6.297 3.480 6.653 2.366 -356 1.114
Tháng bảy 7.181 3.484 7.417 1.877 -236 1.607
Tháng tám 6.445 3..241 7.399 2.753 -954 488
Tháng chín 5.254 2.992 5.117 2.214 137 778
Tháng mười 5.199 -8 5.662 2.787 -463 -2.795
Tổng 10 tháng 53.774 26.629 70.065 24.224 -16.291 2.405

Nguồn:  Bộ Công Thương.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

 

Đúng là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã làm giảm tác hại của cuộc khủng hoảng ở Việt Nam trong năm 2008 và đã có lúc được quan chức nhà nước vin vào để biện bạch rằng không có gì phải sợ khủng hoảng cán cân thanh toán vì tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tiếp tục đổ vào.

 

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài thì vốn đăng ký dự án FDI được chấp nhận vào 10 tháng đầu năm 2008 lên tới 59,3 tỷ USD gấp 6 lần số vốn đăng ký năm 2007.  Điều này có vẻ vượt quá khả năng tưởng tượng vì chưa từng thấy trên thế giới, nhưng nếu nhìn kỹ thì sẽ thấy là hầu hết các dự án là vào lãnh vực địa ốc, khu du lịch cao cấp, sản xuất thép và lọc dầu; cộng chung đã lên tới 45 tỷ USD (coi Bảng 5).[10] Những dự án như thế này chắc chắn sẽ bị ngưng hoặc hủy bỏ vì tình hình nhu cầu thế giới không như trước và vốn sẵn có cũng không còn.  Ngoài ra cũng nên thận trọng khi đọc những con số của Việt Nam.  Loại trừ trò hứa hão vì mục đích khác thì các chủ dự án FDI cũng nhằm vào việc vay nguồn vốn từ trong nước. Khi tính vốn FDI như vậy cần phải loại trừ phần mà chủ dự án nước ngoài không bỏ vốn ra. Theo tin phân tích mới nhất của Viện Quản lý Trung ương thuộc Bộ Kế hoạch đầu tư, trong số 10 tỷ USD được báo cáo là FDI thực hiện trong năm 2008 thì chỉ có 2,2 tỷ USD (tức là 22%) là thực sự do vốn chủ đăng ký nước ngoài đưa vào.[11] Và theo đúng thông lệ thống kê Liên Hợp Quốc thì chỉ có 2,2 tỷ USD này mới có thể gọi là FDI. Phần vay mượn của công ty FDI là phần vay mượn của nền kinh tế Việt Nam vì công ty FDI là công ty thuộc thành phần kinh tế Việt Nam.

 

Đối với cả năm 2008 con số nhập siêu hàng hóa là 18 tỷ USD.  Tuy nhiên theo IMF nhập siêu hàng hóa là 12,3 tỷ và nhập siêu dịch vụ là 2,3 tỷ như vậy tổng nhập siêu hàng hóa và dịch vụ chỉ có 14,6 tỷ,[12] Nguồn vốn chảy ra là gần 17 tỷ USD nếu cộng thêm chi trả nợ nước ngoài.  Trong khi vốn chảy vào là 7,3 tỷ kiều hối, 7,8 tỷ FDI cộng chung là 15,1 tỷ. Như vậy số thiếu hụt phải vay mượn chỉ có khoảng 2 tỷ.  Vấn đề được đặt ra như ở trên thì con số 7,8 tỷ USD có vẻ không tin cậy được; FDI theo như báo cáo phân tích của Viện Quản lý trung ương chỉ khoảng 2,2 tỷ.  Như vậy con số thiếu hụt lên đến 7 tỷ chứ không phải 2 tỷ. Phần này lấy ở đâu cũng khó hiểu: từ gối đầu giường của dân hay mượn của Trung Quốc vì nhập siêu từ Trung Quốc năm 2008 lên đến 11 tỷ USD?[13]

BẢNG 5

Phân tích các dự án đăng ký FDI lớn được chấp thuận năm 2008 (tỷ USD)

 

Dự án Quốc gia Được chấp thuận
Dự án khu liên hợp thép nhà máy điện và cảng biển tại Ninh Thuận Malaysia 9,79
Dự án xây dựng cảng và nhà máy luyện kim tại Vũng Áng Hà Tĩnh Đài Loan 7,9
Dự án nhà máy lọc dầu Nghi Sơn Thanh Hóa Nhật và Hòa Lan 6,2
Dự án khu du lịch liên hợp cao cấp Phú Yên Brunei 4,3
Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Hồ Tràm Bà Rịa – Vũng Tàu Canada 4,23
Dự án hóa dầu Long Sơn Bà Rịa – Vũng Tàu Thái Lan 4
Dự án khu đô thị – đại học quốc tế ở TP,HCM Malaysia 3,5
Dự án tổ hợp nghỉ dưỡng sân golf ở Phú Quốc Kiên Giang B,,,V Island 1,6
Dự án vui chơi giải trí khách sạn tại Vũng Tàu Mỹ 1,3
Dự án khách sạn cao ốc sản xuất vi mạch phần mềm ở TP,HCM Singapore 1,2
Dự án khu trung tâm tài chính ở TP,HCM Malaysia 0,93
Tổng số 44,95

 

 

 

II.  Kinh tế chính trị trong hành động

Cuộc tranh luận về lạm phát

Việt Nam chịu đựng lạm phát cao gần suốt năm 2008, tính chung cho cả năm là 25%.  Tuy nhiên lạm phát đã tăng mạnh từ đầu năm 2007 và trở nên nghiêm trọng vào tháng 11 năm 2007 trở đi.  Lạm phát nhảy vọt vào tháng 12 năm 2007 và vào đầu năm 2008 tới mức hơn 50% nếu tính theo trung bình năm lúc đó.  Đáng lẽ ra đây chính là cơ hội tốt cho ông Nguyễn Tấn Dũng, người trở thành Thủ tướng vào 27 tháng 6 năm 2006, chứng tỏ khả năng điều hành kinh tế của mình. Nhưng ngược lại, ông lại bằng mọi cách đẩy mạnh chiến lược đạt tốc độ tăng GDP cao.

Trong cuộc họp tháng 11 năm 2007 của Quốc hội, trong lúc bàn về chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng GDP, một số đại biểu bày tỏ sự lo lắng về lạm phát và đề nghị đặt mức lạm phát không quá 7%. Tuy nhiên chính phủ Thủ tướng Dũng vẫn cương quyết đặt chỉ tiêu đạt tốc độ tăng GDP 8,5-9,0% cho năm 2008 và sẵn sàng chấp nhận lạm phát cao.  Ông Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thay mặt Thủ tướng, thuyết phục Quốc hội rằng ở các nước đang phát triển tốc độ tăng trưởng cao bao giờ cũng kèm theo chỉ số lạm phát tăng cao và  “[n]ếu chúng ta giữ chỉ số giá thấp hơn 7% thì sẽ thấy một hiện tượng là Chính phủ điều hành rất lúng túng dẫn đến hai tình hình: Một, tốc độ tăng trưởng chậm lại.  Hai, việc bao cấp về giá tạo nên một khe hở trong quản lý kinh tế.” [14] Như vậy, rõ ràng là chính phủ bị ám ảnh chạy theo tốc độ tăng GDP và kế hoạch cho phép các tập đoàn quốc doanh tăng giá nhằm tăng lợi nhuận, ít nhất là nhằm giảm bù lỗ.  Gần như không có ai trong chính phủ tỏ ra lo lắng về ảnh hưởng mà lạm phát mang đến cho đời sống nhân dân trong kỳ họp Quốc hội này.  Điều này thật là lạ lùng vì lúc đó ta thấy các cuộc đình công đòi tăng lương của công nhân nhằm bù đắp lại lạm phát nổ ra khắp nơi; số cuộc đình công tăng từ 71 năm 2000 lên 193 trong 3 tháng đầu năm 2006.[15]

Vấn đề lạm phát đã được tác giả bài này báo động trong bài viết năm 2004,[16] phân tích lý do tại sao lạm phát lại thấp vào những năm 2000-2001 ngay cả khi mức phát hành tiền tăng cao, và cảnh báo rằng điều này sẽ không thể tiếp tục mãi như thế.  Lý do là sau thành công của cuộc cải cách nhằm chấm dứt lạm phát phi mã, vòng quay đồng tiền đã giảm vì dân chúng tin vào sự ổn định của đồng tiền hơn trước, do đó họ sẵn sàng cầm đồng tiền để sử dụng rộng rãi trong giao dịch (gọi là quá trình tiền tệ hóa).   Yếu tố thuận lợi này sẽ dần mất đi (hay bão hòa) gây ra lạm phát cao trở lại nếu như tốc độ cung tiền tăng quá trớn: điều này đã xuất hiện vào năm 2004.

Trong một nghiên cứu năm 2006,[17] IMF cũng kết luận là “kết quả chính của nghiên cứu cho thấy phát hành tiền đã có ảnh hưởng ngày càng tăng đối với lạm phát trong vài năm qua và quán tính gây ra lạm phát có vai trò lớn hơn ở Việt Nam so với cá nước khác trong vùng.”  Tăng giá lương thực trên thế giới đặc biệt là lúa gạo đã tác động đến chỉ số lạm phát lương thực thực phẩm ở mức hàng chục phần trăm vào năm 2004 nhưng chính sách sách tài khóa đã là nguyên nhân chính làm kích cầu tăng lạm phát nói chung. Lương tối thiểu tăng 38% vào tháng giêng năm 2003, 20,7% vào tháng 10 năm 2005 và 28,6% vào tháng 10 năm 2006 chỉ ảnh hưởng tới những người ở mức lương dưới mức tối thiểu.  Tuy vậy mức tăng lương trung bình của công chức lên đến 30% có thể đã có tác dụng lớn hơn vào lạm phát. Giá dầu lửa chỉ tăng vào năm 2006 và ảnh hưởng đến CPI không nhiều vì nó chỉ chiếm tỷ trọng 3% trong tổng tiêu dùng của hộ gia đình.  Theo cùng bài viết này của IMF, hệ số liên hệ giữa lạm phát và cung tiền dường như có vai trò lớn hơn sau cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam vào cuối năm 1989, nhằm giải phóng kinh tế khỏi các kế hoạch  cứng ngắc, đã thật sự mang lại hiệu quả toàn diện.

Vấn đề quan trọng cần nghiên cứu thêm là tình trạng không có liên hệ giữa giá và tiền khoảng thời gian giữa những năm 1999 và 2000: việc tăng cung tiền (M2) rất lớn: 35,7% năm 1999 và 50,5% năm 2000 đưa tỷ lệ tiền/GDP từ  28,4% GDP năm 1998 lên 35,7% năm 1999, và 50% năm 2000. Tuy vậy việc in tiền này dường như không có ảnh hưởng gì đáng kể đến lạm phát lúc đó.  Bỏ qua hai năm này, từ 2002 trở đi đã có sự liên hệ thuận giữa tăng tiền M2 và tăng chỉ số giá CPI, và đặc biệt là liên hệ giữa tăng tín dụng và tăng CPI, rõ ràng cho thấy tác dụng giữa chính sách tiền tệ và lạm phát.[18]

Mặc dù tốc độ lạm phát vọt lên rất cao vào cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 các nhà hoạch định chính sách vẫn gạt đi không quan tâm – lúc đầu thì cho rằng đó là sai số về phương pháp luận của Tổng cục Thống kê và sau đó thì biện luận cho rằng lạm phát cao là do giá dầu hoả và giá thực phẩm như lúa gạo tăng cao trên thị trường thế giới.

Rồi vào 30 tháng 11 năm 2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã ra thông báo 252/TB-VPCP[19] chỉ thị các cơ quan chức năng chống lạm phát. Những chỉ thị này bao gồm lời kêu gọi nâng cao quyết tâm tăng năng suất nhằm đạt sản lượng cao hơn, thí dụ như:

 

·    yêu cầu “Bộ Công thương chủ trì phối hợp với các cơ quan Trung ương và địa phương liên quan chỉ đạo tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc để đẩy mạnh sản xuất xuất nhập khẩu đáp ứng đủ nhu cầu hàng hoá”, hoặc

·   yêu cầu “Uỷ ban nhân dân các địa phương tổ chức nắm chắc tình hình sản xuất kinh doanh thị trường giá cả trên địa bàn chủ động thực hiện các biện pháp đảm bảo cân đối cung cầu hàng hoá trong phạm vi địa phương…”, hoặc

·    yêu cầu các cơ quan “phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện giao ban hàng tuần với lãnh đạo các cơ quan báo chí truyền thông làm tốt công tác thông tin tuyên truyền định hướng dư luận để các doanh nghiệp nhân dân hiểu và ủng hộ các giải pháp điều hành của Chính phủ khắc phục tình trạng thông tin sai thông tin một chiều gây tâm lý bất an trong nhân dân và làm trầm trọng thêm những khó khăn trong quản lý thị trường và giá cả.”

Khi đọc các chỉ thị trên người ta có cảm tưởng rằng lạm phát là do một lực lượng nào đó đang lũng đoạn đầu cơ phá rối thị trường. Nhưng tệ hơn thế, thông báo trên còn ra lệnh cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư(Kế họach và Đầu tư) “khẩn trương điều chỉnh phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng của nước ta cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhất là về cơ cấu rổ hàng hoá.”  Trước đó cũng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đặt Tổng cục Thống kê (TCTK) dưới quyền điều hành của Bộ Kế họach và Đầu tư này thay vì để  TCTK độc lập như trước).  Chỉ thị này đã không được thi hành sau khi bị chỉ trích.[20] Lạm phát ai cũng có thể cảm thấy và đo được chứ đâu có thể làm nó biến mất bằng cách thay đổi phương pháp đo lường.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các quan chức trong chính phủ tuy vậy vẫn tiếp tục lý luận rằng chính sách kinh tế của họ đang theo đuổi là đúng đường. Trong một bài phỏng vấn trên Financial Times với ký giả Amy Kazmin[21] trước chuyến đi thăm nước Anh vào ngày mùng 2 tháng 3 năm 2008, khi bị ký giả đặt nghi vấn về sự tự tin quá đáng vào tình hình kinh tế Việt Nam trước chiều hướng đi  xuống của kinh tế Mỹ, cũng như về tình hình lạm phát ở Việt Nam đang tăng cao, thì Thủ tướng Dũng vẫn quả quyết rằng kinh tế Việt Nam sẽ đạt tốc độ tăng  8 tới 9 % do chính sách đẩy mạnh xuất khẩu và tăng cường đầu tư của ông.

Vào ngày 28 tháng 3 năm 2008, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh khi bị chất vấn trước Quốc hội về nguyên do của lạm phát đã phát biểu rằng lạm phát là “bất khả kháng” khi giá cả trên thế giới đang tăng.  Ông bác bỏ ý kiến cho rằng trong 3 tháng đầu năm lạm phát tiếp tục tăng là do Chính phủ điều hành kém. Ông nói “[đ]ến giờ phút này tôi chưa nhìn thấy Chính phủ điều hành sai mà đang làm rất quyết liệt phải họp hằng ngày để đề ra những quyết sách kịp thời.” Và ông cho rằng: “Đúng là trong nhiều nguyên nhân khiến lạm phát năm 2007 tăng cao thì có việc dự báo đánh giá tình hình không sát thực tế. Chính phủ đã kiểm điểm việc này.” Câu trả lời quả là nhằm đổ lỗi không đúng chỗ cho dự báo sai.  Khi có đại biểu hỏi gặng thêm rằng tại sao các nước khác trong vùng cùng chịu tác động bởi điều kiện giống sau về giá nguyên liệu thì lại không chịu lạm phát cao như ở Việt Nam, ông Ninh trả lời “[c]húng tôi thấy rằng định hướng điều hành của Chính phủ là trúng. Vì thế tình hình đã có chuyển biến tích cực.[22] Sau cuộc điều trần này lạm phát, nếu tính theo năm, tăng tới mức 30% vào tháng Ba, và 60% vào tháng Tư.

Chính sách kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không lâu sau đó đã bị Bộ Chính Trị của Đảng Cộng sản đảo ngược với Bản kết luận về một số vấn đề kinh tế xã hội được công bố vào ngày 4 tháng 4 năm 2008  (Kết luận 22/KL/TW).[23] [24] Tài liệu này nêu ra một số nguyên nhân khách quan gây ra lạm phát và kết luận là nguyên nhân chủ quan và trực tiếp là:

 

·    “[c]hính sách tiền tệ nới lỏng liên tục trong nhiều năm nhất là trong năm 2007 làm tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tăng mạnh”; là:

·    “ đã thực hiện chính sách kích cầu bằng việc nới lỏng tín dụng tăng chi tiêu ngân sách cho đầu tư… Chính sách này đã có tác dụng tích cực trong thời kỳ “thiểu phát” nhưng chưa được điều chỉnh kịp thời khi tình hình trong nước và thế giới đã thay đổi”; là:

·    “Tỉ lệ chi đầu tư từ khu vực nhà nước (ngân sách nhà nước tín dụng nhà nước doanh nghiệp nhà nước) lớn nhưng hiệu quả thấp, Tình trạng đầu tư dàn trải để nhiều công trình dở dang chậm đưa vào khai thác sử dụng còn nhiều thất thoát kém hiệu quả khá phổ biến đã kéo dài nhiều năm ở cả trung ương và địa phương chậm được khắc phục, Hệ số ICOR của nền kinh tế có xu hướng ngày càng cao.”

 

Tài liệu trên cho rằng “…ưu tiên hàng đầu hiện nay là kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý đặc biệt quan tâm tới an sinh xã hội hỗ trợ giúp đỡ người nghèo người làm công ăn lương chịu ảnh hưởng nhiều của lạm phát.”[25] Ít nhất Bộ chính trị đã có quyết định đúng và hợp thời mà Thủ tướng không có chọn lựa nào khác là chấp nhận. Không rõ ai là người đứng đàng sau quyết định này của Bộ Chính trị.  Dù sao cũng nên để ý là mặc dù tài liệu của Bộ Chính trị phải được thông qua trước nhưng mãi đến ngày 17 tháng tư năm 2008 mới được công bố và công bố sau quyết định 10/2008/NQ-CP của chính phủ do Thủ tướng ký đề ra các biện pháp chống lạm phát.  Cách thức xếp đặt thời gian dường như là nhằm giữ thể diện cho Thủ tướng đang bị chiếu tướng.

 

Điểm chính của chính sách mới là hạn chế tín dụng và cung tiền, tăng lãi suất cơ bản và giảm chi đầu tư của nhà nước.  Sau kết luận thứ nhất, Bộ Chính trị còn ra hai kết luận nữa nhằm chỉ đạo chính sách của chính phủ. Kết luận thứ hai ra ngày 5 tháng 8 năm 2008 (Kết luận 25-KL/TW) theo sau đó là quyết định của chính phủ nhằm thực hiện kết luận thứ hai được công bố ngày 29 tháng 8 năm 2008 (Quyết định 20/2008/NQ-CP).[26] Kết luận thứ ba ra đời sau cuộc họp Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản từ ngày 2 đến 4 tháng 10 năm 2008.[27] Vai trò của Bộ Chính trị về kinh tế được đặc biệt nhấn mạnh trong tuyên bố tháng 10 năm 2008 sau cuộc họp này.

Trong cuộc họp Quốc hội giữa năm 2008 chỉ tiêu tăng GDP đã được chính thức giảm xuống 7% theo đề nghị của chính phủ, nhưng ngay chỉ tiêu này cũng không thực hiện nổi. Trong cuộc họp tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, chỉ tiêu cho năm 2009 lại được giảm xuống 6,5%.  Hành động của Bộ Chính trị bàn đến ở trên đã được làm hơi quá mạnh tay theo kiểu mệnh lệnh, làm giảm lạm phát nhanh chóng và thậm chí đưa đến tốc độ tăng giá ở mức âm vào tháng 9 và tháng 10 năm 2008, nhưng dù sao cũng tránh được cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán.  Tất nhiên còn nhiều việc phải làm để ổn định nền kinh tế, đặc biệt là giảm nguồn tín dụng cho các tập đoàn kinh tế và tổng công ty quốc tế.  Vai trò của quốc doanh sẽ bàn đến ở phần dưới.

Cuộc tranh luận về tập đoàn và tổng công ty quốc doanh[28]

Khu vực công được định nghĩa ở Việt nam bao gồm tất cả các hoạt động của chính phủ, tức là gồm các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công như dịch vụ xã hội, giáo dục, y tế cũng như dịch vụ an ninh quốc phòng và cảnh sát.

Kể từ năm 2000 khu vực quốc doanh đã tạo ra 4 triệu việc làm, tức là 9-10% tổng số việc làm trong toàn xã hội. Trong khu vực công, doanh nghiệp quốc doanh tạo ra 19 triệu việc làm trong năm 2006, bằng 4% tổng số việc làm trong xã hội, và bằng 284% số lao động trong doanh nghiệp nói chung (kể cả công tư và đầu tư nước ngoài).  Số lao động có việc làm trong doanh nghiệp quốc doanh không những giảm tương đối mà còn cả tuyệt đối (coi Bảng 6).

Mặc dù tạo ra ít công ăn việc làm như thế nhưng khu vực công đã nhận được một tỷ lệ vốn đầu tư rất lớn.  Khu vực công thường chiếm hơn 45% vốn đầu tư của cả nền kinh tế, trừ năm 2007 là năm mà tỷ lệ này giảm bất ngờ xuống dưới 40%; điều này xảy ra chỉ vì vốn FDI tăng lên bất ngờ.  Năm 2007 với GDP là 71,5 tỷ USD đã có  32,6 tỷ USD dành cho đầu tư. Khoảng 15 tỷ USD hay 18% GDP là đầu tư vào vào khu vực công. Đầu tư vào doanh nghiệp quốc doanh không được công bố nhưng có thể ước lượng là vào khoảng 8 tỷ USD, bằng 11% GDP vào năm 2007.[29] Đây là con số rất lớn so với 17 tỷ USD đầu tư vào toàn bộ vào khu vực tư nhân, bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế gia đình các doanh nghiệp tư, nói chúng là khu vực tạo ra 80% việc làm cho toàn xã hội.

BẢNG 6
Lao động trong khu vực công và doanh nghiệp quốc doanh

 

 

2000 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng lao động  (ngàn) 37610 40574 41586 42527 43339 44172
Khu vực công 9,3% 9,9% 9,9% 9,5% 9,1% 9,0%
Khu vực tư 89,7% 88,1% 87,8% 87,8% 87,8% 87,5%

 

 

 

 

 

 

 

Lao động trong doanh nghiệp (ngàn) 3538 3933 5770 6238 6722

 

Doanh nghiệp quốc doanh (ngàn) 2089 2114 2250 2038 1907

 

Doanh nghiệp quốc doanh 59,1% 53,8% 39,0% 32,7% 28,4%

 

Doanh nghiệp tư nội địa 29,4% 33,8% 42,9% 47,8% 50,1%

 

Doanh nghiệp FDI 39,2% 36,8% 42,2% 41,0% 42,9%

 

 

 

 

 

 

 

 

Thay đổi trong lao động (ngàn)

 

396 1837 467 485

 

Doanh nghiệp quốc doanh

 

26 136 -213 -131

 

Doanh nghiệp tư nội địa

 

289 1146 504 391

 

Doanh nghiệp FDI

 

82 556 176 225

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Viện Quản lý trung ương Việt Nam.

BẢNG 7
Tỷ lệ vốn và tích lũy của khu vực công và của nền kinh tế
[30]

 

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tỷ lệ phần chia của khu vực công trong tổng vốn đầu tư (%) 59,8 57,3 52,9 48,1 47,1 45,7 39,9
Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP (%) 35,4 37,4 39,0 40,7 40,9 41,5 45,9
Tỷ lệ tích lũy so với GDP (%) 31,2 33,2 35,4 35,5 35,6 36,8 41,6

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Vốn đầu tư thường lớn hơn tích lũy vì có chi tiêu như đền bù không tạo ra của cải.

 

Từ lâu, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều biểu hiện của sự trì trệ trong nền kinh tế nếu như so sánh với doanh nghiệp tư nhân. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sản lượng doanh nghiệp quốc doanh trong công nghiệp chỉ tăng có 6,4%  trong 9 tháng đầu năm 2008 so với 29,5% của khu vực tư nhân nội địa và 17,9% của khu vực FDI.[31]

Hầu hết trong số 5.970 doanh nghiệp quốc doanh là thuộc cỡ nhỏ hoặc trung. Tuy vậy có khoảng 100 doanh nghiệp được xếp vào loại tổng công ty hay tập đoàn và do đó được hưởng nhiều đặc ân của chính phủ.  Số liệu về doanh nghiệp quốc doanh không được công bố, hình như chỉ sơ lược ngay cả với Quốc hội, và khi được Tổng cục Thống kê xuất bản thì lại tổng hợp vào chung khu vực công.  Chính vì thế mà các phân tích nghiêm túc đều phải chờ cho đến ngày các thống kê chính thức được công bố.  Vì thiếu số liệu nên những phân tích trong phần này phải dựa chủ yếu vào các bài báo được đăng ở Việt Nam.  Cũng may là một số thông tin xuất hiện trên báo chí trong thời gian vừa qua, dù chưa có hệ thống, đã phản ánh những gì đại biểu quốc hội phê phán chính phủ về những thiếu sót và sai lầm trong chính sách kinh tế và các phản ứng của quan chức chính phủ.  Dưới đây là đánh giá về vai trò của tập đoàn quốc doanh trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008.

Rất dễ xác định doanh nghiệp nào là thuộc tập đoàn, doanh nghiệp nào là tổng công ty, vì danh hiệu “tập đoàn” hay “tổng công ty” là do nhà nước ban cho.  Dù tên gọi là gì thì hành động của các doanh nghiệp này cũng khá giống nhau. Vào cuối năm 2007, theo báo cáo của Bộ Tài chính, 8 tập đoàn và 70 tổng công ty đã được công nhận, với số vốn lên tới 56 tỷ USD (gần bằng 80% GDP); đó là chưa kể giá trị đất đai được giao cho.  Trong giá trị này thì giá trị vốn tự có (hoặc được giao) là 25 tỷ USD (khoảng 403 ngàn tỷ đồng); giá trị vốn vay mượn là 31 tỷ USD (khoảng 500 ngàn tỷ đồng – vốn vay này có thể là từ ngân hàng quốc doanh, có thể là từ bán trái phiếu ở thị trường nội địa hay quốc tế (nhưng số liệu không có để biết rõ).  Tập đoàn hay tổng công ty cộng chung lại có tỷ lệ vay vốn trên vốn tự có là 2 lần; điều này chứng tỏ rằng hoạt động kinh doanh của họ là khá phiêu lưu. Nhiều doanh nghiệp thậm chí đạt mức cực kỳ phiêu lưu, chẳng hạn như Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 5 có số vốn vay gấp 42 lần vốn tự có, còn  tập đoàn Công nghệ tầu biển Việt Nam (Vinashin) thì con số này là đến 22 lần. [32] [33]

Cho đến nay chẳng có luật lệ nào điều hành hoạt động của các tập đoàn và ngay cả định nghĩa chúng cũng không có, mặc dù có thể hiểu đơn giản là: tập đoàn là công ty mẹ có tư cách pháp nhân làm chủ hàng loạt các công ty con có tư cách pháp nhân khác.  Mặc dù chỉ có 8 công ty được công nhận là tập đoàn, các tổng công ty có vẻ hành động chẳng khác gì tập đoàn.  Chúng lập ra những công ty con hoặc công ty liên đới. Theo báo cáo thì các tập đoàn đã đầu tư khoảng 7,3 tỷ USD (117 ngàn tỷ đồng), tức là bằng 10% GDP, vào các hoạt động chẳng liên quan gì đến chuyên môn của chúng, và chỉ trong hai quí (quí cuối năm 2007 và quí đầu năm  2008), các tập đoàn này đã đầu tư 1,4 tỷ USD (23 ngàn tỷ đồng) vào thị trường chứng khoán, địa ốc, dịch vụ tài chính, cũng như vào việc mở ngân hàng thương mại mới.[34]

Số lượng các công ty con nở rộ ngay sau khi Đảng Cộng sản cho phép làm thí điểm. Mặc dù tỷ lệ lợi nhuận chưa được công bố, một đại biểu quốc hội trong một phiên họp gần đây đã phát biểu, nêu lên một trong những ý kiến của cử tri là  “…vốn tài sản đó của Nhà nước đem gửi tiết kiệm có khi đem lại lợi nhuận nhiều hơn tiền lãi của DNNN.”[35]

Có thể dễ thấy lợi ích chính khi thành lập tập đoàn là biến chúng thành hũ vàng cho các bên tham gia.  Một tập đoàn có thể đẻ ra hàng loạt các công ty con, có vài trường hợp đẻ đến cả trăm công ty con hoặc công ty liên đới trên địa bàn cả nước. Mỗi công ty con này lại được hưởng quyền lợi và lợi ích bao gồm: dễ mượn vốn ngân hàng quốc doanh và ngân hàng do chính họ thành lập; và quan trọng không kém là quyền có đất công. Được giao đất công là được giao hũ vàng, chỉ phải trả với giá rất thấp, thường là chi phí đền bù nông dân mà chính quyền mọi cấp có thể nhân danh nhà nước thu hồi, rồi giao cho doanh nghiệp (tư hoặc công). Đất đai là của công; người nông dân không có quyền tư hữu mà chỉ được tạm giao khai thác.  Cũng quan trọng không kém là các công ty con này có thể đem “cổ phần hóa” (thực chất là tư hữu hóa, chỉ cần giữ một số cổ phần nhỏ trong tay công ty mẹ), rồi chứng khoán hóa, đem bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Thường thì những người nắm phần lớn cổ phiếu ở các công ty con hoặc công ty liên đới này là bà con của quan chức quản lý tập đoàn, ngân hàng cho vay vốn, và quan chức liên đới…những người có quyền ban phát các ưu đãi.  Tập đoàn dường như là con đường hợp pháp đang được dùng để biến công hữu thành tư hữu.

Vài trường hợp của cung cách làm ăn này đã bị báo chí phanh phui.  Thành lập vào năm 2002,  được giao  915 héc ta đất lấy từ nông dân trong khoảng thời gian 2002 đến 2004, trước khi được Thủ tướng ký chấp nhận cho phép lập khu công nghệ này vào năm 2007.   Vào năm 2006 chủ tịch Hội đồng quản trị của Khu Công Nghệ Cao TPHCM đã ký hợp đồng giao 6.000 mét vuông cho một công ty tư nhân Chip Sáng, được đăng ký và được Sở Công nghệ môi trường thành phố ký công nhận vào khu công nghệ, trước khi khu này được phép ra đời.  Hóa ra là, sau khi bị thanh tra, vì bị tố cáo trên báo chí, cho thấy công ty này là thuộc sở hữu của bà con anh em (vợ, chồng, chị, em) của các thành viên Hội đồng quản trị. Việc làm này là vi phạm luật chống tham nhũng.[36] Nói chung doanh nghiệp này được thành lập chủ yếu nhằm lấy mảnh đất đắc địa từ tay nhà nước.  Không có hành động xét xử sau đó vì chủ tịch hội đồng quản trị chính là cựu Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TPHCM.

Hàng loạt các vụ thu hồi đất ruộng với giá đền bù rẻ mạt, nhằm xây dựng khu giải trí, sân gôn, khu công nghiệp, thương nghiệp v.v. đã gây phẫn nộ  trong dân chúng, và đưa đến các vụ biểu tình liên tiếp, kể cả bạo động khắp nước.  Luật hiện hành của Việt Nam coi đất đai là thuộc sở hữu nhà nước do đó Điều 38 Luật đất đai cho phép nhà nước toàn quyền thu hồi đất “sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế”,[37] tức là cho tất cả mọi mục đích.  Nghị định thực hiện cho phép nhà nước thu hồi đất đủ mọi loại để phục vụ công ích hoặc tư ích (Điều 36 Nghị định thực hiện)[38] và việc thu hồi là thuộc toàn quyền nhà nước kể cả cho phép “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi diện tích đất mà nhà đầu tư chưa thoả thuận được với người sử dụng đất” (điều 40, Nghị định thực hiện) còn việc giải quyết đền bù là chuyện hạ hồi phân giải.   Một chính phủ tự đứng ra lấy quyền là chủ sở hữu đất đai để lấy lại “quyền sử dụng” đất của nông dân, sau đó giao cho một người nào đó kinh doanh là vi phạm quyền của nông dân, dựa chính trên cơ sở của luật đất đai và Hiến pháp hiện hành.  Lý do rất dễ hiểu là một công ty kinh doanh (dù là quốc doanh hay tư nhân) là một thực thể pháp lý, không khác gì một cá nhân người dân. Và mọi tư cách pháp nhân phải bình đẳng, nhà nước không thể tạo ra sự đối xử phân biệt, lấy đất của người này giao cho người kia. Làm thế là phạm pháp.  Chính quyền có thể thay đổi mục tiêu sử dụng đất ở một khu vực (tất nhiên phải thông qua quyết định của đại diện nhân dân như Quốc hội hay Hội đồng nhân dân), nhưng việc mua lại quyền sử dụng đất phải dựa trên thương thảo giữa hai thực thể pháp lý muốn trao đổi quyền sử dụng.  Một doanh nghiệp nhà nước, một nhà tư bản nước ngoài cũng chỉ là một đơn vị pháp lý như một cá nhân thôi.   Chính phủ không thể nhân danh bất cứ ai bắt người ta bán lại vì rõ ràng là trong việc này người đang có quyền sử dụng đất là người thiệt thòi.  Tất nhiên cũng có trường hợp chính phủ được quyền bắt dân giao đất, kể cả bắt bán lại theo giá thị trường, khi mà toàn bộ đất đó được dùng để xây dựng công trình vì lợi ích chung, như xây đường công cộng, làm công viên (tập tục imminent domain đang được các nước sử dụng). Vấn đề đặt ra ở đây chưa từng được nêu ra bàn luận trong Quốc hội Việt Nam.

Trong các trường hợp nổi tiếng khác có trường hợp của tập đoàn PetroViệt Nam ký hợp đồng 17 triệu US với một công ty Ukraina, thực ra là công ty ma dựng lên chỉ để nhằm ăn cắp của công.  Âm mưu này là do Phó Tổng giám đốc PetroViệt Nam dựng nên với sự sự tiếp tay của Chủ tịch Hội đồng quản trị nhưng sau đó cũng không bị đem ra trước pháp luật vì già cả và có công trạng với cách mạng.[39] Một âm mưu tương tự của Giám đốc Điện lực TPHCM, một phần của tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đứng ra thành lập một công ty con nhằm cung cấp điện kế chất lượng cao nhập từ Singapore nhưng bị khám phá ra là công ty địa phương làm điện kế chất lượng thấp.[40]

Vinashin là trường hợp khá điển hình của tập đoàn lớn với hành động khá lộ liễu khiến bị nhiều đại biểu quốc hội chất vấn trong cuộc họp tháng 11 năm 2008.  Vinashin là tập đoàn đóng tầu nổi danh vì lần đầu tiên vào năm 2005 chính phủ Việt Nam, do lợi ích của tập đoàn, đã phát hành thành công 750 triệu USD trái phiếu có bảo lãnh của chính phủ trên thị trường thế giới.  Tuy nhiên, thay vì tập trung vào chuyên ngành của mình là đóng tầu, Vinashin nhanh chóng tạo ra 100 công ty con và liên đới khắp nước gồm cả ngân hàng thương mại và nhiều công ty tài chính, xây dựng, thương mại và địa ốc.[41] Khi bị báo chí tra hỏi, Vinashin đã tiết lộ một số thông tin là theo bản kiểm toán năm 2007 do công ty KPMG làm (Vinashin không công bố) cho thấy tích sản của Vinashin là 5 tỷ USD (80 ngàn tỷ đồng) chưa kể giá trị đất và vốn tự có là 25 ngàn tỷ đồng.  Như vậy là tỷ lệ tiền vay nợ trên vốn tự có là gấp đôi, thấp hơn rất nhiều so với [NVS1] con số 22 lần do Bộ Tài chính đưa ra.[42] Điều này nói lên rằng, gần như không ai nắm rõ tình hình tài chính của các tập đoàn, lúc đó được đặt dưới quyền điều hành trực tiếp của Thủ tướng (sẽ nói thêm về vấn đề này sau).  Cũng theo Vinashin, tập đoàn có lợi nhuận đạt 700 tỷ đồng năm 2007.  Nhưng tỷ lệ lợi nhuận này so với vốn tự có chỉ được 2,8%.   Đó là chưa kể rằng tỷ lệ lợi nhuận năm 2007 này đã cao hơn tỷ lệ năm 2006 là 50%.[43] Tỷ lệ lợi nhuận sẽ thấp hơn nhiều nếu tính cả gía trị đất vào vốn nhà nước bỏ ra.

Vinashin dự đoán sẽ đạt doanh thu 1,4 tỷ USD năm 2008 và đã bán được 478 triệu USD cho nước ngoài.[44] Hệ số vốn trên sản lượng của tập đoàn này được coi là rất cao tức là mức rủi ro cao nhưng lại được  nhà nước Việt Nam đứng ra chịu trách nhiệm dùm.  Xây dựng tầu thủy có thể là ngành mà Việt Nam cần phát triển nhưng tương lai của ngành đóng tầu coi bộ không khá lắm. Đó là dựa vào thông tin về quản lý đã nói ở trên và về tình trạng thiếu kỹ thuật chuyên môn, đã được tờ báo Quân đội Nhân dân nhắc đến.[45] Theo bài báo trên Quân đội Nhân dân, kỹ nghệ đóng tầu cho biết là đã sản xuất theo hợp đồng các tầu với trọng tải từ 6.500 đến 55.000 tấn cho Anh, Nam Hàn, Nhật Bản, nhưng tiếc thay có đến 90% đầu vào là từ các nhà cung cung cấp nước ngoài.  Bài báo đó cũng nói rằng tình trạng thiếu kỹ sư và thợ lành nghề đã khiến cho công nghệ sửa chữa gần như không có, và chính vì thế mà ngay tầu chỉ có trọng tải 2.000 tấn cũng phải chữa ở nước ngoài.  Dựa vào thông tin mà tác giả có được, để hoàn thành các hợp đồng quốc tế, Vinashin cũng phải nhập lao động nước ngoài. Tuy nhiên để hoàn thành các hợp đồng đã ký với nước ngoài Vinashin cần thêm vốn, ít nhất là 6 tỷ USD. Như thế điều này đòi hỏi là Vinashin phải vay thêm ngay 1,2 tỷ vào năm 2008 mà việc này coi như không thể thực hiện do thiếu tín dụng khắp nơi trên thế giới hiện nay.

Nhưng thay vì tập trung tăng cường hiệu suất và lợi nhuận, Vinashin lại lên kế hoạch hợp doanh 10 tỷ USD với công ty Lion Diversified Holding Behard của Malaysia nhằm xây dựng nhà máy thép với công suất 10 triệu tấn một năm mặc dù hầu hết đầu vào kể cả sắt sơ chế và than cốc cũng phải nhập khẩu.  Nhà máy thép này gần như thừa vì trên cơ sở là nhu cầu thép của Việt Nam hiện nay là 6 triệu tấn và vào năm 2015 là 15 triệu tấn có thể dễ dàng thỏa mãn với  bốn công ty thép đã được chính phủ chấp thuận cho phép đầu tư.[46]

Để tìm được nguồn vốn cần thiết nhằm thực hiện các hợp đồng đã ký với khách hàng Văn phòng Chính phủ ngày 22 tháng 9 năm 2008 đã ra thông báo số 264/TB-VPCP về quyết định của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đồng ý một gói vốn 1,2 tỷ USD cấp cho Vinashin (gồm 3 ngàn tỷ đồng VN bằng trái phiếu nội địa, 10 nghìn tỷ vay ngân hàng trong nước và 400 triệu USD vay nước ngoài), và chỉ thị “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo Ngân hàng Phát triển và các ngân hàng thương mại thực hiện tốt các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ tuy nhiên cần điều hành tín dụng linh hoạt cho một số dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp tàu thủy…” cụ thể là chỉ thị từng ngân hàng phải cấp vốn như sau: “Ngân hàng Phát triển và các ngân hàng thương mại thực hiện các cam kết với Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đặc biệt là bảo đảm lượng vốn cần thiết cho các sản phẩm đóng tàu nói trên (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 2.700 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương 2.000 tỷ đồng, Ngân hàng Phát triển 3.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2.000 tỷ đồng, các ngân hàng thương mại khác 300 tỷ đồng).”

Thông báo trên cũng nói Thủ tướng sẽ xem xét thêm yêu cầu của Vinashin đề nghị chính phủ coi vốn vay nước ngoài của công ty là cổ phần của nhà nước thay vì là nợ chính phủ cho Vinashin nợ lại.  Yêu cầu này tất nhiên là sẽ làm tăng tỷ lệ lãi hiện quá thấp của Vinashin bởi vì tiền trả nợ sẽ không còn được tính là chi phí sản xuất nữa.[47] Nếu có trả thì ghi là cổ tức lấy từ lợi nhuận sau khi trừ thuế. Đây cũng là tiểu xảo kế toán với mục đích làm đẹp Vinashin.

Xem xét kỹ hơn, từ các tư liệu được công bố, ta có thể thấy là chính Thủ tướng là người tự giao cho mình trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo các tập đoàn.  Bản phân công trách nhiệm giữa Thủ tướng và các Phó Thủ tướng cho thấy rõ điều này. Ngoài các trách nhiệm khác Thủ tướng đã tự cho mình quyền giám sát trực tiếp như việc hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh tế, dự thảo ngân sách, chính sách tiền tệ và tín dụng – đương nhiên đây là những trách nhiệm tổng quát của một vị thủ tướng, nhưng điều đáng ngạc nhiên là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại giao cho chính ông ta trách nhiệm giám sát trực tiếp chiến lược phát triển tập đoàn và tổng công ty (theo quyết định của Thủ tướng số 1009/QĐ-TTg năm 2006 và số 1120/QĐ-TTg năm 2007).[48] Việc phân công trách nhiệm giữa Thủ tướng và các Phó Thủ tướng cũng có tính đặc biệt trong khung cảnh chính trị Việt Nam khi mà các quyết định phân công của Thủ tướng không nói gì đến trách nhiệm tập thể mà nói rõ là các Phó Thủ tướng chủ động giải quyết công việc liên quan đến mình và chỉ cần báo cáo lại:

Thủ tướng phân công Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng chỉ đạo xử lý thường xuyên các công việc cụ thể thuộc thẩm quyền của Thủ tướng trong từng lĩnh vực công tác của Chính phủ ngoại trừ các công việc do Thủ tướng trực tiếp chỉ đạo.  Phó Thủ tướng được thay mặt Thủ tướng sử dụng quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ để giải quyết các công việc được phân công.”

“Trong phạm vi quyền hạn và nhiệm vụ được giao các Phó Thủ tướng chủ động giải quyết công việc; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về những quyết định của mình; những vấn đề lớn quan trọng nhạy cảm phải kịp thời báo cáo Thủ tướng.”

Tuy nhiên điều lý thú là sau các quyết định của Bộ chính trị liên quan đến lạm phát đã bàn ở trên, vai trò giám sát các vấn đề liên quan đến kinh tế đã được phân công lại cho Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, người giữ cùng trách nhiệm thời Thủ tướng  Phan Văn Khải,theo Quyết định 1453/QĐ-TTg do Thủ tướng ký vào ngày 8 tháng 10 năm 2008.  Rõ ràng vai trò của Thủ tướng hình như đã giảm xuống vì công luận bất mãn với chính sách kinh tế của chính phủ và khả năng của lãnh đạo.[49] Các điều phê phán Thủ tướng về thái độ bất chấp công luận độc lập đã được các nhà bình luận nước ngoài và trong nước chia sẻ rộng rãi. Thí dụ Thủ tướng đã giải tán Nhóm tư vấn Thủ tướng về Cải cách Kinh tế và Hành chính mà các Thủ tướng cũ đã lập ra và cho vận hành từ rất lâu. Nghe nói, Thủ tướng đã nói riêng là ông ta đã có các bộ trưởng và các quan chức chính quyền cố vấn.  Thông tin này cũng được gián tiếp chứng thực khi Thủ tướng trả lời một đại biểu trong cuộc họp Quốc hội vào tháng 11 năm 2008.   Khi được hỏi là Thủ tướng có kế hoạch đối thoại với trí thức và các nhà khoa học không, thì theo bài báo, Thủ tướng trả lời như sau: “Thủ tướng nói rằng không biết đại biểu định nghĩa trí thức như thế nào còn “ngày nào tôi cũng đối thoại với trí thức.[50] Jonathan Pincus, chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc ở Việt Nam, đã than rằng: “Không thiếu người ở Việt Nam hiểu nguyên nhân gây ra tình trạng kinh tế bất ổn hiện nay và biết phải làm gì để chống lạm phát và ổn định lại thị trường. Nhưng những người này lại chẳng có quyền hành gì.”[51]

Trong cuộc họp tháng 11 năm 2008 của Quốc hội nhiều đại biểu đòi hạn chế hoạt động của các tập đoàn và đòi hỏi các cơ quan nhà nước giám sát chặt chẽ và báo cáo những việc các tập đoàn đang làm.  Có lẽ dựa thế là các biện pháp chống lạm phát do Bộ chính trị đưa ra đã có kết quả, Thủ tướng trở nên mạnh dạn bảo vệ chính sách xây dựng tập đoàn trong cuộc họp trên và tuyên bố rằng đây là quyết định của Trung ương Đảng.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố trước cuộc họp Quốc hội như sau:

·    “Cần thống nhất nhận thức về vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX khẳng định: “Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ổn định và phát triển kinh tế chính trị xã hội của đất nước.””

·    “Đã hình thành các tổng công ty nhà nước, một số tập đoàn kinh tế (được tổ chức thí điểm) hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực trong đó có ngành chính theo đúng Nghị quyết của Đảng phù hợp với quy định của pháp luật.”

·    “Thái độ của chúng ta là phải tập trung sức đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Điều mà Thủ tướng có vẻ nhượng bộ một chút là: “Chính phủ đồng tình và hoan nghênh Quốc hội chọn các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là trọng điểm trong chương trình giám sát năm 2009. [52]

Chính vì tuyên bố như thế, Quốc hội đã ra tay kiểm tra và bản báo cáo công bố trước Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 13 tháng 8 năm 2008 có kết luận là năm 2006, có 38 (40%) tập đoàn và tổng công ty có hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng ba lần, năm ngoái có 31 đơn vị. Nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn có tổng số nợ cao hơn gấp 10 lần, tức là “có cơ cấu tài chính bấp bênh, nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu nên khả năng thanh toán không được bảo đảm“. Các tập đoàn đều “kinh doanh có lãi, tốc độ tăng trưởng và doanh thu đều năm sau cao hơn năm trước”, song câu hỏi đặt ra là “Doanh nghiệp tăng trưởng từ sức mạnh nội tại hay đơn thuần do bán tài sản nhà nước“. Nhưng quan trọng nhất là nhận định sau của đoàn giám sát: “Chưa có cơ quan nhà nước nào nắm được đầy đủ, kịp thời về vốn, tài sản tại các TĐ, TCT“, là các bộ, tỉnh hầu như không nắm được hoạt động của DNNN, cơ quan quản lý là Bộ Tài chính lại chỉ “quản lý gián tiếp qua báo cáo từ dưới“.[53]

Nói một cách ngắn gọn: câu hỏi quan trọng là liệu việc mở rộng vùng hoạt động và kích cỡ vốn của các doanh nghiệp quốc doanh có đưa nền kinh tế đến tình trạng được quản lý tốt hơn, ổn định hơn, và công bằng hơn hay không?  Lập luận của Thủ tướng Dũng là các nhà quản lý doanh nghiệp quốc doanh cần được trao quyền tự chủ về đầu tư và hành động vì việc này là nhằm bảo đảm nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lập luận như thế có đứng vững không? Chủ động và tự chủ có nghĩa gì khi mà tiền vốn lại là tiền đóng thuế của dân? Câu hỏi nữa cũng được nhóm Harvard phân tích trong bản báo cáo tháng 1 năm 2008[54] là  phải chăng chính sách mở cửa hiện nay chỉ là mở cửa để cho “các cơ quan chính trị, hành chính, trí thức nhà nước ngày càng trở thành công cụ của các nhóm lợi lợi được họ sử dụng để làm giầu họ và mở rộng thêm tầm ảnh hưởng của họ?”

 

Việc thay thế giám sát các doanh nghiệp nhà nước của Bộ bằng chính sự giám sát trực tiếp của Thủ tướng coi bộ không thành công mà trái lại còn tạo ra nghi ngờ về khả năng lãnh đạo của ông. Một số nhà quan sát nước ngoài cho rằng khó khăn hiện nay là vì mâu thuẫn giữa ông Thủ tướng theo hướng cải cách này và các nhà lãnh đạo bảo thủ khác.[55] Nhưng phân tích của bài này không ủng hộ lập luận này.  Quả thật có thể nói hành động và các phát biểu của Thủ tướng cho thấy Thủ tướng đã không đẩy mạnh hơn cải cách kinh tế theo hướng mở rộng cạnh tranh thị trường mà hình như là muốn tập trung quyền hành vào cá nhân mình, ít nhất là qua các biện pháp và hành động nhằm xây dựng tập đoàn quốc doanh như đã cho thấy.  Nhưng cũng cần công bằng với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để cho rằng các nhận xét trên cần được xem xét và chứng minh rõ hơn.

 

Tuy vậy cũng có thể nói những người chỉ trích Thủ tướng ở trong nước cũng không nghĩ ra cách nào quản lý tốt hơn các tập đoàn quốc doanh này, khi mà chính việc xây dựng doanh nghiệp quốc doanh đã được coi là quốc sách. Hướng mà một số người, trong đó có các đại biểu quốc hội, đề xuất là các doanh nghiệp dù công hay tư  cũng phải chịu cạnh tranh với các điều kiện giống nhau và do đó cần xóa bỏ mọi ưu tiên. Nhưng liệu điều này có thể thực hiện được không khi mà hệ thống chính trị nhà nước Việt Nam thiếu hoặc không thể có (?) hệ thống phân quyền, có tính độc lập, và có khả năng kiểm soát lẫn nhau? Điều này cũng liên quan đến câu hỏi ngày càng trở nên quan trọng hơn là: phát triển kinh tế vì lợi ích và sở hữu của ai? Tiếp cận thông tin để phân tích vấn đề này chắc còn là vấn đề “nhạy cảm.”

 

Vũ Quang Việt

Chú thích

[1] Nghị quyết phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2008.http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,167076&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id=8093649&item_id=10795494&p_details=1.

[2] Minh Yến, Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là 20,7 tỷ USD.  http://www.vtc.vn/kinhdoanh/183352/index.htm.

[3] Tổng cục Thống kê Việt Nam định nghĩa nghèo là những cá nhân có thu nhập bình quân hàng tháng trong năm 2004 là 175.000 đồng, tức là 0.37 USD một ngày (xem Vietnam Statistical Yearbook 2006, bảng 303).

[4] Lan Hương, Lạm phát đang bóp méo chuẩn nghèo, Dân Trí, 11 tháng 9, 2008. Xem http://dantri.com.vn/kinhdoanh/Lam-phat-dang-bop-meo-chuan-ngheo/2008/9/250242.vip.

[5] IMF, World Economic Outlook (WEO), October 2008. Chapter 2.

[6] Thanh Tuyền, Bơm tiền vực dậy thị trường, Tuổi trẻ, 29 tháng 10 năm 2008: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=285359&ChannelID=87

[7] ICOR là hệ số vốn/sản lượng được đo gián tiếp bằng cách chia tích lũy cho thay đổi về GDP tính theo giá cố định.

[8] Các hệ số này được tính dựa vào số liệu do Cục thống kê LHQ xuất bản. http://unstats.un.org/unsd/snaama/introduction.asp.

[9] Số liệu hàng năm do Tổng cục Thống kê xuất bản bao gồm thương mại dịch vụ, trong khi số liệu hàng tháng do hải quan thu thập không có phần thương mại dịch vụ. Chính vì thế những số liệu này không phù hợp với nhau, nhưng cũng được trích dẫn ở đây để cho thấy mức thiếu hụt của năm 2008. Các số liệu này cũng cho thấy là nguy cơ khủng hoảng cán cân thanh toán đã giảm đáng kể vào những tháng cuối năm 2008.

 

[10] Lê Nguyên Minh, Thu vốn nước ngoài trọng tâm vẫn là giải ngân vốn, Tuổi trẻ, 5 tháng 11 năm 2008.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=286441&ChannelID=11.

[11]Bài 2: Bất động sản ‘hút’ FDI nhưng nhiều dự án ‘hứa’, Vietenamnet, 6 tháng 8 năm 2008. http://vietnamnet.vn/kinhte/chinhsach/2009/08/861945/.

[12] IMF Country Report No. 09/110, tháng 4 2009.  http://www.imf.org/external/pubs/ft/scr/2009/cr09110.pdf, trang 22.

[13] Tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu từ Trung Quốc, Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam, 29 tháng 7 2009. http://chongbanphagia.vn/beta/diemtin/20090729/tang-xuat-khau-giam-nhap-sieu-tu-trung-quoc.

[14] Vân Anh, Quốc hội thông qua chỉ tiêu tăng trưởng 8,5 đến 9%, Vietnamnet, 12 tháng 11, 2007. http://vietnamnet.vn/chinhtri/2007/11/754394/

[15]Vũ Quang Việt, Quan hệ lao động và doanh nghiệp thời mở cửa làm thành viên WTO, Diễn Đàn, 13 tháng 3, 2007.  http://www.diendan.org/viet-nam/vqv_laodong/?searchterm=%22v%C5%A9%20quang%20vi%E1%BB%87t%22.

[16] Vũ Quang Việt, Lạm phát ở Việt Nam hiện nay và sự cần nhìn lại lý thuyết tiền tệ.  Thời Đại Mới, Số 3, Tháng 11, 2004.
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai3/200403_VQViet.htm

[17] IMF, Vietnam: Selected Issues, IMF Country Report No. 06/422, November 2006, page 5.

[18] IMF, ibid, tr. 19

[19] Thủ tướng điều hành giá cả thị trường cuối năm 2007. http://vietnamnet.vn/xahoi/2007/11/757597/

[20]  Tất nhiên không có gì sai trong phương pháp được sử dụng để tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở Việt Nam. Để phán ứng lại với chỉ thị của Thủ tướng, tác giả bài này đã viết một bài phải biện về phương pháp đăng trên báo Diễn Đàn và được Báo Lao động trong nước đăng lại. Có lẽ Thủ tướng đã bị báo cáo sai có mục đích, vì cho rằng CPI tăng nhanh là do Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tính tỷ lệ chi cho lương thực thực phẩm quá lớn trong rổ hàng chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam. Khi tỷ lệ chi cho lương thực là lớn, mà CPI của lương thực tăng nhanh thì tất nhiên CPI nói chung tăng cao hơn. Muốn chứng tỏ rằng CPI không tăng nhiều như vậy thì phải ra lệnh cho TCTK thay đổi tỷ lệ chi cho lương thực thực phâm. Tác giả cho rằng tỷ lệ chi cho lương thực thực phầm phẩm ở Việt Nam theo TCTK là 42%, là hoàn hợp lý khi so với Ấn Độ (48,5%), Phi (46,6%) và Thái Lan (36%). Một nước khi có thu nhập đầu người cao lên thì tỷ lệ chi cho lương thực ở nước có khuynh hướng nhỏ đi. Thêm nữa, quan chức Bộ Tài chính đã tự tính để giảm tốc độ tăng CPI đi khoảng 2% so với phương pháp cũ. Theo phương pháp mới của Bộ tài chính, mà theo đó họ đã tính CPI trung bình cho 11 tháng rồi vừa qua so với trung bình của 11 tháng năm trước đó. Cũng chẳng có gì là sai với phương pháp này, nhưng nó tính toán như thế sẽ cho ra con số CPI đẹp hơn vào lúc đó. Tất nhiên với phương pháp “gọi là mới” này cũng đã được TCTK tính để sử dụng vào mục đích khác như tính toán giá trị GDP theo giá cố định trung bình năm. Tuy nhiên muốn theo dõi sự vận hành CPI từng tháng một để điều hành nền kinh tế thì không thể dùng phương pháp “gọi là mới” trên. Coi Vũ Quang Việt, “Phải chăng thống kê Việt Nam đang bị phi chuyên môn hóa?, Diễn Đàn, 2 tháng 12 2008.   http://www.diendan.org/viet-nam/phai-chang-thong-ke-viet-nam-111ang-bi-phi-chuyen-mon-hoa/.

[21] Amy Kazmin, FT interviews: Nguyen Tan Dung, Financial Times, 2 tháng 3, 2008.
http://us.ft.com/ftgateway/superpage.ft?news_id=fto030220081747550984.

[22] Hồng Khánh, Lạm phát cao không phải do chính phủ điều hành kém, VNexpress, 27 tháng 3, 2008. http://vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2008/03/3BA00BBC/?q=1.

[23] Sài Gòn Giải phóng, 5 tháng 3 2008.  http://www.sggp.org.vn/kinhte/2008/4/148112/

[24] Việc Bộ chính trị ngầm phê phán chính sách của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được Âu Dương Thệ nêu lên đầu tiên trong bài: Bộ chính trị chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng trong việc chống lạm phát. Đàn Chim Việt, 15 tháng 4 2008, http://www.viet-studies.info/kinhte/BoChinhTri_ChiTrich.htm

[25] Sài Gòn Giải phóng, 5 tháng 3 2008, ibid.

[26] Nghị quyết số 20/2008/NQ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2008.http://www.cpv.org.vn/tiengviet/kinhte/details.asp?topic=5&subtopic=410&leader_topic=965&id=BT890851128.

[27] Nông thôn Việt Nam:  http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/thoisuchinhtri/tintuc/2008/10/15098.html.

[28] Vũ Quang Việt, Tập đoàn tài chính: ý nghĩa kinh tế và nguy hiểm trước mắt, Kinh tế Sài Gòn, 31 tháng 8 năm 2008.  http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/9208/

[29]Từ bảng 15, IMF, Vietnam Statistical Appendix, December 2007, tích lũy từ ngân sách chính phủ vào năm 2007 và trước đó là vào khoảng 8% GDP. Trong đó có 1% GDP là dành cho doanh nghiệp. Như vậy đầu tư vào hạ tầng cơ sở từ ngân sách là 7% GDP. Vì tổng đầu tư của toàn khu vực công là 18% GDP, ta có thể rút ra là đầu tư của doanh nghiệp quốc doanh bằng 11% GDP.

[30] Ghi chú: Vốn đầu tư là ý niệm dùng ở Việt nam, không theo tiêu chuẩn quốc tế, và không thể gọi là tích lũy. Vốn đầu tư gồm cả nhiều mục (như đền bù) không thuộc tích lũy.

[31  http://www.chinhphu.vn/portal/page_pageid=33,5913832&
_dad=portal&_schema=PORTAL&item_id=8969663&thth_details=1.

[32] Nguyễn Quang A, “Nghe các tập đoàn lớn nói”, Lao Động, 4 tháng 5, 2008.
http://www.laodong.com.vn/Home/Nghe-cac-tap-doan-lon-noi/20084/86666.laodong

[33] http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/?Newid=23769

[34] Nguyễn Trung, Cải cách tập đoàn nhà nước và một chữ dám, Vietnamnet, 10 tháng 9 năm 2008.
http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/4757/index.aspx

[35] Nguyễn Linh, Quốc hội có kế hoạch giám sát tập đoàn, phỏng vấn ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch Quốc hội và là thành viên của Ủy ban kinh tế quốc hội. Vietnamnet. 29 tháng 10 năm 2008.
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/10/810727/

[36]  Nhiều sai phạm tại khu Công nghệ cao TP.HCM, Vietnamnet, 2 tháng 4 năm 2008. http://vietnamnet.vn/cntt/2008/04/776399/.

[37] Luật đất đai (2003).  http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?
docid=16530&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText=

[38] Nghị định về thi hành luật đất đai số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004. http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=17456&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= Nghị định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 27 tháng 1 năm 2006.  ttp://www.luat5.vn/detail.html?document_id=44&cat_id=129

 

[39]  Bóc trần đường dây tham nhũng lớn ở Tổng công ty Dầu khí, Việt Báo, 3 tháng 6 năm 2004.
http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Boc-tran-duong-day-tham-nhung-lon-o-Tong-cong-ty-Dau-khi/10865005/218/

[40] Phạm Điền, Giám đốc công ty điện lực TP. HCM bị tạm đình chỉ công tác, Radio RFA, 19/7/2005.  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/DirectorLeMinhHoangSuspended_PDien-20050719.html.

[41] Xem: http://www.vinashin.com.vn/members.aspx.

[42] Nguyễn Quang A, Lao Động, 4 tháng 5 năm 2008.
http://www.laodong.com.vn/Home/Nghe-cac-tap-doan-lon-noi/20084/86666.laodong, ibid.

[43] Anh Quân, Chính phủ không buộc ngân hàng cho Vinashin vay, Kinh tế Việt Nam, 21 tháng 10 năm 20008, phỏng vấn chủ tịch Vinashin, Phạm Thanh Bình, http://www.vneconomy.vn/20081021090134203P0C5/chinh-phu-khong-buoc-ngan-hang-cho-vinashin-vay!.htm

[44] http://crewing.biz.ua/modules.php?op=modload&name=News&file=article&sid=20238.
Theo phỏng vấn chủ tịch Vinashin ở trên, ông ta đưa ra số liệu cao hơn, với doanh thu là 2.5 tỷ USD và xuất khẩu là 532 triệu USD.

[45] Vũ Văn Đức, Công nghiệp đóng tầu Việt Nam: thành công bước đầu, khó khăn trong tương lai, Quân Đội Nhân dân, 15 tháng 11 năm 2008.  http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.kinhte.chinhsachkinhte.46672.qdnd.

[46] Trần Thủy, Tập đoàn tầu thủy lại xin đầu tư vào điện, thép, Vietnamnet, 9 tháng 9 năm 2008.
http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/09/802793/

[47] Vũ Quang Việt, Tinh hình khác giải pháp khác, Kinh tế Sàigòn, 6 tháng 11 năm 2008.
http://www.thesaigontimes.vn/epaper/TB-KTSG/So46-2008(934)/20855/

[48] Quyết định về phân công của Thủ tướng và Phó Thủ tướng ký ngày 28/7/2006 và 24/8/ 2007.

[49] Song. S Le, “Vietnam in denial over economic woos”, Far Eastern Economic Review, October 2008.

[50] Đối thoại với trí thức không cần treo bảng, Dân trí, 13 tháng 11, 2008.
http://dantri.com.vn/Sukien/Doi-thoai-voi-tri-thuc-khong-can-treo-bang/2008/11/259891.vip

[51] Xem trên.

 

[52] Toàn văn báo cáo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Lao Động, 13 tháng 11 năm 2008.

[53] Lê Nhung, ‘Sức khỏe’ tập đoàn: thất thoát, lỗ, quản lý hạn chế, Vietnamnet, 13 tháng 8 năm 2009.  http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/08/863311/

[54]  Xem Song. S Le, “Vietnam in denial over economic woos”, Far Eastern Economic Review, tháng 10 năm 2008.

[55] Roger Mitton, Vietnam: Behind the Journalists’ Jailings, Asia Sentinel (24 tháng 10 năm 2008).
http://www.asiasentinel.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1500&Itemid=188.

 

 

© Thời Đại Mới

Sốt giá vàng, ai hốt bạc?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:45 am
Tags: ,

TT – Rất nhiều câu hỏi đọng lại sau đợt sốt giá vàng vừa qua: Ai được lợi trong đợt biến động giá vàng vừa qua? Ai thiệt? Giá vàng tăng có ảnh hưởng đến cuộc sống những người đang giao dịch bằng vàng? Những người lướt sóng với vàng thì ra sao? Còn các công ty kinh doanh vàng lớn và các ngân hàng?…

Câu hỏi này đã được ông Trần Thanh Hải – tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư  và kinh doanh vàng VN (VGB) – trả lời:

>> Giá vàng trong giảm, ngoài tăng

Ông Trần Thanh Hải – Ảnh: H.T.Vân

* Theo ông, ai được lợi trong đợt biến động giá vàng vừa qua?

– Ai cũng nghĩ đó là giới kinh doanh vàng. Nhưng theo tôi, họ chỉ đứng thứ hai. Được lợi nhất vẫn là những người kinh doanh USD tiền mặt tại thị trường tự do. Giới kinh doanh USD thường có thói quen đầu cơ. Họ trữ rất nhiều USD. Khi có cơ hội, họ kích giá vàng lên, sau đó đẩy giá USD tiền mặt tăng mạnh và tung ra bán cho giới nhập lậu vàng. Chỉ cần giá USD tiền mặt tăng từ 18.700 lên 19.500 đồng/USD, họ lãi 700 đồng/USD, cứ mỗi tờ 100 USD là 70.000 đồng.

Thứ hai mới đến giới kinh doanh vàng. Dân kinh doanh vàng không lời nhiều bởi họ không đầu cơ như giới buôn USD. Họ luôn cân đối VND – USD – vàng và thực hiện mua bán theo nguyên tắc mua ngay bán ngay, đặc biệt không đầu cơ vàng. Họ chỉ giữ số vàng là vốn của họ. Nếu có bán họ cũng phải lập tức mua lại, vì khi giá tăng họ sẽ bị lỗ, không bảo toàn được vốn. Như đã nói ở trên, do nhập vàng theo giá USD chợ đen đã tăng cao, vì thế giá vàng về đến VN cũng cao nên giới buôn vàng không còn lời nhiều. Ngoài ra được lợi phải kể đến những người dân đã bán vàng trong đợt vừa qua.

* Thế còn các công ty kinh doanh vàng lớn và các ngân hàng?

– Họ càng phải tuân thủ nguyên tắc cân đối giữa tiền – vàng và USD. Với các ngân hàng, họ nắm lượng vàng rất lớn. Nhưng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, họ phải duy trì trạng thái vàng theo một tỉ lệ để đảm bảo an toàn. Không thể có 50.000 lượng vàng ngân hàng cứ vét kho đem bán hết thu lợi.

Tuy nhiên, thị trường cũng rất phức tạp. Những đơn vị lớn thì phải bán số lượng lớn, không thể bán lẻ. Nhưng người mua số lượng lớn thì cũng rành tính toán, giỏi phán đoán, vì thế không dễ dàng để họ mua số lượng nhiều cho các đơn vị lớn hốt bạc. Thực tế khi giá vàng leo lên 29 triệu đồng/lượng, nhiều đơn vị tung vàng ra bán nhưng không bán được.

Tại điểm giao dịch vàng trên phố Trần Nhân Tông, Q. Hai Bà Trưng – Hà Nội, người đến giao dịch đông nghịt, gây tắc nghẽn giao thông một đoạn phố (ảnh chụp ngày 11-11) – Ảnh: Nguyễn Tuấn

* Vậy thì ai thiệt?

– Đó là những người đã mua vàng trong những ngày qua. Giá vàng tăng có ảnh hưởng đến cuộc sống nhưng chỉ rơi vào những người đang giao dịch bằng vàng. Như vay vàng, mua bán nhà bằng vàng đến kỳ phải thanh toán và cả những người vì sốt ruột đi mua vàng. Ngoài ra còn có những người lướt sóng với vàng và số này khá đông.

Với các đơn vị kinh doanh vàng, không phải đơn vị nào cũng lời, có đơn vị lỗ nặng vì họ đã lướt sóng với vàng. Cũng cần phải nói rằng đợt biến động giá vàng này kéo dài, vì thế có mua, có bán là có lời, có lỗ. Thậm chí có đơn vị kinh doanh vàng lớn cũng phải đi mua vàng trong vài ngày qua khi giá tăng nóng. Nguyên nhân là họ đã bán vàng ở mức giá 25 triệu đồng, chưa kịp mua vào thì giá leo lên 28 triệu rồi 29 triệu đồng/lượng.

* Ông nhận định gì về sức mua trong đợt sốt vàng vừa qua?

– Có thông tin người dân phải xếp hàng để mua vàng. Tuy nhiên qua khảo sát tôi cho rằng lượng vàng chu chuyển trong những ngày qua có tăng nhưng không đến mức phải xếp hàng mua vàng. Có đông người mua vàng hơn nhưng cũng chỉ mua một vài chỉ. Còn mua đến trăm lượng thì lại rơi vào những người lướt sóng với vàng. Trường hợp này họ không mua ở các cửa hàng vàng nhỏ lẻ. Thật ra giá vàng tăng, thị trường chộn rộn và tác động đến yếu tố tâm lý nhiều hơn.

* Theo ông, việc can thiệp từ Ngân hàng Nhà nước là đã kịp thời?

– Tôi nghĩ nếu sớm thì vẫn tốt hơn. Ở đây không cần phải cho nhập ngay vàng. Chỉ cần lên tiếng sẽ cho nhập vàng thì thị trường sẽ khác. Lúc đó, mọi người có vàng sẽ không còn găm giữ. Cũng khó trách doanh nghiệp và người có vàng. Bởi họ bán ra nhưng biết trước rằng không cho nhập vàng, như vậy không có đầu vào, vàng đi vàng không về, giá tăng lên, coi như họ bị ăn vào vốn. Tương tự, với người dân có vàng, ai cũng muốn bán giá tốt nhất, cao nhất, từ đó găm vàng chờ giá lên nữa.

Khi mà ai cũng găm hàng vì biết không cho nhập vàng đã tạo cơ hội cho những người có vàng muốn bán cùng đẩy giá lên.

Nhưng tôi hiểu việc chậm công bố cho nhập vàng cũng có lý do của nó. Bởi chúng ta đang phải thực hiện nhiều mục tiêu khác, đặc biệt là ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có việc chống nhập siêu, ổn định sức mua của đồng tiền VN… Cho nhập vàng, sử dụng nhiều USD, nhập siêu tăng, nếu không xử lý tốt lại ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác.

* Xin hỏi câu cuối, là doanh nghiệp kinh doanh và đầu tư vàng, công ty của ông chắc cũng kiếm được khá từ đợt tăng giá vàng vừa qua?

– Chúng tôi chỉ tổ chức sàn vàng và là nơi cho các nhà đầu tư đến kinh doanh mua bán, qua đó thu phí. Đúng là trong đợt biến động vừa qua, doanh thu mua bán vàng trên sàn của công ty tăng gấp ba lần, chúng tôi thu được nhiều phí. Còn chuyện bán vàng giá cao, lời bao nhiêu là do các cá nhân và tổ chức kinh doanh trên sàn.

T.TU. thực hiện

 

Phá sản vì đầu cơ vàng

TT – Thông qua hoạt động đánh giá lên giá xuống, giới đầu cơ đã tạo ra những cơn sóng vàng làm nao núng nhiều người trong xã hội. Nhưng trong ngày thứ tư đen tối (11-11), giới đầu cơ vàng cũng trở thành nạn nhân của sóng vàng khi giá leo lên gần 30 triệu đồng/lượng.

 

“Chết” trong ngày thứ tư đen tối của thị trường vàng chủ yếu là những nhà đầu cơ vàng đã tạo sóng vàng bằng nguồn vốn vay, từ đó dắt dây dính chùm nhiều người.

Đầu cơ vàng miếng, tiền tươi lời ít

Chuyện kiếm tiền của giới kinh doanh vàng chủ yếu vẫn dựa vào việc đầu cơ vàng, mua vào hoặc bán ra để làm thay đổi giá vàng trên thị trường, qua đó hưởng chênh lệch. Khi đánh giá xuống, giới kinh doanh sẽ tung vàng ra bán để đẩy giá xuống, sau đó mua lại. Còn đánh giá lên là thu gom, sau đó kìm hàng đẩy giá, khi giá lên thì bán ra thu lợi.

Với giới đầu cơ vàng miếng, họ đầu cơ cả ba loại vàng: vàng bóng (vàng ký được nhập khẩu), vàng bóng phân (được phân kim từ nữ trang nên chất lượng chưa đạt bốn số 9) và vàng miếng của các thương hiệu vàng có tiếng, chủ yếu là vàng SJC.

Việc đầu cơ của giới kinh doanh vàng diễn ra khá dễ dàng nhờ cách tổ chức kinh doanh chặt chẽ và bài bản. Dù không ai đứng ra tổ chức nhưng hệ thống kinh doanh gồm các cửa hàng vàng được tổ chức khá lớp lang. Đầu tiên là các cửa hàng vàng F1. Để được gọi là F1 thì cửa hàng vàng đó phải có vốn và có thể thực hiện các vụ mua bán vàng cỡ chục đến hàng chục ngàn lượng. Các cửa hàng F2 quy mô nhỏ hơn, chỉ khoảng vài trăm lượng. Dưới nữa là cửa hàng F3 với quy mô cỡ 100 lượng, F4 cỡ vài chục lượng.

Các cấp cửa hàng này rất gắn bó với nhau và đặc biệt thường đánh theo một hướng. Khi F1 đánh giá lên thì đồng loạt các F còn lại sẽ đồng thanh đồng lòng đánh giá lên và ngược lại, từ đó tạo ra những đợt sóng vàng trên thị trường. Chỉ cần F1 tung chiêu mua vào 1.000 lượng vàng, lập tức các F khác cũng làm thế. Nếu mỗi F tùy vào quy mô vốn của mình mà cất vàng đi, không bán ra thì thị trường sẽ trở nên khan hiếm.

Bên cạnh đó, giới kinh doanh vàng làm ăn trên chữ tín, mua/bán chẳng cần hợp đồng, chỉ cần cuộc điện thoại, nghe đúng giọng của đối tác là chốt giá và số lượng. Sau đó dù giá có biến động, hàng vẫn được giao dịch theo đúng những gì hai bên đã chốt giá. Với một thị trường khá kỷ luật như thế, giới kinh doanh vàng dễ dàng làm giá trên thị trường. Khi có thua lỗ, họ cũng gồng mình chịu đựng và tự giải quyết với nhau hơn là làm to chuyện.

Để có thể thực hiện một phi vụ đầu cơ, giới kinh doanh phải tổng hợp, phân tích và phán đoán tình hình trong và ngoài nước. Đặc biệt, họ khai thác tối đa thông tin về tình hình ngoại tệ, các chủ trương chính sách liên quan vàng và ngoại tệ như lệnh cấm nhập khẩu vàng. Từ đó sẽ đưa ra quyết định đánh lên hay đánh xuống. Khi đã có quyết định, các hoạt động đầu cơ được đưa ra để đẩy giá.

 

Giá vàng trên thị trường luôn bị thao túng bởi giới đầu cơ lướt sóng vàng – Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Đầu cơ bằng vốn vay

Tuy nhiên, đầu cơ theo phương thức trên là không hấp dẫn vì phải tiền trao cháo múc, vốn bao nhiêu đầu cơ bấy nhiêu, “tiền tươi thóc thật” vì thế không có lời nhiều nhưng rủi ro cũng ít. Từ đó một vài công ty kinh doanh vàng lớn đã đi tìm cảm giác mới là dùng tiền vay của ngân hàng để kinh doanh vàng. Hoạt động này đỏ đen nhiều hơn, lãi cao nhưng mất tiền cũng bộn vì có sử dụng vốn vay.

Phương thức đầu cơ vàng bằng vốn vay được thực hiện thông qua ngân hàng. Cụ thể như sau: doanh nghiệp chốt giá bán vàng với khách hàng nhưng trong tay chưa có vàng. Doanh nghiệp sẽ mang tiền đến ngân hàng để vay lấy vàng bán. Số tiền phải đưa vào ngân hàng tương đương 107-110% lượng vàng cần vay. Trong đó, phần tiền nộp vào cao hơn 7-10% giá trị vàng sẽ vay được xem là phần tiền ký quỹ để ngân hàng xử lý trong trường hợp giá vàng tăng cao hơn so với thời điểm vay.

Trường hợp giá vàng tăng mạnh kéo tỉ lệ ký quỹ giảm còn 5%, ngân hàng sẽ yêu cầu người vay bổ sung tiền ký quỹ để duy trì mức 7-10%. Trường hợp giá tăng thêm, số tiền cầm cố chỉ còn tương ứng 103% giá trị số vàng đã vay, người vay không bổ sung tiền ký quỹ thì ngân hàng sẽ xử lý hợp đồng để thu nợ. Ngược lại nếu giá vàng giảm, doanh nghiệp sẽ tất toán số vàng đã vay để thu lãi.

Ngày thứ tư đen tối

Đợt biến động của giá vàng vừa qua, đa số cửa hàng vàng đoán giá sẽ xuống nên đã cầm cố VND để vay vàng bán. Tuy nhiên giá vàng tăng “điên cuồng”, người vay phải liên tục bổ sung tiền ký quỹ. Cao điểm trong sáng 11-11, chỉ trong vòng hai giờ giá vàng tăng hơn 3 triệu đồng/lượng khiến người vay kiệt sức đành nhắm mắt xuôi tay.

Không ít trường hợp vì muốn mua vàng để trả nợ cắt lỗ đã đẩy giá mua lên thật cao, chấp nhận mua bằng mọi giá để có vàng trả nợ. Từ đó những người có vàng càng được thể đẩy giá lên cao, đỉnh điểm là 30 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, giá cao nhưng không phải ai cũng gom đủ vàng. Vì thế một số chủ tiệm vàng đã chủ động đề nghị ngân hàng xử lý tài sản thế chấp vì không biết được điểm dừng của giá vàng, trong khi tốc độ bổ sung tiền ký quỹ chỉ tính theo phút. Tất nhiên, giá quy đổi cũng là giá vàng tại thời điểm chuyển đổi hợp đồng vay. Ví dụ ở thời điểm vay giá vàng là 20 triệu đồng/lượng, nếu vay 1.000 lượng sẽ tương đương 20 tỉ đồng. Nhưng ở thời điểm chuyển đổi hợp đồng vay, giá vàng là 29 triệu đồng/lượng thì số nợ mới sẽ là 29 tỉ đồng thay cho 1.000 lượng vàng.

Theo các ngân hàng, để có thể chuyển nợ vay vàng sang VND, họ cũng phải mua vàng hoặc cân đối nguồn vàng tương ứng mới dám đồng ý cho người vay chuyển nợ từ vàng sang VND.

Việc chuyển đổi nợ vay từ vàng sang VND diễn ra nhanh chóng, bởi trước đà tăng của giá vàng, cả người vay lẫn ngân hàng đều muốn giải quyết nhanh gọn. Khi đã đặt bút ký lại hợp đồng để thoát khoản vay vàng, nhiều nhà đầu cơ đã thở phào. Cao điểm của hoạt động chuyển đổi hợp đồng này là từ 9g – 12g ngày 11-11.

Trưởng phòng kinh doanh một ngân hàng cho biết với mức tăng đến 3 triệu đồng/lượng, những người vay số lượng lớn không tài nào xoay đủ tiền để bù vào. Trường hợp người đã vay và bán vàng ở mức giá thấp thì càng khó hơn do trước đó đã phải nhiều lần bổ sung tiền ký quỹ theo đà tăng của giá vàng.

Thế nhưng kể từ trưa, tin Ngân hàng Nhà nước cho nhập khẩu vàng trở lại khiến giá vàng giảm mạnh, giới đầu cơ đã lỡ chuyển đổi hợp đồng hoặc chịu cắt lỗ như chết đứng.

Các ngân hàng cho biết gần đây do giá vàng đã tăng quá nhanh nên hầu hết ngân hàng hạn chế cho vay bằng cách tăng tỉ lệ ký quỹ, từ 7-10% lên 15% hoặc cao hơn nữa tùy tình hình thị trường.

Những ngày này, giới đầu cơ vàng đang phải “dọn dẹp” chiến trường sau sự cố 11-11. Chưa rõ điểm dừng của cơn sốt giá vàng. Sẽ còn có thêm sóng trên thị trường vàng được tạo ra từ giá vàng thế giới và  không loại trừ có thêm hoạt động đầu cơ từ thị trường trong nước. Nhưng như giới kinh doanh vàng đã thừa nhận, đầu cơ lướt sóng vàng lãi lớn nhưng thua cũng đậm, bạo phát luôn đi cùng với bạo tàn.

 

Dắt dây

Để có tiền mặt ký quỹ ở các ngân hàng, một số chủ cửa hàng vàng đã vay tiền của bạn hàng và người thân. Vì thế khi giá vàng tăng chóng mặt, bị buộc phải cắt lỗ, các cửa hàng vàng này chỉ đủ tiền trả cho ngân hàng, không còn tài sản để thanh toán các khoản nợ vay bên ngoài.

Bên cạnh đó, không chỉ tự kinh doanh, các tiệm vàng, đặc biệt các cửa hàng vàng lớn, còn kiêm chức năng kinh doanh hộ khách hàng để hưởng chênh lệch giá mua – bán với tỉ lệ ký quỹ thấp hơn của ngân hàng. Đây cũng là một rủi ro cho các cửa hàng vàng. Do các ngân hàng ràng buộc khá kỹ nên khi giá vàng giảm mạnh, các chủ tiệm vàng lớn phải bổ sung tiền ký quỹ. Trong khi đó, các chủ tiệm vàng lớn có cho vay vàng quy định tỉ lệ ký quỹ thấp hơn, điều kiện lại không chặt chẽ. Khi bên vay vàng không chịu bổ sung tiền, các cửa hàng vàng lớn có cho vay vàng lãnh đủ.

Cũng có trường hợp người vay đồng ý bổ sung tiền ký quỹ, nhưng do phải gom tiền từ nhiều nguồn trong khi ngân hàng không thể chờ được buộc phải xử lý hợp đồng. Do vậy khi giá vàng giảm lại, người vay vàng mang vàng đến trả thì mọi việc đã an bài.

Ngoài ra, một số người dân có sẵn vàng hoặc tiền nhàn rỗi muốn chờ cơ hội kinh doanh cũng đem gửi sẵn ở tiệm vàng để kịp thời mua bán, đồng thời được hưởng lãi suất do tiệm vàng trả. Phần tiền này được các tiệm vàng dùng để cho khách hàng có nhu cầu vay đánh lên đánh xuống. Với các nghiệp vụ này, các tiệm vàng dù không được cấp phép nhưng đã làm chức năng giống như ngân hàng là cũng cầm cố, cho vay…

November 22, 2009

New visa rules leave expats bemused

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:55 pm
Tags:

He is married to a Vietnamese citizen and has lived and worked in the country legally for more than a decade. A visa extension has been a routine formality all these years.

Until now

An expat who did not want to be named said he could not believe it when his travel agent told him a couple of months ago that his visa extension for a year had been rejected. Why, he asked, but received no coherent answer.

The expat eventually got an extension of three months, but is not sure what awaits him at the end of that period.

Many expats who have been caught unawares by an “abrupt change” in visa renewal regulations are angry and upset about receiving no advance notice or explanation.
Immigration authorities have since informed that expats with labor contracts valid for more than one year need to renew their visa every three months or six months.

“This situation is a major concern for foreign employees and their employers because of the waste of time and the additional expenses,” said lawyer Albert Franceskinj of the DS Avocats law firm in Ho Chi Minh City.

Franceskinj confirmed there was no official change in the immigration rules but Vietnamese immigration authorities are now observing and applying more strictly the provisions in issuing visas for foreigners who do not have work permits.

The visa duration has also been reduced without any explanation, Franceskinj added.

The latest immigration rules allow foreigners without a work permit to extend their visa twice for three months each. At the end of the six months, they will have to leave Vietnam.

But investors in Vietnam or those who are granted with a work permit may apply for temporary residence cards of one to three years duration.

Unamused

Franceskinj said expats were not so upset about stricter regulations but the lack of any notice.

“Legally speaking, the [Vietnamese] government is not obliged to announce [the stricter rules] in advance. But given the fact that Vietnam is accommodating many foreign communities, local authorities should have the expats prepared for this,” he said.

He said the Vietnamese authorities should contact relevant embassies to let them know about the stricter rules.

If informed in advance, the expats would have appreciated the move instead of feeling frustrated, uncomfortable and worried, Franceskinj said.

Unwelcome?

A program manager of a British NGO which sent young people to Vietnam to teach English on a voluntary basis said the less flexible rules would discourage his people.
“It might not make a big difference but it will be a big nuisance,” he said, declining to be named for fear his organization would get in trouble.

Tong Phuoc My, sales and marketing manager of MV-TRAVEL tourism firm, also told Thanh Nien Weekly his firm and many others have been unable to apply for six-month visas for their clients.

“We understand that Vietnam now has to solve several of its own problems and the collateral damage for foreigners (caught in the firing line) would be inevitable. What they would need is just better communication fromVietnamese authorities,” Franceskinj said.

Illegal labor headache

The HCMC administration said in October that it would ask the federal government to increase tenfold the fines imposed on firms that employ illegal workers.

A total of 16,800 foreigners are currently working in the city and nearly 3,000 don’t have labor permits, the city’s Department of Labor, War Invalids, and Social Affairs estimated. Most of them are employed in footwear and textiles and garment companies.

The city’s Immigration Department said that many unskilled Africans have entered the country as tourists and stayed on to work temporarily for businesses in the city.
The department said companies that had employed foreigners for three months in Vietnam without work permits would get three more months to get them. After that, foreigners without work permits will be asked to leave, he added.

In the first nine months of this year, HCMC police registered 52 crimes involving 127 foreigners. Sixteen of these were involved in drug trafficking, 16 others in swindling and 12 in robberies. Most of the violators were from Nigeria, Turkey, Iran, Korea, the Philippines and India, city police said.

GETTING A VISA

• Application for issuing, amending, extending visa (form applicable)
• Temporary resident book/certificate of temporary resident which is certified – by public security where the foreigner resides.
• Work permit or document proving that he/she is an investor in a business entity in Vietnam.
• Other documents depending on the category of foreigner.

WORK PERMITS

• Copies of diplomas, degrees, and certificates.
• Three headshots (3×4 cm), taken within one year.
• Medical check-up certificate from one of the following hospitals: Cho Ray, Columbia, Thong Nhat and FV.
• Absence of criminal record in Vietnam (only applicable for those who have resided in Vietnam for at least six months).
• Notarization of relevant documents.

VNN/Thanh Nien

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.