Ktetaichinh’s Blog

April 18, 2009

Lộ diện những “cú sốc” rủi ro tỷ giá 033009

Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, đánh tụt kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Những rủi ro đó vẫn chưa dừng lại…

Quý 4/2008, kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (Gilimex) có đột biến. So với quý 3/2008, doanh thu tăng 11,8%; đặc biệt, lợi nhuận sau thuế đạt tăng tới 49,5%.

Có thể xem Gilimex là một hiện tượng khi đặt trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng từ thế giới, nhất là đối với hoạt động xuất khẩu. Nhưng, một thuận lợi tác động trực tiếp đến kết quả trên là do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trong quý 4/2008.

Gilimex cũng là một điển hình nhận được lợi ích từ chính sách tỷ giá, cũng như mục đích chính hỗ trợ xuất khẩu nói chung trong những đợt điều chỉnh vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. Đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá về mặt lợi. Nhưng, trên thực tế, có một “mặt thứ hai” đang lộ diện ở diện rộng: nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì tỷ giá tăng quá nhanh và mạnh.

Bóp méo cả kết quả kinh doanh

Trong câu chuyện với phóng viên, chủ tịch hội đồng quản trị một công ty niêm yết nói: “Rủi ro tỷ giá đã được thấy trước, lường trước và có thể chỉ là ảnh hưởng nhỏ đối với kết quả kinh doanh nếu so với dự phòng đầu tư tài chính. Thế nhưng, khi kết toán, nó làm méo mó kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp không dễ ứng xử với cổ đông và nhà đầu tư”.

Đó cũng là lý do để trong tháng 2 và 3 vừa qua, một loạt doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) phải có văn bản giải trình chênh lệch số liệu trong báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Như với Công ty Cổ phần Hàng hải Sài Gòn (SHC), kết quả kinh doanh năm 2008 được báo cáo với doanh thu đạt 174,436 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2007, đạt 116% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 17,979 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2007, đạt 120% kế hoạch và lợi nhuận sau thuế 15,462 tỷ đồng.

Thế nhưng, sau khi kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty này chỉ có 13,925 tỷ đồng, không đạt kế hoạch (92,8%). Nguyên nhân là do SHC chưa tính đến khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ.

Trao đổi với VnEconomy, ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc SHC, cho biết, những điều chỉnh trên là do khoản chênh lệch tỷ giá kết toán đối với khoản vay ngoại tệ mua tàu (USD) lên tới hơn 3,6 tỷ đồng, dù khoản chênh lệch tỷ giá này chỉ là dự phòng chưa xẩy ra (vì thời hạn của hợp đồng vay vốn là 5 năm). Ông Ái cũng kiến nghị Bộ Tài chính cần có hướng dẫn cụ thể hơn về mặt kỹ thuật kiểm toán đối với khoản mục này.

Do chỉ là dự phòng chưa xẩy ra nên ông Ái cho rằng doanh nghiệp không mất và không bị ảnh hưởng nhiều. Nhưng các cổ đông phải chịu thiệt thòi, cụ thể là tỷ lệ chi trả cổ tức bị giảm, giá cổ phiếu trên sàn có thể bị ảnh hưởng…

Tương tự, rủi ro về tỷ giá cũng nổi bật trong loạt báo cáo giải trình của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác, với tác động chính là làm giảm lợi nhuận hoặc đánh tụt kết quả kinh doanh so với kề hoạch đề ra.

Chỉ riêng sự kiện ngày 26/12/2008, Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 3% cũng đã làm cho chi phí tài chính của nhiều doanh nghiệp biến động mạnh. Tại Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá, chênh lệch tỷ giá cuối năm tính vào chi phí quý 4/2008 đã tăng thêm tới hơn 441 triệu đồng, đồng nghĩa với lợi nhuận giảm tương ứng.

Hay tại Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình, lợi nhuận quý 4/2008 giảm 15,7% cũng có nguyên nhân chính là tỷ giá USD/VND “có quá nhiều biến động”. Công ty đã phải hạch toán vào chi phí chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện cuối năm với số tiền lên tới 909.931.314 đồng. Với Công ty Cổ phần Gas Petrolimex, lợi nhuận giảm 17,7 tỷ đồng trong quý 4/2008 cũng chủ yếu do chênh lệch tỷ giá và trích dự phòng tài chính.

Ngoài ra, rủi ro tỷ giá có thể thấy ở tổn thất của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác. Và không loại trừ ở nhiều trường hợp chưa niêm yết, khi thông tin tài chính thường chưa công bố công khai và cụ thể.

Thụ động hay rủi ro từ chính sách?

Năm 2008, chính sách tỷ giá và tỷ giá trên thị trường chứng kiến tần suất điều chỉnh và những mức tăng chưa từng có trong lịch sử. Biên độ liên tục được nới rộng; tỷ giá liên ngân hàng đã tăng tới 5%, của các ngân hàng thương mại tăng tới 9% – một mức tăng gây sốc trong báo cáo tài chính ở những trường hợp nói trên.

Năm 2009, đặt trong câu chuyện này, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục đón một năm không bình yên. Ít nhất, từ ngày 24/3, biên độ tỷ giá đã được nới rộng lên +/-5%, tỷ giá USD/VND của các ngân hàng đã tăng thêm gần 2%.

Suốt những năm trước đó, tỷ giá USD/VND liên tục được duy trì ổn định, thường chỉ tăng quanh 1% mỗi năm. Thay đổi này ảnh hưởng không nhiều đối với chi phí tài chính của doanh nghiệp, và là một phần giải thích vì sao phần lớn chưa mặn mà với các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cũng không loại trừ mức thay đổi quen thuộc và ổn định đó đã hạn chế sự chủ động của doanh nghiệp trước những điều chỉnh nhanh và khác thường của chính sách vừa qua.

Còn trong giải thích của một doanh nghiệp, năm 2008, tỷ giá đã có quá nhiều biến động khiến họ không thể thích nghi kịp thời để ổn định sản xuất kinh doanh.

Một giải pháp được đặt ra là doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh của các ngân hàng thương mại. Nhưng, bên cạnh phí dịch vụ, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã có chủ trương tạm ngừng cung cấp các sản phẩm này.

Ở một ứng xử khác, như định hướng mà ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SHC, đưa ra là trong thời gian tới sẽ hạn chế dần những khoản vay bằng ngoại tệ. Trong khi đó, giải pháp mà Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen xác định là chuyển đổi các hợp đồng vay USD thành vay VND để tránh rủi ro tỷ giá trong năm 2009.

Liệu đây có phải là một phần nguyên nhân khiến cầu vay ngoại tệ tại các ngân hàng đầu năm nay có xu hướng giảm

Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD thì không ít doanh nghiệp lại được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0cm; margin-right:0cm; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0cm; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Times New Roman”,”serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoPapDefault {mso-style-type:export-only; margin-bottom:10.0pt; line-height:115%;} @page Section1 {size:21.0cm 842.0pt; margin:70.9pt 2.0cm 70.9pt 99.25pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin-top:0cm;
mso-para-margin-right:0cm;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0cm;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD lên + 5% do phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập ngoại, hoặc có nguồn vốn vay ngoại tệ lớn… thì cũng không ít doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

Vay ngoại tệ: Thiệt thòi !

PPC (Nhiệt điện Phả Lại) là một trong những cổ phiếu “thiệt kép” với đợt nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này. Do doanh nghiệp này vay nợ bằng Yên Nhật.

Do đó, khi đồng tiền này tăng lên so với USD, trong khi VND lại mất giá so với USD khiến cho khoản nợ của PPC tăng lên đáng kể. Phần doanh thu tăng thêm khoảng 96 tỷ đồng từ khoảng tăng giá điện mới đây quá “bèo bọt” so với con số của đợt biến động tỷ giá.

Tính đến ngày 31/12//2008, dư nợ vay là 36,2 tỷ JPY. Sự biến động tỷ giá trong năm ngoái đã khiến cho trăng trượng lợi nhuận kinh doanh ấn tượng của PPC không đủ bù đắp cho khoản lỗ kỷ lục 207,7 tỷ đồng tính đến cuối năm.

Khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện của PPC gần 1,600 tỷ đồng cho khoản vay nợ ngoại tệ trên và khoản lỗ 10 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá đã thực hiện do thanh toán 1,8 tỷ JPY tiền gốc vay trong năm nay.

Với khoản nợ vay bằng Yên Nhật là 36 tỷ JPY, thì chỉ cần 1% biến động trong tỷ giá VND/JPY so với cuối năm 2008, PPC có thể phải trích lập thêm hoặc hoàn nhập gần 66.5 tỷ đồng.

Để hạn chế rủi ro này, hiện nay PPC cũng đang tìm kiếm đối tác để bảo hiểm rủi ro. Tuy nhiên, “thiệt thòi” chắc chắn cũng khó ước đoán do khoản vay này không hề nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, việc VND giảm giá so với USD sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành dầu khí thu được khoản lợi lớn nhờ tiền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch là USD.

Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng với những doanh nghiệp có sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ như PVD. Trong quý 4/2009, do sự biến động của tỷ giá hối đoái, PVD chịu một khoản lỗ khoảng 140 tỷ đồng do đánh giá lại các khoản vay ngoại tệ.

Trong đó, khoảng 70 tỷ đồng đã được hiện thực hoá, 70 tỷ đồng còn lại mới được lập dự phòng và sẽ được hoàn nhập lại nếu tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho công ty.

Ngoài ra, trong quý 4/2009, chi phí quản lý của PVD tăng cao so với các tháng trước do công ty đã trích dự phòng mất việc làm, trả tiền lương tháng thứ 13 cho công nhân viên, trả phí quản lý cho tập đoàn Petrovietnam và phí tập đoàn bảo lãnh các khoản vay của PVD.

Theo dự báo của công ty Kim Eng Việt Nam, tổng doanh thu của PVD năm 2009 sẽ giảm khoảng 9,8% so với 2008 do sự thu hẹp của hoạt động thương mại và các dịch vụ liên quan tới hoạt động khoan dầu khí.

Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của công ty sẽ không thay đổi nhiều so với năm 2008 nhờ các hợp đồng dài hạn được ký cho đến hết tháng 7/2009. Trong những tháng còn lại, nhiều khả năng PVD sẽ cho công ty khai thác dầu Phú Quý thuê PV Drilling I theo một hợp đồng khoảng 140 ngày.

Mặc dù giá trị hợp đồng vẫn chưa được công bố nhưng giá thuê có lẽ không thể quá chênh lệch so với giá cho thuê giàn hiện tại tại khu vực Đông Nam Á khoảng 153.000 USD/ngày.

“Theo ước tính của chúng tôi, chi phí cho một giàn khoan một ngày khoảng 110.000-120.000 USD bao gồm chi phí hoạt động, quản lý, khấu hao và lãi vay. Như vậy, cho dù giá cho thuê giàn khoan sụt giảm mạnh chỉ còn khoảng 160.000 USD/ngày tỷ suất lợi nhuận kinh doanh của hoạt động này cũng được duy trì ở mức tối thiểu là 25%”.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty chứng khoán Kim Eng Việt Nam nhận định: “Theo dự báo của chúng tôi, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của PVD sẽ tăng bình quân 22%/năm trong vòng 5 năm tới. Về mặt lợi nhuận, khi mà hoạt động cho thuê giàn khoan chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu dịch vụ do PVD cung ứng, tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tiếp theo”.

Cơ hội với thị trường nội địa

Cũng chịu nhiều tác động xấu từ việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này, nhưng những doanh nghiệp sữa “nội” có khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước có thể nhân cơ hội để mở rộng thị phần vẫn bị các doanh nghiệp “ngoại” chiếm ưu thế. Điển hình như “ông lớn” VNM (Vinamilk).

Tuy là một trong những doanh nghiệp chủ động trong việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước nguồn nguyên liệu chính là sữa bột, chiếm khoảng 50% nguyên liệu sản xuất, vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn.

Như vậy, việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD sẽ đẩy chi phí đầu vào của doanh nghiệp này tăng lên, đặc biệt trong quý 2/2009 vì VNM đã cam kết sẽ không tăng giá sữa đến hết tháng 5/2009.

Nhưng bên cạnh tác động tiêu cực, VNM hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để mở rộng thị phần sữa, đặc biệt là với sản phẩm sữa bột – vốn đang bị các nhà sản xuất ngoại chiếm ưu thế.

Năm 2008, Vinamilk chiếm 37% thị phần tính chung cho tất cả các sản phẩm sữa ở Việt Nam. Sản phẩm sữa bột nhãn hiệu Dielac của doanh nghiệp này chỉ chiếm 15% thị phần. Sản phẩm sữa bột có tỷ suất lợi nhuận gộp cao nên được VNM tập trung phát triển trong thời gian tới.

Sau khi đã tính đến yếu tố VND mất giá khoảng 8% so với USD trong năm 2009 thì tỷ suất lợi nhuận gộp năm nay của VNM sẽ tăng lên từ 31,7% lên 33,6%. Theo đó lợi nhuận sau thuế năm 2009 ước đạt 1.492 tỷ đồng, tăng trưởng 21% so với năm 2008.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty Chứng khoán Kim Eng Việt Nam cho rằng: “Cổ phiếu VNM hiện đang được giao dịch quanh mức P/E dự kiến là 11,6 lần, khá thấp so với mức bình quân 16 lần của cổ phiếu ngành sữa trong khu vực Châu Á. Đây là cổ phiếu đáng được xem xét đầu tư khi nhìn vào tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn của thị trường sữa Việt Nam”.

Theo P.Lan
DĐDN

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: