Ktetaichinh’s Blog

May 17, 2009

Quỹ đầu tư- trinh minh giang

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:12 pm
Tags: ,

Là hình thức chung vốn đầu tư nhằm tăng tính chuyên nghiệp của hoạt động đầu tư, Quỹ đầu tư được thành lập dưới nhiều hình thức. Việc phân loại Quỹ đầu tư trên thế giới hiện nay chủ yếu dựa vào 4 tiêu chí chính sau: Chủ thể đầu tư, Đối tượng đầu tư, Cơ cấu huy động vốn và Cơ chế quản lý.

Phân loại theo Chủ thể đầu tư

Quỹ đầu tư tư nhân: Do một số tổ chức và cá nhân góp vốn và thuê Công ty quản lý Qũy nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư. Do việc huy động vốn của Quỹ chỉ hạn chế trong một số tổ chức và cá nhân nên họ có thể đầu tư vào những dự án dài hạn, có tiềm năng phát triển cao và mức độ rủi ro lớn. Các Quỹ này thường đầu tư vào chứng khoán của những công ty chưa niêm yết. Khi những công ty này phát triển đến mức độ nhất định, họ bán lại những chứng khoán nắm giữ để thu hồi vốn. Quỹ đầu tư tư nhân thường mang hình thái của Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm.

Quỹ đầu tư tập thể:
Chứng chỉ góp vốn của Quỹ đầu tư tập thể được phép mua bán rộng r•i trên thị trường. Do số lượng người góp vốn rất nhiều và phần lớn là các cá nhân – những nhà đầu tư không chuyên nên hầu hết các nước đều có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của những người đầu tư.

Phân loại theo đối tượng đầu tư

1. Quỹ đầu tư cổ phiếu (stock fund):
– Quỹ đầu tư tăng trưởng (growth fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu. Các Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của các công ty có chiều hướng tăng trưởng cao.
– Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm (venture capital fund hay hedging fund) theo đuổi sự tăng trưởng tối đa về vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu. Các Quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu của công ty mới, công ty đang gặp khó khăn hay thuộc các ngành tạm thời không được ưa chuộng. Các Quỹ này có thể sử dụng các kỹ thuật đầu tư đòi hỏi mức rủi ro cao hơn trung bình.
– Quỹ đầu tư tăng trưởng và thu nhập (growth and income fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn dài hạn và thu nhập hiện tại. Các Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của các công ty có giá trị cổ phần tăng lên và có một tiền sử trả cố tức vững chắc.
– Quỹ đầu tư vàng và kim loại quý (precious metals/ gold fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn. Danh mục đầu tư của các Quỹ này gồm chủ yếu các chứng khoán kết hợp với vàng và các kim loại quý khác.
– Quỹ đầu tư chọn vốn (capital selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn. Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo quy mô vốn của công ty, có thể là công ty vốn lớn, trung bình hoặc vốn nhỏ.
– Quỹ đầu tư chọn ngành (industry selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn. Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo vị thế của ngành hoặc theo một số tiêu chuẩn riêng của Quỹ. Hình thức đầu tư này đi ngược lại nguyên tắc đa dạng hoá danh mục đầu tư, nó tạo những rủi ro không thể lường trước.
– Quỹ đầu tư chỉ số (index fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại cao. Danh mục quản lý của các Quỹ này được quản lý theo một chỉ số chứng khoán nhất định. Danh mục chứng khoán của Quỹ luôn giữ một tỷ lệ theo sự thay đổi của chỉ số đó.
– Quỹ đầu tư quốc tế (international fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị các khoản đầu tư. Danh mục đầu tư gồm chủ yếu các cổ phiếu của các công ty nằm ngoài nước.
– Quỹ đầu tư toàn cầu (global equity fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị các khoản đầu tư. Các Quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu được giao dịch trên toàn thế giới, kể cả các cổ phiếu trong nước.
– Quỹ đầu tư thu nhập – vốn cổ phần (income-equity fund) theo đuổi mức thu nhập cao bằng việc đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu và công ty có tiền sử trả cổ tức tốt.

2. Quỹ đầu tư trái phiếu và thu nhập (bond and income fund):
– Quỹ đầu tư trái phiếu chuyển đổi (convertible bond fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại và sự tăng trưởng vốn trong tương lai. Các Quỹ này đầu tư vào các trái phiếu kèm theo quyền được chuyển đổi sang cổ phiếu thường theo các điều kiện cam kết.
– Quỹ đầu tư thu nhập – trái phiếu (income-bond fund) theo đuổi mức lợi nhuận hiện tại cao. Các Quỹ này đầu tư vào một tập hợp các trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ.
– Quỹ đầu tư thu nhập chính phủ (government income fund) theo đuổi lợi nhuận hiện tại. Các Quỹ này đầu tư vào nhiều loại chứng khoán chính phủ bao gồm trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu thế chấp…
– Quỹ đầu tư trái phiếu toàn cầu (global bond fund) theo đuổi một mức thu nhập cao. Danh mục đầu tư của các Quỹ này chủ yếu gồm các chứng khoán nợ của các công ty và các quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các chứng khoán nợ quốc gia.
– Quỹ đầu tư trái phiếu công ty (corporate bond fund) theo đuổi một mức thu nhập cao. Danh mục đầu tư của các Quỹ này chủ yếu gồm các trái phiếu công ty và một tỷ lệ trái phiếu kho bạc nhất định.
– Quỹ đầu tư trái phiếu lợi suất cao (high-yield bond fund) theo đuổi một lợi suất cao nhưng chứa đựng một mức rủi ro cao hơn các Quỹ trái phiếu công ty. Danh mục đầu tư của các Quỹ này gồm chủ yếu các trái phiếu của các công ty bị đánh giá thấp.
– Quỹ đầu tư trái phiếu địa phương dài hạn (municipal bond fund-long-term) theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi chính phủ. Các Quỹ này đầu tư vào các trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp vốn cho các công trình địa phương như trường học, bệnh viện, cầu đường…

3. Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ (money market fund)
– Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ chịu thuế (taxable money market fund) theo đuổi việc duy trì một giá trị tài sản thuần bền vững. Các Quỹ này đầu tư vào các chứng khoán hảo hạng, ngắn hạn được bán trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng lớn và thương phiếu. Kỳ hạn trung bình của danh mục đầu tư các Quỹ này thường được giới hạn từ 3 tháng trở xuống.
– Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ miễn thuế (tax-exempt money market fund) theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi chính phủ với mức rủi ro thấp nhất. Các Quỹ này đầu tư vào các chứng khoán địa phương với kỳ hạn tương đối ngắn.

4. Một số Quỹ khác:
– Quỹ đầu tư danh mục linh hoạt (flexible portfolio fund) cho phép các nhà quản lý tham gia hoặc phản ứng với các thay đổi điều kiện thị trường bằng việc đầu tư và cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ của thị trường tiền tệ.
– Quỹ đầu tư cân đối (balanced fund) nói chung theo các nguyên tắc của các nhà đầu tư, thu nhập hiện tại và đạt tăng trưởng dài hạn. Danh mục đầu tư của các Quỹ này là tập hợp các trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường.

Phân loại theo cơ cấu huy động vốn

Quỹ đầu tư dạng đóng (closed-end fund): Không mua lại các chứng chỉ mà Quỹ đã phát hành, Quỹ đóng huy động vốn thông qua phát hành chứng chỉ từng lần một. Nhà đầu tư không mua được chứng chỉ Quỹ ở các lần phát hành tập trung thì chỉ có thể mua lại ở thị trường chứng khoán thứ cấp từ những cổ đông hiện tại giống như giao dịch các cổ phiếu. Quỹ không có liên quan gì tới những giao dịch này. Vì vậy, Quỹ đóng còn có tên là Quỹ giao dịch công cộng (publicly-traded fund). Chứng chỉ Quỹ đóng có thể được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc chỉ được giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung OTC (Over The Counter ) và được giao dịch giống như cổ phiếu thường.

Quỹ đóng có cơ cấu vốn ổn định nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các dự án dài hạn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp. Tuy vậy, chứng chỉ Qũy đóng không có tính thanh khoản cao nên thị giá thường thấp và thời gian thu hồi vốn lâu.

Quỹ đầu tư dạng mở (open-end fund): Phát hành chứng chỉ liên tục để huy động vốn và sẵn sàng mua lại chứng chỉ mà Quỹ đã phát hành theo giá trị tài sản ròng. Việc mua bán chứng chỉ Quỹ có thể thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư và công ty quản lý Quỹ, không phải thông qua thị trường chứng khoán với giá mua = giá trị tài sản ròng của Quỹ + phí bán. Phương pháp tính giá mua sẽ được nêu ở phần Hoạt động của Quỹ đầu tư.

Do cơ cấu vốn không ổn định vì người đầu tư có thể rút vốn bất kỳ lúc nào nên Quỹ mở phải đầu tư vào rất nhiều loại chứng khoán khác nhau. Vì vậy, góp vốn vào Quỹ mở, người đầu tư có thể nắm giữ một danh mục đầu tư hết sức đa dạng. Người đầu tư có thể nhận cổ tức hoặc tái đầu tư vào Quỹ bằng cách yêu cầu được mua thêm chứng chỉ mới. Quỹ mở thường được gọi phổ biến là Quỹ hỗ tương (mutual fund).

Ngoài ra còn có một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:
– Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với Quỹ mở. Nhà quản lý Quỹ đồng ý mua cổ phiếu từ các cổ đông tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các thời gian định trước.
– Quỹ tín thác đơn vị UIT (unit investment trust): được thành lập theo một chứng thư uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý. Vốn đóng góp cũng như mọi đầu tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ. Ban đầu, khi thành lập Quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một danh mục đầu tư rồi phân ra thành các đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho người đầu tư qua môi giới. Các đơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên. Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán các đơn vị đó. Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong danh mục đầu tư của Quỹ. Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho người môi giới bán, thường là 4%. Chính khoản phí cao như vậy mà các nhà đầu tư ngắn hạn thấy không có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này.

Phân loại theo cơ chế quản lý Quỹ

Có hai mô hình quản lý Quỹ đầu tư: mô hình công ty (corporate) và mô hình tín thác (contractual)

Mô hình công ty: Quỹ đầu tư có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty đầu tư cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các nhà đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu của Quỹ có thể được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC.

Những người góp vốn vào Quỹ sẽ trở thành những cổ đông được quyền hưởng cổ tức và biểu quyết bầu Hội đồng quản trị cũng như các vấn đề cơ bản của Quỹ như các cổ đông trong một công ty cổ phần truyền thống.

Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông đứng ra thuê công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng bảo quản. Hội đồng quản trị sẽ giám sát hoạt động của 2 tổ chức này theo kiểu “tam quyền phân lập”: Hội đồng quản trị đề ra chính sách và giám sát, Công ty quản lý Quỹ thực hiện đầu tư còn Ngân hàng bảo quản nắm giữ tài sản.

Việc phân quyền như vậy nhằm đảm bảo việc tài sản không thuộc quyền định đoạt hoàn toàn của bất kỳ ai. Công ty quản lý Quỹ, với vai trò của nhà đầu tư chuyên nghiệp, sẽ tối ưu hoá hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, việc bảo đảm an toàn và lưu giữ các tài sản, đặc biệt là chứng khoán, một cách khoa học cũng như việc tiến hành thu – chi, thanh toán thì không ai khác ngoài một ngân hàng có thể đảm đương được. Bên cạnh đó, việc phân quyền cũng nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư vì các Quỹ đầu tư được bắt đầu từ con số “0” và khối lượng vốn huy động là không hạn chế trong khi các ngân hàng hay các loại hình công ty khác luôn phải có mức vốn tự có tối thiểu để hoạt động.

Tuy là một công ty cổ phần nhưng công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật công ty mà còn phải chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các luật liên quan tới tín thác đầu tư chứng khoán.

Mô hình tín thác: Quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân. Với mô hình này, Quỹ đầu tư chỉ được coi là một khối lượng tiền do các nhà đầu tư góp vốn để sử dụng dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp nhằm thu lợi nhuận. Quỹ không có Hội đồng quản trị, hoạt động trên cơ sở Chứng thư tín thác (trust deed) được ký kết giữa công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng giám sát bảo quản. Chứng thư tín thác, được sự phê chuẩn của Bộ tài chính hoặc cơ quan chức năng, quy định mọi vấn đề đối với hoạt động của Quỹ nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư.

Công ty quản lý Quỹ khi thành lập phải chuẩn bị Bản cáo bạch phát hành để cung cấp những thông tin cần thiết về Công ty quản lý Quỹ và các thông tin về việc phát hành chứng chỉ Quỹ đầu tư, giá bán, phương tức định giá, số lượng phát hành, thuế và các thủ tục hành chính …

Người đầu tư vào Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác không được gọi là một cổ đông vì họ chỉ có quyền nhận lợi tức từ số vốn góp mà không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô hình công ty. Vì thế, người đầu tư lúc này được gọi là người thụ hưởng (beneficiary) và chứng chỉ Quỹ đầu tư được gọi là chứng chỉ hưởng lợi.

Do không có Hội đồng quản trị, chức năng giám sát và đề ra chính sách sẽ được san sẻ cho Công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng giám sát bảo quản. Cụ thể là Công ty quản lý Quỹ nắm quyền quản lý và đề ra chính sách còn Ngân hàng sẽ nắm quyền giám sát và bảo quản tài sản.

Trên đây đề cập nhiều tới tín thác đầu tư. Vậy tín thác đầu tư là gì?

Tín thác đầu tư chứng khoán là việc đầu tư một tài sản đã được uỷ thác của Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác do người được uỷ thác tiến hành đầu tư vào một số chứng khoán nhất định và được tuân thủ theo sự chỉ dẫn của người quản lý nhằm tạo điều kiện cho một số người có quyền hưởng lợi từ hoạt động liên quan tới tài sản được uỷ thác.

Trong mô hình tín thác, Công ty quản lỹ Quỹ cần phải có vốn lớn. Quỹ đầu tư mô hình tín thác chỉ chịu sự điều chỉnh của các Luật liên quan tới tín thác đầu tư chứng khoán.

Tham khảo:

Mutual Fund Fact Book, Investment Company Institute, 1997, 37th Edition.
The Regulation of Non – Bank Financial Institutions – Edited by Anjali Kumar, Word Bank, 1997.
– Investment Trust Management System – Training Materials, Korea Investment Trust Co., Ltd, 1998.

Trịnh Minh Giang
(trích luận văn tốt nghiệp)
11/1999
VietManagement

Vai trò của Quỹ đầu tư

Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu tư. Nhưng làm thế nào để các tổ chức hay cá nhân đang nắm giữ những nguồn vốn nhàn rỗi và các doanh nghiệp đang có ý tưởng kinh doanh khả thi có thể gặp và hợp tác với nhau, cùng tìm cơ hội kinh doanh có lợi nhất. Các định chế tài chính trung gian ra đời chính là đáp ứng nhu cầu cần những chiếc “cầu nối” giữa người có vốn và người cần vốn.

Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, Quỹ đầu tư có nhiều điểm nổi bật so với các trung gian tài chính khác với vai trò:

Huy động vốn cho phát triển kinh tế

Như ở trên đã nói, để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn. Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư. Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua Quỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước.

Không những thế, các Quỹ đầu tư còn khuyến khích được dòng chảy vốn nước ngoài. Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế của họ về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư. Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, Quỹ đầu tư góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trong nước ở các liên doanh.

Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư

Đa dạng hoá danh mục đầu tư – phân tán rủi ro: Việc phân tán rủi ro đối với một khoản tiền khiêm tốn sẽ vấp phải vấn đề trị giá của các chứng khoán trong danh mục đầu tư, nhất là các chứng khoán đựoc niêm yết trên sở giao dịch thường được giao dịch theo lô chẵn. Các khoản vốn nhỏ ấy tuy vậy lại có thể phân tán rủi ro một cách dễ dàng khi chúng được tập trung lại trong một Quỹ đầu tư. Khi đó tất cả các nhà đầu tư dù lớn hay nhỏ đều được tham gia chung vào mọi dự án đầu tư của Quỹ, cùng chia sẻ rủi ro và  lợi nhuận.

Tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư: Quỹ đầu tư với các nhà tư vấn đầu tư chuyên nghiệp, nhân viên có trình độ và kiến thức chuyên sâu, với nguồn thông tin đa dạng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các nhà đầu tư riêng lẻ

Giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô: Các chi phí về thông tin, chi phí hành chính, trở ngại lớn đối với các nhà đầu tư riêng lẻ sẽ giảm thiểu khi được xử lý tập trung. Quỹ với tư cách là nhà đầu tư lớn luôn nhận được các ưu đãi về chi phí giao dịch cũng như dễ tiếp cận với các dự án hơn.

Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư: Việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối với mỗi nhà đầu tư. Chứng chỉ Quỹ đầu tư chính là một loại chứng khoán, do vậy, người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên thị trường chứng khoán hoặc bán lại cho bản thân Quỹ (nếu là Quỹ đầu tư dạng mở).

Thuận tiện cho người đầu tư: Người đầu tư có thể mua hoặc bán chứng chỉ Quỹ đầu tư trực tiếp hoặc thông qua môi giới, trung gian. Việc mua bán có thể thông qua thư tín, điện thoại hay hệ thống mạng máy tính. Các nhà đầu tư có thể thoả thuận với Quỹ để tái đầu tư tự động (automatic reinvestment) hoặc phân chia lợi nhuận theo từng thời kỳ. Nhà đầu tư còn được Quỹ cung cấp các dịch vụ như thông tin và tư vấn.

Đối với các doanh nghiệp

Nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp: Việc tiếp cận các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tục rườm rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản …). Thông qua Quỹ đầu tư, việc huy động vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể.

Nhận được các thông tin tư vấn quản lý, marketing và tài chính: Quỹ đầu tư cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp khác. Lợi ích này của Quỹ đầu tư được đặc biệt đánh giá cao với các  doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi.

Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn: Lợi ích này thu được do sự kết hợp các công cụ huy động vốn của Quỹ. Đó là các loại chứng khoán do Quỹ phát hành, cùng với hoạt động của thị trường chứng khoán cho phép trao đổi, mua bán các loại chứng khoán đó. Sự kết hợp này khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

Tham khảo:

Mutual Fund Fact Book, Investment Company Institute, 1997, 37th Edition.
The Regulation of Non – Bank Financial Institutions – Edited by Anjali Kumar, Word Bank, 1997.
Investment Trust Management System – Training Materials, Korea Investment Trust Co., Ltd, 1998.

Trịnh Minh Giang
(trích luận văn tốt nghiệp)
11/1999
VietManagement

Quỹ đầu tư và các chủ thể tham gia

Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 1999

“Tài chính là chìa khoá của đầu tư và vì thế là chìa khoá cho sự tăng trưởng. Thông việc cung cấp các nguồn vốn cho người có khả năng sử dụng chúng hiệu quả hơn, tài chính làm tăng thu nhập cho cả người cấp vốn và người nhận vốn” [1]. Các định chế tài chính phi ngân hàng có thể được chia làm hai bộ phận chính là các Tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng (các công ty bảo hiểm) và các Trung gian đầu tư bao gồm các công ty tài chính và các Quỹ đầu tư.

Khác với các ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay, khác với các tổ chức bảo hiểm nhận vốn định kỳ trên cơ sở hợp đồng, các Trung gian đầu tư nhận vốn bằng cách phát hành các chứng khoán. Các công ty tài chính phát hành cổ phiếu, còn Quỹ đầu tư phát hành chứng chỉ Quỹ đầu tư (có thể là cổ phiếu hoặc chứng chỉ thụ hưởng).
Là một trung gian đầu tư, hoạt động chủ yếu trên thị trường chứng khoán, Quỹ đầu tư là gì, hoạt động của nó bao gồm những chủ thể nào tham gia?

Trước hết, khái niệm Quỹ theo Từ điển Tài chính Quốc tế “Quỹ” chỉ một tập hợp tiền dùng để đầu tư (money for investment). Đầu tư tức là việc tiêu dùng các tài sản thực hay tài sản tài chính với mong đợi một sự tăng lên về giá trị [2].

Quỹ đầu tư là một định chế tài chính phi ngân hàng huy động vốn bằng hình thức chung vốn đầu tư (investment pool) hay nói cách khác là một tập hợp vốn đa sở hữu từ đóng góp của những cá nhân hay tổ chức có tiền muốn cùng nhau đầu tư nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Quỹ sẽ do các chuyên gia đầu tư, đại diện cho các nhà đầu tư, thực hiện đầu tư vào một danh mục tài sản (gọi là danh mục đầu tư) được thiết kế theo chính sách của Quỹ.

Như vậy, các nhà đầu tư đơn lẻ thay vì trực tiếp đầu tư bằng những khoản tiền ít ỏi của mình đã cùng góp vốn tạo thành một tập hợp tiền gọi là Quỹ để cùng nhau đầu tư. Nguồn hình thành Quỹ đầu tư do vậy mà hết sức đa dạng. Từ các tập đoàn tư bản lớn, các công ty cho đến dân chúng, bất cứ ai có vốn nhàn rỗi đều có thể ít nhiều trở thành chủ sở hữu Quỹ đầu tư bằng cách mua các chứng chỉ thụ hưởng của Quỹ đầu tư (đối với mô hình Quỹ đầu tư tín thác) hay các cổ phiếu của Quỹ đầu tư (đối với mô hình Công ty đầu tư) – từ nay sẽ gọi chung là các Chứng chỉ Quỹ đầu tư.

Hoạt động của Quỹ đầu tư rất đặc biệt, nó không dùng vốn của mình để mua máy móc, thiết bị, các yếu tố sản xuất khác để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mà thực hiện kinh doanh đầu tư vốn dưới hai hình thức:
Đầu tư trực tiếp: các Quỹ đầu tư dùng vốn của mình để thâm nhập trực tiếp vào các công ty, các dự án bằng cách góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu phát hành lần đầu với tư cách là cổ đông sáng lập như các sáng lập viên khác.
Đầu tư gián tiếp: Quỹ đầu tư dùng vốn của mình tham gia vào thị trường chứng khoán với tư cách của một nhà kinh doanh chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán (thành viên của sở giao dịch chứng khoán). Ngoài ra, các Quỹ đầu tư còn dùng tiền vốn của mình cho vay đối với các dự án theo những thoả thuận nhất định, thường là các khoản cho vay có thể chuyển đổi thành vốn cổ phần..

Có thể kết luận đặc trưng cơ bản nhất của Quỹ đầu tư là ở chỗ nó vừa là tổ chức phát hành chứng khoán vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán. Chính đặc điểm này mà Quỹ đầu tư còn được gọi là Quỹ đầu tư chứng khoán để phân biệt với các loại hình Quỹ khác như các Quỹ trong doanh nghiệp thường dùng để tái đầu tư hay các Quỹ do chính phủ lập ra để cho vay ưu đãi một số ngành cụ thể như Quỹ phát triển nhà ở quốc gia, Quỹ hỗ trợ XK, Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia của Việt Nam… thường là với mục tiêu phi lợi nhuận.

Quỹ đầu tư được quản lý bởi Công ty quản lý Quỹ, một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao trong đầu tư chứng khoán. Một công ty quản lý Quỹ có thể quản lý một hay nhiều Quỹ đầu tư. Ngoài ra tài sản của Quỹ đầu tư được một tổ chức chịu trách nhiệm bảo quản, thường là một ngân hàng. Ngân hàng bảo quản còn có thể làm nhiệm vụ giám sát các hoạt động quản lý Quỹ của công ty quản lý nhằm bảo đảm quyền lợi của các nhà đầu tư.

Các chủ thể tham gia vào Quỹ đầu tư:
– Người đầu tư: Người đầu tư ở đây được hiểu là những người góp vốn vào Quỹ đầu tư bằng cách mua chứng chỉ thụ hưởng hay cổ phần của Quỹ. Họ có quyền được chia cổ tức và các thu nhập khác từ hoạt động đầu tư của Quỹ theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo thoả thuận với công ty quản lý Quỹ. Tuỳ theo tính chất từng loại Quỹ đầu tư mà người đầu tư có thể yêu cầu Quỹ mua lại chứng chỉ Quỹ đầu tư trong thời hạn hoạt động của Quỹ. Khi hết thời hạn hoạt động, họ sẽ được hoàn trả vốn.
– Hội đồng quản trị của Quỹ: Hội đồng quản trị chỉ tồn tại trong mô hình công ty (sẽ được đề cập chi tiết ở bài viết sau), được đại hội cổ đông bầu lên giống như một Hội đồng quản trị cuủa một công ty cổ phần thông thường. Hội đồng quản trị đại diện cho cổ đông để xây dựng chính sách đầu tư và giám sát hoạt động của Quỹ, có quyền cao nhất đối với Quỹ. Hội đồng quản trị còn chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty bảo lãnh, công ty tư vấn và các bên cung cấp dịch vụ cho Quỹ.
– Công ty quản lý Quỹ: Là công ty chịu trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư của Quỹ, thực chất là quản lý danh mục chứng khoán theo mục tiêu đầu tư đã định trước, thường ghi rõ trong trong Bản cáo bạch phát hành và điều lệ Quỹ. Hàng ngày công ty sẽ xác định giá trị tài sản trong danh mục đầu tư hoặc giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phần. Công ty quản lý Quỹ không phải là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Việc mua bán chứng khoán của Quỹ đầu tư phải thông qua các công ty chứng khoán.
– Các chuyên gia đầu tư hay các nhà tư vấn đầu tư có trách nhiệm lựa chọn danh mục đầu tư thích hợp theo chính sách và mục tiêu đầu tư của Quỹ, nghiên cứu, phân tích tài chính và xu hướng kinh tế, quyết định thời gian đầu tư thích hợp. Ngoài ra họ có thể là người thực hiện việc chuyển lệnh mua bán chứng khoán tới Sở giao dịch nếu được uỷ thác. Họ được thanh toán phí theo tỷ lệ % giá trị tài sản ròng trung bình của Quỹ trong năm hoặc trên số tiền mà dịch vụ tư vấn thực hiện.
– Các tổ chức bảo quản và giám sát tài sản của Quỹ: Một ngân hàng, công ty tín thác (Trustee Company) hoặc các tổ chức đủ tiêu chuẩn sẽ được thuê làm người bảo quản các tài sản của Quỹ (tiền măt, chứng khoán, …). Tổ chức này thường là một ngân hàng vì các ngân hàng có sẵn cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc giữ và bảo quản tài sản cũng như có một hệ thống thanh toán, thu chi chuyên nghiệp. Các tổ chức bảo quản tài sản chỉ chịu trách nhiệm bảo quản sự an toàn tài sản cho Quỹ, định giá tài sản và theo dõi sự biến động tài sản trong và ngoài nước. Trong mô hình tín thác (sẽ đề cập ở phần sau), các tổ chức bảo quản tài sản còn chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của Quỹ để đảm bảo quyền lợi cho người đầu tư. Tất cả những chỉ thị của công ty quản lý Quỹ về thu chi, đầu tư của Quỹ sẽ chỉ được ngân hàng thực hiện nếu phù hợp với những quy định trong Thư tín thác ký kết giữa công ty quản lý Quỹ và tổ chức bảo quản giám sát.

Nhà bảo lãnh phát hành: Việc phát hành cổ phiếu của Quỹ thường được các nhà bảo lãnh thực hiện trên cơ sở huy động vốn tối đa cho Quỹ với những điều kiện thuận lợi nhất. Các phương pháp bảo lãnh, phí bảo lãnh, trách nhiệm và quyền lợi của hai bên được quy định trong hợp đồng đã ký kết. Nhà bảo lãnh sẽ nhận được phí bảo lãnh là khoản chênh lệch giữa số tiền bán chứng khoán và tiền trả cho Quỹ. Với những đợt phát hành lần đầu ra công chúng, phí bảo lãnh khá cao vì các nhà bảo lãnh phải chịu rủi ro cao trong phân phối chứng khoán. Nhà bảo lãnh phát hành có thể chào bán trực tiếp ra công chúng hoặc thông qua một nhà phân phối trung gian khác.

Tham khảo:
[1] Các hệ thống tài chính và sự phát triển – Tuyển tập chính sách và nghiên cứu Ngân hàng Thế giới, NXB Giao thông vận tải, 1998.
[2] Financial Encyclopedia: http://www.euro.net .

Quỹ đầu tư đã ra đời như thế nào

Các Quỹ đầu tư ra đời theo hai xu hướng chính. Xu hướng thứ nhất là để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các cá nhân ở các nước phát triển. Xu hướng thứ hai là ở nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của đất nước trong việc phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển.

Nước Anh Thế kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp đã tạo ra một lượng tiền khổng lồ sẵn sàng để đầu tư. Cung tiền quá cao làm cho lãi suất trên thị trường giảm xuống. Trong khi đó các nước trên lục địa châu Âu, Nam và Bắc Mỹ lại đang thiếu tiền trầm trọng: tiền để tiến hành Cách mạng công nghiệp. Để thu hút những khối lượng tiền lớn, các nước này đã phát hành các trái phiếu với lãi suất tương đối cao, hấp dẫn so với tỷ lệ lãi suất thấp ở Anh làm cho các nhà đầu tư lớn nhỏ ở Anh bắt đầu dần dần quan tâm tới các cơ hội kinh doanh hải ngoại. Mặc dù hứa hẹn thu được lợi nhuận cao nhưng các nhà đầu tư lại gặp phải những khó khăn đáng kể trong việc nghiên cứu và thực hiện đầu tư hải ngoại.

Cuối cùng, việc huy động vốn và quản lý vốn đã được trao vào tay các chuyên gia đầu tư nhằm giảm tối đa rủi ro và tăng tối đa hiệu quả kinh tế. Quỹ đầu tư đầu tiên được thành lập ở London, Anh vào năm 1868 với cái tên Quỹ tín thác chính phủ nước ngoài và chính phủ thuộc địa (The Foreign and Colonial Government Trust). Quỹ này đưa ra lời hứa hẹn rằng các nhà đầu tư với số vốn khiêm tốn vẫn có thuận lợi như các nhà tư bản lớn bằng cách dàn trải đầu tư qua một số các chứng khoán khác nhau.

Cho đến năm 1873, hơn 10 Quỹ đầu tư như vậy đã được thành lập dưới hình thức công ty đầu tư. Hầu hết các công ty đầu tư lúc bất giờ ở Anh và ở Mỹ đều giống hình thức các Quỹ đầu tư dạng đóng ngày nay. Họ bán một số lượng cố định các chứng chỉ Quỹ đầu tư với giá được xác định bởi cung và cầu. Tuy nhiên, cho đến những năm 1920, hầu hết những người Mỹ có thu nhập trung bình gửi tiền của họ vào các ngân hàng hoặc mua các cổ phiếu của một công ty nào đó. Việc đầu tư vào thị trường vốn vẫn giới hạn rất nhiều vào những nhà đầu tư giàu nhất.

Từ những năm 1920 trở đi, sự phát triển của Quỹ đầu tư được thể hiện rõ nét nhất tại Mỹ.

Quỹ tín thác các nhà đầu tư Massachusetts (The Massachusetts Investors Trust) được thành lập năm 1924 với một danh mục đầu tư khiêm tốn gồm 45 loại cổ phiếu và 50.000 USD giá trị tài sản. Đây là Quỹ đầu tư dạng mở đầu tiên, mở màn cho cuộc cách mạng đối với các công ty đầu tư và bản thân hoạt động đầu tư: chào bán liên tục các chứng chỉ Quỹ đầu tư mới và các chứng chỉ này có thể được mua lại bất kỳ lúc nào dựa trên giá trị hiện thời của tài sản Quỹ.

Năm 1929, thị trường chứng khoán sụp đổ cùng với cuộc Đại khủng hoảng đã làm quốc hội Mỹ phải ban hành các đạo luật chung để bảo vệ các nhà đầu tư và chỉnh đốn thị trường chứng khoán và thị trường tài chính, trong đó bao gồm cả ngành Quỹ đầu tư. Hệ thống luật về chứng khoán của Mỹ từ đây luôn là cơ sở cho việc soạn thảo luật chứng khoán của các nước khác. Đầu tiên là Luật chứng khoán năm 1933, lần đầu tiên đưa ra yêu cầu về bản cáo bạch mô tả Quỹ. Luật thị trường chứng khoán năm 1934 buộc các Quỹ phải tuân theo các quy định của Uỷ ban chứng khoán Mỹ SEC (Securities Exchange Committee) và đặt họ dưới sự quản lý của Hiệp hội quốc gia các nhà kinh doanh chứng khoán.

Luật quan trọng nhất liên quan đến các Quỹ đầu tư và việc bảo vệ người đầu tư của Mỹ được ban hành năm 1940: Luật công ty đầu tư và Luật tư vấn đầu tư.

Luật công ty đầu tư 1940 có tác dụng rất đáng kể, điều khoản trung tâm của đạo luật đòi hỏi tất cả các Quỹ định giá tài sản của mình theo giá thị trường hàng ngày; các điều khoản nghiêm cấm đối với các giao dịch giữa Quỹ và người quản lý Quỹ; các hạn chế sử dụng đòn bảy tài chính và một hệ thống chỉ dẫn pháp luật riêng – duy nhất đối với ngành Quỹ đầu tư. Đạo luật 1940 đưa ra các quy định không chỉ cho bản thân các Quỹ đầu tư mà còn cho các nhà bảo lãnh phát hành chính, người điều hành, các quan chức và nhân viên của Quỹ. Luật quy định rõ các Quỹ đầu tư dạng mở mua lại cổ phần của mình bất kỳ lúc nào cổ đông yêu cầu và đòi hỏi các Quỹ thanh toán giá mua lại theo lần tính toán giá trị tài sản thuần (NAV) của danh mục đầu tư của Quỹ trong vòng 7 ngày sau khi nhận được yêu cầu mua lại.

Luật tư vấn đầu tư đòi hỏi sự đăng ký của tất cả các nhà tư vấn đối với các Quỹ đầu tư trừ các ngân hàng. Luật cũng đưa ra một nghĩa vụ uỷ thác chung cho các nhà tư vấn đầu tư và có một số điều khoản chống gian lận. Đạo luật đòi hỏi thêm các nhà tư vấn lưu trữ các dữ liệu, báo cáo, công khai và các yêu cầu khác. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một cựu chủ tịch của SEC phát biểu: “Không có một tổ chức phát hành nào lại bị nhiều quy định điều chỉnh chi tiết như các Quỹ đầu tư”.

Các Quỹ đầu tư dạng mở bắt đầu phát triển trong công chúng từ những năm 1940 và 1950. Năm 1940, có chưa đến 80 Quỹ với tổng tài sản 500 triệu USD. 20 năm sau, đã có 160 Quỹ với tổng tài sản là 17 tỷ USD. Quỹ cổ phiếu quốc tế dạng mở đầu tiên ra đời năm 1940. Ngày nay đã có vô số các Quỹ đầu tư cổ phiếu và trái phiếu toàn cầu.

Sự phức tạp và quy mô của ngành Quỹ đầu tư đã thay đổi rất lớn với việc thêm vào các sản phẩm và dịch vụ mới. Chẳng hạn trước những năm 1970, hầu hết các Quỹ là Quỹ đầu tư cổ phiếu và một số Quỹ đầu tư cân đối có bao gồm cả trái phiếu trong danh mục đầu tư. Năm 1972 đã có 46 Quỹ đầu tư trái phiếu và Quỹ đầu tư lợi tức. 20 năm sau nữa, con số đã là 1.629. Sự đổi mới trong đầu tư và các phương tiện hưu trí cũng đã tác động tới ngành. Năm 1971, các Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ đầu tiên ra đời.

Năm 1976, các Quỹ đầu tư trái phiếu đô thị được miễn thuế bắt đầu chào bán chứng chỉ và 3 năm sau, Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ được miễn thuế ra đời. Nó kết hợp ưu thế của các Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ với các Quỹ đầu tư trái phiếu đô thị. Từ đó, Ngành Quỹ đầu tư bắt đầu đưa ra các qũy đầu tư cổ phiếu, trái phiếu và thị trường tiền tệ đa dạng hơn. Quỹ đầu tư ngày nay gồm toàn bộ từ các Quỹ đầu tư cổ phần tăng trưởng tới các Quỹ đầu tư trái phiếu toàn cầu, từ các Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ miễn thuế tới các Qũy chuyên biệt vào một phần của thị trường chứng khoán.

Ngành Quỹ đầu tư ngày nay tăng trưởng bền vững nhờ tránh được những trở ngại mà các định chế tài chính khác gặp phải. Các nguyên tắc cơ bản đối với sự ủy thác dài hạn của ngành từ các cổ đông như đảm bảo các quy định một cách chắc chắn, đào tạo các nhà đầu tư và xúc tiến các cơ hội đầu tư dài hạn – đã là kim chỉ nam cho ngành 50 năm nay và sẽ vẫn còn tiếp tục như vậy trong tương lai.

Nguyên nhân nào khiến các Quỹ đầu tư chỉ trong vòng hơn 20 năm trở lại đây lại phát triển nhanh đến như vậy?
– Thứ nhất, các nhà đầu tư đang ngày càng trở nên quan tâm tới hoạt động đầu tư toàn cầu.
– Thứ hai, đó là trong thập kỷ qua, các Quỹ đầu tư ngày càng trở thành sự lựa chọn đầu tư chắc chắn nhất cho tầng lớp trung lưu đang giàu lên nhanh chóng. Sự tăng trưởng tài sản tuyệt đối của các Quỹ đầu tư rất đáng kể, đặc biệt ấn tượng trong các nước có tốc độ tăng trưởng cao, và thậm chí trong thị trường các quốc gia có tốc độ tăng trưởng tương đối chậm.

Ngành công nghiệp quản lý đầu tư cũng bước sang thời đại mới trong những năm gần đây. Tại các nước phát triển cao, nhất là Mỹ và các nước EU, việc quản lý Quỹ đầu tư, kể cả việc cung cấp rất nhiều các dịch vụ hỗ trợ liên quan, đã tạo ra tổng lợi nhuận xứng đáng đưa ngành công nghiệp Quỹ không chỉ trở thành đối tượng tham gia chính ở khu vực tài chính mà còn là một thành phần chủ đạo ở khu vực dịch vụ nói chung của nền kinh tế.

Trong suốt thập kỷ 90, sự thăng tiến liên tục ở tầng lớp trung lưu dẫn đến doanh thu của các Quỹ đầu tư phát triển đều đặn ở hầu hết các thị trường chứng khoán có tổ chức. Có thể thấy trước được rằng các hình thức Quỹ đầu tư sẽ phát triển không ngừng ở các nước công nghiệp hoá. Tỷ lệ dân số có mức thu nhập trên chỉ tiêu trung bình đã chiếm khoảng 1/3 tổng dân số các nước này. Ví dụ ở Mỹ, các hộ gia đình có thu nhập trên mức trung bình, mặc dù theo thống kê chỉ chiếm 40% dân số, đã chiếm 62% số cổ đông của các Quỹ đầu tư và sở hữu khoảng 75% tài sản của các Quỹ đầu tư cá nhân.

Việc hình thành Quỹ đầu tư ở các thị trường chứng khoán mới nổi bắt nguồn từ nhu cầu của những nền kinh tế yếu kém về nhiều mặt, đòi hỏi phái cải thiện khả năng thanh toán và hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng. Điều này khác biệt với các Quỹ đầu tư hình thành trên nền tảng thị trường chứng khoán đã phát triển ở trình độ cao, đóng vai trò của một phương thức đầu tư hiện đại, tăng hiệu quả của thị trường chứng khoán.

Tham khảo:

Mutual Fund Fact Book, Investment Company Institute, 1997, 37th Edition.
The Regulation of Non – Bank Financial Institutions – Edited by Anjali Kumar, Word Bank, 1997.
Investment Trust Management System – Training Materials, Korea Investment Trust Co., Ltd, 1998.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: