Ktetaichinh’s Blog

May 28, 2009

Sống chung với hàng Trung Quốc?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:09 pm
Tags: ,

Trung Quốc là nhà máy của toàn thế giới và hàng Trung Quốc có mặt khắp các châu lục. Chúng ta chắc chắn sẽ còn sống chung với hàng Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế với họ, qua lại với họ về sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là điều không thể tránh khỏi. Song đó là một chiến lược lớn cần đề cập căn cơ, quan niệm tỉnh táo và có tầm nhìn, định hướng lâu dài, hai bên cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng nhau chứ không được áp đặt, lấn lướt giành phần khôn, phần lợi về mình.

Một chiến lược giao thương và hợp tác kinh tế với Trung Quốc trong tình hình mới hiện nay cần được bàn luận trong toàn dân để Nhà nước trên cơ sở đó mà có quyết sách hợp lòng dân. Khi có quyết sách hợp lòng dân thì Nhà nước ta mới đủ sức mạnh đàm phán và làm ăn với anh bạn lớn, đủ sức đương đầu vượt qua những lá lay, lấn lướt thường thấy lâu nay.

Riêng về vấn đề “nhà nhà đánh hàng, bán hàng Trung Quốc” hiện đang xảy ra thì theo tôi có hai biện pháp cần quan tâm sớm:

1. Doanh nghiệp Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam cần có đầy đủ thông tin về đối sách Trung Quốc đang sử dụng cho thị trường Việt Nam, về chiến lược lâu dài cũng như các sách lược, các chiêu thức, kỹ xảo của Trung Quốc đang áp dụng cho Việt Nam.

Họ có đội ngũ nghiên cứu giỏi, được trang cấp mọi phương tiện và có nhiều kênh thông tin cấp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp. Một công ty dệt may vừa đi mua nguyên phụ liệu ở Trung Quốc kể rằng đã bị nhiều nhà bán lẻ Trung Quốc chặn hỏi, phải chăng Nhà nước Việt Nam đang có chiến dịch đưa hàng dệt may Việt Nam về tranh chỗ của hàng dệt may Trung Quốc ở nông thôn Việt?

Trung Quốc hiện tiến hành một cuộc xâm nhập có tính chất toàn diện đối với Việt Nam (kinh tế, chính trị, đầu tư, thương mại, xã hội, văn hoá…) và những chính sách, biện pháp cụ thể là gì? Nhiều điều khoản bất công trong giao thương với đối tác nước ngoài, trong đó có Việt Nam đã được chính báo chí Trung Quốc bức xúc công khai nhưng các thông tin này hoàn toàn bị bưng bít đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam. Các cơ quan chức năng Việt Nam có nắm rõ không các điều khoản bất công này để tư vấn cho doanh nghiệp mình?

Khi nhiều hãng buôn Trung Quốc đồng loạt mở mặt trận tuyên truyền về mọi sự thuận lợi, dễ dàng, hiệu quả để buôn hàng Trung Quốc thì thông tin về những cú lừa đảo hàng chục tỉ đồng của giới thương buôn Trung Quốc với mặt hàng nguyên liệu may mặc, điện tử làm điêu đứng các siêu thị tên tuổi của Việt Nam, các công ty dệt may lớn của Việt Nam lại bị che giấu kỹ. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhập máy móc Trung Quốc, nhập nhầm rác thải công nghệ, thiết bị lạc hậu đành ôm hận trùm mền, và các sự việc này không được thông tin khiến nhiều công ty khác tiếp tục vướng bẫy. Nhiều nhà buôn Việt Nam nhắm mắt tiếp tục nhập khẩu hàng hoá của những hãng Trung Quốc bị cảnh báo về vệ sinh an toàn thực phẩm đã không được thông tin rộng rãi cho người tiêu dùng Việt Nam, đến đỗi báo chí Trung Quốc phải lên tiếng về những sự bất công, mập mờ mưu lợi bất chính của doanh nghiệp Trung Quốc với các đối tác nước ngoài.

2. Giành lấy chủ quyền thương mại trên thị trường đất nước mình.

Báo chí cần nêu đích danh những cơ quan chức năng nào “nối giáo” cho kẻ ngang nhiên gian lận thương mại, ăn cắp thị trường và thị phần của doanh nghiệp Việt Nam

Vào thời buổi Nhà nước Trung Quốc hô hào các nhà kinh doanh Trung Quốc phải quan tâm hơn tới thị trường nội địa của họ, cũng như các quốc gia khác đều phải chú trọng tăng cầu nội địa để đối phó khủng hoảng, thì không thể chấp nhận những chiêu thức gian lận thương mại, không chính đáng, không hợp pháp để hàng Trung Quốc giành lấy phần của hàng Việt Nam trên thị trường Việt Nam. Họ đang ra sức đẩy hàng dội khẩu sang các nước lân cận, họ chẳng giấu giếm gì và ta cũng biết thừa. Nhưng cùng với việc gia tăng các hàng rào kỹ thuật đối với hàng Việt Nam, gây khó khăn đủ điều cho việc nhập hàng Việt Nam thì họ khuyến khích, dung túng mọi hình thức đi buôn hàng Trung Quốc không đóng thuế, không chính ngạch, chuyển ngân cũng không đóng thuế.

Khi họ công bố cấm tàu đánh cá Việt Nam đánh cá trên vùng biển của Việt Nam, sao họ có thể đẩy hàng lậu và hàng giả ồ ạt sang ta? Tất nhiên muốn hàng lậu và hàng giả ngon trớn vào Việt Nam thì phải có sự hợp lực của phía họ lẫn cơ quan chức năng của mình. Biên giới dài rộng, một gánh hàng của ta vào họ không lọt nhưng hàng tấn tấn hàng của họ vào ta ngon ơ, vì sao? Vì sao mà doanh nghiệp Việt Nam ngay tại thành phố này, chỉ mới trưng bảng giảm giá 70% đã tức thì bị quản lý thị trường lập biên bản phạt tội bán phá giá (than ôi thời buổi bị hàng Trung Quốc áp sát, giảm giá tới 70% còn chưa “xi nhê”) mà cả một khu chợ tưng bừng giữa quận 1 Sài Gòn bán toàn đồ giả nhập từ Trung Quốc, mỗi ngày huỷ hoại sức cạnh tranh của biết bao doanh nghiệp may mặc lương thiện của Việt Nam, cứ nhơn nhơn phát triển?

Với tất cả hàng bán dưới giá thành bình thường, cơ quan chức năng cứ truy hỏi nguồn gốc, hoá đơn là thấy ngay xuất xứ hàng hoá và dễ xử quá chừng, sao không làm được? Hãy truy hỏi công bằng như đối với mọi doanh nghiệp Việt Nam có trưng bảng kinh doanh đàng hoàng, đầu tư thương hiệu nghiêm túc, để có được một cuộc cạnh tranh ngang bằng, không cần thiên vị chút nào với doanh nghiệp trong nước.

Chúng ta biết là giữa hội chợ Quảng Châu, hàng đẹp như mơ không có nhãn mác được bày bán công khai. Hỏi vì sao, họ nói, họ chờ người mua yêu cầu nhãn gì thì gắn nhãn đó. Made in Vietnam đầy dẫy. Họ cũng hướng dẫn, và cung cấp luôn dịch vụ chuyển hàng qua Singapore, Hong Kong, Malaysia để xoá hẵn gốc Trung Quốc.

Thực tế là hàng Trung Quốc, nếu nhập chính ngạch, vào siêu thị hay cửa hàng lớn của Việt Nam thì giá đắt hơn hàng Việt Nam cùng đẳng cấp. Họ phải cạnh tranh ngang bằng như vậy, không thể ngang ngạnh cấm người ta đánh cá trên biển người ta mà lại thản nhiên đẩy hàng lậu, hàng giả vào thị trường người ta không xấu hổ.

Báo chí cần nêu đích danh những cơ quan chức năng nào “nối giáo” cho kẻ ngang nhiên gian lận thương mại, ăn cắp thị trường và thị phần của doanh nghiệp Việt Nam.

Trên đây là hai giải pháp nhất thời. Còn chuyện “chiến đấu” công bằng với quyền lực mềm, cuộc chiến mềm với hàng lậu và hàng giả Trung Quốc, làm sao hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong hợp tác và cạnh tranh với hàng Trung Quốc về lâu dài là một câu chuyện dài. Chuyện dài nhưng đã bức bách như lửa cháy phừng phừng. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đành lòng nhắm mắt chọn giải pháp đóng máy, cho thợ tạm nghỉ, đưa hàng sang gia công bên Tàu về bán, lời hơn và thị trường Việt Nam ngày càng cam tâm là nơi ưu tiên tiêu thụ hàng Trung Quốc. Lửa cháy vậy mà cơ quan chức năng nguội lạnh, doanh nghiệp thì rời rạc, loay hoay tìm lối thoát. Đó cũng là câu chuyện lớn rất thực tế về sự tồn tại của nền kinh tế Việt Nam.

Kim Hạnh

Advertisements

Hàng Trung Quốc – những gọng kìm bọc nhung

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:56 pm
Tags: ,

SGTT – Những phiên chợ tấp nập mua bán. Những chuyến hàng len lỏi ngược xuôi. Những hợp đồng gia công ào ạt ký kết. Hàng hoá Trung Quốc len lỏi theo những dòng chảy tự nhiên, thấm dần và ăn mòn thị trường Việt Nam

Hàng Trung Quốc thâm nhập mọi đối tượng tiêu dùng Việt Nam. Ảnh: Mai Kỳ

Nếu như việc đi “đánh hàng” từ Quảng Châu về Hà Nội, Sài Gòn đã trở thành chuyện thường ngày với những người nhanh nhạy trong kinh doanh, thì rõ ràng, công tác “làm thị trường” của người Trung Quốc đã thành công.

Những đường dây “cò con”

Không cần quảng bá, không cần tiếp thị, cũng không cần hỗ trợ, tự thân một con đường “tơ lụa” kiểu mới đã được hình thành. Người ta kháo nhau để đi. Người ta hướng dẫn nhau để chọn hàng. Người ta chia sẻ thông tin cho nhau trên khắp các diễn đàn trực tuyến. Một người bạn vừa trở về từ Quảng Châu thốt lên: “Bây giờ mà không tranh thủ đánh hàng Trung Quốc thì cũng hơi khờ dại!”

Và một hệ thống phục vụ cho những chuyến đi này đã nhanh chóng mọc ra, từ việc đổi tiền, chuyển tiền, đặt xe, mua thẻ điện thoại, thuê phiên dịch… mọi thứ đều có thể tiếp cận tại những văn phòng đại diện không bảng hiệu tại Hà Nội và TP.HCM. Thậm chí, một trung tâm được giới thiệu là “cơ quan xúc tiến thương mại Việt Nam – Trung Quốc” đã ra đời, đặt tại một căn hộ chung cư ở đường Hậu Giang, quận 6, TP.HCM chuyên để phục vụ nhu cầu lấy hàng hoá giá rẻ của người dân miền đồng bằng sông Cửu Long.

Một chuyến đi buôn bằng máy bay chỉ tốn có 12 triệu đồng, bao gồm vé máy bay (đã xấp xỉ mười triệu đồng), tiền ăn ở bốn ngày, đi lại, phiên dịch và giới thiệu các nhà máy, chợ sỉ… Họ lo tất tần tật mọi khâu, từ lựa chọn đối tác theo đúng nhu cầu, đặt hàng, vận chuyển, nhập hàng… Cơ quan này thể hiện rõ việc không mặn mòi với những doanh nghiệp sành sỏi ở thành phố, bởi thị trường mà họ đang quan tâm là khu vực nông thôn. Lãnh địa có hơn 70% dân số của đất nước khao khát tiêu dùng đang bị bỏ trống. Và những chuyến hàng giá rẻ từ Quảng Châu, Đông Hưng qua cửa Lạng Sơn, Móng Cái đang rầm rộ chuyển về.

Lận lưng vài chục triệu, một cậu sinh viên năm nhất đại học Huflit cũng đã tự mình sang Quảng Châu, gom được một kiện hàng quần áo và nửa kiện thiết bị nhà bếp ghi nhãn lập lờ đánh lừa người tiêu dùng là “công nghệ Hàn Quốc”, “tiêu chuẩn Nhật Bản”… Cậu chỉ mới tập tành bán mớ hàng này trên các mạng bán hàng trực tuyến, nhưng sau thành công, thì lập tức gom thêm tiền, mang hàng về nhiều hơn. Chuyện học hành dần bị sao nhãng vì mơ ước mở một công ty nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc đang đến gần hơn bao giờ hết.

Và những “hàm cá mập”

Đặt Trung Quốc gia công hàng, doanh nghiệp sẽ kinh doanh được, nhưng thị trường nội địa sẽ trở thành nơi tiêu thụ hàng Trung Quốc. Doanh nghiệp vẫn sống, người tiêu dùng có lợi, chỉ có nền kinh tế là gặp trắc trở…

bà Vũ Kim Hạnh, giám đốc trung tâm BSA

Cuộc họp chuyên gia định kỳ của câu lạc bộ Hàng Việt Nam chất lượng cao đặt lên bàn bài toán nan giải: phải ứng xử thế nào với các “đại gia” hàng Việt sau khi “vả thuốc” vì kẹt tiền trong chứng khoán và bất động sản, trong núi hàng tồn kho không bán được, trong mớ bòng bong thủ tục, gíá điện, giá xăng, giá thuê mặt bằng tăng vọt. Mọi thứ đều tăng chỉ có sức mua là giảm, thì họ đã phải đóng máy, bán máy, cho công nhân nghỉ và họ đặt hàng gia công từ Trung Quốc. Rẻ, nhanh, thuận tiện, mẫu mã mới và phong phú, khỏi động tay động chân mà lời hơn nhiều.

Những câu chuyện thương hiệu thời trang N., hãng giày lừng danh V. hay nhóm hàng của hệ thống C. thực chất chỉ là hàng đi đặt ở Quảng Châu mang về đã âm ỉ rất lâu trong những cuộc bàn tán của giới doanh nhân. Một chuyên gia thốt lên: “Nếu ai cũng mang hàng sang gia công bên Trung Quốc, thì nền sản xuất Việt Nam sẽ bị bóp chết hay sao?” Những người tiêu dùng thiết tha với cuộc vận động “người Việt – hàng Việt” để khắc phục cơn suy giảm kinh tế trong nước, vô tình đang ủng hộ một nền sản xuất khác mạnh hơn rất nhiều.

Hàng hoá Trung Quốc hiện giờ đang thực sự bủa vây thị trường trong nước, từ thứ dễ nhìn thấy nhất là quần áo thời trang, giày dép cao cấp và rẻ bèo, cho đến các thiết bị gia dụng, hoa giả, hoá mỹ phẩm… Những ông chủ lớn chuyên nhập hàng Trung Quốc số lượng lớn đã bắt đầu xuất hiện tại chợ Đồng Xuân, chợ An Đông và các đường dây buôn bán đã bắt đầu “chảy”. Những hè phố có người bán đồ chơi, thì 99% là đồ chơi Trung Quốc. Những sạp bánh mứt Hà Nội, Đà Lạt, cũng nhập nhẹm rất nhiều “đặc sản địa phương” được nhập khẩu từ biên giới phía Bắc. Những xe bong bóng đủ sắc màu, những người bán dạo khắp hang cùng ngõ hẻm cũng chỉ toàn phân phối bánh kẹo Trung Quốc.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan kể chuyện, một doanh nhân muốn tìm mua hệ thống máy móc đã dễ dàng được hướng dẫn sang Trung Quốc, đến tận nơi, gặp tận mặt những người tự xưng là “làm việc lâu năm trong các nhà máy sản xuất của Mỹ, Nhật để học hỏi công nghệ và kỹ thuật”. Và anh này đã đồng ý nhập ngay vì giá thành chỉ chưa đến 1/3 nếu mua của một quốc gia khác.

Bà Lai Kim, tổng giám đốc công ty may Nhật Tân cười buồn: “Bây giờ mà nói hàng Trung Quốc giá rẻ, chất lượng kém là không hợp thời nữa. Tôi chuyên gia công cho những hãng thời trang lớn nhất thế giới mà cũng phải thừa nhận là hàng thời trang Trung Quốc quá đẹp, quá hợp lý về giá. Tôi nói đùa với mọi người, là mùa đông, người Hà Nội được làm đẹp bởi hàng thời trang Trung Quốc”.

Úc điều tra vụ tiền polymer dính líu Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:50 pm
Tags:

Cảnh sát liên bang Úc được yêu cầu điều tra theo sau cáo buộc của một tờ báo rằng công ty làm giấy nền polymer để in tiền ký các hợp đồng đáng ngờ qua trung gian ở nhiều nước, liên quan đến cả con trai cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Sau khi báo Úc, tờ The Age, chạy bài Đặc Biệt về đề tài này, BBC Tiếng Việt đã liên lạc với Ngân hàng Trung ương Úc hôm 23/05 và được xác nhận là cảnh sát Úc sẽ vào cuộc.

The Age, đặt ở Melbourne, cáo buộc những môi giới viên cho hãng Securency đã “trả hàng triệu đôla tiền hoa hồng cho công ty CFTD của Việt Nam, có công ty con Banktech thuộc quyền quản lý của con trai Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam vào lúc ngân hàng trung ương quyết định chuyển sang loại tiền polymer năm 2002”.

CFTD là công ty đã tham gia việc thực hiện bộ tiền mới và cung cấp vật tư, thiết bị in tiền ở Việt Nam.

Điều tra năm 2007 của Thanh tra Chính phủ Việt Nam nói việc con trai ông Lê Đức Thúy, Thống đốc NHNN lúc đó, có thời gian làm cho Banktech “tuy không trái quy định của pháp luật, nhưng đã gây nghi ngờ về sự khách quan, minh bạch”.

Cảnh sát Úc vào cuộc

Ngày hôm nay, Securency đã ra thông cáo liên quan bài viết trên The Age.

Thông cáo nói: “Một bài báo của The Age hôm nay tố cáo Securency đã trả tiền cho người môi giới mà tiền này lại có thể bị dùng để lo lót cho các viên chức chính phủ nước ngoài.”

“Mặc dù The Age không nói Securency dính líu hối lộ, nhưng Ban Quản trị của Securency xem các cáo buộc là nghiêm trọng. Ban Quản trị đã thảo luận cáo buộc với Cảnh sát Liên bang Úc, và chuyển cáo buộc cho Cảnh sát để điều tra.”

Securency International Pty Ltd là liên doanh giữa Ngân hàng Trung ương Úc và một công ty đặt ở Anh.

Ban Quản trị đã thảo luận cáo buộc với Cảnh sát Liên bang Úc, và chuyển cáo buộc cho Cảnh sát để điều tra.

Thông cáo ngày 23/05 của Securency

Nói chuyện với BBC Việt ngữ hôm nay, bà Vanessa Crowe, Phòng báo chí của Ngân hàng Trung ương Úc (Reserve Bank of Australia), cho biết Ngân hàng nắm 50% cổ phần của Securency.

Bà nói thêm: “Trước hết, đây là vấn đề cho cảnh sát. Chúng tôi sẽ xem chuyện sẽ diễn tiến ra sao.”

Giới chức Ngân hàng vừa làm việc với cảnh sát sáng nay (giờ Úc), và BBC được cho biết cuộc điều tra có thể sẽ bắt đầu ngay trong thứ Hai tuần sau.

Ông Bob Rankin, Chủ tịch của Securency, nói với Reuters qua điện thoại rằng công ty sẽ áp dụng mọi hành động cần thiết nhưng không bình phẩm liệu nó có bao gồm việc cắt đứt quan hệ với đối tác kinh doanh nào không.

Reuters trích lời ông: “Chúng tôi trông chờ báo cáo từ AFP (Cảnh sát Liên bang Úc) sau kết quả điều tra. Dù phát hiện có thế nào cũng sẽ giúp chúng tôi có phản ứng phù hợp.”

‘Lo lót’

Hai phóng viên điều tra Richard Baker và Nick McKenzie của The Age viết rằng một số người môi giới của Securency “gần gũi với chính phủ hoặc viên chức ngân hàng trung ương ở các nước bị Transparency International xếp hạng là rất tham nhũng”.

Ngoài cáo buộc về Việt Nam, The Age nói những kẻ trung gian đã “trả khoản tiền lớn cho công ty ở London Contec Global, mà công ty này bị cuộc điều tra tham nhũng chính thức của Uganda cáo buộc có quan hệ mờ ám với một bộ trưởng Uganda bị buộc tội ‘ngụy trang và vận động’ cho công ty”.

Những người môi giới cho Securency cũng bị cáo buộc dính líu các phi vụ hối lộ ở Nam Phi và Ấn Độ.

The Age không ám chỉ Securency “tham gia hối lộ, nhưng hoạt động của hãng với những kẻ môi giới ở những nước dễ xảy ra tham ô dấy lên lo ngại về thủ tục đối phó rủi ro của hãng”.

Thông tin liên quan đến tiền polymer một hồi gây xôn xao dư luận Việt Nam

Tờ báo dẫn lời người bên trong Securency nói rằng hãng này đặt ra khoản thù lao cho việc môi giới hợp đồng lên đến 10-20%, trong khi mức tiêu chuẩn chỉ là 2-6%.

Một thông cáo của Securency gửi cho The Age nói hãng này có quy trình nghiêm ngặt khi bổ nhiệm môi giới viên, bao gồm kiểm tra của Ủy ban Thương mại Úc (Austrade) và tuân thủ các công ước chống tham nhũng quốc tế.

Securency nói những người môi giới của họ đều đã ký thỏa thuận nghiêm cấm trả tiền cho các viên chức và chính trị gia nước ngoài.

Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Úc Ric Battellino nói với The Age rằng ông sẽ yêu cầu Securency phải trả lời ngay về việc sử dụng người môi giới.

Polymer ở Việt Nam

Cáo buộc của báo The Age hâm nóng lại cuộc tranh cãi quanh đồng tiền polymer ở Việt Nam ba năm trước đây.

Một số bài báo trong giai đoạn này chuyển đi các thông điệp rằng tiền polymer chất lượng kém và giá thành cao và đề cập tới sự liên hệ trong khâu in tiền ở một công ty có sự tham gia của ông Lê Đức Minh, là con trai Thống đốc Lê Đức Thúy.

Tháng Mười 2006, ông Lê Đức Thúy, khi đó còn là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đã phải ra thông cáo dài giải thích với công luận.

Ông Lê Đức Thúy nói từ khi phát hành bộ tiền mới, cùng với những kết quả trong đấu tranh với tội phạm buôn bán tiền giả, tình hình tiền giả trong lưu thông đã giảm xuống.

Nhưng thông cáo không nhắc gì đến các tin đồn rằng con trai của thống đốc, ông Lê Đức Minh, có công ty liên quan đến công nghệ in tiền.

Ông Lê Đức Thúy Điều tra của chính phủ Việt Nam năm 2007 nói có ‘nghi ngờ về tính khách quan’ của ông Lê Đức Thúy

Khi đó, một đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang, bà Nguyễn Thị Việt Nhân, cáo buộc bà từng nhận được những tài liệu do chính các cán bộ cấp dưới của ông Thúy đưa cho, có cả hình ảnh tố cáo vai trò môi giới của ông Lê Đức Minh, phó giám đốc công ty BankTech.

Đến tháng Sáu 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu ông Lê Đức Thúy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cùng các Phó Thống đốc làm kiểm điểm sau khi có kết luận thanh tra nhiều nội dung tại cơ quan này.

Mặc dù nội dung trong báo cáo thanh tra của của chính phủ nói rằng không thấy có vấn đề về tham nhũng hay gây ra hậu quả xấu về kinh tế thì các cụm từ như phát hiện một số vi phạm, khuyết điểm cũng như việc NHNN không lấy ý kiến cơ quan chức năng là trái với qui định cho người ta thấy phần nào về mức độ nghiêm trọng.

Báo cáo cũng nói đề án Bộ tiền in bằng chất liệu polymer là một công việc được mô tả là hệ trọng của ngân hàng nhưng không được thống đốc Lê Đức Thúy, Bí thư Ban cán sự đảng, đưa ra thảo luận trong tập thể lãnh đạo và chính trong ban cán sự đảng.

Thanh tra kết luận việc sử dụng tiền mới bằng giấy polymer không gây ra hậu quả xấu về kinh tế, tuy vậy, phê bình ông Thúy đã chỉ trình Thủ tướng về dự án tiền giấy polymer trong khi đề xuất của NHNN có nhắc đến lựa chọn giấy cotton.

Báo cáo của thanh tra chính phủ kết luận rằng việc tham gia của con ông Thống đốc, Lê Đức Minh, vào dự án in tiền tuy không trái qui định của pháp luật nhưng đã gây sự nghi ngờ về tính khách quan, minh bạch của Thống đốc Lê Đức Thúy.

Vừa có thêm tiết lộ mới liên quan đến số tiền trao tay đối tác Việt Nam từ công ty Securency của Úc.

Cảnh sát liên bang Úc xác nhận với Ngân hàng Trung ương nước này rằng họ đang điều tra cáo buộc công ty cung cấp vật liệu in tiền polymer Securency của Úc ‘hối lộ’ đối tác Việt Nam để giành hợp đồng.

Báo The Age số ra tại Melbourne nói Securency đã trả các khoản tiền hoa hồng lớn, ít nhất 10 triệu AUD, vào tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ của công ty Kỹ thuật và Phát triển, CFTD, trụ sở tại Hà Nội.

Tin nói rằng công ty CFTD có công ty con là BankTech, mà ông Lê Đức Minh, con trai của cựu thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy, làm giám đốc.

Theo The Age, bằng cách bắt mối với một công ty trong nước, nơi có con của cựu thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm việc, năm 2002 Securency đã giành được hợp đồng in tiền polymer cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Ngân hàng trữ kim Úc, RBA, sở hữu một nửa Securency, công ty chuyên làm vật liệu in tiền polymer trụ sở tại Melbourne. Hiện công ty này cung cấp nguyên liệu làm tiền polymer cho 26 quốc gia.

Cảnh sát liên bang Úc đang điều tra Securency về các khoản tiền họ trả cơ quan, hay cá nhân nước ngoài nhằm kiếm hợp đồng in tiền.

Điều tra của báo The Age cho thấy một số đối tác của Securency ở nước ngoài đang bị nước sở tại điều tra về tham nhũng. Cũng có cáo giác Securency đã trả tiền hoa hồng cho ‘đại lý’ vào tài khoản ngân hàng tại quốc gia hoạt động theo nguyên tắc bảo mật và miễn thuế.

The Age lập luận việc Securency dùng các khoản hoa hồng lớn, trả cho đại lý ‘giao dịch’ tại các quốc gia được biết đến với vấn nạn tham nhũng đã làm xuất hiện cáo buộc công ty dùng tiền hối lộ để giành hợp đồng làm ăn.

Luật của Úc không những áp dụng cho việc làm bên trong nước Úc mà còn bên ngoài lãnh thổ Úc, liên hệ đến một công ty của Úc

Luật sư Lưu Tường Quang – Sydney

Luật sư Lưu Tường Quang cựu viên chức chính phủ Úc, hiện đang cư ngụ tại Sydney cho rằng luật chống tham nhũng của Úc rất chặt, và chúng có đủ thẩm quyền điều tra hành vi của công ty Úc ở nước ngoài.

“Luật chống tham nhũng của Úc rất chặt chẽ. Nó có quy định trong hình luật, criminal act, của liên bang và của các tiểu bang. Điểm thứ hai trong các luật lệ về sinh hoạt tài chánh và giao dịch ngân hàng, chủ đề trong sáng, theo đúng thủ thuật của luật pháp được quy định một cách rất rõ ràng.”

Ông Quang, từng là cựu giám đốc hệ thống Radio SBS của Úc, nói đến sự nối dài ra hải ngoại bộ luật chống tham nhũng của Úc.

“Mặc dầu việc làm của công ty Securency, nếu được chứng minh, nó có thể xảy ra ở nước ngoài nhưng luật lệ của Úc vẫn áp dụng trong trường hợp này. Luật của Úc không những áp dụng cho việc làm bên trong nước Úc mà còn bên ngoài lãnh thổ Úc, liên hệ đến một công ty của Úc.”

Đại lý đại diện

The Age trích lời Myles Curtis, giám đốc điều hành Securency, xác nhận mối liên hệ giữa Securency và công ty CFTD, trụ sở tại Hà Nội.

“Hoạt động của CFTD trong giai đoạn đầu chỉ liên quan đến phiên dịch hồ sơ giấy tờ và là cầu nối liên lạc với Ngân hàng Nhà nước tại Việt Nam.”

Trong khi đó Ron Marchant giám đốc Á châu của Securency cho báo The Age biết thêm về hoạt động của CFTD: “Họ làm các công việc khác nữa. Ví dụ chúng tôi muốn có cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước. Hoặc tới thăm xưởng in tiền, chúng tôi gọi điện và yêu cầu họ dàn xếp,”

“Rồi họ đón người ở sân bay, đặt chỗ khách sạn, xin cuộc hẹn cho chúng tôi, những thứ mà một đại diện hay làm.”

Ông Marchant nói thêm ông không giao dịch với con trai của cựu thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Và cũng không biết BankTech, công ty con của CFTD, nơi ông Lê Đức Huy làm giám đốc.

Tuy nhiên The Age cho hay tài liệu của BankTech có hàng chữ nói rằng Securency là một trong các đối tác nước ngoài của họ. BankTech cũng là công ty cung cấp độc quyền nguyên liệu cho dự án tiền polymer tại Việt Nam.

Nhìn chung luật pháp tại Úc chặt chẽ, trong khi luật lệ các quốc gia đang phát triển đôi khi lỏng lẻo, làm sao công ty Úc tránh khỏi cám dỗ bỏ tiền ‘bôi trơn’ mối quan hệ để kiếm hợp đồng làm ăn?

Luật sư Lưu Tường Quang tin rằng công ty Úc cần tuân theo nguyên tắc hành xử trong giao dịch của Tổ chức thương mại thế giới WTO.

“Lập luận của nước Úc là tất cả các nước thành viên của tổ chức thương mại quốc tế, WTO, cần tuân thủ quy định của WTO, trong đó có các chủ đề như trong sáng về luật pháp, áp dụng chế độ pháp trị, và các biện pháp chống tham nhũng,”

“Úc muốn giải quyết tham nhũng từ nơi nó nó đang xảy ra, chứ không giải quyết bằng cách là các quốc gia tân tiến thay đổi luật lệ để chấp nhận thực tế, là muốn làm được việc, muốn đầu tư, muốn trao đổi thương mại tại các quốc gia đang theo chế độ cộng sản thì phải bỏ đi cái phần trong sáng, cái phần nghiêm khắc của luật pháp.”

May 27, 2009

Nhận định về năng lượng của chính phủ Hoa Kỳ.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:21 am
Tags: ,

Điểm chính

. Gia dầu thô năm ngoái trung bình khoảng $100 một barrel. Kinh tế thế giới suy thoái đã đẩy dầu xuống còn $53 trong năm nay. Thế giới tiên đoán là kinh tế phục hồi vào năm 2010 giá trung bình của dầu lên trở lại $63 một barrel.

. Giá xăng loại “regular” tăng từ đầu năm và hiện nay khoảng $2 một gallon. Mặc dầu nó gia tăng chậm chạp nhưng đều đặn cùng chiều với giá dầu và với giá “margin” lời của các công ty lọc dầu. Vào mùa hè năm nay, giá xăng dự đoán khoảng $2.23 một gallon, giảm xuống $1.60 so với năm ngoái.

. Năm nay tổng số dầu khí tiêu thụ được tiên đoán sẽ đi xuống 2% và đã đẩy giá dầu khí xuống thấp nhất trong một thời gian kỷ lục. Nhìn vào bên phía các kỹ nghê nặng thì số lượng tiêu thụ dầu khí đi xuống 7% vì kinh tế suy thoái nhưng bên các nhà máy điện thì số lượng tiêu thụ dầu khí tăng 1% vì giá dầu khí quá rẻ đủ để họ cắt giảm dùng than và thay thế bằng dầu khí để sản xuất điện.

Hiện thưc

Nhiều người hiểu biết trong kỹ nghệ năng lượng tự hỏi là tại sao chúng ta tiêu dùng dầu và dầu khí để nấu ăn, sưởi ấm, máy lạnh và cho mọi đồ dùng hằng ngày nhưng tại sao chính phủ Hoa Kỳ và Tây Phương không chú trọng đầu tư vào nó mà chỉ để tư nhân và các quốc gia cung cấp dầu mà đa số là các chính phủ độc tài, thiếu dân chủ quyết định giá dầu. Trong tất cả nguồn năng lượng thì dầu khí là được nghĩ tới nhiều hơn cả chỉ vì nó được liệt vào một nguồn năng lượng tốt nhất mà thải ra rất ít carbon-dioxide.. Gía dầu khí đã rơi xuống trước khi có cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, thấp tới một giá kỷ lục và chỉ mới được đứng lại cách đây hai tuần.

Không một ai có thể chối cãi là gió và năng lượng mặt trời là một nguồn năng lượng xanh và rất “sạch”. Nhưng nó không phải là nguồn năng lượng để con người có thể hoàn toàn lệ thuộc. Bởi vì gió không phải lúc nào cũng có và mặt trời không có vào ban đêm hay những ngày mưa bão để có thế sản xuất năng lượng cho chúng ta. Chúng ta vẫn phải tùy thuộc vào các nguồn năng lượng “dơ” hiện nay là chính.

Chính quyền Obama quyết tâm chú trọng vào năng lượng xanh và nó được đặt trọng tâm trong chính sách về năng lượng trong 4 năm tới. Do đó không lấy làm ngạc nhiên khi thấy trong cuộc hội thảo của EIA năm nay họ không nói đến dầu, dầu khí, than và nguyên tử. Cái đáng ngạc nhiên là lý luận đằng sau chính sách này. Theo bảng tường trình của bộ Năng Lượng Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ vẫn còn lệ thuộc 93% vào bốn nguồn năng lượng “dơ” nêu trên và dẫu cho đến 2030 thì Hoa Kỳ vẫn còn lệ thuộc hơn 90% vào nguồn năng lượng “dơ.” Tại sao chúng ta vẫn phải tùy thuộc vào năng lượng “dơ” trong nhiều thập niên kế tiếp? Chỉ vì rất nhiều các quốc gia chưa phát triển sẽ có cơ hội tiến triển và nguồn cung cấp năng lượng chính cho họ vẫn là năng lượng “dơ” vì nó rẻ để tiêu dùng. Nhìn lại vào năng lượng xanh, Chúng ta vẫn chưa thấy có sự tiến triển vượt bực của năng lượng “xanh” nào để có thể thay thế nguồn năng lượng dơ hiện nay cho dù tham vọng của chính sách năng lượng của Hoa Kỳ hiện nay như thế nào.

Nếu vì bất kỳ một cuộc xung đột nào xẩy ra tại Trung Đông thì Hoa Kỳ vẫn sẽ tiếp tục trôi vào một thòi kỳ khủng hoảng năng lượng ngay lập tức. Hiện nay Hoa Kỳ đang trọng tình trạng khủng hoảng Kinh Tế. Chính sách tài trợ cho kỹ nghệ tài chánh và ngân hàng dựa thật lớn vào tiên đoán là giá dầu sẽ tiếp tục thật thấp. Nhưng gần đây mặc dầu thất nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng và chưa thấy sẽ được phục hồi trong năm 2009 và 2010 thìi giá xăng tiếp tục gia tăng chậm chạp nhưng có vẻ rất chắc chắn. Nó có thể đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào một điều kiện mà không một ai ở Washington có đủ khả năng và kinh nghiệm để chống đỡ, đó là lạm phát về nhiên liệu và giảm phát về lương bổng. chi tiêu.

Thực tế là trong bảng tường trình chính thức của Ủy Ban về Năng Lượng của chính phủ Hoa Kỳ, chúng ta được tiết lộ là:

. Mặc dầu nguồn dầu dự trữ của các quốc gia trong tổ chức Organization for Economic Cooperation and Development (OECD) cao hiện nay nhưng giá dầu vẫn tiếp tục đi lên.

. Tổ Chức của các quốc gia sản xuất dầu Organization of the Petroleum Exporting Countries (OPEC) đã thành công trong việc cắt giảm sản xuất nhiên liệu và rất thành công trong việc kiểm soát giá dầu.

. Viễn ảnh của các nhà đầu tư trong Thị Trường Chứng Khoán, những lời phát biểu của The FED và chi tiêu của chính quyền Obama đẩy cho mọi người có cảm giác là Kinh Tế đang phục hồi và làm cho Thị Trường Năng Lượng trở nên đắt đỏ hơn. Nhưng trên thực tế thì Kinh Tế thế giới vẫn còn cần nhiều thời gian và nhiều hỗ trợ tài chánh để tiếp tục hoạt động một cách cầm chừng. Điều mà làm mọi người sợ hãi hiện nay là giá cả năng lượng sẽ đi lên.

. Nguồn tiêu thụ: Thế giới tiêu thụ đi xuống 1.35 triệu barrels cho mỗi ngày trong năm 2009 so với năm 2008. Dựa vào con số này. bảng tường trình cho chính phủ Hoa Kỳ thấy là GDP đi xuống 0.8% trong năm nay. Cho năm 2010, thì con số tiêu thụ sẽ gia tăng 1.1 triệu barrels cho mỗi ngày và GDP tăng 2.6% theo dự tiính là kinh tế sẽ cải thiện hơn. (Xem hình phía dưới)

. Nguồn sản xuất từ các nước không nằm trong OPEC: Số lượng sản xuất của các quốc gia này sẽ khoảng bằng năm ngoái. Hoa Kỳ, Brazil, và Azerbaijan gia tăng sản suất nhưng ngược lại các quốc gia Mexico, the North Sea (Anh, Dutch, Norway), và Russia lại sản xuất ít đi. Nói chung, các nước không trong tổ chức OPEC tiên đoán là họ sẽ sản suất khoảng 260,000 bbl/d (*) trong năm 2010

. Nguồn sản xuất từ các nước OPEC: OPEC đã không thay đổi số lượng sản suất dầu trong tháng trước vì sợ rằng nó sẽ làm kinh tế thế giới đi xuống. Dự đoán là OPEC sản suất dầu thô xuống 1.1 triệu bbl/d trong Quý IV năm 2008 tức là khoảng 30.6 triệu bbl/d. Trong Quý I năm 2009 con số này xuống 2.1 triệu bbl/d tức là khoảng 28.5 triệu bbl/d. Trong Quý II năm 2009 con số này không thay đổi nhiều. Và dự đoán nó sẽ ra tăng lên và ước tính khoảng 28.5 triệu bbl/d trong quý IV năm 2009.

. Số lượng dự trữ: Năm 2008 là 2.68 tỉ barrels cho 56 ngày. Trong năm 2009 thì số lượng dự trữ đã gia tăng thêm nhưng con số chưa được nói ra.

Chính sách năng lượng của Hoa Kỳ nằm trong hoàn cảnh kinh tế khủng hoảng hiện nay.

Cho dù chính phủ Obama đặt trọng tâm vào năng lượng “xanh”. Hoa Kỳ vẫn chưa thay đổi sự lệ thuộc của mình vào các năng lượng “dơ”. Qua bảng tường trinh, chúng ta thấy mặc dù có sự giảm thiểu về dầu và dầu khí nhưng sự giảm thiểu này hoàn toàn bị ảnh hưởng của kinh tế chứ không phải chính sách năng lượng “xanh”:

. Tiêu thụ: Năm 2008 con số này giảm 1.3 triệu bbl/d hay 6.1% so với năm 2007. Cho năm 2009 được ước tính đi xuống thêm 430,000 bbl/d hay 2.2% vì kinh tế vẫn tiếp tục suy thoái. Năm 2010 thì được suy đoán là gia tăng thêm 2700,000 hay 1.4% vì kinh tế có thể phục hồi.

. Sản suất: Năm 2008 đi xuống 110,000 bbl/d vì nhiều con bão đánh vào Hoa Kỳ. Năm 2009 sản suất đi lên 440,000 bbl/d tức là 5.40 million bbl/d. Theo dự đoán thì con số này sẽ tăng thêm 150,000 bbl/d nhờ vào hai giàn khoan vĩ đại tai Vịnh Mexico là
Thunder Horse – làm chủ bởi BP (75%) và ExxonMobil (25%) – và giàn khoan Tahiti – làm chủ bởi Chevron.

. Giá dầu: trong tình trạng kinh tế hiện nay và số lượng sản suất dầu của thế giới, tổ chức EIA tiên đoán giá dầu là $53 một barrel cho năm 2009 và %63 cho năm 2010. Nếu tình trạng kinh tế hồi phục lẹ hơn, nếu các quốc gia không phải OPEC cắt giảm sản suất, hay OPEC kiểm soát chặt chẽ số lượng dầu sản suất thì giá dầu sẽ phải thay đổi nhanh chóng.

. Giá xăng: Loại regular giá là $3.26 một gallon trong năm 2008 đã đi xuống là $2.17 năm 2009 và dự đoán là sẽ tăng lên 11.5% là $2.42 cho năm 2010. Giá diesel là $2.3 một gallon trong năm 2009, dự đoán là đi lên $2.69 một gallon trong năm 2010. Có một điểm khác biệt là nhu cầu của diesel được tiên đoán là sẽ đi xuống do đó giá diesel có thể sẽ đi xuống dưới giá xăng vào mùa hè năm nay.

Dự đoán cho xăng dầu cho mùa hè năm nay.

Mùa hè năm nay, nhu cầu xăng dầu được tiên đoán là đi xuống so với năm ngoái. Dự đoán phía dưới cho thời gian 01 tháng 04 đến 30 tháng 9 năm 2009.

. Giá cả: Mùa hè năm ngoái giá xăng là $3.81 một gallon thì được đoán cho mùa hè năm nay là $2.23 một gallon. Diesel khoảng $4.37 một gallon mùa hè năm 2008, thì được ước tính là $2.27 cho năm 2009.

. Thành phần và Phẩm chất xăng dùng cho xe cộ: Thông thường nhu cầu cho xăng thường gia tăng thêm 1% hay khoảng 9.1 triệu bbl/d. Mùa hè năm ngoái số lượng xăng đi xuống vì bão và giá cao. Xăng được bán trên thị trường từ 4 nguồn: Từ nhà máy lọc dầu. Sản suất trong nước, Nhập cảng từ ngoại quốc, nhập cảng hay sản suất trong nước ethanol (10%) blending.

. Blending Ethanol: từ 437,000 bbl/d mùa hè năm 2007 được gia tăng lên 635,000 bbl/d mùa hè 2008, ầv dược tiên đoán là 670,000 bbl/d cho mùa hè năm nay.

Dầu khí

Nhu cầu của dầu khí dự đoán sẽ đi xuống 1.8% năm 2009 và sẽ không thay đổi cho năm 2010. Theo con số tường trình thì kinh tế trong tình trạng suy thoái, nhu cầu dầu khí được dùng trong kỹ nghệ sẽ đi xuống 7.4% trong ănm 2009. Nhưng nhu cầu của dầu khí trong các đơn vị gia cư thì lại tăng lên. Trong kỹ nghệ điện, thì giá dầu khí quá rẻ đủ để thay cho than, do đó nhu cầu về dầu khí trong kỹ nghệ nằy tăng 0.7%. Không có dự đoán cho năm 2010 vì không có data chính xác kinh tế sẽ phục hồi ra sao.

. Sản suất: Hoa Kỳ sản suất ít đi 0.3% trong năm 2009 và 1.0 năm 2010. Tổng số rigs khoan cho dầu khí trong nội địa Hoa Kỳ năm 2008 là ~1600 nhưng đi xuống là ~800 vào tháng 4 năm nay. Không cứ Hoa Kỳ và Mexico cắt giảm sản suất, các quốc gia sản suất dầu khí cũng có hành động tương tự. Mặc dù có những tiên đoán về kinh tế sẽ đổi chiều vào năm tới và giá dầu khí có thể lên cao, tổng số dầu khí được sản suất cho năm 2010 vẫn có chiều hướng đi xuống.

. Liquefied Natural Gas (LNG): Nhập cảng LNG đi xuống 480 billion cubic feet (Bcf) năm 2009, từ 352 Bcf năm 2008 chỉ vì kinh tế thế giới suy thoái và các nước Trung Đông căt giảm. Viễn ảnh nhu cầu nhập cảng LNG của Hoa Kỳ sẽ đi xuống khoảng 11% năm 2009.

. Dự trữ: Trong tháng 4, dầu khí được dự trữ là 1,674 Bcf (U.S. Working Natural Gas in Storage), như vậy có nghĩa là hiên nay Hoa Kỳ có trên 310 Bcf so với dự trữ trung bình tính từ năm 2004 đến năm 2008. Đây là con số kỷ lục đứng hàng thứ hai nếu được so sánh từ năm 1991.

. Giá cả: Thường thì giá dầu khí được bán trên Thị Trường là Henry Hub spot, vào tháng 3 nó được bán ra với giá $4.08 cho một Mcf thấp hơn tháng Hai nhưng trong tuần rồi thì đã lên cao. Hai lí do chính dầu khí đi xuống: Thứ nhất: Kinh tế suy thoái. Thư hai: sản suất quá nhiều. Gia sẽ được đi lên vào mùa thu khi nhu cầu gia tăng. Tiên đoán cho năm 2010 là sẽ đi lên vì nhiều lí do: Kinh tế phục hồi, khai thác dầu khí cắt giảm, tín dụng cho các dự án của các công ty sản suất bị cắt giảm hay không có sẽ đẩy giá dầu khí đi lên rất mạnh trong ngắn hạn. Nhưng mặt khác nhập cảng LNG có thể quân bình nhu cầu về dầu khí.

Chính sách về năng lượng của Hoa Kỳ hiện nay là một chính sách “không chính sách”. Nó tùy thuộc hoàn toàn vào tình trạng kinh tế. Nếu kinh tế phục hồi và lạm phát được kiểm soát, thì năng lượng không là một điều lo sợ, Nhưng nếu kinh tế vẫn tiếp tục đi vào suy thoái thêm và lạm phát gia tăng thì nó sẽ là điều mà không ai có thể hình dung được và chắc chắn là không một ai tại Wahington có kinh nghiêm để cứu chữa nó.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

* Chữ viết tắt BPD, bbl/d, bpd, bd or b/d đều có một nghĩa là Barrel per day (Một thùng một ngày).

May 25, 2009

Sống bám thương hiệu lớn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:27 am
Tags: , ,

Một nhà nghỉ tư nhân quy mô nhỏ chỉ 12 phòng bỗng làm ăn phát đạt, lượng khách tăng mạnh khi treo biển nhái thương hiệu của một ông lớn trong làng viễn thông VN.

Nằm ngay mặt tiền phố Trần Duy Hưng, Hà Nội, nhà nghỉ dễ thu hút tầm mắt người qua đường với tấm biển to sơn đỏ đề dòng chữ “Nhà nghỉ” kèm theo logo của tập đoàn viễn thông nọ. Nhiều người tưởng đại gia có tiếng trong làng viễn thông và công nghệ thông tin Việt Nam này chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới. Thế nhưng, theo tìm hiểu của VnExpress.net, nhà nghỉ này không có bất kỳ quan hệ nào với tập đoàn viễn thông này.

Ông chủ nhà nghỉ cho biết ý tưởng mượn tên xuất hiện từ khi cổ phiếu của đại gia nổi như cồn trên sàn chứng khoán Việt Nam hồi năm 2007. Tuy nhiên, mãi tới cuối tháng 11/2008, ông chủ mới quyết định chuyển từ tên Sóng Hồng sang dùng thương hiệu nổi tiếng cho khu nhà nghỉ bình dân của mình, sau khi đã cơi nới, sửa sang phòng ốc cho đẹp đẽ và bắt mắt.

Nhiều thương hiệu mạnh đều có nguy cơ bị nhái. Ảnh: thuonghieu.

Việc đổi tên được lý giải là nhằm kích thích sự tò mò của khách hàng khi đến đây. Quả thực, lượng khách đã tăng lên đáng kể, công suất sử dụng cũng cao hơn gần gấp đôi bình thường. Những ngày lễ, Tết, 12 phòng nghỉ tại đây đều chật kín người thuê. Để không hổ danh “thương hiệu lớn” nhà nghỉ này cũng liên tục cơi nới, nâng cấp phòng ốc cho rộng rãi, thoáng mát với sàn gỗ, điều hòa hai chiều, tủ lạnh, TV màn hình rộng, truyền hình cáp với 60 kênh.

“Chúng tôi không nhái thương hiệu của tập đoàn viễn thông nó, mà chỉ mượn chữ cái trong logo của họ. Màu sắc mỗi chữ cũng khác, không phải giống hệt của họ”.

Đại gia viễn thông lại không nghĩ như vậy. Ông lớn cho rằng sử dụng logo công ty như trên đã ảnh hưởng đến uy tín của tập đoàn vì toàn bộ logo, màu sắc và tên gọi đã được đăng ký bản quyền. Công ty sẽ yêu cầu phía nhà nghỉ hạ biển và “dọa” sẽ khởi kiện nếu tấm biển kia không được di dời.

Một khách sạn nổi tiếng nằm ở khu vực quận Tây Hồ (Hà Nội) cũng bị mượn tên tuổi mà không biết. Đầu năm nay, cách khách sạn chỉ vài bước chân, bỗng mọc lên một quán karaoke có tên và logo y chang khách sạn. Mở hàng được vài hôm, khách khứa tấp nập ra vào, song không hiểu sao chủ quán lại đổi sang tên mới, song khối logo tròn vẫn giữ nguyên, treo ngay cửa ra vào.

Đại diện khách sạn khẳng định họ không đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ giải trí như vậy. “Song nhỡ báo chí đăng tin một quán karaoke mang tên gọi như vậy, uy tín của khách sạn cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Rất may là họ đã đổi tên”, vị đại diện truyền thông của khách sạn này nói.

Sự ra đời ồ ạt các doanh nghiệp mới trong thời gian gần đây đã làm nảy sinh vấn đề trùng tên, trùng nhãn hiệu, logo giữa các doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp sinh sau lấy trùng thương hiệu, logo của doanh nghiệp hoạt động trước không chỉ dừng lại ở sự nhầm lẫn mà cả một ý đồ xấu. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh ở vấn đề này còn mới.

Công ty TNHH Hiệp Long ở Bình Dương thành lập hơn 10 năm, thương hiệu đã được đăng ký bảo hộ. Nhưng đến 2007, công ty bỗng dưng phát hiện một doanh nghiệp ở Quảng Ngãi cũng lấy tên tương tự. Lãnh đạo khách sạn Majestic (TP HCM) cũng không khỏi giật mình khi phát hiện ở Vũng Tàu xuất hiện một khách sạn có tên Majestic.

Theo Cục Sở hữu Trí tuệ, một khi doanh nghiệp bị đơn vị khác đặt trùng thương hiệu, nhái logo, nên làm đơn khiếu nại gửi về Cục đề nghị giải quyết. Pháp luật sẽ bảo hộ cho thương hiệu, logo của người đăng ký trước hoặc sử dụng trước.

Luật sư Bạch Thanh Bình, Văn phòng Luật sư Phạm và Liên danh cho rằng về nguyên tắc, nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ theo ngành hàng. Giả dụ tập đoàn viễn thông trên đã được bảo hộ nhãn hiệu, và trong giấy phép đăng ký kinh doanh có chức năng kinh doanh dịch vụ lưu trú, khách sạn. Như vậy, nhà nghỉ trên đường Trần Duy Hưng đã xâm phạm nhãn hiệu. Ngược lại, nếu đại gia viễn thông kia không có chức năng kinh doanh dịch vụ lưu trú, khách sạn, một công ty khác kinh doanh lĩnh vực này vẫn có thể hoạt động với tên của công ty này.

Nhưng có một cách khác, doanh nghiệp nên bảo vệ quyền lợi của mình một khi thương hiệu bị copy. Đó là cách chứng minh sự nổi tiếng của thương hiệu. Khi đó, doanh nghiệp có quyền yêu cầu bảo hộ khi có người khác sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của mình, cho dù họ có kinh doanh cùng ngành hàng hay không. Doanh nghiệp cũng có quyền kiện nếu việc sử dụng đó gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng:

Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:

1. Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;

2. Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;

3. Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

4. Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

5. Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;

6. Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

7. Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;

8. Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.

Điều 129. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

1. Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

May 23, 2009

052109

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:51 am
Tags:

Tiền đâu bù thâm hụt ngân sách?– 052109

XCafe– Đó là lý do tại sao tôi không bao giờ rơi vào bẫy tranh luận về VNCH, từ khi tôi tham gia diễn đàn (đã chết) ở VNCR cách đây hai năm. Không phải là tôi sợ, nhưng đó là cách mà đám CAM luôn lèo lái ở bất cứ diễn đàn chống Cộng nào.
Những vấn đề rắc rối trong nền kinh tế VN đang hiển thị trong năm nay là những “delayed effects” từ sự yếu kém của nền kinh tế đi vào tình trạng trầm trọng ở hai năm 2007-2008. Như một kẻ trúng chưởng nhưng vẫn cố nén cho máu trong lòng ngực không khỏi “phun ra”, thì đây là lúc mà Đảng và Nhà Nước ta không thể nén được nhưng phải “phun.” Việc đồng tiền VN mất giá hiện nay, lẽ ra đã phải xuống giá từ 2008, khi lạm phát VN tăng 25%, nhưng đám cai trị vẫn muốn giữ giá tỉ lệ VND/USD cho những mục đích chính trị (bao gồm việc tuyên truyền cho lợi tức đầu người vượt được mức $1000/năm)
Sự phá giá của VND/USD hiện tại vẫn còn thấp, bởi CSVN không muốn số nợ mượn từ nước ngoài của Nhà Nước + Công ty Quốc Doanh sẽ tăng một cách nhanh chóng khi đồng tiền VN bị mất giá so với đồng đô. Thêm vào đó, Đảng và Nhà nước ta sợ rằng nếu giảm giá đồng VN, thì giá trị chứng khoán của các công ty đang niêm yết sẻ giảm sút theo đơn vị đồng đô, vốn vẫn là một trong những giá trị đo lường giá trị chính tại VN. Mà chúng ta ai cũng biết ai là người đang nắm giữ những cổ phần lớn nhất ở những công ty niêm yết này.
Một trong những mánh lới mà các công ty ở VN, mà đa phần chỉ có các công ty Nhà nước mới có thể tiếp cận, đang “xoay 8 tỉ USD tiền kích cầu” do Đảng và Nhà Nước ta cung cấp, là mượn tiền với tỉ lệ vay được “hỗ trợ lãi suất” và đem cho ngân hàng vay và ăn tiền chênh lệch.
Cách xoay tiền này như sau: công ty A được các ngân hàng nhà nước cho vay với tỉ lệ vay là 6%/năm, thay vì 10% theo tỉ lệ vay thông thường bởi 4% phân lời vay đã được nhà nước “hỗ trợ.” Công ty A này cho dù không có nhu cầu cần vay, vẫn đi vay không phải để phát triển công ty (bởi không ai mua hàng thì sản xuất thêm làm gì.) Thay vào đó, công ty A này đem tiền này cho ngân hàng vay với tỉ lệ 8%/năm, hưởng lợi 2% một cách đơn giản như “đang giỡn.” Nhưng chưa hết! Đây là mới là cái mánh lới hay vô tiền khoáng hậu: số tiền lãi phải trả trên phân lời 6% mà doanh nghiệp A phải trả, sẻ được “khấu trừ” để trả thuế thu nhập ít lại, trong khi tiền lời gửi ngân hàng tại VN hoàn toàn không phải trả thuế thu nhập (bất kể là doanh nghiệp hay tư nhân)
Hậu quả là Đảng và Nhà Nước ta đi mượn tiền (hay lấy tiền thuế của dân chúng nói chung) đem cho các công ty của Nhà Nước ta vay. Các công ty nhà nước dùng tiền mượn (được trợ giúp 4%) đem cho ngân hàng vay lại, ăn tiền chênh lệch 2% (hoặc nhiều hơn) đồng thời khấu trừ số tiền trả lãi để giảm thuế thu nhập.Và thế là thuế thu vào ngân sách lại sụt giảm bởi những khoản chiết khấu này.
Một trò chơi đơn giản đến thế, thử hỏi ai là những kẻ hưởng lợi từ vụ kích cầu này?- unknownVề KT VN thì CP VN quả thật đã rất mạnh tay cứu công ty, tập đoàn quốc doanh, để nay sắp cạn kiệt tiền, ngoại tệ dự trữ, lại không thể bán trái phiếu theo lãi suất dưới 9%.

Do đó trước cuối tháng 6 (cuối quý II), CP VN buộc phải tăng lãi suất trái phiếu lên trên 10% mới bán ra được, khởi đầu một cuộc chạy đua lãi suất không ai muốn, và không ai có lợi.

Giá mọi loại hàng tại VN đang và sẽ lên giá thật mau, mạnh, nhiều, vì CP VN tung rất nhiều tiền ra trong thời gian qua, không còn tiền dự trữ cứu ngân hàng nếu bị bank run.

Theo tin tôi có được, số tiền dự trữ bắt buộc do các ngân hàng đóng cho CP VN đã bị CP VN dùng tung ra cứu công ty, tập đoàn quốc doanh. Do đó nếu có bank run, cho dù nhỏ, CP VN cũng không có tiền đưa xuống cứu trợ, cho dù tạm thời và quy mô nhỏ.

Ít nhất 2 lần bán trái phiếu gần đây đều thất bại, do CP VN đưa ra lãi suất quá thấp. Hiện các ngân hàng đang trả trên 9% lãi suất, do đó muốn bán trái phiếu ra, CP VN phải đưa ra lãi suất trên 10%, từ đó càng nâng cao thâm hụt ngân sách vì phải trả giá cao cho nợ mới, lẫn nợ cũ sắp đến hạn phải trả, phải bán trái phiếu mới trả trái phiếu cũ đến hạn kỳ.

——————————————–

Lẽ ra KT VN, hệ thống ngân hàng VN, đã sụp đổ hồi năm ngoái. Chẳng qua CP VN dùng nhiều “quái chiêu” giải cứu như bán Tây nguyên, bán nhiều vùng tại Vũng tàu, Bà rịa để xây Casinos, toàn các việc bán tương lai mua hiện tại.

Cho dù vậy chỉ “mua” được vài tháng, cao lắm 1, 2 năm, khi mọi việc sụp đổ tới đây sẽ lại càng thê thảm khi quốc gia không còn gì để bán, dân chúng kiệt quệ của cái dành dụm, ngày nạn đói lan rộng càng đến gần cho dù không bị dịch cúm hoành hành.

Vấn đề nghiêm trọng nhất trước mắt sẽ là thâm hụt ngân sách, CP không thể mượn nợ mới trừ khi khởi động một cuộc chạy đua lãi suất – giá tiền VN sụt giảm – tăng thất nghiệp – tăng lạm phát.

Ván cờ đang đi vào hoạn lộ cho CP VN. Thấy đó, không muốn làm, nhưng hết cách khác. Biết tăng lãi suất là tự sát KT, nhưng không tăng thì không thể bán trái phiếu, không bán được thì không tiền trả trái phiếu cũ nay đáo hạn, không tiền trả lương công chức, không tiền bao cấp cho hàng ngàn công ty quốc doanh, hàng chục tập đoàn quốc doanh.

—————————————-

Tôi nhìn thấy trước từ năm ngoái, đã đưa ra khuyến nghị nên mượn nợ nước ngoài cứu KT – một hình thức kích thích KT giá rẻ vì lãi suất bằng zero hoặc rất thấp nếu muợn IMF hoặc làm currency swap – thay vì tự bán trái phiếu cứu KT.

Điều chính GS Krugman không nghĩ đến là, CP Mỹ tung tiền ra cho ngân hàng mượn với giá bằng ZERO, vì FED có quyền tạo ra tiền dễ dàng, lại không gây lạm phát (điều này khá phức tạp, tôi giải thích trước đây, phải mất hàng trang giấy), và ngân hàng Mỹ rất mạnh vốn, chỉ là có housing securities tạm thời khó bán.

Hoặc, FED không tạo ra tiền, nhưng CP Mỹ bán trái phiếu hàng ngàn tỉ USD với tiền lời 0,15%/ năm rất dễ.

Trong khi đó, (1) CP VN không thể tạo thêm tiền mà không gây lạm phát, và (2) CP VN nếu cần mượn tiền phải trả lãi suất theo giá thị trường, hôm nay không dưới 10%.

Do đó, CP VN muốn có tiền phải chi gấp 70 lần cao hơn CP Mỹ, phải trả ít nhất 10% thay vì 0,15% như Mỹ.

Chưa hết, do KT VN nhỏ hơn KT Mỹ 300 lần, giá trị trên GDP cho việc mượn 1 USD / GDP VN bằng giá trị GDP Mỹ trả cho 20 ngàn USD (70 lần x 300). Nói khác đi, CP Mỹ mượn 20 ngàn USD mới phải trả tiền lời theo tỉ lệ GDP bằng CP VN mượn 18200 VND.

————————————————

Đó là lý do tại sao Mỹ có thể bung 2000 tỉ USD ra cứu KT, nhưng CP VN không thể bung ra 7 tỉ USD theo tỉ lệ KT VN nhỏ hơn KT Mỹ 300 lần – ngoại trừ nếu CP VN mượn cấp tốc ít nhất 30 tỉ USD với tiền lời 1-2% hoặc không có lời (currency swap). Nhưng khi mượn về phải sử dụng đúng, nếu không lại gây nợ quốc gia ngập đầu trong khi số tiền mượn về chỉ cứu công ty, tập đoàn quốc doanh.

Không có số tiền này thì ngày VN bị phá sản quốc gia, hoặc ngày CP VN buộc phải phá giá VND theo tỉ lệ hàng chục lần đang đến gần.

CP không tiền cứu công ty, tập đoàn quốc doanh thì họ phải quỵt nợ ngân hàng, gây sụp đổ toàn hệ thống, dân chúng mất hết tiền gởi trong đó.

Vấn đề là, phá sản quốc gia hay phá sản hàng triệu công dân đang bị gạt vào cái Ponzi scheme do CP VN chủ xướng?

May 19, 2009

Những ‘thủ phạm’ của suy thoái kinh tế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:07 pm
Tags: , ,

Trong số 25 cái tên được điểm, có cả những nhân vật như 2 vị cựu tổng thống của Mỹ là Bill Clinton, George Bush và CEO các tập đoàn tài chính có ảnh hưởng nhất nước Mỹ.

Khi suy thoái tài chính thế giới dường như đã chạm đến đáy, người ta có thời gian kiểm nghiệm lại nguyên nhân sâu xa dẫn đến thảm họa kinh tế lớn nhất kể từ những năm 1930. Báo cáo về 25 nhân vật có “công” lớn nhất đối với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay vừa được tạp chí Time công bố.

1. Angelo Mozilo

Angelo Mozilo là cái tên đứng đầu trong danh sách “thủ phạm”. Ảnh: CNN

Là con trai của một người bán thịt, Mozilo trở thành đồng sáng lập Công ty Countrywide vào 1969 và nhanh chóng biến nó trở thành nhà cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ. Trong “phong trào” cho vay thế chấp dưới chuẩn, Countrywide đã giúp bất cứ người Mỹ nào cũng có thể vay tiền dù người đó chưa chắc có khả năng trả nợ. Sau khi bong bóng bất động sản tan vỡ, những món nợ khó đòi khiến Countrywide là một trong những công ty thua lỗ và sa thải nhân công sớm nhất. Mozilo bị dư luận và Quốc hội Mỹ chỉ trích mạnh mẽ khi vẫn điềm nhiên nhận khoản tiền thưởng hậu hĩnh khi kinh doanh thất bát. Đầu 2008, Mozilo ra đi sau khi bán Countrywide cho Bank of America lấy 4 tỷ USD.

2. Phil Gramm

Phil Gramm không thừa nhận vai trò của ông trong việc nhấn chìm thị trường chứng khoán. Ảnh: worldpress.

Phil Gramm ngồi ghế Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ cho đến năm 2000. Năm 1999, Thượng nghị sĩ Phil Gramm hô hào bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall Act lập từ sau Cơn Đại Suy thoái 1930. Đạo luật này tách bạch vai trò của ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, xuất phát từ quan điểm ngăn ngừa các ngân hàng đem tiền gửi của người dân “nướng” vào các canh bạc chứng khoán. Tuy nhiên, nhờ “công lao” của Phil Gramm, nó đã bị bãi bỏ và thay bằng Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai áp dụng từ năm 2000. Sản phẩm của Phil Gramm hủy bỏ sự kiểm soát của Ủy ban Giao dịch Tương lai Mỹ đối với các giao dịch phái sinh OTC như hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Phil Gramm nhanh chóng được các ngân hàng đầu tư tung hô. Tuy nhiên chỉ 8 năm sau, chính hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã hạ gục nhiều nạn nhân, trong số đó có nhà bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG. Tuy nhiên, hồi tháng 1/2009, Phil Gramm đã lên tiếng phản đối vai trò của ông trong suy thoái.

3. Alan Greenspan

“Thầy phù thủy” của nền kinh tế Mỹ đã mắc sai lầm. Ảnh: newsday.

Cựu Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan là một chuyên gia kinh tế dày dạn kinh nghiệm trên thương trường và là học trò cưng của nhà lý luận nổi tiếng người Mỹ Ayn Rand. Sau khi chèo chống vượt qua thời kỳ chứng khoán đen tối năm 1987 và đạt thành công vang dội suốt những năm 1990, ông được toàn nước Mỹ phong tặng danh hiệu Thầy phù thủy. Tuy nhiên, nguy cơ dần nảy nở từ đầu năm 2000, khi Greenspan áp dụng mức lãi suất siêu thấp và bãi bỏ sự kiểm soát đối với các định chế tài chính lớn. Hồi tháng 10 năm ngoái, ông phải cay đắng thừa nhận trước Quốc hội Mỹ rằng mình đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng khi ngộ nhận các hãng tài chính có thể tự kiểm soát hoạt động của họ.

4. Chris Cox

Chân dung cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ. Ảnh: worldpress

Cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) Chris Cox có thể viện cớ quanh co để phủ nhận vai trò của ông trong vụ lừa đảo lịch sử Bernard Madoff. Tuy nhiên, giới đầu tư không chấp nhận bất cứ bào chữa nào về sự tắc trách khi ông còn đương chức. Cox biện hộ rằng SEC không đủ quyền hành để hạn chế sự lạm dụng đòn bẩy tài chính, vốn là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Tuy nhiên, sự thật là Ủy ban Chứng khoán Mỹ hoàn toàn có khả năng nắm thông tin hoạt động của những ngân hàng lớn như Lehman Brothers và Merrill Lynch.

5. Người tiêu dùng Mỹ

Trước khi suy thoái xảy ra, hàng triệu người dân Mỹ đã đặt niềm tin mãnh liệt vào sự giàu có. Ảnh: chicstores.

Chính người tiêu dùng Mỹ cũng bị liệt vào hàng “thủ phạm” trong suy thoái toàn cầu. Người Mỹ bắt đầu chính sách thắt lưng buộc bụng từ quý III/2008 do lo sợ kinh tế sẽ yếu đi. Trong khi suốt 40 năm trước đó, thị trường Mỹ đã quen với phong cách thoải mái chi tiêu của người dân. Họ vay mượn để mua sắm, vay mượn để tiêu dùng và đặt niềm tin mãnh liệt vào sự giàu có của nước Mỹ. Tuy nhiên, vào thời điểm bong bóng chứng khoán và bất động sản tan vỡ cuối năm 2007, nợ tiêu dùng của người dân đã lên đến 130% so với mức thu nhập trung bình. Hàng triệu người Mỹ vỡ nợ và nhận ra họ đã không giàu có như đã tưởng.

6. Hank Paulson

Cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Hank Paulson. Ảnh: telegraph

Khi Hank Paulson rời ghế Chủ tịch Goldman Sachs để trở thành Bộ trưởng Tài chính Mỹ năm 2006, mối bận tâm lớn nhất của ông là làm thế nào để gây ảnh hưởng càng lớn càng tốt. Cuối cùng ông đã thành công, tuy nhiên đó không phải là ảnh hưởng tích cực. Vào cuối thời tổng thống Bush – con, ông đã một tay thao túng toàn bộ nền kinh tế Mỹ bằng các chính sách kinh tế. Kết quả của chúng là 3 sai lầm đã được các nhà phân tích đúc kết lại. Sai lầm đầu tiên là ông đã chậm chân trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Sai lầm nghiêm trọng tiếp theo của Hank Paulson là để Ngân hàng Lerman Brothers sụp đổ. Cuối cùng, người ta gọi gói cứu trợ tài chính trị giá 750 tỷ USD của vị cựu Bộ trưởng Tài chính chỉ là một đống hỗn độn tốn kém.

7. Joe Cassano

Chân dung Joe Cassano. Ảnh: worldpress.

Trước khi ngành tài chính Mỹ đóng băng, ít người biết đến khái niệm hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS). Đó là một loại hợp đồng bảo hiểm, trong đó một bên trả cho bên kia khoản phí để đổi lại được nhận bồi thường trong trường hợp vỡ nợ trái phiếu. Một trong số những người hiểu rất rõ bản chất của công cụ này là Joe Cassano, thành viên sáng lập bộ phận đầu tư tài chính của tập đoàn bảo hiểm AIG. Trong thời kỳ hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS đã đem lại cho AIG nhiều món lợi khổng lồ. Tuy nhiên, chúng trở thành rắc rối chính của người khổng lồ này khi thị trường bất động sản đi xuống và rủi ro tín dụng vùn vụt tăng cao. Cho đến nay, chính phủ Mỹ đã phải chi đến hơn 150 tỷ USD để duy trì sự sống cho AIG với quyết tâm không thể để tập đoàn này sụp đổ.

8. Ian McCarthy

Nhà kinh doanh bất động sản đầy mưu mẹo Ian McCarthy. Ảnh: rediff

Ian McCarthy được xem là thủ phạm lớn trong vụ sụp đổ thị trường nhà đất ở Mỹ. Là CEO của Công ty Bất động sản Beazer Homes, ông đã cho xây quá nhiều nhà, vượt ngoài khả năng tiêu hóa của người Mỹ. Để tiêu thụ hết số nhà đó, Ian McCarthy đã dùng đến vài mánh khóe. Một trong số đó là chiêu dối trá về khả năng trả nợ của khách hàng, khiến nhà băng sẵn sàng cho họ vay tiền mua bất động sản. Vụ việc của Ian McCarthy đang được FBI, Cơ quan phát triển Nhà của Mỹ và Cơ quan thuế IRS phối hợp điều tra.

9. Frank Raines

CEO gốc Phi đầu tiên trong danh sách Fortune 500. Ảnh: veja.abril.com.br

Khai sinh ra Ngân hàng Fannie Mae vào năm 1938 là Quốc hội Mỹ. Còn người đưa ngân hàng này đến với thành công là cựu Chủ tịch Jim Johnson. Nhưng thủ phạm chính khiến Fannie trở thành mối họa với kinh tế Mỹ là người kế nhiệm Jim Johnson, CEO Frank Raines. Frank Raines từng đứng trong bộ máy ngân khố thời Bill Blinton, và ông là CEO gốc Phi đầu tiên nằm trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới. Sau khi rời Ngân hàng vào 2004 sau một scandal, ông để lại sau lưng một mối họa tiềm ẩn với nền kinh tế Mỹ. Năm 2008, thua lỗ của Fannie cùng bạn đồng hành Freddie Mac đã lên đến 100 tỷ USD mỗi năm và bị buộc phải nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ Mỹ.

10. Kathleen Corbet

Kathleen Corbet những ngày hoàng kim. Ảnh: daylife

Corbet là người điều hành tổ chức đánh giá tín nhiệm lớn nhất và uy tín nhất nước Mỹ là Standard & Poor’s suốt một thập kỷ. Lợi dụng uy tín của mình, Kathleen Corbet đã dán nhãn “chất lượng cao” lên những khoản vay rủi ro nhất, khuyến khích nhà đầu tư lao đầu vào mua các giấy nợ đảm bảo bằng tài sản. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, những tờ giấy nợ này biến thành giấy loại không hơn không kém. Tiền là lý do duy nhất khiến bà làm ăn thiếu trách nhiệm. Một số nhà phát hành chứng khoán trả tiền cho Kathleen Corbet để cổ phiếu yếu kém của họ được chính S&P đảm bảo.

11. Dick Fuld

Dick Fuld đi giữa sự phản đối của người dân Mỹ trong phiên điều trần trước Quốc hội. Ảnh: Reuters

Từng nổi tiếng với biệt danh Gorilla của Phố Wall, CEO Dick Fuld là người có công đầu trong việc nhấn chìm Ngân hàng Lehman Brothers trong những phi vụ kinh doanh thế chấp dưới chuẩn. Lehman rót vốn cho các ngân hàng. Sau đó, đến lượt những ngân hàng này cung cấp khoản vay cho những người không có khả năng trả nợ. Lehman biến tiền thành trái phiếu và chuyển cho nhà đầu tư hàng tỷ USD nợ xấu. Trước khi Lehman phá sản, Dick Fuld nhanh tay tự thưởng cho mình 500 triệu USD.

12. Bill Clinton

Bill Clinton trong vai trò mới là diễn giả. Ảnh: bet

Nước Mỹ ở trong thời kỳ kinh tế thịnh vượng những năm Tổng thống Bill Clinton “trị vì”. Tuy nhiên, ông là người có công bãi bỏ và lập ra nhiều đạo luật, vốn làm nền móng cho những rắc rối gần đây. Năm 1999, ông quyết định bỏ luật Glass-Steagall Act, bài học sau thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930. Một năm sau đó, ông ký duyệt Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai. Hành động này đã cởi trói cho Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Năm 1995, Clinton nới lỏng quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật Tái đầu tư Công cộng. Điều luật gia tăng sức ép lên các ngân hàng, buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà. Các nhà phân tích vẫn đang không ngớt tranh cãi về vai trò của vị cựu tổng thống trong việc tạo ra một môi trường cho vay đầy rủi ro

13. Marion và Herb Sandler

Hai vợ chồng nhà Sandler. Ảnh: sfgate.

Vào đầu 1980, Ngân hàng Sandlers’ World Savings là nơi đầu tiên cung cấp những khoản vay mạo hiểm để mua bất động sản, với tên gọi vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), một dạng của vay dưới chuẩn. Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn để trả nợ và nhờ đó giảm bớt khoản tiền phải trả. Người đi vay sẽ phải chấp nhận rủi ro lãi suất tăng. Vào thời kỳ đầu khi vay, họ được hưởng lãi suất thấp hơn so với loại hình cho vay bình thường. Tỷ lệ vỡ nợ của loại hình cho vay này rất cao. Tuy vậy, Sandlers’ World Savings vẫn duy trì mô hình kinh doanh của họ thêm hai thập kỷ nữa bằng những quảng cáo gây nhầm lẫn. Cặp đôi Marion và Herb Sandler bỏ túi 2,3 tỷ USD khi họ bán Ngân hàng cho Wachovia. Năm 2008, đến lượt Ngân hàng Wells Fargo ôm gói thuốc nổ khi mua lại Wachovia.

14. George W. Bush

Cựu Tổng thống Mỹ George Bush. Ảnh: guardian

Các nhà đầu tư không biết phải nên cảm ơn hay oán trách cựu Tổng thống George Bush. Một mặt, ông đã ra nhiều quyết định cởi trói cho ngân hàng, các nhà môi giới thế chấp và sớm phát hiện, đề xuất các biện pháp kiểm soát chặt chẽ với hai đại gia cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac. Mặt khác, ông đã không thể thuyết phục Quốc hội đồng thuận với quan điểm của mình. Sau scandal của hãng năng lượng khổng lồ Enron, Bush đã ký duyệt đạo luật Sarbanes-Oxley nhằm bảo vệ nhà đầu tư và tạo những thay đổi quan trọng trong luật chứng khoán Mỹ kể từ sau Đại suy thoái 1930. Tuy nhiên, đạo luật này gần đây bị các nhà phân tích cho là đã cản trở tính cạnh tranh quốc tế cho các doanh nghiệp Mỹ. Và cuối cùng, chính Bush là người chứng kiến sự suy sụp của hệ thống tài chính Mỹ cũng như toàn thế giới trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra.

15. Stan O’Neal

Cựu CEO của Ngân hàng Merrill Lynch, Stan O’Neal. Ảnh: Bloomberg

Stan O’Neal giữ chức CEO tại Ngân hàng Merrill Lynch trong vòng 6 năm, kết thúc nhiệm kỳ vào 2007. Từ một ngân hàng thân thiện, Merrill Lynch được O’Neal cải tạo thành một kẻ tham lam, lún ngày càng sâu vào canh bạc mua bán nợ thế chấp có bảo đảm, hầu hết trong số đó là trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Tính đến tháng 6/2006, trị giá trái phiếu dưới chuẩn và nợ thế chấp trong tay Merrill Lynch đã lên đến 41 tỷ USD. Khi thị trường dưới chuẩn suy sụp, Merrill Lynch rơi vào khủng hoảng và sau đó bị Bank of America thâu tóm là điều không làm ai ngạc nhiên.

16. Trung Quốc

Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc ngày càng đóng vai trò quan trọng. Ảnh: zhaotongok

Việc Trung Quốc góp mặt trong danh sách “thủ phạm” chứng tỏ vai trò ngày càng lớn của nước này đối với kinh tế thế giới. Với nguồn tài sản dồi dào, Trung Quốc đã mua quá nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ trong suốt 8 năm trở lại đây. Nước này trở thành chủ nợ lớn nhất của nền kinh tế lớn nhất thế giới với giá trị tài sản nắm giữ lên đến 1,7 nghìn tỷ USD.

17. David Lereah

Chân dung David Lereah. Ảnh: idealista.

Nếu một chuyên gia nào đó nói vu vơ rằng thị trường bất động sản sẽ ngày càng phát triển, nhà đầu tư sẽ ít nhiều hoài nghi. Tuy nhiên, tuyên bố này được chính David Lereah, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà Kinh doanh Bất động sản Mỹ phát ngôn nên người ta tin ngay lập tức. Ông nhắc đi nhắc lại trong các buổi phỏng vấn truyền hình rằng nhà đất là một kênh đầu tư đúng đắn. Ông thúc giục mọi người vay tiền mua nhà trong cuốn sách “Có phải bạn đã bỏ lỡ cuộc bùng nổ Bất động sản” xuất bản năm 2005. Năm 2006, ông cũng tỏ chút thái độ hoài nghi nhưng chỉ sang đầu 2007, ông khiến nhà đầu tư tiếp tục vay tiền mua nhà sau tuyên bố: “Thị trường bất động sản đã vượt đáy”.

18. John Devaney

Ông chủ quỹ đầu cơ John Devaney. Ảnh: usatoday.

John Devaney là đại diện tiêu biểu nhất cho giới đầu cơ. Các quỹ này đóng vai trò to lớn trong lĩnh vực mua bán tài sản thế chấp. Bằng việc mua lại các khoản nợ có tài sản thế chấp, Devaney và nhiều ông chủ quỹ đầu cơ khác đã kích thích vòng quay ngày càng phát triển. Chủ nợ cho khách hàng vay dưới chuẩn, rồi bán những tờ giấy nợ đó kiếm lời. Về phần mình, quỹ đầu cơ háo hức mua lại đống giấy này với hy vọng sẽ thu lại khoản lợi nhuận béo bở khi người vay trả tiền. John Devaney có hẳn một quỹ trị giá 600 triệu USD, chuyên mua lại các khoản nợ nguy hiểm. Tệ hơn, Devaney biết rõ những khoản vay này tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Vào đầu năm 2007, khi nói về vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), ông từng phát biểu: “Chỉ có người điên mới đi mua lại những khoản vay này. Thế nhưng đây lại là lĩnh vực kinh doanh béo bở nhất của chúng tôi”.

19. Bernard Madoff

Huyền thoại một thời của Phố Wall, hóa ra lại là tay lừa đảo lớn nhất từ trước đến nay. Ảnh: AP.

Vụ lừa đảo lịch sử trị giá 50 tỷ USD của Bernard Madoff đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngân hàng, quỹ đầu cơ, tổ chức tài chính lớn. Tổng cộng, số nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của Madoff lên đến 3 triệu người. Tuy nhiên, điều khiến nhiều người Mỹ cảm thấy cay đắng nhất là Bernard Madoff đã diễn trò suốt nhiều thập kỷ ngay trước mũi các nhà chức trách. Sự thật này đã dẫn đến lòng nghi ngờ về trình độ quản lý của các nhà lãnh đạo trong hệ thống tài chính Mỹ. Tâm lý lo ngại trong dân chúng khiến suy thoái trở nên càng tồi tệ hơn.

20. Lewis Ranieri

“Cha đẻ” của trái phiếu bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Ảnh: businessweek.

Lewis Ranieri được xem là “cha đẻ” của trái phiếu bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Vào cuối những năm 1970, Lew Ranieri là người đầu tiên dùng từ “chứng khoán hóa”, chỉ các khoản vay bất động sản được biến thành các giấy tờ có giá rồi bán cho nhà đầu tư tại Phố Wall. Đến năm 1984, Lew Ranieri khoác lác rằng việc kinh doanh tài sản thế chấp của ông tạo ra nhiều tiền hơn tất cả các giao dịch tại Phố Wall cộng lại. Quả thật thời kỳ hoàng kim của giao dịch trái phiếu bằng tài sản thế chấp bùng nổ vào đầu những năm 2000, vực Phố Wall khỏi thời kỳ làm ăn bết bát. Các hãng đầu tư được đà xông lên, đổ nhiều khoản tiền khổng lồ đặt cược vào chứng khoán loại hình này. Tuy nhiên, khi những người đi vay dưới chuẩn bắt đầu không trả được nợ, thị trường chững lại và giá trái phiếu xuống dốc không phanh. Vào thời điểm đó, các ngân hàng đầu tư đã nuốt quá nhiều món tài sản độc hại. Hệ quả tất yếu là ngân hàng lần lượt sụp đổ và các nhà đầu tư cùng nhau mất tiền.

21. Burton Jablin

Ông hoàng truyền hình cũng bị lôi vào vòng xoáy của suy thoái kinh tế. Ảnh: Time.

Không chỉ các nhà kinh tế mà cả ông hoàng truyền hình của kênh Scripps Networks, Burton Jablinw cũng bị đổ trách nhiệm trong suy thoái tài chính. Là ông chủ của kênh HGTV và nhiều kênh khác, ông đã tiếp khá nhiều sức lực trong việc việc thổi căng trái bóng bất động sản. Với uy tín của mình, Jablin khiến các chương trình truyền hình về bất động sản được đón nhận nhiệt liệt ở 97 triệu hộ gia đình trên khắp nước Mỹ. Ông sản xuất các chương trình ăn khách như “Trang trí nhà cửa trước khi bán” hay “Nhà tôi trị giá bao nhiêu” khiến khán giả phát cuồng và càng đam mê đổ tiền vào bất động sản.

22. Fred Goodwin

Fred Goodwin được Nữ hoàng Anh phong tước hiệu Sir vào năm 2004. Ảnh: Guardian.

Giới đầu tư và bình luận thế giới ưu ái dành cho ông chủ của Royal Bank of Scotland (RBS), nhiều biệt danh như “nhà ngân hàng tệ nhất thế giới”, hay “người hoang tưởng”, hay thậm chí là “kẻ tham lam”. Chủ trương của ông mua lại tất cả các ngân hàng và định chế tài chính có thể, bất chấp hiệu quả kinh tế. Kết quả tích cực là không lâu sau khi nắm quyền, ông đã biến RSB từ một ngân hàng tỉnh lẻ đột ngột ngoi lên trở thành một trong năm ngân hàng lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, khi kinh tế toàn cầu dần u ám vào năm 2007, ông vẫn quyết tâm mua lại đối thủ là Ngân hàng Hà Lan ABN Amro, dù cái giá 100 tỷ USD không hề rẻ. Vụ mua bán đã làm ngân khố của RSB cạn kiệt, trong khi Amro đã chứng tỏ là miếng mồi quá lớn, ngoài khả năng tiêu hóa của RBS. Kết quả là mùa thu năm ngoái, chính phủ Anh phải rót 30 tỷ USD cho ngân hàng này. Năm 2008, RSB là ngân hàng có thua lỗ lớn nhất nước trong lịch nước Anh.

23. Sandy Weill

Sandy Weill, người đem lại thành công lẫn thất bại cho Citigroup. Ảnh: charlierose.

Ban đầu chỉ là ngân hàng cho vay cấp thấp, Citigroup đã phát triển vượt bậc trở thành tập đoàn tài chính lớn nhất nhì của nước Mỹ dưới tay Sandy Weill. Tuy nhiên, cùng với cựu Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ Phil Gramm, ông là người đã đứng ra vận động hàng lang hủy bỏ luật Glass-Steagall. đạo luật hạn chế các ngân hàng tham gia những hoạt động kinh doanh rủi ro. Kết cục mà Citigroup nhận lấy ngày hôm nay là trở thành một trong những khối rắc rối lớn nhất của chính phủ Mỹ. Do đó, cho đến nay chính phủ Mỹ đã phải rót 45 tỷ USD để duy trì sự sống cho Citi, với quyết tâm không thể để tập đoàn này phá sản.

24. David Oddsson

Chân dung David Oddson. Ảnh: dailymail.

Trong hai thập kỷ nắm cương vị Thủ tướng Iceland và sau đó là Thống đốc Ngân hàng Trung ương, David Oddsson đã lấy đất nước nhỏ bé của ông ra làm vật thí nghiệm cho lý thuyết về kinh tế thị trường. Ông tư nhân hóa 3 ngân hàng lớn nhất, áp dụng chính sách thả nổi tiền tệ, và tạo ra thời kỳ vàng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thí nghiệm của David Oddson đã thất bại và Iceland phá sản vào năm 2008. Giờ đây, quốc gia nhỏ bé này vinh dự được cho vào sách giáo khoa kinh tế, minh họa cho mục “đóng băng kinh tế vĩ mô”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã vào cuộc để giúp vực dậy tiền tệ nước này, vốn đã mất một nửa giá trị.

25. Jimmy Cayne

CEO “mơ ngủ” Jimmy Cayne. Ảnh: umbc

Trong khi nhiều CEO Phố Wall đang quay cuồng trong cơn bão tài chính, có một người dường như vẫn còn mơ ngủ là CEO Jimmy Cayne của Ngân hàng Bear Stearns. Ông vẫn ung dung dùng trực thăng đi đánh golf hơn 3 ngày trời hay đều đặn tham gia các cuộc thi đấu thể thao. Thậm chí người ta còn bắt gặp Cayne sử dụng chất kích thích. Hai quỹ đầu cơ lớn của Bear Stearns đã sụp đổ vào giữa năm 2007. Ngoài ra, tập đoàn này còn nắm giữ hơn 40 tỷ trái phiếu tài sản thế chấp hầu như đã vô giá trị. Vào đầu năm 2008, Ngân hàng Bear bị bán cho JPMorgan với cái giá còn bèo bọt hơn giá trị của tòa nhà dùng làm văn phòng công ty.

Thanh Bình (theo Time)

May 17, 2009

quan ly chi phi- trinh minh giang

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:21 pm
Tags: ,

Hệ thống quản lý chi phí

Chuyên viên kế toán chi phí (kế toán quản trị) phải hiểu được ý nghĩa của những con số, liên hệ chúng với các hoạt động kinh doanh và đưa ra những giải pháp thay thế. Sau cùng các giải pháp thay thế này phải được đánh giá và lựa chọn nhằm tối ưu hoá hiệu quả kinh doanh.

Về hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động ABC (Activity-Based Costing), phương châm của Hewlett-Pakard là: “Các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật cần thường xuyên thông qua kế toán để tìm mẫu thiết kế của sản phẩm có chi phí tối ưu… Nhân viên kế toán vì vậy đã tham gia vào quá trình quyết định mẫu thiết kế của sản phẩm. Họ giúp các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật hiểu được chi phí được phát sinh từ đâu… Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động đã làm cho nghề kế toán trở nên có ý nghĩa hơn”.

Hệ thống kế toán chi phí bao gồm 2 bước:

Quy tập chi phí: thu thập các thông tin về chi phí thông qua phân loại dựa vào bản chất, ví dụ như chi phí lao động, chi phí nguyên liệu…

Phân bổ chi phí: truy nguyên và phân bổ lại chi phí vào một hay nhiều đối tượng tạo phí như các hoạt động, các phòng ban, khách hàng, hay các sản phẩm…

Thông qua hai bước này, nhà quản lý mới có thể nắm bắt được chính xác đối tượng chi phí, biết được cụ thể bộ phận, khâu nào gây lỗ hay không sinh lãi. Chẳng hạn trong một nhà máy sản xuất đồ dùng văn phòng, chi phí nguyên liệu, sau khi tổng hợp, được phân bổ lại về các đối tượng chi phí như bộ phận điều hành máy và bộ phận hoàn thiện. Chi phí từ các bộ phận này lại được phân bổ vào các sản phẩm như bàn, ghế, tủ sách…

Tới đây, chúng ta có thể đi sâu tìm hiểu cách thức phân loại để sau đó quy tập chi phí. Chi phí có thể được định nghĩa như một sự tiêu hao nguồn lực cho một mục đích nhất định, thường được quy ra đơn vị tiền tệ phải trả để có được nguồn lực đó. Như đã biết chi phí có thể được phân loại thông qua tính chất cố định hay biến đổi, hỗn hợp hay phân bậc.

Chi phí trực tiếp và gián tiếp

Để đưa ra quyết định kinh doanh, người quản lý phải nắm được chi phí của một vật, một quá trình hay một công việc nào đó gọi chung là đối tượng tạo phí (cost objective), chẳng hạn như các bộ phận phòng ban, các sản phẩm, đất đai, quãng đường, hay thậm chí số giờ giảng dạy… cũng như phải nắm được chi phí có mối quan hệ trực tiếp với đối tượng tạo phí hay không. Ví dụ, lương của nhân viên quản lý là chi phí trực tiếp nếu bộ phận của nhân viên này được coi đối tượng tạo phí, và là chi phí gián tiếp nếu sản phẩm hay dịch vụ của bộ phận đó được coi là đối tượng tạo phí. Cụ thể hơn, chi phí trực tiếp là chi phí có thể dễ dàng nhận dạng với một đối tượng tạo phí cho trước và ngược lại, chi phí gián tiếp là chi phí không thể dễ dàng nhận dạng với một đối tượng tạo phí cho trước.

Cần phải nhắc tới một khái niệm quan trọng khác là khái niệm tổng chi phí gián tiếp (factory overhead, factory burden hoặc manufacturing overhead), chỉ những chi phí không thể dễ dàng nhận dạng với đối tượng tạo phí là sản phẩm hay dịch vụ đầu ra. Các chi phí này có thể là năng lượng, lao động gián tiếp, lương quản lý, thuế bất động sản, chi phí thuê, bảo hiểm và khấu hao… Có một cách tương đối để phân biệt là chi phí này bao gồm các chi phí ngoài chi phí nguyên liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp.

Báo cáo thu nhập theo chi phí: một ví dụ về báo cáo thu nhập của một công ty sản xuất

+ Doanh thu
_  Chi phí thành phẩm đã bán gồm:
+ Kho thành phẩm đầu kỳ
+ Chi phí thành phẩm gồm:
+ Chi phí nguyên liệu đã dùng
+ Chi phí nhân công
+ Tổng chi phí gián tiếp
_ Kho thành phẩm cuối kỳ
= Lợi nhuận gộp
_  Các chi phí khác gồm:
+ Chi phí bán
+ Chi phí quản lý chung
= Thu nhập hoạt động

Tuỳ theo mục đích quản lý, báo cáo thu nhập trên có thể phân tách chi phí gián tiếp thành các chi phí cố định và biến đổi, phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh nhất định.

Hệ thống quản lý chi phí xác định việc nhà quản lý ra quyết định tác động tới chi phí bằng cách đo lường các nguồn lực được sử dụng để thực hiện các hoạt động của tổ chức và sau đó đánh giá tác động của sự thay đổi các hoạt động lên chi phí. Quản lý dựa trên hoạt động (ABM) sử dụng hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động (ABC) để cải thiện quá trình vận hành của tổ chức. ABM phân biệt các chi phí gia tăng giá trị và các chi phí không gia tăng giá trị. Chi phí gia tăng giá trị là chi phí cần thiết cho một hoạt động không thể xoá bỏ mà không ảnh hưởng tới giá trị của sản phẩm đối với khách hàng. Ngược lại, chi phí không gia tăng giá trị là chi phí có thể xoá bỏ mà không ảnh hưởng tới giá trị của sản phẩm đối với khách hàng (ví dụ chi phí kiểm soát kho hàng, vận chuyển bến bãi…). Như vậy để đạt được một chiến lược cạnh tranh bằng chi phí, doanh nghiệp cần xem xét cấu trúc của các chi phí không gia tăng giá trị.

Hệ thống JIT (Just-In-Time)

Để tối thiểu hóa chi phí không gia tăng giá trị, nhiều công ty áp dụng hệ thống JIT, hệ thống trong đó công ty mua nguyên vật liệu và sản xuất các bộ phận cấu thành sản phẩm ngay khi chu trình sản xuất cần tới chúng, nhằm giảm tồn kho tới mức thấp nhất có thể vì chi phí kho hàng là chi phí không gia tăng giá trị rất lớn. Thông qua JIT, công ty có thể chống lãnh phí và cải thiện chất lượng.

Các công ty áp dụng JIT đều mang định hướng khách hàng vì các đơn đặt hàng tạo ra chu trình sản xuất. Thay cho việc nhập kho các thành phẩm và đợi đơn đặt hàng, hệ thống JIT sản xuất các sản phẩm trực tiếp theo các đơn đặt hàng nhận được. JIT thành công nhờ một số yếu tố then chốt:

Tập trung vào chất lượng: JIT luôn đi đôi với hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp (TQC) và nâng cao chất lượng sản phẩm. Công nhân tay nghề cao với độ sai sót bằng không sẽ giảm được các chi phí không gia tăng giá trị như kiểm soát viên hay sửa chữa sản phẩm.

Chu kỳ sản xuất ngắn: chu kỳ sản xuất ngắn giúp tăng tốc độ đáp ứng đơn đặt hàng tức thời và giảm mức độ tồn kho.

Chu trình sản xuất trôi chảy: JIT đơn giản hoá chu trình sản xuất để giảm độ trệ, phát triển mối quan hệ với nhà cung cấp để có được nguyên vật liệu ngay khi cần với chất lượng đảm bảo. JIT duy trì tay nghề đều đặn theo nhóm để tránh chi phí ngắt quãng và chi phí chuyển giao bán thành phẩm bằng cách phân bố máy móc cùng một nhóm công việc càng gần nhau càng tốt, công nhân được huấn luyện để sử dụng được toàn bộ các máy móc cùng nhóm. Đây là hình thức sản xuất theo ô (cell). Mỗi ô có thể được coi như một nhà máy thu nhỏ với các nhóm máy thường được sắp xếp theo hình chữ “U”.

Vận hành sản xuất linh hoạt: máy móc cần linh hoạt trong khả năng tạo ra các linh kiện và sản phẩm để tăng thêm sản lượng nếu sản phẩm có mức cầu vượt bậc hoặc tránh cho việc đình trệ sản xuất vì một máy móc nào đó bị hỏng. Thời gian cài đặt và thay đổi hệ thống máy móc cũng phải đủ ngắn. Nhân viên cũng cần được đào tạo đa năng nhằm thế chỗ và kiêm nhiệm, giảm được chi phí lao động bất thường.

Chi phí biên – Marginal Costs

Việc thay đổi một mức độ hoạt động nào đó của doanh nghiệp luôn dẫn tới sự thay đổi chi phí biến đổi và thậm chí cả chi phí cố định. Phần thay đổi này được gọi là chi phí biên. Nắm bắt được chi phí biên theo từng mức sản xuất với một cấu trúc cho trước, cho phép tối ưu năng lực sản xuất, xác định giá bán và tối đa lợi nhuận. Thông qua chi phí biên, nhà sản xuất có thể xác định được mức giá bán tối thiểu đối với từng khu vực khách hàng nhất định và đối với các đơn đặt hàng lớn mà không làm ảnh hưởng tới chính sách thương mại hiện tại.

Vì sao các công ty có thể áp dụng các chính sách giá dựa theo số lượng thành phẩm tiêu thụ? Các đợt bán hàng giảm giá liệu có đem lại kết quả lỗ cho công ty? Việc mở rộng quy mô sản xuất và thay đổi cấu trúc tài sản cố định có ảnh hưởng như thế nào đối giá thành sản phẩm? Các câu hỏi trên có thể được làm sáng tỏ khi sử dụng chi phí biên trong kế toán quản trị.
Chi phí biên là chi phí trên đơn vị thành phẩm được sản xuất và tiêu thụ cuối cùng. Chi phí biên bao gồm các chi phí biến đổi bổ sung bởi có sự gia tăng trong sản xuất, các chi phí này có thể là gián tiếp (tiêu thụ năng lượng) hoặc trực tiếp (nguyên vật liêu, nhân công). Chi phí biên cũng có thể bao gồm chi phí cố định nếu việc gia tăng sản xuất đòi hỏi sửa đổi hoặc bổ sung về cấu trúc (chi phí lắp đặt và khấu hao máy móc bổ sung, lương cho một bộ phận mới).

(Xem thêm Chi phí phân mức).

Có thể đơn giản hoá bằng biểu thức:
Chi phí biên MC = (DC / Dn)
Với: DC = thay đổi chi phí và Dn = thay đổi sản lượng tính ra đơn vị.

Tài sản cố định đã đuợc đầu tư lắp đặt tức là chi phí cố định của một mức sản xuất nhất định (gọi là mức sản xuất thứ nhất) được thực hiện ngay khi chưa thực sự làm ra bất cứ sản phẩm nào. Chi phí biên là chi phí hình thành khi bắt đầu vận hành máy móc, sử dụng nguyên vật liệu và nhân lực để tạo ra sản phẩm (gọi là mức sản xuất thứ hai). Mức này chỉ bao gồm các chi phí biến đổi vì cơ cấu chưa cần phải sửa đổi hay bổ sung.

Như vậy, hai mức sản xuất đầu tiên sẽ có chi phí ngày càng giảm vì cơ cấu tài sản cố định được tận dụng, nhất là khi mức tiêu thụ gia tăng. Tuy nhiên, mức sản xuất với tài sản cố định đã đầu tư (thứ nhất) sẽ chỉ tăng tới một giá trị nhất định, sau đó sẽ cần các khoản đầu tư thêm, vì những lý do như tăng công suất, đảm bảo điều kiện lao động… Cũng phải kể thêm đến các chi phí phân phối, đặc biệt trong các điều kiện khó tiếp cận khách hàng. Khi đó, chi phí biên trên đơn vị sản phẩm sẽ bắt đầu tăng lên (vì bao gồm cả chi phí cố định và biến đổi bổ sung do việc gia tăng sản xuất).

So sánh với chi phí trung bình (bằng tổng chi phí chia cho số lượng sản phẩm) ta thấy chi phí trung bình không chỉ tính chi phí của mức sản xuất sau cùng mà còn tính đến cả chi phí của tất cả các mức sản xuất trước. Chi phí trung bình của mức sản xuất thứ nhất vì vậy bằng chính chi phí cố định (thứ nhất). Như vậy chí phí trung bình của mức tiếp theo sẽ cao hơn chi phí biên của mức đó vì có tính cả phần chi phí cho cơ cấu cố định.

Khi chi phí biên giảm, chi trung bình cũng giảm vì một phần chi phí cố định được phân bổ vào số lượng tăng dần các sản phẩm (mẫu số tăng dần) và vì chi phí biến đổi của mức cuối cùng thấp hơn của mức trước nó. Tuy nhiên, khi chi phí biên bắt đầu tăng (do phải đầu tư thêm) thì chi phí trung bình vẫn có thể tiếp tục giảm vì tỷ trọng đầu tư bổ sung không đáng kể so với mức đầu tư ban đầu. Chi phí trung bình sẽ tăng lên khi chi phí biến đổi trên từng đơn vị sản phẩm không còn được bù đắp bởi phần chi phí cố định. Điểm sản lượng tối ưu đạt được khi chi phí trung bình bằng chi phí biên, khi đó chi phí sản xuất trên từng đơn vị sản phẩm ở mức thấp nhất.

Phân tích chi phí biên giúp các công ty xác định được chính sách giá thấp đối với các khách hàng mới, các khách hàng đặt số lượng lớn, hoặc mức giá thanh lý kho trong thời điểm “sold” hàng năm. Việc hạ giá bán được áp dụng nếu không làm ảnh hưởng tới các khách hàng hiện tại (sold là một ví dụ điển hình) và mỗi sản phẩm sản xuất thêm có chi phí biên thấp mà không làm thay đổi cấu trúc sản xuất.

Xin đưa ra một ví dụ: chẳng hạn công ty có mức tiêu thụ 5000 sản phẩm ở mức giá 30$/1chiếc.

Sản lượng (n)    Tổng chi phí (C)    Chi phí trung bình (C / n)    Chi phí biên (DC / Dn)
4000                        92400                23,10                                         15,90
5000                      112500                22,50                                         20,10
6000                      137700                22,95                                          25,20
đơn vị: $

Lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm là: 30-22,5=7,5$. Tổng lợi nhuận là: 7,5×5000=37500$.

– Trường hợp 1: một khách hàng đặt hàng 1000 sản phẩm và yêu cầu một mức giá thấp hơn. Như vậy, sản lượng sẽ tăng lên 6000 chiếc. Nếu việc bán 1000 sản phẩm này không làm thay đổi việc bán hàng thường nhật (nhất là đối với các khách hàng thường xuyên) và không làm thay đổi cấu trúc tài sản cố định, công ty có thể bán 1000 sản phẩm đó với giá bằng chi phí biên là 25,2$. Nếu công ty bán số thành phẩm với giá 27$/1chiếc, tổng lợi nhuận khi ấy là: 37500+(2 -25,2)x1000=39300$.

– Trường hợp 2: doanh nghiệp quyết định giảm giá 5% cho các khách hàng có từ 2 con trở lên. Nghiên cứu thị trường cho thấy lượng tiêu thụ có thể tăng lên tới 6000 chiếc. Xin chớ nhầm lẫn rằng tổng thu nhập sẽ tăng lên [30x(1-5%) – 25,2]x1000=3300$ vì một số khách hàng trước đó cũng thuộc nhóm ưu tiên và vì thế cũng được hưởng ưu đãi giảm giá. Ví dụ trong số khách hàng cũ có 500 khách hàng có từ 2 con trở lên, như vậy, phần giảm giá con thiếu là: [30x(1-5%) – 25,2]x500=750$ tức là tổng lợi nhuận chỉ tăng lên: 3300-750=2550$.

Phương pháp chi phí biên thường được sử dụng khi nhà quản lý cần có quyết sách đúng đắn về một hoạt động mới hoặc nhằm thay đổi một hoạt động hiện tại. Thông qua chi phí biên, người ta có thể tính toán và so sánh doanh thu bổ sung kỳ vọng. Chi phí biên cũng được sử dụng để so sánh và đưa ra quyết định loại bỏ hoặc giảm các hoạt động được coi là không hiệu quả. Cần đặc biệt lưu ý tới khái niệm này khi việc thay đổi cấu trúc là điều kiện nhất thiết cho việc phát triển. Các tính toán chi phí biên cũng cần được thực hiện đều đặn trong dài hạn nhằm đảm bảo tính bền vững

tai chinh – trinh minh giang

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:19 pm
Tags:

Vốn lưu động và cân bằng tài chính

Cân bằng tài chính là là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài sản xác định các luồng thu về trong tương lai và tính tới hạn của những khoản nợ xác định các luồng chi ra trong tương lai. Nói cách khác, cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn. Vì vậy các số liệu về ngân quỹ và sự thay đổi ngân quỹ không thể chỉ báo chính xác các điều kiện cân bằng tài chính.

Xét về tổng thể, việc nắm giữ các tài sản dài hạn có tính thanh khoản thấp đòi hỏi nắm giữ các nguồn vốn lâu dài. Chính từ nhận định này mà nguyên tắc truyền thống của cân bằng tài chính là các tài sản cố định phải được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sử hữu và vốn vay). Theo nguyên tắc này, cân bằng được duy trì bằng sự bù đắp của các luồng tiền (tương ứng với khấu hao tài sản cố định) với các khoản trả nợ (vốn và lãi) hàng năm. Tính ổn định của tài sản cũng như nguồn vốn không những đảm bảo sự cân bằng nhất thời mà còn duy trì được sự cân bằng về dài hạn. Phần trội của tổng nguồn vốn dài hạn so với tổng tài sản cố định được gọi là vốn lưu động, tạo thành một biên an toàn cho cân bằng tài chính.

Tuy nhiên, khả năng tài trợ cho tài sản cố định chưa đủ để đảm bảo cân bằng tài chính. Các tài sản lưu động khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng làm một phần nguồn vốn trở nên bất động nằm trong giá trị tồn kho và các khoản phải thu. Chênh lệch của tổng các khoản này với tổng các khoản phải trả tạo thành nhu cầu về vốn lưu động (sẽ được đề cập trong bài viết sau), luôn thay đổi theo nhịp độ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có được cân bằng tài chính khi vốn lưu động đủ khả năng bù đắp cho nhu cầu này.

Vốn lưu động, từ đó, được coi là một chỉ báo về khả năng thanh toán tại một thời điểm cũng như khả năng thanh toán trong tương lai. Vốn lưu động cũng là cầu nối giữa cân bằng tài chính dài hạn và ngắn hạn vì vậy mà việc tính toán chính xác vốn lưu động cũng tuỳ thuộc vào quan niệm của từng doanh nghiệp.

Vốn lưu động được tính  = Vốn dài hạn – Tài sản cố định (1)
hoặc
Vốn lưu động được tính = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn (2)

Còn có thể đánh giá vốn lưu động thông qua tỷ lệ giữa:
Vốn dài hạn / Tài sản cố định = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 (>1), vốn lưu động có giá giá trị dương và ngược lại.

Vốn lưu động chủ sở hữu là một phần của tổng vốn lưu động tạo nên bởi nguồn vốn chủ sở hữu sau khi thực hiện chia lợi nhuận cuối kỳ. Có thể tính thêm vốn lưu động chủ sở hữu qua phương trình:
Tài sản cố định + Tài sản lưu động = Vốn chủ sở hữu + Vốn lưu động chủ sở hữu + Nợ dài hạn + Nợ ngắn hạn

Vốn lưu động chủ sở hữu chứng tỏ mọi tài sản cố định đều đã được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, đây là hình ảnh của việc các khoản đầu tư có độ rủi ro cao (dàn hạn) phải được tài trợ các cổ đông, hay người góp vốn, những người trên lý thuyết đóng vai trò chấp nhận rủi ro.

Khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi

Chức năng tài chính đảm nhận (1) việc giao dịch và ghi nhận các hoạt động tài chính, đặc biệt là trong quản lý ngân quỹ (chức năng vận hành). Bên cạnh đó, chức năng tài chính còn song song đảm nhận (2) việc hỗ trợ ban quản trị phản ứng và điều chỉnh các nguồn tài chính tuỳ theo nhu cầu, tuân thủ các đòi hỏi tài chính và cân đối mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp với mục tiêu của các cổ đông (chức năng hỗ trợ). Hai đòi hỏi tài chính cơ bản là khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi.

Mọi giao dịch kinh tế đều được thực hiện thông qua phương tiện trao đổi tiền tệ. Tuy nhiên, Việc nắm giữ tiền sẽ sinh ra chi phí. Doanh nghiệp vừa cùng lúc phải nắm giữ tiền vừa phải đảm bảo các khoản chi phí cho vốn cố định.

1. Khả năng thanh toán (solvency): khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource). Investopedia định nghĩa khả năng thanh toán “là khả năng đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển”.

a. Cân bằng tài chính (financial equilibrium) có thể được xác định từ các luồng tài chính. Mọi luồng tài chính đều làm tăng hay giảm số tiền trong quỹ. Cân bằng tài chính đạt được tại thời điểm tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản như tiền mặt (gọi tắt là tiền mặt) vẫn “dương” sau khi đã đủ bù trả cho tất cả các khoản nợ đến hạn. Ba luồng tài chính chủ yếu quyết định cân bằng tài chính bao gồm:
– Chi phí đầu tư, chủ yếu là chi phí tạo vốn cho sản xuất,
– Số dư từ các hoạt động tài chính (vay, cho vay, hoàn trả),
– Thặng dư từ sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, phải tính thêm:
– Biến đổi tài sản có (kho và các khoản phải thu) và các khoản phải trả,
– Chi phí phân bổ giá trị thặng dư cho nhà nước, cho người lao động và cho các cổ đông.
– Các khoản nợ ngắn hạn, chủ yếu là tín dụng ngân hàng khi giá trị quỹ không đủ để duy trì cân bằng, tức là đảm bảo khả năng thanh toán các khoản chi bắt buộc.
Ngân quỹ được coi là “dương” nếu lớn hơn giá trị nợ và lớn hơn 0 (>0). Đây là một công cụ điều chỉnh các luồng thu và chi trong ngắn hạn. Sự mất cân bằng giữa tài sản có (actifs) và nguồn lực sẵn có tạo ra nhu cầu về tiền cần đáp ứng.

b. Mức độ tự chủ (autonomy) thể hiện khả năng duy trì tính độc lập của doanh nghiệp, Nếu nhu cầu về tiền của doanh nghiệp không thể được đáp ứng bằng hình thức vốn vay, nguy cơ mất cân bằng tài chính đòi hỏi phải được tài trợ dưới hình thức vốn góp. Rõ ràng lúc này, quyền quyết định sẽ được chia lại theo tỷ lệ góp vốn, doanh nghiệp mất quyền tự chủ. Khả năng mất cân bằng tài chính là yếu tố đo lường mức độ tự chủ của doanh nghiệp. Việc nắm giữ một lượng tiền mặt lớn có thể tăng mức độ tự chủ của doanh nghiệp nhưng số tiền này lại không tham gia vào quá trình sản xuất và không có khả năng sinh lợi.

Để đảm bảo tăng trưởng, doanh nghiệp có thể phải giảm tiền mặt nắm giữ và tăng lượng vốn vay, thậm chí chấp nhận giảm mức độ tự chủ. Nhiệm vụ của chức năng tài chính là dàn xếp vấn đề này bằng cách duy trì khả năng thanh toán. Vì vậy, chức năng tài chính phải kiểm soát được các quyết định sản xuất và thương mại làm thay đổi cấu trúc tài sản có (rủi ro kinh tế) và làm nảy sinh nhu cầu vốn mới (rủi ro tài chính).

2. Khả năng sinh lợi (profitability): là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản.

Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách:
– Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư).
– Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.
Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được trích chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ (reserve). Nếu không tính tới thuế và lãi, khả năng sinh lợi của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.

Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Nếu khả năng sinh lợi không đủ lớn, doanh nghiệp sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu của nhiều yếu tố sản xuất kinh doanh khác nhau. Thặng dư khi đó sẽ không đủ để duy trì cân bằng tài chính.

Cần chú ý là khả năng sinh lợi của tài sản chỉ là một phần vấn đề nảy sinh từ khả năng sinh của các nguồn vốn thực hiện. Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp do các cổ đông gánh chịu. Lợi nhuận mà họ thu được không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản mà còn phụ thuộc vào chi phí đi vay. Yêu cầu về tỷ lệ sinh lợi tối thiểu phù hợp với khả năng bảo toàn vốn cho doanh nghiệp và trả lợi nhuận đầu tư vốn sẽ kết nối trước hết chức năng tài chính với mọi quyết định sử dụng tiền (tức là việc tạo hoặc thay đổi cấu trúc tài sản). Các kỹ thuật ước lượng và tính toán khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi sẽ được đề cập trong các bài viết sắp tới.

TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 23.02.2004

Lý thuyết tài chính được phát triển từ thập kỷ 70, khởi nguồn từ các phương thức tiếp cận pháp luật kế toán và kinh tế các luồng ngân khoản. Tuy nhiên phương thức tiếp cận này nhằm đưa ra một một cái nhìn từ bên ngoài, quan tâm tới các nguồn vốn tài chính của các cá nhân hay thể nhân góp vốn. Những đối tượng này nắm giữ các tài sản tài chính (actif financier), có thể một hoặc nhiều tài sản tạo thành danh mục tài sản tài chính (hay còn gọi là danh mục đầu tư).

Không phải doanh nghiệp mà là các yếu tố bên ngoài như thị trường hoặc các giao dịch trao đổi mua bán tài sản tài chính sẽ ảnh hưởng trực tiếp, hay thậm chí quyết định, tới việc quản lý tài sản tài chính. Các quyết định này có liên quan tới khả năng thanh toán (solvabilité) và khả năng sinh lợi (rentabilité).

Danh mục tài sản tài chính và thị trường tài chính

Lý thuyết tài chính doanh nghiệp là phần mở rộng theo khái niệm doanh nghiệp của các mô hình quản lý danh mục tài sản tài chính. Mảng tài chính doanh nghiệp được sinh ra từ sự cân bằng giữa tiền mặt và các tài sản công nghiệp (actif industriel), từ đòi hỏi tích lũy nguồn vốn sản xuất và tham gia trao đổi. Sự cân bằng này phát sinh ra tài sản tài chính của các nhà đầu tư tài chính và sinh ra vốn tài chính cho doanh nghiệp.

Tài sản tài chính là việc giữ một giá trị (réserve de valeur) cho phép nhận một khoản tiền (hoặc có tính thanh khoản như tiền) trong tương lai, hoặc khi kỳ hạn chấm dứt, hoặc khi bán lại tài sản đó cho bên thứ 3 một cách trực tiếp hay thông qua trung gian. Tài sản tài chính vừa chứa đựng tính rủi ro nhưng cũng vừa hứa hẹn một khoản lợi nhuận, một khả năng sinh lợi hay một giá trị thặng dư. Quản lý danh mục tài sản tài chính nhằm cân bằng giữa rủi ro và sinh lợi.

Tuy nhiên, tính thanh khoản và chuyển đổi của tài sản tài chính còn phụ thuộc vào sự tồn tại của thị trường mà ở đó người ta có thể trao đổi, mua bán các tài sản tài chính, cũng như phụ thuộc vào mức độ thanh khoản của thị trường này. Thị trường tài chính có chức năng tổ chức giao dịch và định giá các tài sản trao đổi trên thị trường. Các tham số định giá là các dự báo tương đối về khả năng sinh lợi và rủi ro của tài sản. Các dự báo này cố nhiên phụ thuộc khả năng nắm bắt thông tin trên thị trường, khái niệm này xác định hiệu quả thị trường (hoàn hảo hay không hoàn hảo).

Mục tiêu của quản lý danh mục tài sản tài chính là tối đa lợi nhuận. Vì vậy, nếu trong nguồn vốn của doanh nghiệp có một phần tài sản tài chính, doanh nghiệp cần tối đa giá trị của tài sản đó. Nhà quản lý tài chính có thể sử dụng phương pháp đánh giá các luồng ngân khoản (dòng tiền) trong việc lựa chọn hợp lý các khoản đầu tư. Lý thuyết này có 2 đặc điểm cơ bản là mục tiêu và đơn vị đo lường.
– Mục tiêu: tối đa lợi nhuận, được tính dựa trên giá trị thị trường của vốn cổ đông. Mục tiêu lợi nhuận không phải là một luồng thu ngân cũng không phải là tài sản tăng thêm trên danh nghĩa mà mà một giá trị thặng xác định được trên thị trường tài chính thông qua các hoạt động mua bán cổ phần.
– Đơn vị đo lường: dự vào lý thuyết chung về giá trị trên cơ sở các luồng tài chính kỳ vọng khi nắm giữ tài sản. Đặc điểm này giúp doanh nghiệp quyết định đầu tư, tức là quyết định nắm giữ một tài sản công nghiệp; giúp nhà quản lý danh mục đầu tư quyết định mua, giữ hay bán các tài sản tài chính, trái phiếu hay cổ phiếu.

Cổ phần thể hiện giá trị góp vốn của doanh nghiệp không chỉ là quyền thụ hưởng tài chính (vốn và lãi) mà còn là quyền tham gia bỏ phiếu, cơ sở của sự tổ chức quyền lực trong doanh nghiệp.

Chi phí vốn

Nguồn vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ là một khoản tiền bất động đối với các cổ đông góp vốn hay đối với những người cho vay. Nguời cho vay chỉ chấp nhận trao tiền khi có một khoản thu nhập được tính toán dưới hình thức lãi suất. Lãi suất hình thành nên chi phí nắm giữ nguồn vốn của doanh nghiệp. Cũng như vậy, nếu chi phí vay là kết quả của hợp đồng vay thì việc phân phối cổ tức phụ thuộc vào quyết định của các cổ đông góp vốn. Các chi phí này được coi là chi phí hiện (explicite), gọi là chi phí thực (coût réel).

Mặt khác, khi quyết định đầu tư hoặc cho vay đối với một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh tế này tức là phải từ bỏ khả năng đầu tư hoặc cho vay đối với một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh tế khác. Giá trị có khả năng đem lại của việc đầu tư hoặc cho vay đối với một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh tế không thực hiện đó được coi là một chi phí ẩn (implicite), gọi là chi phí cơ hội (coût d’opportunité). Đây là một khái niệm trọng tâm của quản lý tài chính, là bước chuyển giữa doanh nghiệp và thị trường vốn được thiết lập bởi các chủ thể kinh tế và trung gian tài chính.

Chí phí vay: được đo bằng lãi suất, trước hết là biểu thức cân bằng cung và cầu tiền tệ. Sự đánh giá mức độ rủi ro của người đi vay và mức độ chấp nhận rủi ro của người cho vay tạo nên một khoản phí rủi ro cộng thêm vào lãi suất không có rủi ro trên thị trường. Chi phí vay là nguồn gốc của các điều khoản trong hợp đồng vay và lãi suất vay.

Giá trị thị trường của khoản nợ tại một thời điểm nhất định được tính bởi lãi suất trên thị trường tài chính. Ta có:
giá trị danh nghĩa x lãi suất thị trường = lãi vay
c x i = r
c = r x (1/i)
ở đó (1/i) là hệ số nhân để xác định giá trị nguồn vốn nếu biết trước lãi vay thực hiện, ở đây tính theo lãi suất trong hợp đồng. Như vậy, khi lãi suất thị trường thay đổi, hệ số nhân thay đổi và giá trị thị trường của tài sản tài chính (khoản nợ) sẽ khác với giá trị danh nghĩa. Nếu lãi suất thị trường lớn hơn lãi suất trong hợp đồng, giá trị của khoản nợ bị giảm và ngược lại.

Chi phí vốn tài chính: nguồn vốn góp của các cổ đông chứa đựng một độ rủi ro bởi doanh nghiệp không bắt buộc phải phân phối lợi nhuận cho dù kết quả của năm tài chính là dương. Mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư tài chính là tăng giá trị khoản vốn đóng góp của mình dựa trên sự tăng giá trị tài sản và triển vọng phát triển của doanh nghiệp.

Nhà đầu tư vì thế đòi hỏi doanh nghiệp phải có một khả năng sinh lãi cao hơn mức độ rủi ro cũng như cao hơn lãi suất thị trường. khả năng này chính là tỷ suất tư bản hoá kết quả (tức là chuyển kết quả thành vốn, làm tăng đồng vốn bỏ ra). Ta có:
giá trị thị trường của nguồn vốn = lợi nhuận đầu tư x (1/tỷ suất tư bản hoá)
v = r x (1/i)

Chi phí bình quân gia quyền

Việc huy động vốn cho doanh nghiệp là sự kết hợp giữa các nguồn vốn góp, dự trữ cộng dồn và các khoản vay. Vì vậy, có thể tính một chí phí bình quân gia quyền từ các phần tương ứng với mỗi phương thức huy động mà doanh nghiệp sử dụng. Chi phí này bằng tổng của:
+ Chi phí vốn chủ sở hữu (%) x phần tương ứng (từ 0 tới 1)
+ Chi phí vay (%) x phần tương ứng (từ 0 tới 1)

Sự khác biệt giữa khả năng sinh lợi của tài sản và chi phí huy động vốn tạo ra hiệu ứng đòn bẩy của khoản nợ (l’effet de levier de l’endettement). Ta có:
Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ
A = C + E
với khả năng sinh lợi (r), chi phí (i) để vay khoản nợ E, có:
A (r) = C (r) + E (r) – E (i)
A (r) = C (r) + E (r – i)
E (r-i) = A (r) – C (r)

Hiệu ứng đòn bẩy tài chính là hiệu giữa khả năng sinh lợi của tài sản (A) và khả năng sinh lợi của nguồn vốn chủ sở hữu (C). Nếu giá trị này dương, việc huy động vốn vay cho phép tăng khả năng sinh lợi (r) của nguồn vốn chủ sở hữu. Ngược lại, nếu khả năng sinh lợi của tài sản (khả năng sinh lợi kinh tế) nhỏ hơn chi phí vay (i) (không thể bù đắp chi phí cố định phải trả cho khoản vay), hiệu ứng đòn bẩy sẽ có tác động tiêu cực. Hơn nữa, trên nguyên tắc, việc huy động vốn vay cũng tăng rủi ro cho nguồn vốn chủ sở hữu.

Lý thuyết chung về giá trị

Mỗi khoản đầu tư ban đầu tại thời điểm t0 được thực hiện với hy vọng có được khoản thu trong các giai đoạn liên tiếp (ví dụ niên khoản…) và một giá trị còn lại tn (valeur résiduelle) có thể thanh lý vào cuối kỳ hạn quy định.

Toán tài chính chỉ ra rằng khoản đầu tư ban đầu (I) tại thời điểm t0, với lãi suất năm (i), sau 1 năm sẽ có giá trị là:
I + I (i) = I (1+i)
sau (n) năm có giá trị:
I (1+ i)n
I được gọi là giá trị hiện tại (valeur actuelle) và
I(1+i)n được gọi là giá trị có được (valeur acquise) sau n giai đoạn.
Hệ số (1 + i)-n gọi là hệ số quy đổi về hiện tại (facteur d’actualisation), từ giá trị ở thời điểm tn về giá trị hiện tại ở thời điểm to.

Tựu chung, để định giá trị một tài sản tại một thời điểm xác định, cần biết hoặc ước tính được dãy niên khoản kỳ vọng, giá trị còn lại, và lựa chọn một lãi suất hay một hệ số quy đổi hiện tại. Giá trị hiện tại thuần (value actuelle nette) bằng tổng các niên khoản tính theo hệ số quy đổi hiện tại. Nếu thay giá trị hiện tại bằng khoản đầu tư ban đầu, lãi suất để khoản đầu tư này bằng với tổng các niên khoản đã quy đổi về hiện tại gọi là tỷ suất nội hoàn (taux interne de rentabilité).

Nắm bắt được các lý thuyết cơ bản trên giúp cho nguời đọc có thể nhanh chóng tiếp thu các kiến thức cung cấp ở những bài viết tiếp theo về tài chính doanh nghiệp. Các lý thuyết này còn là cơ sở tư duy cho nhiều quyết định kinh tế và là kiến thức quan trọng đối với các chuyên ngành quản lý kinh tế khác.

game theory- trinh minh giang

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:15 pm
Tags: ,

Đấu giá là một cơ chế thị trường trong đó một vật hữu hình hay vô hình (bằng sáng chế…), một hay một tập hợp sản phẩm hay dịch vụ, (gọi chung là vật đấu giá) được trao đổi, mua bán trên cơ sở giá chào những người tham gia đấu giá hay người trả giá (bidder), những thành viên tham gia thị trường. Đấu giá cung cấp một hệ quy tắc điều chỉnh qua đó quyết định mua từ hay bán cho người trả giá thích hợp nhất. Đấu giá được tổ chức vào thời điểm xác định với số người tham gia hạn chế.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, đấu giá được mở rộng hơn rất nhiều và phát triển lên một bước mới.

Là một tiêu điểm của các nhà khoa học về lý thuyết trò chơi, trọng tâm nghiên cứu về đấu giá thường xoay quanh vấn đề lựa chọn phương thức và chiến lược đấu giá. Quy trình đấu giá thường bao gồm một người bán đấu giá (auctionneer) sở hữu vật đấu giá hoặc được uỷ nhiệm điều khiển cuộc bán đấu giá và người tham gia. Người này thông báo về vật đấu cũng như phương thức đấu giá tới các đối tượng xác định (trừ trường hợp đấu giá rộng rãi). Người quan tâm tới vật đấu giá sẽ đăng ký tham gia đấu giá. Người bán muốn bán với giá cao nhất có thể, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất có thể. Tuỳ theo cơ chế đấu giá, người ta có thể chào giá một hoặc nhiều lần. Đôi khi, người bán đấu giá có thể đưa ra một mức giá chấp nhận tối thiểu, gọi là giá hạn chế (reservation price).

Một trong những đặc điểm của đấu giá là vật chào bán có giá trị chung hay riêng đối với những người tham gia. Một vật có thể chỉ có giá trị (riêng) nếu nó rơi vào tay một người (hay một nhóm thiểu số người) nhất định, sưu tầm đồ cổ chẳng hạn. Một chiếc xe đạp sản xuất từ cách đây 50 năm đối với nhiều người thì không khác gì cục sắt rỉ nhưng đối với nhà sưu tầm thì nó lại là cả một gia tài. Vật mang giá trị chung nếu nó có cùng giá trị tương đương đối với tất cả mọi người tham gia đấu giá. Chẳng hạn như bán đấu giá một liều thuốc trường sinh.
Một đặc trưng khác của đấu giá là phương thức thực hiện. Người thắng cuộc có thể trả (hoặc được trả) theo giá mà người đó chào (đấu giá mức thứ nhất) hoặc theo mức giá liền kế tiếp (đấu giá mức thứ hai). Việc đấu giá có thể được tổ chức công khai (open cry) hoặc theo hồ sơ niêm phong (sealed bid).

Đấu giá mức thứ nhất cho phép người chào trả giá cao nhất được mua vật đấu giá và trả tiền tại mức giá đó. Mặt khác, trong đấu thầu (procurement auction), người thắng cuộc là người thắng thầu là người chào ở mức giá thấp nhất và được trả bằng với mức giá đó. Chẳng hạn như việc đấu thầu xây dựng công trình công cộng. Trên thực tế, đấu giá mức thứ nhất thường là đấu giá niêm phong hoặc đấu giá kiểu Hà Lan (Dutch auction).

Đấu giá niêm phong: đây là hình thúc đấu giá trong đó người tham gia cùng nộp giá chào một lúc mà không được biết giá của người khác cũng như giữ kín không cho người khác biết giá của mình. Thông thường người trả giá mua cao nhất (hoặc giá bán thấp nhất như hình thức đấu thầu) sẽ thắng. Nguời thắng có thể trả theo giá đã chào hoặc tại mức giá thấp hơn ngay sau mức giá thắng cuộc (đấu giá mức thứ hai).

Đấu giá kiểu Hà Lan: người bán đấu giá đưa ra một mức giá rất cao cho vật đấu giá mà thường là không người mua nào trả nổi. Mức giá sẽ được hạ xuống dần dần theo một chiếc đồng hồ. Nếu người trả giá chấp nhận mức giá thì phải ấn nút chấp nhận ngay, nếu không sẽ mất cơ hội. Phuơng thức này được áp dụng rộng rãi trong các chợ Hoa nổi tiếng của Hà Lan.
Đấu giá mức thứ hai chấp nhận người trả giá ở mức cao nhất và người thắng cuộc chỉ phải trả tiền ở mức giá thấp liền dưới mức thắng cuộc. Trong đấu thầu, người bỏ thầu có mức giá thấp nhất sẽ được chấp nhận thầu nhưng được trả tiền ở mức cao liền trên mức giá chào thắng cuộc. Đấu giá mức thứ hai thường là đấu giá niêm phong hoặc đấu giá kiểu Anh (English auction).

Đấu giá kiểu Anh: người bán đấu giá điều khiển cuộc bán đấu giá sao cho người trả giá thắng được mức giá hiện tại. Giá chào mới phải cao hơn giá chào cũ một khoảng cho trước. Cuộc đấu giá chấm dứt khi không còn người nào đưa ra mức giá khá hơn. Người trả giá hiện tại sẽ thắng và trả số tiền theo giá đã chào. Đấu giá kiểu Anh được coi là đấu giá mức thứ hai vì người thắng cuộc chỉ cần chào giá ở mức giá thứ hai (hoặc hơn mức thứ giá thứ 2 một chút)
Đấu giá mức thứ hai còn được gọi là đấu giá Vickrey, lấy tên của William Vickrey, giải Nobel 1996. Ông là người đầu tiên mô tả và chỉ ra rằng người trả giá có một chiến lược vượt trội để trả giá theo giá trị thực mà người chơi mà không cần quan tâm tới những gì mà đối thủ làm nhưng vẫn đạt được lợi ích cao nhất so với các chiến lược khác. Phần chênh lệch giửa mức thứ nhất và thứ hai, theo Ông, khuyến khích người trả giá đưa ra con số lớn nhất mà họ sẵn sàng trả.

Các hình thức đấu giá không chỉ được áp dụng đối với những mặt hàng hiếm mà còn được sử dụng rộng rãi tại các sàn giao dịch hàng hoá theo lô, đặc biệt là với các cơ chế khớp lệnh giao dịch tự động. Nghiên cứu đấu giá giúp cho các nhà thiết kế thị trường có thể tối ưu hoá hoạt động mua bán. Hơn thế nữa, kết hợp với lý thuyết trò chơi, nghiên cứu đấu giá có thể giúp người bán đấu giá đạt được hiệu quả cao hơn.

Nguồn tham khảo:
– Theories of Auctions, GameTheory.Net.
– L’intelligence des agents, Adina Magda Florea, Institut Galilée, Université Paris 13.
– Vickrey Auction, MathWorld.

Prisoners’ Dilemma – Hợp tác hay không

“Ngụ ngôn hai người tù” là tên một trò chơi nghiên cứu về sự hợp tác giữa những người trong cuộc. Ý tưởng về trò chơi này được hai ông Merrill Flood và Melvin Dresher đưa ra thảo luận từ năm 1950, trong khuôn khổ nghiên cứu về lý thuyết trò chơi của Rand Corporation.
Cái tên “Ngụ ngôn hai người tù” (Prisoners’ Dilemma), dịch đúng là “tình trạng lưỡng nan của hai người tù”, được Albert Tucker đặt trong cuốn ghi chép không xuất bản của ông: “Two-person dilemma” năm 1950.

Truyện kể rằng Tanya và Cingque bị bắt khi mang súng vào Ngân hàng tiết kiệm Hibernia. Bị nhốt ở hai phòng giam riêng biệt, cả hai đều lo lắng cho số phận của mình hơn là cho đồng đảng. Nhân viên điều tra đã đưa ra một điều kiện thông minh nhằm lấy lời khai của hai tên cướp. Anh ta nói với mỗi tên trong bọn chúng: “Anh có quyền chọn Im lặng hoặc Khai báo nhưng hãy nhớ rằng nếu anh chịu Khai báo rằng các anh định cướp ngân hàng và đồng đảng của anh giữ Im lặng, anh sẽ được tự do và chúng tôi sẽ kết luận đồng đảng của anh phạm tội, hắn sẽ bị ngồi tù. Ngược lại, nếu anh giữ Im lặng mà đồng đảng của anh Khai báo, chính anh sẽ phải ngồi tù còn hắn sẽ ung dung tại ngoại. Nếu cả hai anh đều Khai báo, chúng tôi sẽ kết án với tình tiết giảm nhẹ, còn nếu cả hai đều giữ Im lặng, chúng tôi sẽ bỏ tù các anh vì tội mang súng trái phép.

Vậy anh chàng Tanya sẽ nghĩ sao nhỉ? Anh ta nghĩ đi nghĩ lại thì thấy mình chỉ có lựa chọn là Im lặng hoặc Khai báo mà thôi. (1) Nếu đồng đảng của Tanya Im lặng, Tanya cũng Im lặng, cả hai cùng bị tù vì mang súng bất hợp pháp. Nếu Tanya Khai báo, anh ta sẽ được tự do. Vậy thì Khai báo là hơn. (2) Nếu đồng đảng của Tanya Khai báo mà Tanya Im lặng, anh ta sẽ phải ngồi tù vì tội cướp ngân hàng. Nếu Tanya cũng Khai báo, anh ta sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Vậy thì khai báo là hơn. Cingque cũng suy nghĩ như vậy. Và thế là cả hai đều chọn Khai báo và phải ngồi tù vì cướp nhà bằng, mặc dù có tình tiết giảm nhẹ thì cũng vẫn phải ngồi tù lâu hơn tội mang súng trái phép. Nếu trước đó, hai tên cướp có mối quan hệ tốt hơn hoặc chúng có thể trao đổi trước trong tù thì đâu đến nỗi.

Ở đó có thể thấy xung đột giữa lợi ích nhóm và lợi ích cá nhân. Một nhóm với những cá nhân trục lợi có thể dẫn tới kết quả tồi hơn nhóm khác. Trò chơi đặt ra vấn đề ở chỗ cả sẽ đều thắng nếu cùng hợp tác, nhưng nếu có một người không hợp tác, tức là phá vỡ cam kết, người đó sẽ được lợi nhiều hơn. Nếu cả hai đều phá vỡ cam kết, cả hai sẽ đều thua (hoặc được lợi chút ít).

Có thể biểu diễn tình huống và kết quả của trò chơi như sau:

A / B Hợp tác Không hợp tác
Hợp tác Khá có lợi +5 Rất có hại -10
Không hợp tác Rất có lợi +10 Bình thường 0

Đây là kết quả của A sau khi B đưa ra quyết định. Có thể thấy nếu B chọn Hợp tác, A chọn Không hợp tác sẽ có lợi hơn. Nếu B chọn Không hợp tác, A chọn Không hợp tác cũng có lợi hơn. B cũng sẽ chọn như vậy. Bất cứ ai hợp tác mà không được đáp lại sẽ bị thua thiệt bởi người kia, trừ khi họ tìm thấy lợi ích gia tăng, đôi bên cùng có lợi lớn (synergy), từ việc hợp tác.

Như vậy, prisoners’ dilemma là một trò chơi có tổng bằng 0 khi không tìm thấy sự hợp tác giữa những người chơi. Cả 2 đều nhận được 0 nếu đều không hợp tác, nếu một người nhận được +10 thì người kia sẽ nhận được -10 với tổng (+ 10 – 10) = 0. Rõ ràng là nếu trò chơi được chuyển sang tổng khác 0, hợp tác giữa hai người sẽ tạo ra cho mỗi người +5, với tổng (+ 5 + 5) = 10.

Vì lợi ích giữa việc cùng hợp tác (+5) nhỏ hơn việc không hợp tác (+10) nên người ta có xu hướng không hợp tác. Lập luận không phải hoàn toàn đúng. Chẳng hạn như ví dụ mà Pricipia Cybernetica đưa ra [1]: hai con sói luôn có thể bắt được con mồi lớn hơn nhiều con mồi mà một con sói có thể bắt được. Ngay cả khi một con sói bắt được một con thỏ và chia sẻ với bạn mình thì con sói lười nhác thứ hai cũng vẫn có ít thức ăn hơn nếu nó hợp tác với con sói thứ nhất để bắt một con hoẵng.

Tuy nhiên, việc hợp tác bắt một con hoãng không phải là đơn giản và người ta coi nó như một sự hợp tác lâu dài, đòi hỏi nhiều nỗ lực và công sức trong dài hạn. Prisoners’ Dilemma tập trung nghiên cứu về việc ra quyết định trong ngắn hạn, khi mà người tham gia không có thời gian hoặc không mong đợi vào sự hợp tác hay kết hợp trong tương lai (giống như trường hợp hai người tù). Vấn đề đặt ra là hai người ra quyết định đều suy nghĩ một cách thuần lý (rational) [2], tức là lựa chọn phương án có lợi nhất cho mình bất kể người kia muốn hợp tác hay không, vì vậy mà họ sẽ luôn chọn không hợp tác và dẫn tới chẳng ai được gì (0). Nếu họ không thuần lý mà chọn hợp tác thì cả hai đều có lợi (+5) mà không ai bị thua thiệt.

Serendip [3] có đưa ra một trò chơi với hai người A và B như sau:
– Mỗi lần đi, A và B phải chọn giữa hợp tác hoặc vượt lên người chơi cùng mình (bằng cách chọn cạnh tranh) mà không biết người kia sẽ chọn gì.
– Mỗi lần chơi, A và B mỗi người sẽ có một số tiền tuỳ thuộc vào lựa chọn của hai người.
– Nếu chọn hợp tác sẽ được 3 đồng.
– Nếu một người chọn hợp tác mà người kia chọn cạnh tranh, người đó sẽ được 5 đồng, còn người chọn hợp tác sẽ không được gì.
– Nếu cả hai cùng chọn cạnh tranh, mỗi người sẽ có 1 đồng.

Sau mỗi lượt chơi, người ta sẽ lấy ngẫu nhiên một số và so sánh với số tiền trung bình của những lần chơi trước đó của mỗi người. Đến hết lượt cuối cùng, các kết quả so sánh sẽ được công bố, nếu có lần nào đó số tiền trung bình nhỏ hơn số ngẫu nhiên, người chơi sẽ không được đồng nào cả. Nếu không, người chơi sẽ được hưởng tổng số tiền mà anh ta kiếm được đến hết lượt cuối cùng.

Như vậy, vì không thể biết được số ngẫu nhiên nên người chơi phải tìm cách tối đa số tiền anh ta thu được sau mỗi ván chơi. Theo như đã phân tích ở trên, A sẽ có xu hướng chọn cạnh tranh.

Lượt thứ nhất: Số tiền thu về của mỗi người thể hiện ở bảng dưới đây.
A / B Hợp tác Cạnh tranh
Hợp tác 3 / 3 0 / 5
Cạnh tranh 5 / 0 0 / 0
Giả sử A chọn cạnh tranh và B chọn hợp tác, A sẽ được 5 đồng, B thì không được đồng nào. Trung bình của A là 5, và của B là 0. Nếu B chọn cạnh tranh thì cả hai đều không có đồng nào.

Lượt thứ hai: Ở lượt đi này A sẽ chỉ có lợi khi B chọn hợp tác. Vậy B có chọn hợp tác hay không? Dưới đây là ma trận tổng số tiền của hai người nếu B chọn cạnh tranh (A đã có sẵn 5 đồng từ lượt chơi trước).
A / B Hợp tác Cạnh tranh
Hợp tác 8 / 3 0 / 5
Cạnh tranh 10 / 0 0 / 0

Rõ ràng B sẽ phải chọn cạnh tranh để tìm cách quân bình điểm với A, các lựa chọn khác đều dẫn tới B thấp điểm hơn A. Vậy khi B chọn cạnh tranh thì điểm của A dừng lại ở con số 5 cho dù A chọn phương án nào. Trung bình của A và B đều là: 2,5.

Bây giờ ta xét trường hợp A và B cùng chọn hợp tác ở lượt thứ nhất.
Lượt thứ nhất: Trung bình của cả hai người đều là 3.
Lượt thứ hai: Nếu cả cùng chọn hợp tác, trung bình sẽ vẫn là 3 > 2,5.
Cứ như vậy, nếu A hay B chọn cạnh tranh, tình huống sẽ rơi về trường hợp 1, làm cho trung bình sẽ lại nhỏ hơn trung bình khi chọn hợp tác (3). Do suy nghĩ thuần lý và không có trao đổi qua lại giữa hai bên, A và B đã tự làm tăng xác suất thua cuộc của mình lên trong khi cả hai có thể về đích an toàn và hưởng số tiền sau lượt chơi cuối cùng bằng cách hợp tác.

Robert Axerold, giáo sư chính trị và chính sách công của Đại học Michigan, tác giả cuốn “The Evolution of Cooperation”, đã tổ chức thực hiện 200 trò chơi Prisoners’ Dilemma từ đơn giản đến vô cùng phức tạp với 14 nhà kinh tế học và toán học nhằm tìm kiếm một chiến thuật tốt nhất cho mọi trò chơi. Kết quả là chiến thuật đơn giản nhất của giáo sư Anatol Rapoport của Đại học Toronto, Canada, đã đạt số điểm cao nhất. Chiến thuật đó được chiến thuật “ăn miếng trả miếng” (Tit For Tat) chỉ gồm 2 quy tắc:
– Lượt đầu tiên chọn hợp tác.
– Các lượt sau chọn như đối thủ đã chọn ở lượt liền kề trước đó.

Chiến thuật này càng khẳng định vị trí độc tôn sau khi Robert Axelrod tổ chức tiếp một vòng chơi khác gồm 62 đối thủ là các giáo sư đến từ 6 nước. Sức mạnh của Tit For Tat là khả năng ép các chiến thuật cạnh tranh phải hợp tác. Sau khi xếp hạng các chiến thuật theo điểm số từ cao xuống thấp, Axerold nhận thất rằng những người ít tha thứ (tức là ít quay lại hợp tác nhất) có điểm số thấp nhất. Ông đi tới kết luận bằng 4 quy tắc nổi tiếng.
– Không bao giờ là người đi quá giới hạn trước (luôn hợp tác ở những lượt chơi đầu tiên).
– Tự vệ nhưng biết tha thứ (không hợp tác nếu đối thủ không hợp tác, hợp tác nếu đối thủ hợp tác).
– Không đố kỵ cho dù người ta giàu có hơn mình (luôn duy trì hợp tác).
– Biết chắc là đối thủ có khả năng hiểu được trò chơi như mình.

Người ta nói rằng Martin Luther King Jr. và Assar Arafat, những nhà lãnh đạo được giải Nobel về hoà bình, đều đã áp dụng xuất sắc chiến thuật ấy. Thực hư thế nào xin được dành đến bài viết sau.

———————————————————-
[1] The Prisoners’ Dilemma – Pricipia Cybernetica.
[3] You Have Found The Prisoners’ Dilemma – Serendip.

Zero-sum and non zero-sum games, trò chơi có tổng bằng 0 và khác 0

Lý thuyết trò chơi coi trò chơi là sự kết hợp hoặc trao đổi giữa hai hay nhiều đối thủ ở đó mỗi đối thủ cố gắng lựa chọn tối ưu hành động (hay nước đi) của mình nhằm đạt được lợi ích tối đa. Người ta chia các trò chơi ra làm 2 loại: trò chơi có tổng bằng 0 và trò chơi có tổng khác 0.

Trò chơi có tổng bằng 0 (zero-sum) là trò chơi có tổng giá trị kết quả (mà người thắng được hưởng) là cố định. Bất cứ bên nào thắng (+1) cũng làm cho bên kia thua cuộc (-1), tương ứng với tình huống ganh đua thuần tuý, cuối cùng dẫn tới tổng (+1 -1) = 0.

Cờ vua là một trò chơi có tổng bằng 0 bởi không thể có trường hợp cả hai bên đều thắng hoặc đều thua. Nếu một bên thắng thì bên kia nhất định là thua và ngược lại [1]. Thể thao là những ví dụ điển hình nhất của trò chơi có tổng bằng 0. Nhà vô địch chỉ có thể đạt được vinh quang khi toàn bộ các đối thủ khác đều thua cuộc. Trong một giải bóng đá tổng số trận thắng luôn bằng tổng số trận thua cũng là bởi cái tính chất tổng bằng 0 ấy.

“Được ăn cả, ngã về không”, việc đầu cơ chứng khoán cũng chính là một trò chơi có tổng bằng 0, ở đó, kẻ đầu cơ có thể mất trắng hoặc thắng lớn, nhưng lợi nhuận mà anh ta thu được có thể đổi bằng cả gia tài, đôi khi mạng sống của những nhà đầu tư tài chính khác.

Khác với tổng bằng 0, trong những tình huống có tổng khác 0, lợi ích thu được của người nay không nhất thiết dẫn tới sự mất mát của người kia. Các tình huống này tồn tại với điều kiện tổng kết quả (mà người thắng được hưởng) không bị giới hạn hay cố định. Về bản chất đây là trường hợp kiến tạo kết quả thay vì chia sẻ kết quả giữa các đối thủ.

Chẳng hạn như khi nghe hoà nhạc, người ta không phải thích một bản hoà tấu vì người khác không thích nghe. Việc ai đó không thích nghe chẳng có ảnh hưởng gì tới sở thích của bạn trong điều kiện bạn không phải nghe lời bình luận của người đó [2].

Thực ra trong trò chơi tổng bằng 0 cũng có thể tồn tại tình huống tổng khác 0. Chẳng hạn như ví dụ mà R. Kaplan (2003) đưa ra [3]. Ở một trận tennis đơn, mỗi đối thủ chỉ có cơ hội thắng hoặc thua (hoặc là … hoãn trận đấu). Còn ở trận tennis đôi, mỗi đôi có cơ hội thắng hoặc thua ứng với trò chơi có tổng bằng 0, nhưng mỗi cầu thủ trong cùng một đội lại đang tham gia vào một trò chơi có tổng khác 0 mà ở đó họ có thể cùng thua hay cùng thắng. Rõ ràng là họ đang hỗ trợ nhau hết mình để cùng dành phần thắng đúng không.

Các tiện ích công cộng, thông tin hay kiến thức cũng có tổng khác 0 bởi người ta có thể sử dụng mà không làm cạn kiệt hay làm mất phần của người khác. Năng lượng mặt trời cũng vậy. Người ta có thể sử dụng thoải mái mà không phải lo những người khác hay cho con cái đời sau không có mà dùng. Việc phát triển công nghệ này còn có lợi cho bất cứ ai trên thế giới (có lẽ trừ mấy ông sản xuất điện truyền thống) và cho cả các thế hệ sau.

Ngoài lề một chút, không biết bạn đã từng xem kiến càng “thi đấu” đến “hơi thở cuối cùng” bao giờ chưa. Đó là một cuộc chơi có tổng khác 0 giữa hai chú kiến mà ở đó không có người thắng, chỉ có kẻ chết trước và chết sau mà thôi. Giá mà hai chú kiến có thể trao đổi qua lại và đổi “đối đầu” thành “đối thoại” thì chắc mấy chú nhóc nghịch ngợm cũng chằng còn hứng thú nào mà làm khổ hai chú kiến cỏn con ấy nữa.

Đừng tưởng mấy chị buôn chuyến không biết chơi trò tổng khác 0 nhé. Nếu đôi bên không cùng có lợi, có lẽ sẽ chẳng có hoạt động buôn bán nào có thể diễn ra. Người đi buôn chẳng dại gì tham gia vào thương vụ mà không nhìn thấy lợi nhuận gì. Tất nhiên không phải thương vụ buôn bán nào cũng sinh lợi, nhưng người ta vẫn cứ đi buôn đấy thôi.

Hầu hết các hiện tượng kinh tế đều có tổng khác 0. Chẳng hạn khi sản lượng khai thác quặng tăng lên, nhà khai thác giảm giá đầu ra. Nhà máy luyện kim qua đó cung ứng đầu vào với giá rẻ hơn cho nhà máy cán thép đảm bảo được vật liệu cho ngành xây dựng với giá thành hạ. Ngành xây dựng tăng trưởng. Người chủ đầu tư xây dựng hài lòng, chủ nhà máy cán thép rồi luyện kim cũng đều hài lòng từ việc gia tăng sản lượng khai thác quặng. Còn nhà khai thác qua đó cũng bán thêm được nhiều quặng. Có thể thấy tất cả đều thắng trong cuộc chơi có tổng khác 0 này.

Ngày nay, người ta ứng dụng tổng khác 0 vào những chiến lược kinh doanh win-win, tức là đôi bên cùng có lợi. Bất cứ công ty nào cũng phải nghĩ tới mối lợi của của những người cùng chơi, đó là khách hàng, là nhà cung ứng, là những đối tượng mà người ta gọi là “steakholders” tức là ít nhiều có một chút lợi ích từ sự thành công của công ty, trong đó có xã hội nữa. Muốn phát triển bền vững, hãy luôn lấy chiến lược win-win làm mục đích hướng tới cho mình. Rõ ràng chiến lược kinh doanh tối ưu phải tham gia vào trò chơi có tổng khác 0 chứ không thể rơi vào vòng xoáy của cuộc chơi có tổng bằng 0 sinh tử.

——————————————————
[1] Zero sum games – Principia Cybernetica.
[2] Non-zero-sum – Wikipedia.
[3] Robert Kaplan & Robert Wright – Ông Trật Tự gặp ngài Hỗn Loạn – Hà Phương Thuỷ Trang dịch, Ngô Tự Lập hiệu đính – Talawas 2003.

John Nash và lý thuyết cân bằng

John Forbes Nash Jr., sinh ngày 13 tháng 6 năm 1928, là một nhà toán học nghiên cứu về lý thuyết trò chơi và hình học vi phân. Ở tuổi 30, khi đang cống hiến hết mình cho toán học, Nash mắc chứng tâm thần phân liệt kéo dài 25 năm. Năm 1994, nhờ những đóng góp của cân bằng Nash trong kinh tế, ông được trao giải Nobel Kinh tế. Cuộc đời của Nash đã được chuyển thể thành phim với tiêu đề “A Beautiful Mind”, dựa theo cuốn sách cùng tên của Sylvia Nasar và đã đoạt 4 giải Oscars 2002.

Cân bằng Nash là một khái niệm trong Lý thuyết Trò chơi (Game Theory), được tiến sỹ John Nash đưa ra trong luận án năm 1950 tại Priceton với mô hình trò chơi với n đối thủ. Cân bằng Nash [1] xác định một chiến lược tối ưu cho các trò chơi khi chưa có điều kiện tối ưu nào được xác định trước đó. Định nghĩa cơ bản của cân bằng Nash là: Nếu tồn tại một tập hợp các chiến lược cho một trò chơi với đặc tính là không một đối thủ nào có thể hưởng lợi bằng cách thay đổi chiến lược hiện tại của mình khi các đối thủ khác không thay đổi, tập hợp các chiến lược đó và phần thu nhận tương ứng tạo nên cân bằng Nash. Nói cách khác, cân bằng Nash đạt được nếu như thay đổi một cách đơn phương của bất cứ ai trong số các đối thủ cũng sẽ làm cho chính người đó thu lợi ít hơn mức có được với chiến lược hiện tại. Khái niệm này áp dụng cho những trò chơi gồm từ hai đối thủ trở lên và Nash đã chi ra rằng tất cả các khái niệm khác nhau về giải pháp (solution) trong các trò chơi được đưa ra trước đó đều có cân bằng Nash.

Một ví dụ đơn giản [2]: trong một trò chơi gồm hai đối thủ cùng chọn song song một số bất kỳ từ 0 đến 10. Người nào chọn số lớn hơn sẽ thua và phải trả tiền cho người kia. Trò chơi này chỉ có 1 cân bằng Nash duy nhất: cả hai đối thủ đều chọn số 0. Bất kỳ sự lựa chọn nào khác (mà không biết sự lựa chọn của đối thủ kia) cũng có thể làm đối thủ thua cuộc. Khi thay đổi luật chơi: mỗi đấu thủ sẽ được hưởng số tiền bằng con số mà cả hai cùng chọn, nếu không chọn trùng nhau thì không ai có tiền, ta sẽ có 11 cân bằng Nash.

Một trò chơi có thể có nhiều hoặc không có cân bằng Nash. Nash cũng chứng minh rằng nếu cho phép các chiến lược hỗn hợp (mixed strategies) tức là các đối thủ chọn ngẫu nhiên các chiến lược dựa vào khả năng đã được ấn định trước, thì bất cứ một trò chơi với n đối thủ nào trong đó mỗi đối thủ có thể chọn trong giới hạn cho trước nhiều chiến lược sẽ có ít nhất 1 cân bằng Nash của các chiến lược hỗn hợp.

Ví dụ với Trò chơi Phối hợp (Coordination Game) [2]. Đây là trò chơi ma trận đôi cổ gồm 2 đối thủ A và B. A thường ở bên trái (tương ứng với số đầu tiên trong cặp số), B thường ở phía trên (tương ứng với số thứ hai trong cặp số). Trò chơi phối hợp trong việc lái xe. Có thể chọn lái bên trái hoặc bên phải với 1 tức là không gây tai nạn và 0 tức là gây tai nạn.

B
Trái Phải
A Trái 1,1 0,0
Phải 0,0 1,1

Trong trường hợp này, ta thấy có 2 cân bằng Nash khi cả 2 cùng chọn hoặc lái bên trái hoặc lãi bên phải.

Ví dụ với Song đề Tù nhân (Prisoner’s dilemma) [2]. Song đề này minh hoạ sự mâu thuẫn giữa hành vi cá nhân có năng lực suy đoán và lợi ích của việc hợp tác. Vấn đề mấu chốt là mỗi đối thủ đều cố gắng tối đa hoá lợi ích của mình mà không quan tâm tới lợi ích của những người khác, tức là đối thủ có tính ích kỷ. Song đề tù nhân có 1 cân bằng Nash khi cả 2 đối thủ đều không tôn trọng giao ước. Tuy nhiên cả 2 đều sai rõ ràng không bằng cả hai cùng hợp tác. Chiến lược hợp tác không bền vì một đối thủ có thể làm tốt hơn bằng cách không tôn trọng giao ước trong khi đối thủ của anh ta vẫn hợp tác.

Cân bằng Nash giúp làm rõ sự phân biệt giữa các trò chơi hợp tác và không hợp tác. Các trò chơi hợp tác có những thoả thuận có thể được áp đặt bời toà án chẳng hạn. Trong các trò chơi không hợp tác không tồn tại cơ chế thoả thuận như vậy. Và vì thế chỉ có các thoả thuận cân bằng được duy trì. Một hướng lý thuyết trò chơi mới được mở đường bằng cân bằng Nash xoá bỏ sự phân biệt này bằng cách xoá bỏ các cơ chế áp đặt có liên quan trong mô hình trò chơi, từ đó các trò chơi được mô hình hoá với tính chất không hợp tác.

Lý thuyết kinh tế về đấu giá [3] cũng là một trong những áp dụng lớn của cân bằng Nash và lý thuyết trò chơi. Trước kia, các nhà kinh tế thường chỉ phân tích thị trường thông qua cung và cầu hàng hoá mà không chú trọng tới quy luật của “trò chơi” làm cho các hình thức đấu giá trở nên khác biệt với nhau và với các hình thức thị trường khác (thị trường chứng khoán, siêu thị…). Ngày nay nghiên cứu đấu giá thường dựa trên cân bằng Nash của các quy luật đấu giá.

P. Ordeshook [4] Giáo sư chính trị học, Học viện công nghệ California, tác giả cuốn “Lý thuyết trò chơi và lý thuyết chính trị” đã viết: “Khái niệm cân bằng Nash có lẽ là ý tưởng quan trọng nhất trong lý thuyết trò chơi không hợp tác… dù trong việc phân tích chiến lược ứng viên / bầu cử, phân tích nguyên nhân chiến tranh, …, hay hành động của các nhóm quyền lợi, dự báo về các sự kiện đều thu lại trong việc tìm kiếm và mô tả các trạng thái cân bằng. Đơn giản hơn, các chiến lược cân bằng là những dự đoán về con người”.

Trong thế kỷ 19, các nhà khoa học khác đã sử dụng lý thuyết cân bằng như Maxwell, Walrus, Gibbs. Đầu thế kỷ 20, cân bằng kinh tế và hoá học được sử dụng bởi van der Waals, Onnes, Keynes trước khi được Nash sử dụng. Nhiều nhà khoa học khác đã bổ sung cho lý thuyết của Nash trong thập kỷ 50 và 60 như Selten, Harsanyi, và tiếp túc khám phá các khả năng khác nhau của Lý thuyết cân bằng tổng thể (General Equilibrium Theory – GET) từ thập kỷ 70 tới thập kỷ 90, trong đó có Arrow, Hicks, và Debreu. Lý thuyết này vẫn được giảng dạy trong các trường đại học ngày nay.Lý thuyết của Nash đã trở thành một hệ thống giải thích và chứng minh đa dạng hơn rất nhiều so với khái niệm ban đầu của tác giả. Hệ thống ấy đang ngày một phát triển trong xã hội, ở cả những nơi mà Nash có lẽ không bao giờ nghĩ đến.
______________________________________________________

[1] “Game Theory: An Introductory Sketch”, Dr. William King.
[2] Wikipedia Encyclopedia.
[3]“The Nash Equilibrium: A Perspective”, Charles A. Holt and Alvin E. Roth, University of Virginia and Harvard University.
[4] ISCID Encyclopedia of Science and Philosophy.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.