Ktetaichinh’s Blog

April 6, 2009

Nguyen Duc Thanh – 081208

Nên giữ gì lúc này?- Nguyen Duc Thanh
Nên giữ gì lúc này? magnify

Nhân trả lời lời môt người bạn trên forum, post lên đây để xem về sau phán đoán của mình nó sẽ sai nhiều như thế nào. :)

Ngày xưa nhờ quen babyface trên forum mà khi qua Sing có bạn đi chơi cùng và tá túc vài đêm.

****

Mình nghĩ là nếu không có gì đặc biệt bất thường thì đô từ này đến cuối năm sẽ nằm ngang hoặc đi xuống vì sẽ thừa nhiều. Babyface xem nghĩ chuyển sang cái gì khác để gỡ lại có được không?

Sắp tới thì tiền Euro sẽ yếu đi so với đô Mỹ ở tầm thế giới, mà đô Mỹ mặc dù ko yếu đi so với VND nhưng vì thừa nên vẫn có thể mất giá ở VN. Kết quả là Euro mất giá kép so với tiền Việt.

Vàng thì đi xuống cùng dầu nhưng đến một ngưỡng nhất định có khả năng sẽ tách ra đi ngược lên vì dân đầu cơ dầu hiện thực hóa đợt lợi nhuận vừa rồi xong có thể chuyển sang giữ vàng. Ở mình giá vàng tính theo USD nên USD mất giá kéo giá vàng xuống, nhưng lúc đó bản thân USD lại mất giá so với vàng nên vàng sẽ xuống chậm hơn USD.

Như vậy trong mấy món Euro, USD, VND, vàng thì giữ vàng vẫn là hơn cả. Có lẽ xem lúc nào vàng xuống sâu sâu nhập một ít cũng được.

Thêm vào nữa là từ nay đến cuối năm nếu dân nhập vàng và nhà nước đồng thuận không mở quota nhập thêm (hoặc tăng thuế nhập), thì giá vàng trong nước có thể tăng cục bộ vì được bảo hộ.

Còn mở rộng sang chứng khoán và BDS thì một anh mất thời gian đi chợ, một anh thanh khoản chậm, có thể ko có lợi lắm cho babyface. Nhưng nhìn chung có thời gian mình thấy bây giờ nhập mấy cái đấy cũng ổn.

Thêm về giá đô: hiện nay lãi suất gửi USD cao vì đi theo lãi suất tiền Việt, làm USD nước ngaòi chảy vào nhiều. Sắp tới thặng dư USD trong nước, mà NHNN sẽ không mua vào nhiều như trước nữa, cho nên có khả năng sẽ hạ lãi suất tiền USD để ngăn đô chảy vào tiếp (gần đây đã hạ rồi). Ngăn được đô chảy vào thì bớt được sức ép giảm giá USD, nhưng do lãi suất thấp nên đô lại tự nó mất giá ở trong nước. Kết quả là dù thế nào đồng USD vẫn yếu đi.

Ghi chú: Một dạng của bài này đã được đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị ở đây.

Điều chỉnh tỷ giá: tại sao lúc này và rồi sẽ ra sao?

Sáng nay người bạn gọi điện nói: “bạn em ở Vũng Tàu mua được đô từ ngân hàng rồi, đúng tỷ giá liên ngân hàng 16.8. Cu cậu sướng quá vì đỡ được mấy trăm triệu [nếu phải mua ở mức như cũ].”

Tôi gọi điện hỏi anh bạn làm nhập khẩu ở Hà Nội, anh cũng xác nhận đã mua được đô để trả tiền hàng cho bên nước ngoài rồi. Giá 17.5.

Trước đó mấy hôm (lúc đang ở Ý), nhận được tin offline của người bạn làm quản lý một công ty chứng khoán, hỏi: “bọn nước ngoài bỗng nhiên bán trái phiếu ra ồ ạt để ôm tiền đồng làm gì nhỉ?”

Tất cả những sự kiện trên đều đã được báo chí phản ánh và giải thích phần nào cả rồi, có thể tạm liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:

1. Giá đô trên chợ đen cao hơn giá liên ngân hàng nhiều, và tình hình thị trường ngoại tệ bên ngoài rất lộn xộn (có lúc chỉ mua vào, không bán ra, có lúc ngược lại). Nhà nước can thiệp mạnh về hành chính.

2. Do lãi suất cơ bản tăng cao, giá trị trái phiếu chính phủ (và mọi loại trái phiếu khác) trở nên rất thấp, nên các tổ chức nước ngoài bán ra ồ ạt để cắt lỗ hoặc đáp ứng nhu cầu thanh khoản (theo báo chí). Theo nguồn tin cá nhân, lượng bán ra trị giá khoảng nửa tỷ USD.

3. NHNN điều chỉnh mức liên ngân hàng lên 2%, đồng thời đáp ứng nhu cầu USD cho hệ thống NHTM (có lẽ đã bơm USD ra một lượng khá lớn, vì đến các doanh nghiệp nhỏ cũng đều nhận được lượng USD cần thiết).

Có thể sâu chuỗi những sự kiện này như sau:

1. Có thể NHNN nhận thấy khối nước ngoài đã bán trái phiếu và nắm giữ một lượng lớn tiền Việt. Sớm muộn gì họ cũng đổi ra USD để giữ hoặc chuyển ra những nơi thích hợp với kế hoạch kinh doanh của họ. Có thể NHNN nhận định rằng nếu để họ gom đô trên thị trường tự do (trong hoàn cảnh khó mua đô trong ngân hàng như hiện nay) thì sẽ gây một sự méo mó rất lớn trên thị trường ngoại hối. Kết quả là người dân không biết đâu mà lần (vì thấy giá đô tự do bỗng tăng vọt), nên sẽ ùa đi mua đô gây nên những đợt sốc không cần thiết. Do đó, tốt hơn hết là bơm USD ra để đáp ứng nhu cầu thông qua hệ thống liên ngân hàng để cho vừa ổn định vừa dễ kiểm soát. Đồng thời nâng giá thêm 2% để có lợi cho mình (NHNN-người bán) mà cũng không có gì là bất hợp lý quá đáng.

Như thế, NHNN cũng gỡ được phần nào. Vì trước đây khi vào VN, các đối tác nước ngoài cũng bán đô ra, và NHNN đã mua vào được với giá khá rẻ. Bây giờ bán ra với giá cao hơn thì cũng là tốt. Mặc dù tôi cho là mức đó chưa bù đắp được phần mất giá của tiền Việt so với USD. Lạm phát đã vào khoảng 20% kể từ khi mua đô với giá 15.5 cách đây một năm chẳng hạn, thì lúc này nên bán ra với giá khoảng 18.5 mới phải (tăng thêm 20%).

2. Một tình huống khác, mà khả năng xảy ra rất thấp, là khu vực nước ngoài sau khi bán trái phiếu ra, thu tiền Việt về và muốn đổi sang USD. Họ có thể vận động NHNN thực hiện chính sách bơm USD ra với giá “phải chăng”, như mức gần 17 như hiện nay chẳng hạn. Để họ có thể đổi hết phần tiền Việt đang nắm (khoảng nửa tỷ USD) sang USD. Sau khi đã hoán chuyển xong, có thể NHNN ngừng bơm USD ra, giá USD lại từ từ dâng lên. Bài toán này có thể hiểu được nếu ta giả định khối ngoại có thể gây ảnh hưởng lên chính sách của NHNN thông qua các hoạt động lobby.

Trong cả hai tình huống, thì dường như việc bơm USD ra hiện nay mang tính ngắn hạn (đối phó với khoản tiền khổng lồ do bán trái phiếu CP của khu vực nước ngoài). Một đằng là NHNN chủ động làm để tránh gây méo mó thị trường, một đằng là thụ động do bị lobby. Tuy nhiên, một ước tính sơ bộ là nếu tiền Việt mất giá 20% so với USD (quy đổi ngang bằng sức mua thông qua lạm phát) thì hiện nay giá cân bằng của đồng USD phải là khoảng 18.5-19.0. Đó còn là chưa tính tới các vấn đề liên quan đến thâm hụt thương mại.

Do đó, tôi cho rằng ở mức dài hạn hơn một chút (từ nay đến cuối năm), giá USD vẫn có thể nên được điều chỉnh về mức cân bằng. Kể cả là trong hệ thống liên ngân hàng, vì như thế NHNN bơm USD ra cũng thu về được một khoản tiền Việt xứng đáng với giá trị thực.

(Những suy nghĩ trên chỉ là các giả thuyết của cá nhân, mang tính tạm thời, và chưa tính tới ảnh hưởng đến và từ khu vực doanh nghiệp. Theo trả lời của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đăng trên VnEconomy hôm nay thi tình hình từ nay đến cuối năm là khá tốt (như cán cân thanh toán), chi cần chờ sự khẳng định của thực tế theo thời gian.)

lại bàn về tăng lãi suất và giảm giá tiền Việt

Một version khác đôi chút so với phỏng vấn của Linh, đăng bên SGTT của Lệ. Biên tập rất nhanh và tốt. Nguồn xem ở đây.

Ảnh hưởng của động thái tăng lãi suất cơ bản và giảm giá tiền đồng

Một số người cho rằng tăng lãi suất có tác dụng làm tiền đồng mạnh lên tương đối, trong khi lại giảm giá tiền đồng 2% thông qua điều chỉnh tỷ giá là hai động thái mâu thuẫn nhau. Trên thực tế, hai động thái này là đồng bộ và cùng có tác dụng củng cố sức mạnh của tiền đồng

Kể từ ngày 11.6, một loạt các quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước có hiệu lực như điều chỉnh lãi suất cơ bản từ 12 lên 14%/năm (lãi suất tái cấp vốn từ 13 lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11 lên 13%/năm); yêu cầu các tổ chức tín dụng ngừng thu phí liên quan đến hoạt động cho vay; điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 16.139 đồng/USD áp dụng cho ngày 10.6 lên mức 16.461 đồng/USD áp dụng cho ngày 11.6 (giảm giá đồng tiền Việt 2%).

Tiền đồng mạnh lên

Thứ nhất, việc nâng lãi suất cơ bản qua đó khiến các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng lãi suất huy động giúp tiền Việt trở nên hấp dẫn hơn. Chênh lệch lãi suất cao hơn giữa tiền đồng và các ngoại tệ khác và vàng sẽ khiến người dân có khuynh hướng giữ tiền đồng thay vì đổi ra USD hoặc mua vàng, hay thậm chí còn đổi ngoại tệ và vàng ra tiền đồng để gửi vào ngân hàng. Như thế, sức ép giảm giá đồng tiền sẽ giảm.

Thứ hai, việc giảm giá tiền đồng 2% khiến tỷ giá danh nghĩa tiến gần tới tỷ giá thực hơn, do đó nguy cơ tỷ giá có bước thay đổi mạnh, đột ngột sẽ giảm bớt. Với hai chính sách được áp dụng cùng một lúc như vậy, sức hấp dẫn của tiền đồng sẽ tăng lên tương đối so với các tài sản khác.

Tuy nhiên, sự thành công của hai chính sách phụ thuộc rất nhiều vào các chỉ số vĩ mô và niềm tin của người dân và giới doanh nghiệp vào tương lai trước mắt của nền kinh tế. Chẳng hạn, nếu lạm phát tháng 6 không có khuynh hướng giảm, hoặc có thông tin xấu từ hệ thống ngân hàng, khiến người dân tiếp tục bi quan về nền kinh tế hoặc không tin vào sự bền vững của hệ thống ngân hàng nơi họ gửi tiền, thì hai chính sách trên có thể trở nên vô hiệu, và ngân hàng sẽ không thể hút tiền từ bên ngoài vào hệ thống. Do đó, rất cần có sự cung cấp thông tin đầy đủ về những thành quả chống suy thoái kinh tế của Chính phủ trong thời gian qua. Những động thái đồng bộ này có thể coi là cú hích cần thiết, một cơ hội thích hợp, để đưa hệ thống trở lại vị trí cân bằng.

Tác động tiêu cực đến doanh nghiệp nhỏ

Từ góc độ của hệ thống ngân hàng nói riêng và thị trường vốn nói chung, giá vốn sẽ tăng vì chi phí huy động tăng. Thêm vào đó, các ngân hàng bị buộc phải từ bỏ các khoản thu từ phí suất, mà thực chất là một cách tăng lãi suất cho vay theo cung cầu của thị trường, nên sẽ gặp khó khăn hơn về doanh thu. Mặc dù lãi suất cho vay ra có thể tăng thêm 3%, nhưng lãi suất huy động có thể cũng phải tăng một lượng tương tự do áp lực cạnh tranh, nên chênh lệch lãi suất danh nghĩa hầu như không đổi. Trong khi đó, phần doanh thu “mềm” từ phí suất, đôi khi lến tới 4 – 5%, bị cắt đứt hẳn sẽ ảnh hưởng tới nguồn thu của ngân hàng.

Một phản ứng có thể của giới ngân hàng là họ sẽ ưu tiên các khoản vay lớn hơn để giảm chi phí giao dịch. Do đó, trong thời gian tới, giới doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sẽ khó tiếp cận các khoản vay hơn.

Kết quả là, doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực nhất của các chính sách chống suy thoái kinh tế hiện nay. Họ khó tiếp cận nguồn tín dụng hơn, hay nói cách khác, chi phí vốn của họ sẽ tăng. Trong khi đó, do quy mô nhỏ và phân tán trên thị trường, khả năng điều chỉnh giá tăng theo nhịp của lạm phát là khó hơn các doanh nghiệp lớn, có tính độc quyền và sức mạnh thị trường lớn. Có thể nói, họ bị ép giữa hai gọng kìm của tăng chi phí đầu vào và mức giảm tương đối doanh thu.

Vì lý do này, Chính phủ cũng cần xem xét các biện pháp đồng bộ, thích hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới.

Về động thái tăng lãi suất và giảm giá tiền Việt 2%- 061108
Về động thái tăng lãi suất và giảm giá tiền Việt 2% magnify

Bài trả lời phỏng của phóng viên Duy Linh, CafeF:

Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường sẽ lướt trên lạm phát

(CafeF) – “Lãi suất tăng lên để ổn định đồng tiền hầu như có thể đoán trước được, và sẽ không ảnh hưởng nhiều tới các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường….”

Ngân hàng nhà nước vừa có động thái tăng lãi suất cơ bản lên 14% đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 16.461 VND/USD. CafeF vừa có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Đức Thành một số khía cạnh về vấn đề này

NHNN vừa mới quyết định tăng lãi suất cơ bản lên 14% đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 16.139 VND/USD lên mức 16.461 VND/USD áp dụng cho ngày 11/6/2008. Ông có nhận định gì về hai động thái này?

Tôi nghĩ việc tăng lãi suất cần được nhìn trong bối cảnh chung hiện nay trên các thị trường khác, đặc biệt là thị trường ngoại hối. Điều cần lưu ý là đồng thời với quyết định tăng lãi suất cơ bản, NHNN cũng tuyên bố giảm giá đồng tiền Việt 2% (từ 16.139 về 16.461 VND/USD). Như thế, theo quan điểm của tôi, hành động tăng lãi suất cơ bản dường như nhằm hướng tới ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam nhiều hơn là kiểm soát vấn đề thu phí tràn lan hiện nay. Tất nhiên một hành động chính sách có thể hướng tới nhiều mục đích cùng một lúc.

Nếu nâng lãi suất cơ bản thêm 2% (và do đó là nâng trần huy động và cho vay thêm 3%), đồng thời siết chặt phí suất phụ thu trong các khoản tín dụng của ngân hàng, thì đồng nghĩa với việc hướng tới nâng lãi suất huy động là chủ yếu, còn lãi suất cho vay có khuynh hướng bị siết lại. Như thế các ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn do chênh lệch lãi suất trong kinh doanh của họ giảm.

Tôi nghĩ phí suất có vai trò như một tấm đệm bù đắp cho sự khác biệt giữa mức lãi suất hành chính (áp đặt) và mức thị trường (theo cung cầu vốn). Việc loại bỏ tấm đệm này có thể giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời có thể khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn khó hơn vì khi chênh lệch lãi suất thấp và hầu như cố định, ngân hàng sẽ có khuynh hướng ưu tiên những khoản vay lớn để giảm chi phí.

Điều quan trọng hơn, theo tôi, dường như nằm ở chỗ NHNN muốn tăng khoảng cách lãi suất tiền gửi giữa đồng Việt Nam và đồng USD nhằm giảm tác động đô-la hoá và tránh những diễn biến xấu đối với đồng tiền Việt. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ việc tăng lãi suất như thế có hút được tiền Việt vào ngân hàng, và khuyến khích người dân chuyển từ USD, vàng và các tài sản khác về tiền Việt Nam (và gửi vào ngân hàng) hay không, là một vấn đề cần được quan sát chặt chẽ.

Theo nguồn tin cá nhân của tôi, trong thời gian trước, khi lãi suất tăng từ 10% lên 12% hoặc hơn, lượng tiền vào ngân hàng tăng mạnh. Nhưng với những diễn biến gần đây, khi lãi suất tăng lên nữa, lượng tiền không còn tăng mạnh. Có nhiều giả thuyết để lý giải hiện tượng này, tuy nhiên, chúng ta cần thêm thời gian để đi đến những kết luận chính xác.

Lãi suất cho vay sẽ tăng lên mức tối đa 21%/năm, nhiều người cho rằng với mức lãi suất này tỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp không thể tăng theo kịp. Liệu các doanh nghiệp đang phải chịu đựng lãi suất cho vay quá cao?

Nếu các doanh nghiệp có thể tăng giá theo cùng mức lạm phát, thì về nguyên tắc đây không phải là một vấn đề lớn. Vì lạm phát kỳ vọng của năm nay là hơn 20%, do đó, với lãi suất danh nghĩa khoảng 21% thì lãi suất thực không phải là cao.

Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có khả năng tăng giá rất khác nhau, nên sẽ phân ra thành hai tuyến. Các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thường điều chỉnh được giá lướt trên bề mặt của lạm phát, và do đó sẽ tồn tại được. Nhưng các doanh nghiệp có ít sức mạnh thị trường, và đó thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường không làm được điều này, và họ sẽ rất khó khăn trong vòng 6 tháng – 1 năm tới. Hơn nữa, lạm phát cao như hiện nay làm môi trường kinh doanh bất ổn hơn trước đây nhiều, nó khiến việc dự báo để ra các kế hoạch kinh doanh khó khăn hơn trướcnhiều.

Dù thế nào, trong khoảng sáu tháng đến một năm tới, nợ xấu trong khu vực ngân hàng sẽ có khuynh hướng tăng. Do đó, đi liền với các chính sách này Thủ tướng cũng đã có chỉ đạo rà soát chặt chẽ các khoản tín dụng. Đó là những việc làm đồng bộ và cần thiết.

Nhiều ý kiến cho rằng các thông báo tăng lãi suất của NHNN khá đột ngột khiến các doanh nghiệp không dự báo được chính sách lãi suất liên tục biến động. Anh có ý kiến gì về vấn đề này?

Trong tình hình khó khăn hiện nay, sẽ xuất hiện nhiều chính sách mới. Nói là đột ngột chưa chắc đã đúng, vì nếu doanh nghiệp hiểu rõ tình hình vĩ mô, họ sẽ biết sớm hay muộn nhà nước sẽ phải áp dụng một số chính sách. Do đó, tầm nhìn và tri thức của lãnh đạo doanh nghiệp trong thời điểm này là rất quan trọng. Phải qua sóng gió mới biết ai lái thuyền giỏi. Tôi tin là đối với các doanh nhân có tầm nhìn, những động thái chính sách vừa rồi là có thể nhìn thấy trước.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!
NHNN nên thận trọng trước diễn biến của tỷ giá USD  – 052708
NHNN nên thận trọng trước diễn biến của tỷ giá USD magnify

Trao đổi nhanh với VnEconomy trước diễn biến đột ngột của tỷ giá:

(Xem bài đăng trên VnEconomy, còn bài duới đây là bài gốc)

=================================

P.V: Tỉ giá USD đã lên tới mức 17.000 đồng/USD. Nguyên nhân đẩy tỉ giá lên cao theo phân tích của NHNN là do “cầu ngoại tệ vẫn tiếp tục cao, chủ yếu do nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp để nhập khẩu, trong khi nguồn cung chưa được cải thiện, khiến cho cung cầu ngoại tệ tiếp tục mất cân đối”.

Trong 5 tháng đầu năm VN đã nhập siêu 14,4 tỷ USD.
Lãi suất huy động USD của các ngân hàng tăng lên mức 7,5%/năm. Trong khi FED liên tục cắt giảm lãi suất thì hành động này của các ngân hàng khá bất thường.

Một vài vấn đề mong anh lý giải giúp:

1. Tỉ giá USD liên tục tăng cao như hiện nay có đáng lo ngại không? Vì sao tỉ giá lại thay đổi nhanh đến chóng mặt như vậy?

Việc tỷ giá USD trong nước tăng nhanh từ mức 16.600 VND lên hơn 17.000 chỉ trong một ngày (26/5), trong bối cảnh đồng USD vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện ở cấp độ toàn cầu, chắc chắn là một sự kiện bất thường. Lý giải của NHNN là có thể hiểu được, vì gần đây chúng ta nhập siêu dữ dội hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, đồng tiền Việt yếu đi nhanh đến như vậy không nên chỉ coi là hậu quả đơn thuần của quá trình thâm hụt thương mại. Điều đáng lo ngại là khi tỷ giá có khuynh hướng tăng vững chắc như vậy, thì khuynh hướng đô la hoá là không thể cưỡng lại được. Khi đô la hoá xảy ra, hay là việc rời bỏ tiền Việt để nắm giữ đồng USD và sử dụng đồng USD trong cất trữ giá trị và giao dịch, thì cầu về USD lại càng cao, và tỷ giá càng tăng và người ta càng muốn rời bỏ đồng VN để chuyển sang đồng USD càng nhanh càng tốt.

Kết quả là sẽ có một vòng xoáy tự tái tạo đẩy tỷ giá lên cao và khiến đồng USD trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết. Những vòng xoáy này không nên chỉ coi đơn giản là kết quả của nhập siêu.

2. NHNN cần phải làm gì để bình ổn thị trường ngoại hối (mức độ chênh lệch giữa giá USD thị trường tự do và ngân hàng ngày càng nới rộng, các ngân hàng đang trong tình trạng thiếu đôla để cho vay).

Một phương pháp căn bản là NHNN phải bơm USD từ quỹ dự trữ ngoại hối ra để bình ổn thị trường. Sẽ sắp xuất hiện một trò chơi mạo hiểm, phụ thuộc vào động thái của NHNN.

Nếu NHNN âm thầm bơm USD ra với lượng đủ lớn, tỷ giá sẽ từ từ dịu xuống, và nếu NHNN có đủ tiềm lực, thời gian bình ổn là đủ dài và vòng xoáy đầu cơ USD có thể được cắt đứt. Tuy nhiên, nếu NHNN để mặc tỷ giá tăng mà không có động thái gì rõ ràng, người ta có thể sẽ nghĩ NHNN đang có một kế hoạch khác, chẳng hạn như cố tình để đồng tiền Việt giảm giá nhằm tăng xuất khẩu và ngăn chặn nhập khẩu.

Trong trường hợp này tỷ giá tăng có tác dụng như một loại thuế nhập khẩu bảo hộ hàng nội địa đồng thời là thuế hỗ trợ xuất khẩu. Nếu người ta nghĩ như thế, họ sẽ thận trọng hơn vì tình hình đồng Việt sẽ được cải thiện khi nền kinh tế, sau một thời gian, sẽ thu lợi nhờ chính sách này.

Tuy nhiên, sẽ đặc biệt nguy hiểm nếu NHNN thể hiện rõ ý chí muốn ghìm giữ tỷ giá một cách lộ liễu thông qua việc bơm USD ra ồ ạt, hoặc tệ hại hơn là sử dụng mệnh lệnh hành chính. Khi ý muốn của NHNN đã phơi bày ra như vậy, khả năng xuất hiện một cuộc tấn công là hoàn toàn có thể. Giới đầu cơ quốc tế và trong nước sẽ theo dõi sát động thái của NHNN và ước lượng quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia, để tấn công vào thời điểm thích hợp. Cuộc tấn công, nếu chiến thắng, mang lại một lợi nhuận khổng lồ. Do đó, động cơ của nó không phải là không có cơ sở.

Tôi cho rằng hơn bao giờ hết, NHNN phải thật thận trọng trong từng bước đối sách lúc này.

Sai lầm trong cơ sở kinh tế của chính sách “Trần lãi suất”  – 051708

Nhân suy nghĩ để trả lời mấy câu hỏi của phóng viên Duy Linh từ Báo Dân Trí, tôi nhận ra lập luận hiện nay về chính sách “trần lãi suất” là có rất ít cơ sở khoa học. Trong khi chưa liên lạc lại được với Duy Linh, tôi tạm post lên đây.

***

1. Trước tình hình thực tế hiện nay, ngân hàng nhà nước có nên bãi bỏ mức lãi suất trần 12% không?

Chính sách trần lãi suất là một ví dụ rất thú vị về một sai lầm trong lập luận kinh tế học.

Thứ nhất, nhiều người cho rằng trần lãi suất huy động sẽ giúp làm giảm lãi suất cho vay ra, và do đó khu vực doanh nghiệp sẽ được hưởng lãi suất vay vốn thấp tương ứng. Nhưng thực tế hoàn toàn không đơn giản như vậy, mà điều trái lại sẽ xảy ra. Lãi suất huy động thấp khiến khả năng thu hút vốn thấp. Kết quả là vốn cung ứng từ ngân hàng cho khu vực kinh doanh trở nên khan hiếm. Khi vốn phục vụ kinh doanh khan hiếm, thực tế lãi suất cho vay có khuynh hướng tăng lên, và nếu không có trần lãi suất cho vay, trên thực tế doanh nghiệp sẽ phải vay ở một mức cao hơn. Như vậy, mục đích giúp hạ lãi suất phục vụ kinh doanh không đạt được. Nhưng ngay cả khi lãi suất cho vay ra của Ngân hàng cũng bị đặt trần (chẳng hạn, bằng lãi suất huy động cộng thêm một tỷ lệ nhất định), thì như kinh tế học đã chứng minh, Ngân hàng (hoặc nhân viên tín dụng ở ngân hàng) vẫn có quyền lực thị trường với doanh nghiệp, và sẽ có khả năng gây sức ép để thu thêm các khoản thu ngoài lãi suất (như vẫn thường thấy trong các thị trường khan hiếm hàng, nhưng giá lại bị hạn trần). Về nguyên tắc, doanh nghiệp sẽ đồng ý trả thêm cả khoản này, chừng nào tổng chi phí phi lãi suất cộng chi phí lãi suất còn thấp hơn chi phí thực khi không đặt trần.

Thứ hai, cũng có nhiều người cho rằng điều này có lợi cho ngân hàng vì họ vừa trả lãi tiền gửi ở mức thấp và cho vay ra ở mức cao (chênh lệch lãi suất cao). Thực tế thì lợi nhuận bằng tích của độ chênh lệch lãi suất nhân với khối lượng vốn cho vay. Cho nên, với khối lượng vốn cho vay nhỏ do nguyên nhân như trên đã nói, thực tế lợi nhuận của ngân hàng có thể không tăng và thậm chí còn giảm. Chính vì thế mới có hiện tượng các ngân hàng gần đây buộc phải lách luật bằng cách tăng lãi suất huy động với tiền gửi không kỳ hạn lên đến gần mức trần. Đây quả là một việc vô tiền khoáng hậu. Điều ấy cho thấy, các ngân hàng cần tăng khối lượng vốn huy động và đem cho vay, chứ không cần độ chênh lệch mang tính cưỡng bức kia.

Do đó, tôi cho rằng việc trần lãi suất dẫn đến hai hệ quả đặc biệt nghiệm trọng: (1) tạo nên sự khan hiếm về vốn huy động, và đi liền với nó là doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng hơn, và (2) khiến lợi nhuận của khu vực ngân hàng suy giảm mạnh, và cùng với tình hình kinh doanh khó khăn (chẳng hạn do nợ xấu đang tăng nhanh cho vay chứng khoán và bất động sản), ngân hàng bị đẩy tới chỗ phải tìm cách tăng lợi nhuận bằng một phương pháp đặc biệt mạo hiểm là nâng lãi suất huy động đối với tiền gửi không kỳ hạn lên cao. Việc này giống hệt Indiana Jones phải đi trên dây qua miệng một vực lửa để đoạt lấy chiếc cốc đựng nước trường sinh, rồi quay lại cứu sống người cha đang bị trọng thương.

Do đó, tôi cho rằng nên tháo bỏ chính sách trần lãi suất ngay lập tức trước khi quá muộn.

2. Nếu bỏ mức lãi suất trần thì lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại sẽ tăng cao quá 150% lãi suất cơ bản 8,75%. Việc cho vay với lãi suất cao sẽ vi phạm luật Khoản 1, điều 476 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Ngân hàng nhà nước cần phải làm gì để tránh tình trạng này?

Luật là văn bản có tính ổn định cao và cần tôn trọng. Tuy nhiên, NHNN hoàn toàn có thể ứng xử linh hoạt bằng cách tăng lãi suất cơ bản. Lạm phát cao như hiện nay mà vẫn giữ lãi suất cơ bản như thế có lẽ là hơi cứng nhắc. Ở đây chúng ta nên nhìn thẳng vào thực tại nền kinh tế lúc này, rằng giữ vững hệ thống doanh nghiệp là điều khẩn thiết.

3. Xuất hiện những lo ngại cho rằng việc tăng lãi suất cho vay sẽ làm cho “giá vốn” đầu vào của các doanh nghiệp tăng lên làm tăng giá thành sản phẩm và qua đó làm tăng tỉ lệ lạm phát. Theo anh, lo ngại này có cơ sở kinh tế hay không?

Như trên đã phân tích, thực ra nếu bỏ trần lãi suất huy động, vốn huy động qua hệ thống NH sẽ nhiều hơn và do đó lượng cung ra cho doanh nghiệp nhiều hơn, áp lực trên giá vốn sẽ giảm. Giá vốn cao (về danh nghĩa) sẽ đóng góp vào mức tăng giá sản phẩm, nhưng sẽ chậm hơn mức tăng do lạm phát vì vốn chỉ là một trong các nhân tố sản xuất. Nhưng nhờ có nhiều vốn hơn, doanh nghiệp gia tăng sản xuất, cung hàng hoá nhiều hơn sẽ giúp giảm lạm phát.

Trong khuôn khổ một bài phỏng vấn tôi không thể đưa ra các chi tiết kỹ thuật cho các lập luận trên, nhưng thực tế thì những lý luận của tôi đều dựa trên lý luận của các nhà kinh tế Mỹ cách đây hơn 20 năm, khi họ vạch ra những điểm bất cập của Quy chế Q (Regulation Q) là quy chế trần lãi suất huy động hệt như ở ta hiện nay. Sau khi có những lập luận này, Quy chế Q đã được bãi bỏ.

Tài liệu tham khảo:

Gilbert, Alton (1986), “Requiem for Regalution Q: What It Did and Why It Passed Away,” Federal Reserve Bank of St. Louis Review, Feb, pp. 22-37

[Gilbert, Alton (1986), “Lễ cầu hồn cho Quy chế Q: Nó đã làm gì và vì sao phải ra đi,” Tạp chí Ngân hàng dự trữ liên bang của St. Louis, Tháng Hai, trang 22-37]

=======================

Ghi chú: sau khi lúi húi post bài này xong thì đọc được một loạt tin trong CafeF là Thủ tướng vừa bỏ trần lãi suất. Thế thì hóa ra mình lại thành vuốt đuôi mất rồi. :) ==> Biết thêm một loại rủi ro mới.

Kiến nghị liên quan đến thị trường vàng của VAFI là thiển cận và nguy hiểm- 051108
Kiến nghị liên quan đến thị trường vàng của VAFI là thiển cận và nguy hiểm magnify

[Ghi chú: một phiên bản của bài viết này đã được đăng trên VnEconomy, ngày 11/5/2008]

***

Trong mấy ngày vừa qua có tin VAFI (Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam) đề xuất một số chính sách liên quan đến vàng. Theo nguồn tin của VN Economy ngày 9/5/2008, nội dung đề xuất của VAFI có thể tóm tắt vào hai điểm chính như sau: nâng thuế nhập khẩu vàng lên cao và đóng cửa các sàn giao dịch vàng hiện hành.

Quan điểm trên của VAFI bộc lộ hai tính chất quan trọng sau: sự thiển cận trong lối tư duy và mối nguy hiểm tiềm tàng trong hậu quả chính sách (nếu nó có khả năng được thực thi, mặc dù khả năng này rất nhỏ).

Theo VAFI, do trong bốn tháng đầu năm, lượng vàng nhập khẩu đã lên tới 43 tấn, bằng một nửa khối lượng nhập khẩu trong cả năm 2007, với trị giá ước tính khoảng 1.2 tỷ USD. VAFI cho rằng với tốc độ nhập khẩu vàng như vậy sẽ khiến nhập siêu càng trầm trọng. Do đó, cần phải nâng thuế vàng lên từ 10-20% để hạn chế nhập khẩu và tăng thu ngân sách.

Trên thực tế, mối lo ngại về nhập khẩu vàng quá mức của VAFI là không có cơ sở vì hiện nay nhập khẩu vàng vẫn được kiểm soát chặt chẽ về hạn ngạch (70 tấn cho năm nay). Trong thương mại quốc tế, hạn ngạch có vai trò điều tiết tương tự như thuế nhập khẩu, nên việc nâng thuế là trùng lặp và không cần thiết.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn nằm trong bản chất kinh tế của vấn đề.

Thứ nhất, nhu cầu nhập vàng của người dân, đơn vị kinh doanh và thậm chí cơ quan tiền tệ là có thật và chính đáng. Điều này phản ánh sự dịch chuyển tài sản được nắm giữ từ USD và các tài sản khác sang vàng để tối đa hoá lợi ích. Việc dịch chuyển này rất có ý nghĩa trong bối cảnh đồng USD diễn biến khó lường, cổ phiếu và bất động sản trong nước mất giá. Ngay cả với Ngân hàng Nhà nước (NHNN), việc dịch chuyển cơ cấu dự trữ ngoại hối theo hướng này cũng là tích cực.

Thứ hai, việc đánh đồng vàng nhập khẩu với hàng tiêu dùng, và do đó là một phần nguyên nhân làm xấu thêm cán cân thanh toán, là một nguỵ biện vụng về của VIFA. Thực chất vào thời điểm này vàng đang hội tụ đủ cả hai yếu tố ưu việt là tài sản lưu giữ giá trị và ngoại tệ mạnh có tính thanh khoản cao. Lưu ý rằng theo thông lệ quốc tế, dự trữ của NHNN được tính bao gồm cả ngoại tệ và vàng. Do đó, việc nhập khẩu một lượng vàng lên tới hàng tỷ đô la đi chăng nữa cũng không hề làm cán cân thanh toán xấu đi, vì về bản chất, đó chỉ là hành động đổi USD thành vàng. Về mặt kinh tế, thì việc này thậm chí còn cải thiện tính bền vững của cán cân thanh toán, vì việc chuyển đổi làm dự trữ của một nước (nằm trong dân và trong NHNN) được tái cơ cấu theo hướng lành mạnh hơn (thoát dần khỏi sự phụ thuộc vào đồng USD đang trở nên yếu và kém lành mạnh).

Thứ ba, việc đề xuất nâng thuế vàng lên cao đột ngột trong một khoảng thời gian ngắn (kết hợp với kiến nghị xoá bỏ các sàn giao dịch vàng), rõ ràng là không có thiện chí, nếu không muốn nói là ác ý, với thị trường vàng. Một phản ứng chính sách độc đoán như vậy sẽ gây ra những méo mó tai hại mà hậu quả dây chuyền chưa thể lường được đối với thị trường tài sản nói chung, và thị trường tài chính nói riêng, nơi VIFA được coi là có trách nhiệm đại diện một phần nào đó.

Đề xuất cấm các sàn giao dịch vàng đặc biệt phản ánh tư duy tiểu thương của nhóm tác giả. Thứ nhất, việc hình thành tự phát (chưa có tổ chức của nhà nước) của các điểm giao dịch hàng hoá là việc bình thường, nếu không muốn nói là phổ biến của nền kinh tế thị trường. Nếu nó tự tồn tại được và hoạt động sôi nổi, điều ấy phản ánh việc thành lập điểm giao dịch đã và đang thoả mãn đúng một nhu cầu xã hội. Nhà nước chỉ nên có vài trò giám sát nhằm bảo đảm các hoạt động diễn ra minh bạch và văn minh. Thứ hai, nếu chỉ đơn giản coi các sàn giao dịch vàng hiện nay là một sòng bạc hay ổ đầu cơ, thì cũng với lập luận phiến diện, nông cạn này, chúng ta đã có đủ lý do để đóng cửa thị trường chứng khoán từ giữa năm ngoái. Cuối cùng, việc đề xuất xây dựng các quy chế quản lý hoạt động trên sàn giao dịch vàng là cần thiết và đúng đắn, nhưng nó phải có tác dụng giúp các giao dịch diễn ra ngày càng nhiều và ổn định hơn, chứ không phải là triệt tiêu các giao dịch đó.

Không mấy khó khăn để nhìn ra mong muốn lộ liễu mang quyền lợi nhóm qua các kiến nghị của VAFI. Hẳn những nguời đề xuất mong muốn ngăn chặn dòng vốn tiếp tục chảy vào vàng, vì họ hy vọng nó sẽ chảy trở lại thị trường chứng khoán để vực giá cổ phiếu lên? Nếu họ không nghĩ như vậy, thì bỗng nhiên họ hăng hái muốn can thiệp vào thị trường vàng một cách đầy ác ý là vì lý do gì? Phải chăng họ đang thực sự âu lo cho cán cân vãng lai của tổ quốc? Nếu vì lý do thứ hai, thì như tôi đã thảo luận trên kia, tạm thời họ có thể gác mối lo sang một bên. Còn nếu vì lý do thứ nhất, như nhiều người đoán chắc, thì đó quả là một mong muốn rất ích kỷ, thiển cận, và ấu trĩ. Ích kỷ thì đã rõ, vì họ sẵn sàng bắt đa số dân chúng phải tốn tiền của hơn cho một mức giá vàng cao, chỉ vì mong muốn thu lại chút lợi ích từ giá cổ phiếu. Nông cạn là vì, ngay cả khi chính sách này được thông qua, chính những thành viên của VAFI cũng có thể sẽ bị tổn thương, vì những hậu quả mới chưa có tiền lệ của dòng vốn thặng dư đang lồng lộn chảy trong một môi trường ngày càng méo mó. Ấu trĩ là vì, họ nghĩ rằng các kiến nghị sách kiểu này giờ đây vẫn còn có thể khả thi.

Việc lựa chọn nắm giữ loại tài sản nào là quyền tự do của các nhà đầu tư, dựa trên mức giá, độ rủi ro, khả năng sinh lời và kỳ vọng của họ. Vì thế, việc sử dụng các thủ đoạn chính sách nhằm cưỡng ép họ phải rời bỏ loại tài sản này và buộc phải chuyển sang nắm loại tài sản khác, nhằm thu lợi ích cho nhóm mình, là một việc làm rất kém văn minh và không thể tồn tại lâu dài trên thị trường.

Con đường của gạo xuất khẩu: Việt Nam và Thái Lan
Con đường của gạo xuất khẩu: Việt Nam và Thái Lan magnify

Xếp hòn gạch ở đây để thử so sánh đường đi của gạo hàng hoá từ khi thu hoạch đến khi xuất ngoại ở Việt Nam và Thái Lan như thế nào.

Càng bập sâu vào các thấy nhiều cái hay, cho nên phải đi từng bước chập chững từ mức vỡ lòng. Do không có điều kiện khảo sát toàn bộ tư liệu của các học giả nước nhà (chắc là nhiều lắm) nên không biết là sẽ bị trùng lắp ra sao.

Đại khái là thị trường gạo của Việt Nam chủ yếu bị chi phối bởi các doanh nghiệp quốc doanh (hệ thống Vinafood) và các doanh nghiệp này hoạt động phi hiệu quả một cách đáng ngạc nhiên so với khu vực tư nhân (chiếm tỷ trọng rất nhỏ). Gạo hàng hoá chủ yếu xuất phát từ DBSCL, khoảng 1/3 giữ lại tiêu dùng, 1/3 chuyển ra các vùng khác trong nước và 1/3 xuất khẩu, và đây cũng là lượng xuất khẩu của cả nước. Trong số chuyển ra các vùng khác thì có 1/5 số đó được xuất lậu qua các kênh có lẽ là tiểu ngạch.

Hệ thống thu gom từ khi thu hoạch có vẻ hơi chồng chéo và không phân đoạn rõ ràng (tức là theo giai đoạn thóc và giai đoạn gạo).

Trong khi đó thì ở Thái Lan do hệ thống đã được xây dựng ổn định từ một thế kỷ nay nên mọi thứ có vẻ bài bản hơn, phân đoạn thị trường rõ ràng hơn và nhà nước có vai trò ít chi phối hơn. Theo một báo cáo từ Đại học Chiang Mai thì khoảng 1/3 sản lượng gạo của nước này được đem xuất khẩu (sẽ check lại số liệu). Thế thì quả là lớn hơn VN nhiều.

Ngoài ra Thái Lan biết tập trung vào lợi thế so sánh của họ là loại gạo Hom Mali (gạo thơm) để biến nó thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực (50% sản lượng được xuất khẩu). Không biết VN sẽ phải dùng chiến lược gì để cạnh trạnh, chứ cứ lấy lượng đè người thì cũng là tạm thời thôi.

Về cấu trúc chi phí sản xuất của gạo giữa hai nước, sẽ nghiên cứu kỹ dần thêm.

Nhưng một điều đáng lưu ý là cấu trúc bậc thang giá

NÔNG DÂN THU ĐƯỢC ==> NGƯỜI BUÔN GẠO BÁN RA ==> NHÀ XUẤT KHẨU XUẤT ĐI

ở hai nước phân bố rất khác nhau như sau:

Việt Nam: 70 ==> 100 ==> 125

Thái Lan: 70 ==> 100 ==> 103

Nếu số liệu trên là đúng và ổn định, thì là một bằng chứng tuyệt vời vế cấu trúc thị trường và chính sách xuất khẩu của hai nước (tức là các bác doanh nghiệp nhà nước độc quyền xuất khẩu ở ta thu lợi rất lớn từ chế độ hạn ngạch hiện nay).

Không nên thổi phồng cơn sốt gạo vừa qua
Không nên thổi phồng cơn sốt gạo vừa qua magnify

Sau khi nghiên cứu một loạt tài liệu về vấn đề lương thực trên thế giới và thị trường gạo ở Việt Nam, mình nhận ra là đang tiến vào một khu rừng nhiệt đới đầy nguy hiểm. Vấn đề rắc rối, phức tạp và thú vị hơn lúc đầu tưởng, nên hiện thời chỉ viết được trước một bài về tình hình ngắn hạn. Về tình hình dài hạn, thì phải thận trọng hơn, nếu không muốn sa vào những kết luận vô bổ và hời hợt.

Tạm ghi lại mấy ý dưới đây (cũng đăng trên blog CafeF), còn bài phân tích dài hạn sẽ viết sau.

***

Không nên thổi phồng cơn sốt gạo vừa qua

Cơn sốt gạo vừa qua ở TP Hồ Chí Minh, sau đó nhanh chóng lan ra khắp cả nước, giống như trận cuồng phong trong một tách trà, rõ ràng là không có nhiều cơ sở kinh tế. Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, và về căn bản thì nguồn cung gạo lớn hơn lượng cầu một cách vững chắc, nên việc thiếu gạo hiển nhiên là câu chuyện hoang đường.

Như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa, dường như tin tức quốc tế về cảnh hỗn loạn trên đường phố, thậm chí là đảo chính, cùng những hình ảnh cứu đói khẩn cấp ở nhiều nơi trên thế giới trong mấy ngày liền trước đó, đã làm cho người dân rơi vào một nỗi bất an tập thể. Nỗi sợ hãi lây lan đã đẩy họ tới cửa hàng gạo gần như cộng hưởng. Và điều hiển nhiên là, khi nhà nhà đổ xô đi mua cùng một lúc, dù mỗi người chỉ dăm cân, thì việc thiếu hàng tất yếu sẽ diễn ra.

bài báo còn kịp phê bình rằng một siêu thị nào đó chỉ có trong kho “mỗi” 200 tấn gạo, nên không kịp phục vụ quần chúng. Người ta cũng nhân cơn sốt này mà kêu gọi cải cách các kênh cung ứng gạo, như là phải mở thêm các đại lý cấp dưới hay việc xem xét lại toàn hệ thống, v.v…

Tôi cho rằng việc cải cách hệ thống phân phối và xuất khẩu gạo, hiện đang nằm trong tay hệ thống doanh nghiệp nhà nước độc quyền theo luật định, là một việc rất nên bàn bạc. Nhưng vì nguyên nhân của nó xuất phát từ những lý do khác, chứ không phải từ cái vô thức tập thể vừa bùng lên đã tắt ngay của mấy ngày vừa rồi, nên chúng ta không nên sa đà quá mức mà cho rằng “cuộc khủng hoảng gạo” vừa qua bắt nguồn từ lỗi lầm hệ thống.

Trong bất cứ ngành kinh doanh nào, mỗi doanh nghiệp đều biết phải duy trì một mức tồn kho tối ưu. Kinh nghiệm thị trường lâu năm cùng những tính toán cụ thể giúp họ biết phải làm gì. Điều này đúng với một cửa hàng bán bánh cuốn cũng như với một ngân hàng. Và các cửa hàng gạo không hề là ngoại lệ. Họ biết phải tích trữ bao nhiêu là tối ưu cho việc kinh doanh hằng ngày của họ. Việc đổ xô đi mua gạo, cũng hệt như việc đổ xô đi rút tiền từ ngân hàng trong một cơn hoảng loạn tài chính, hiển nhiên khiến thị trường mất cân bằng cục bộ nhất thời. Với các ngân hàng, vì về nguyên tắc người gửi có thể đòi tiền lại bất cứ lúc nào, nên chúng sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu không có sự cữu vãn của một Ngân hàng Trung ương bằng cách bơm thêm một lượng tiền gần như vô hạn để trấn an khách hàng.

Tuy nhiên, với các các cửa hàng gạo, họ không có nghĩa vụ phải phục vụ người mua ở bất cứ giá nào, nên họ có quyền hoặc là ngừng bán, hoặc là tăng giá để siết chặt lượng bán, và chỉ dành phần gạo bất chợt tạm thời khan hiếm cho những ai thực sự cần gạo nhất (chẳng hạn cho những gia đình vô tình vừa hết nhẵn gạo nên phải đi mua cho bữa ngày mai). Còn những ai ở nhà vẫn còn gạo đủ cho vài tuần, thì có lẽ chưa cần mua ngay. Việc tăng giá có tác dụng sàng lọc mức độ khẩn thiết khác nhau của nhu cầu.

Về nguyên tắc, những người duy lý, chỉ cần nhẩm tính tổng lượng cung và cầu về gạo (hầu như không thay đổi qua các năm, và thường thặng cung vài triệu tấn), đều hiểu rằng cơn sốt gạo là sản phẩm của nỗi lo lắng duy cảm hoang đường mang tính bầy đàn, nhất định sẽ không tham gia vào đám đông chen lấn trước cửa hàng gạo. Nhà nước sẽ không phiêu lưu với chính sách lương thực, ngay cả khi giá gạo tăng gấp 3 lần trên thế giới. Nếu thị trường gạo được tự do hoá, gạo sẽ chảy ra nước ngoài vì mức giá rất cao, và người ta chỉ có thể níu chân chúng bằng cách tăng giá trong nước lên bằng hoặc cao hơn giá thế giới. Nhưng với một nước có thể tự chủ về khối lượng, và biết rõ lượng cầu hằng năm, thì việc thực thi chính sách bảo đảm an ninh lượng thực không phải là quá khó.

Có mấy lý do để Nhà nước mạnh tay bình ổn thị trường. Thứ nhất, hiện nay lạm phát đã rất cao, mức giá lương thực tăng đột biến sẽ khiến tầng lớp dân nghèo thành thị bị bần cùng hoá. Như thế không khác gì thêm củi đáy nồi. Trong khi đó, việc bình ổn giá trong trường hợp này không quá khó khăn. Chỉ cần hạn chế xuất khẩu, là cung nội địa sẽ tăng và giá sẽ giảm. Thứ hai, các doanh nghiệp đầu mối buôn bán gạo, ở đây chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước trong hệ thống VINAFOOD, không muốn thị trường trong nước rơi vào tình trạng vô chính phủ về giá. Giới buôn gạo tư nhân sẽ tăng giá khắp nơi và nông dân sẵn sàng tăng giá bán ở các vụ tới. Việc gom gạo trên quy mô lớn sẽ gặp khó khăn và giá đầu vào cho xuất khẩu sẽ tăng. VINAFOOD có thể có lợi trong ngắn hạn (trước vụ tới) nếu giá trong nước tiến đến gần giá thế giới (và nếu muốn thế, họ có thể làm ngơ hoặc thậm chí tiếp tay cho việc găm hàng). Họ có thể bán ra và thu lời ngay trên thị trường nội địa sau khi giá đã lên đến lưng chừng trời. Nhưng như thế là điều chính phủ không thể cho phép. Họ hẳn muốn hướng tới lợi nhuận cao bằng cách bắt chẹt chính phủ Phillipines hơn là trêu ngươi đồng bào đang sắp hết kiên nhẫn. Nhưng ngay cả việc xuất khẩu với giá cao cũng chỉ mang tính thời vụ: không ai biết giá thế giới sẽ hạ thế nào khi các nước bước vào mùa thu hoạch tới. Do đó, trong trường hợp này, lợi ích nhóm của VINAFOOD trùng hợp với lợi ích của chính phủ và người tiêu dùng: tất cả cùng đồng lòng muốn dập tắt cơn sốt đỏng đảnh và nhốt ông thần giá gạo vào lại trong chai.

Đó là câu chuyện tức thời mấy ngày qua. Nhưng trước tình hình lạm phát vững chãi như hiện nay và tình trạng thiếu cung trên thị trường lương thực thế giới, sớm muộn gì giá gạo trong nước sẽ dần dần tăng. Đây là hậu quả của một quá trình lâu dài, nên việc tăng giá sẽ từ từ và mang tầm dài hạn. Việc đầu cơ tích trữ ở mức hộ gia đình nhìn chung không có nhiều ý nghĩa. Quần chúng và cả nền kinh tế sẽ phải học cách để điều chỉnh theo diễn biến mới của kinh tế thế giới, thông qua điều chỉnh tiền lương và năng suất. Câu chuyện dài hạn mới là câu chuyện chính. Hy vọng sẽ được tập trung thảo luận kỹ hơn.

Kinh tế chính trị học về gạo
Kinh tế chính trị học về gạo magnify

Vấn đề giá gạo bỗng hỗn loạn ở Việt Nam, giống như cơn bão trong một tách trà, rõ ràng là không có nhiều cơ sở kinh tế. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo ròng, nên về nguyên tắc giá gạo tăng thì Việt Nam phải được lợi. Điều chủ yếu là lợi ích đó được phân phối như thế nào.

Entry này được lập ra để cốt tập hợp một số bài viết trên mạng làm tư liệu.

Theo tôi, Nhà nước không nên sử dụng mệnh lệnh hành chính như bắt ngừng hoặc giảm xuất khẩu gạo lúc này. Động thái ấy chỉ một lần nữa cho thấy sự cuống quýt của cơ quan chính sách trước tình hình cuống quýt của thị trường.

Như trong một số tài liệu đã chỉ ra, phần giá gạo tăng nhanh do biến động cung-cầu chủ yếu rơi vào tay giới thương mại. Còn người nông dân có thể hưởng thụ phần tăng cơ bản trong giá, tức là khuynh hướng dài hạn của thị trường. Khuynh hướng tăng này là có thật (xem biểu đồ). Tuy nhiên, dường như giá đầu vào lại tăng còn nhanh hơn như thế. Kết quả là người nông dân dường như chưa nhận được lợi nhuận bất thường nào trong đợt tăng giá vừa qua.

Graph of World Commodity Prices 2000-2008
Giá ngô, lúa mỳ, gạo và dầu từ năm 2000 (nguồn: IFPRI)

Thay vì chính sách hành chính, chúng ta nên sử dụng công cụ thuế (xuất khẩu) để điều tiết và phân bổ nguồn lợi. Ý tưởng đánh thuế xuất khẩu đã được Jonathan Pincus đề xuất ngay khi có dấu hiệu khủng hoảng lương thực trên thế giới.

Theo tôi, việc đánh thuế xuất khẩu có mấy điểm lợi sau:

1. Có tác dụng ổn định giá nội địa (nhà nước rất sợ sự tăng giá gạo nội địa, vì nó ảnh hưởng đến người lao động phi nông nghiệp, tức là giai cấp công nhân ở thành thị –> cốc nước sắp tràn ly)

2. Việc điều tiết một mức thuế xuất khẩu có thể khả thi để tạo ra một bậc thang về giá giữa trong nước và nước ngoài. Mức giá ở nước ngoài có thể ngang bằng với mức giá thế giới, do đó, lượng gạo xuất khẩu hầu như không khác trước là bao. Nghĩa là có thể giúp ổn định sự phân bổ lượng gạo xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. (Nếu không, gạo có khuynh hướng phân bố vào xuất khẩu, vì giá đã cao lên nhiều).

3. Một khi sản lượng nội địa được ổn định, nghĩa là vấn đề an ninh lượng thực không bị đe doạ và giá sẽ không tăng cao, thì lượng xuất khẩu sẽ là phần thặng dư như mọi năm, nghĩa là hoàn toàn có thể tính toán được. Khi đó, về cơ bản thì cả nhà xuất khẩu lẫn người sản xuất vẫn thu như cũ. Còn phần tăng lên đột xuất về giá thì rơi vào tay nhà nước thông qua thuế xuất khẩu. Nếu ta coi việc tăng giá và do đó áp đặt thuế xuất khẩu là ngắn hạn, thì khoản thu này nên được chủ động phân bổ lại cho khu vực nông nghiệp, hay chính xác hơn là khu vực sản xuất gạo. Nó có thể được phân phối thẳng cho nông dân (như là phần lợi nhuận họ đáng được hưởng, nhưng nhà nước đã lấy lại từ tay giới thương mại và trao cho họ), hai là trợ cấp nguyên liệu đầu vào, ba là đầu tư vào cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống, kho bãi, v.v…). Nhà nước không nên dùng nguồn thu từ khoản thuế này cho các mục đích khác.

(bài này sẽ được nâng cấp lên cho đầy đủ hơn)

***

Useful links:

Các bài về gạo trên Thời báo Kinh tế Sài gòn (xem các link bên tay phải)

Phỏng vấn GS. Võ Tòng Xuât trên VNN : một bài rất quan trọng (search thêm “Võ Tòng Xuân” để có nhiều bài từ trước về thông tin kinh tế gạo ở Việt Nam.)

Thông tin từ IPSARD (không được cập nhật lắm, nhưng có thể có số liệu cơ bản, search “gạo” trong trang)

Chuyên mục Food Prices của IFPRI

Từ trang của Trần Hữu Dũng: Vietnam’s farmers face paradox of the paddy và các bài khác được sưu tập trong trang này.

Bổ sung ngày 2/5/2008:

Dự cũng vừa viết một bài trên Minh Biện: Thế giới bên bờ khủng hoảng (qua bài này có thêm links và làm mình nhớ đến FAO là chỗ có rất nhiều tài liệu đáng ra phải xem đến ngay từ đầu).

Dừng xuất khẩu gạo đến cuối tháng 6 (xem thêm các link liên quan đến gạo trong trang này, bên tay phải)

Đêm 2/5: Sau khi đọc thêm tài liệu, mới biết rằng “Kinh tế Chính trị học về Gạo” ở Việt Nam là cả một khung rừng rậm, và rất nguy hiểm. Hoá ra thị trường gạo có vấn đề thì chỉ tại các công ty độc quyền thương mại (đường dài và xuất khẩu). Và điều quan trọng là, đó đều là các công ty nhà nước, được độc quyền theo luật. Theo nghiên cứu của Minot và Goletti (2000, IFPRI) thì các công ty này kém hiệu quả đến kinh ngạc.

Thi đoán mò: vì sao phải nới biên độ từ từ

Giả sử là chúng ta không biết gì về tình hình nội bộ của Uỷ ban Chứng khoán, họ đang nghĩ gì và họ đã có cái gì (có lẽ đối với đa số chúng ta giả định trên khá chính xác), thì hãy thử suy luận xem là vì sao việc nới biên độ lại phải rất rụt rè?

Thứ nhất là việc siết biên độ đã giúp thị trường túc tắc, túc tắc đi lên. Nhưng mỗi ngày đi lên 1%, thì một tuần đã qua cũng chỉ lên bằng một phiên của hồi xưa.

Thứ hai là việc siết biên độ giúp thị trường bớt hỗn loạn, thì cũng phần nào tạo được mối bình tâm. Chẳng phải chỉ cho các nhà đầu tư, mà chính là các nhà chính sách lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa.

Tuy nhiên, thực chất của việc thị trường phục hồi, trong ngắn hạn liên quan đến vấn đề giải chấp như nhiều người đã đồng ý, còn trong dài hạn thì liên quan đến vấn đề tình hình kinh tế vĩ mô ổn định và phục hồi. Tất cả những điều này đều cần có các động thái chính sách, và nó đòi hỏi thời gian. Do đó, siết biên độ để thị trường thoi thóp không dẫy đành đạch lên là rất quan trọng. Chẳng hạn, trong tuần vừa rồi, Thủ tướng đã ra gói chính sách bảy điểm rất tích cực. Theo giới chuyên gia kinh tế, đây là một trong những gói chính sách bài bản và “ngon lành” nhất của Chính phủ từ trước đến nay.

Cái chính là khả năng thực hiện đến đâu, còn đường vạch ra thế là không hơn được nữa rồi. Nếu thị trường tin rằng gói chính sách trên có hiệu lực, thì TTCK sẽ tiếp nhận tin tốt bằng sự phục hồi phần nào vững chãi. Cho nên, việc siết thị trường có cái lợi là như thế: nó làm thời gian ngừng trôi tên TTCK, trong khi những công việc cứu chữa vẫn tấp nập bên ngoài.

Nhưng việc quần chúng có kỳ vọng lạc quan vào gói chính sách của Chính phủ hay không, thì là một việc hoàn toàn khách quan, mà không ai dám nói chắc hay bắt ép cả. Và UBCK hẳn hiểu rõ điều này. Bên cạnh đó, dường như Ngân hàng Nhà nước cũng chưa thấy cho ra một chính sách hay gói chính sách rõ ràng nào liên quan đến vấn đề tín dụng (chảy vào Bất động sản hay vấn đề giải chấp).

Khác với gói chính sách trên của chính phủ có tính dài hạn, gói chính sách sau này có tính ngắn hạn hơn nhiều (và do đó có tác động nhanh hơn). Chính vì chưa có biến động gì mạnh mẽ sau một tuần, nên bất chấp thị trường cặm cụi đi lên từng bước ngắn ngắn quý giá, UBCK hẳn vẫn rất ngại ngùng không dám manh động tháo dây cương. UBCK không dám tháo dây cương, là vì cái khả năng UBCK biết thị trường sẽ hành xử thế nào hẳn không được cao.

Chẳng hạn, nếu tháo dây cương mà chẳng may thị trường lại lao xuống cho hai phiên (-10%) thì bao nhiêu công một-hai tuần đi nhẹ nói khẽ, nâng trứng hứng hoa, bỗng chốc hoá ra thành dòng nước chảy?

Mà vào lúc ấy, chẳng nhẽ lại siết biên độ lần nữa? Thì chẳng hoá ra là Uỷ ban đang làm một trò chơi con trẻ? Nghĩ mình phương diện quốc gia/Quan trên nhắm xuống người ta trông vào, đố ai mà lại nhịn được cười?

Thế cho nên, công nhận là rất khó cho Uỷ ban. Cho nên cứ rụt rè mà tiến, vẫn là thượng sách.

Nguồn

Siết biên độ và các bước tiếp theo  -033108
Ghi chú: bài này viết trên cơ sở lời mời của mục Tài chính, báo Sài Gòn Tiếp Thị, dựa trên bài viết trước trên blog này. Sau khi cân nhắc kỹ, tôi cho rằng việc can thiệp của SCIC không thực sự cần thiết. Càng suy ngẫm về hành động của SCIC, tôi càng thấy hầu như không có cơ sở kinh tế nào ủng hộ việc nó tham gia vào thị trường chứng khoán, chứ chưa nói gì tới một vai trò cứu tinh. Hy vọng sẽ có thời gian cùng trao đổi với các bạn những suy nghĩ và lập luận này.Nguồn: bài trên SGTT ***

Việc uỷ ban Chứng khoán quyết định siết biên độ có lẽ đã được hoạch định từ trước, và chỉ được chờ để tung ra khi VN-index chuẩn bị đâm thủng mức 500.

Giao dịch chứng khoán vẫn ảm đạm, VN-Index chỉ nhích thêm vài điểm qua mức 500, khi biên độ mới được áp dụng vào sáng 27.3.2008. Ảnh: Lê Quang Nhật

Về nguyên tắc thì việc siết biên độ tự nó không làm thay đổi khuynh hướng của thị trường, mà chỉ khiến các diễn biến xảy ra chậm hơn. Tuy nhiên, việc thị trường tăng hai phiên liên tiếp ngay sau khi chính sách được ban hành, cho thấy một số đặc điểm sau:

1. Nhà đầu tư có khuynh hướng tin rằng chính sách siết biên độ sẽ đem lại kết quả đáng mong muốn, tức là tạo ra một cái đáy nhân tạo và sau đó thị trường sẽ phục hồi đi lên. Mặc dù cơ sở kinh tế cho hiệu ứng này không nhiều, nhưng những gì được phản ánh trên thị trường (giá tăng) cho thấy niềm tin này hiện hữu trong giới đầu tư. Đây là một điều đặc biệt có lợi với những ai muốn thị trường hồi phục. (Phải nói rằng không phải tất cả mọi người đều muốn thị trường hồi phục, vì việc sụp đổ vẫn luôn là cơ hội ngàn vàng cho rất nhiều người).

2. Trước khi siết biên độ, do thị trường xuống dốc với một quán tính lớn, những người nắm giữ cổ phiếu (kể cả ngân hàng thương mại với các cổ phiếu thế chấp) bị mất bình tĩnh và gần như rơi vào trạng thái hoảng loạn, do đó xảy ra hiện tượng tháo chạy do thời gian không ủng hộ họ. Ngược lại, bên có khả năng mua (các quỹ trường vốn hoặc các nhà đầu tư đang nắm tiền mặt), ở vào thế thượng phong, nên rất bình tĩnh và không mua ngay cả khi giá đã xuống dưới mức giá trị thực, vì thời gian ủng hộ họ. Việc siết biên độ có ý nghĩa phân phối lại lợi thế thời gian giữa hai bên. Nếu cả bên bán lẫn bên mua cùng tin rằng chính sách siết biên độ sẽ làm thị trường hồi phục, bên bán sẽ ngừng bán và bên mua sẽ bắt đầu mua, và thị trường sẽ thực sự hồi phục.

Như vậy, về bản chất việc tăng giá sau khi có chính sách siết biên độ mang tính tâm lý cao độ, dựa trên kỳ vọng khá thống nhất của hầu như toàn bộ thị trường là chính sách này sẽ giúp thị trường hồi phục thành công. Đây là một lợi thế rất tốt cho uỷ ban Chứng khoán, người muốn thị trường hồi phục.

Tuy nhiên, để các kỳ vọng không bị tan biến và trở nên tiêu cực, một động thái kế tiếp hoặc đi liền với việc siết biên độ phải là tạm ngừng, hoặc giãn đến tối đa việc giải chấp chứng khoán cầm cố của các ngân hàng thương mại.

Điều này đã có trong gói chính sách của uỷ ban chứng khoán, tuy nhiên, việc thực thi phụ thuộc vào sự hợp tác của ngân hàng nhà nước và khối ngân hàng thương mại. Nếu khối ngân hàng ý thức được tầm quan trọng của việc kết hợp hai chính sách, họ nên làm càng sớm càng tốt, hoặc chính xác hơn, là ngay lập tức.

Nếu thị trường phục hồi, việc giải chấp có thể hoãn lại mà không gây nguy hiểm cho các ngân hàng, vì giá trị của cổ phiếu thế chấp họ nắm giữ sẽ tăng giá, thay vì giảm giá như vừa qua. Tuy nhiên, do khối lượng cổ phiếu nắm giữ có thể quá nhiều, các ngân hàng sẽ gặp vấn đề thanh khoản nếu không bán ra. Như vậy, đi liền với việc giãn giải chấp, thì cũng cần có các hỗ trợ về thanh khoản trong trường hợp cần thiết.

Thời gian vừa qua, thông tin các ngân hàng phải bán chứng khoán để giải chấp bất kể trạng thái thị trường ra sao, đã góp phần tạo nên kỳ vọng trên toàn thị trường là cung sẽ dư thừa và giá sẽ giảm. Vì có kỳ vọng này nên những người nắm cổ phiếu độc lập cũng hốt hoảng bán ra, và những người có khả năng mua vào cũng hoãn việc mua vào. Kết quả là, cung thực sự dư thừa và giá thực sự giảm, mặc dù có thể lượng cung chứng khoán giải chấp thực tế chỉ là một phần nhỏ trong tổng luồng cung.

Nếu niềm tin này vẫn tiếp tục được duy trì, sẽ không thể cứu vãn được thị trường bằng cách siết chặt biên độ. Tuy nhiên, một điều đáng ngạc nhiên (và đáng mừng) là thị trường đã đi lên, kể cả khi chính sách ngừng giải chấp chưa được công bố. Điều ấy cho thấy thị trường chưa kết nối hai sự kiện này với nhau. Nếu chính sách ngừng giải chấp được đưa ra sớm, trước khi kỳ vọng chung thay đổi, thì sẽ giúp thị trường phục hồi bền vững hơn và có thể ngừng siết biên độ.

Có thể nói, việc ngừng giải chấp mới là nguyên nhân chính giúp thị trường phục hồi, còn việc siết biên độ chỉ mang tính hình thức và có vai trò như một phanh hãm về tâm lý, hay giống như nắm chặt lấy một người đang trong cơn hoảng loạn. Nhưng nếu tiếp sau nghĩa cử an ủi đó, không có một giải pháp thực sự, thì rất có thể thị trường sẽ lại vùng ra và lao vào một cơn hoảng loạn mới.

Siết biên độ cần đi liền với các chính sách khác
Siết biên độ cần đi liền với các chính sách khác magnify

Việc Ủy ban Chứng khoán quyết định siết biên độ là một việc làm sẽ gây những vết sẹo lâu dài cho uy tín của Chính phủ, nhưng bây giờ không phải là lúc bàn về cái hay cái dở, vì tên đã bắn ra rồi. Vấn đề là cần phải làm gì để chính sách trên không trở nên vô nghĩa (sự vô nghĩa của các chính sách can thiệp, đồng nghĩa với việc bồi thêm một nhát cuốc vào những nỗ lực xây dựng thị trường trong quá khứ).

Các chính sách nhất định phải đi liền với việc siết biên độ là:

1. Ngừng ngay lập tức việc giải chấp chứng khoán cầm cố của các ngân hàng thương mại.

Điều này cũng có trong gói chính sách của Ủy ban, nhưng không hiểu có được NHNN đáp ứng kịp hay không. Nếu NHNN ý thức được tầm quan trọng của việc kết hợp hai chính sách, họ nên làm càng sớm càng tốt, hoặc chính xác hơn, là ngay lập tức. Vì việc siết biên độ là một điều cực kỳ vạn bất đắc dĩ, sớm ngừng ngày nào hay ngày đó.

Việc giải chấp có thể ngừng lại mà không gây nguy hiểm cho các ngân hàng, vì giá trị của cổ phiếu hiện nay đã thấp hơn giá trị thực của chúng khá nhiều, nên việc nắm giữ không còn là quá rủi ro. Thậm chí, nếu việc cứu vãn thị trường thành công, giá của chúng sẽ tăng lên so với hiện nay.

Chỉ khi ngừng bán ra chứng khoán giải chấp (hành vi bán mà không cần suy tính đến mức giá) thì mới giúp thị trường ngừng kỳ vọng giá sẽ tiếp tục giảm. Khi có kỳ vọng đó, thì người ta mới bắt đầu mua trở lại, và những người bán (bán theo do hoảng loạn) mới ngừng bán ra. Như thế vòng xoáy giảm giá mới chậm lại.

2. SCIC nên tiến hành mua vào lúc này.

Do biên độ bị hạ xuống mà phí giao dịch không giảm, người ta sẽ có khuynh hướng giảm giao dịch. Như thế SCIC sẽ có thể tăng sức mua của mình lên tương đối (vì nếu thị trường có giao dịch nhiều, thì sức mua của SCIC chẳng là gì cả, chỉ như dã tràng se cát. Bây giờ nhân tiện sóng biển đang rút, tranh thủ se thì sẽ đỡ công dã tràng hơn).

Nếu đồng thời hai chính sách trên được thực thi ngay cùng với việc siết biên độ, thì cung sẽ giảm và cầu sẽ tăng, giúp có thể cân đối được thị trường trong ngắn hạn, giúp thăng bằng giá một cách nhân tạo.

Thực chất của việc đi xuống gần đây không phải là vì giá đang điều chỉnh về mức giá trị thực thấp hơn như trong các thị trường thông thường. Giá vẫn lao xuống là vì cả người mua lẫn người bán cùng tin là giá đang lao xuống. Do đó, anh mua cứ khoanh tay đợi thôi, dù biết là mua lúc nào cũng được mức giá rẻ hơn giá trị thực rồi. Nhưng mà mua được rẻ hơn nữa thì tội gì không chờ thêm? Anh bán thì thấy là nếu bán ngày mai thì được ít hơn bán hôm nay, thì tội gì không bán ngay bây giờ? Kết quả là cung thì luôn có, mà cầu thì đóng băng. Kết quả là giá càng lao xuống. Vòng xoáy càng mạnh. Điều này thì ai cũng hiểu cả.

Tuy nhiên, vòng xoáy sẽ dừng lại ngay nếu mọi người tin là giá sẽ không giảm nữa (chứ chẳng cần phải đợi đến lúc họ tin là giá tăng). Bởi vì thực chất người mua biết chắc là mua lúc nào cũng được giá hời rồi, nên họ sẽ mua vào khi tin là giá ngừng giảm (chạm đáy), và sẽ giẫm đạp nhau mua khi giá bắt đầu tăng.

Việc sử dụng đồng thời ba chính sách: siết biên độ, ngừng giải chấp, và SCIC mua vào, có thể sẽ đạt được mục đích hãm vòng xoáy suy giảm, và tạo ra một cái đáy nhân tạo. Để từ đó thị trường dần hồi phục.

Nếu không có hai chính sách sau hỗ trợ, thì việc siết biên độ sẽ đơn thuần trở thành giải pháp đóng băng. Nhưng thế có thể sẽ không đem lại hiểu quả gì đáng kể, mà trái lại, gây phẫn nộ cho cả những người muốn rút lui khỏi lẫn tham gia vào thị trường. Còn những ảnh hưởng lâu dài, thì như từ đầu đã nói, bây giờ chưa phải là lúc bàn vì bàn thì chỉ thêm buồn.

(Link khác)

Suy nghĩ về Ngân hàng Nhà nước (mấy vấn đề căn bản)
(Nghĩ nhẩn nha, ai ít thời gian không nên đọc, vì dài mà lại rườm rà)*** Siêu chủ thể trong lòng Siêu chủ thể, hay là Tính độc lập bất khả thiCó nhiều người thường nhắc đến tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương theo thuật ngữ chuyên môn) như là một giải pháp cần thiết để chính sách tiền tệ được hiệu quả hơn, và do đó là việc bình ổn kinh tế vĩ mô. Từ những chiêm nghiệm cá nhân, tôi không hoàn toàn đồng ý với quan điểm trên trong bối cảnh hiện nay ở nước ta.

Thứ nhất, việc hình thành Ngân hàng Trung Ương – mà một số nhà kinh tế, trong lúc say sưa, đã tuyên bố không thẹn thùng rằng đó là một phát minh quan trọng thứ ba của nhân loại, chỉ sau lửa và bánh xe – có đặc điểm lịch sử mang tính kinh tế thị trường trong trạng thái đặc biệt chín muồi. Tôi muốn nói tới trạng thái phát triển đầy đủ của nền kinh tế thị trường với những đặc điểm thuần tuý của nó: sở hữu tư nhân được bảo đảm và ưu tiên tuyệt đối, giá cả thị trường tự do vận động và được tôn trọng như một tín hiệu quan trọng bậc nhất, nguồn lực được tự do dịch chuyển, và lưu thông tiền tệ phát triển đầy đủ.

Việc hình thành Ngân hàng Trung ương mang tính tự phát ở Anh một cách lần hồi, thoạt tiên nhằm thống nhất các phương tiện lưu thông (trước đó mỗi ngân hàng hoặc đại công ty tự phát hành tín phiếu, hay giấy nhận nợ, hay có thể gọi là tiền tư nhân cũng được). Việc thống nhất độc quyền phát hành tiền vào một tổ chức, là có sự đồng thuận của giới ngân hàng (bankers). Việc thống nhất ấy có tác dụng giảm chi phí giao dịch (chủ yếu liên quan đến thông tin không cân xứng, hay vấn đề xác nhận uy tín của mỗi đơn vị phát hành). Nó có ý nghĩa giống như Tần Thuỷ Hoàng thống nhất hệ thống đo lường của Trung Hoa, không phải xuất phát từ ý thích nhất thời của ông, mà là để giảm chi phí giao dịch trên diện rộng. Rồi sự phát triển của nghiệp vụ ngân hàng trung ương (central banking) dần dần trở nên không thể thiếu trong việc bình ổn lãi suất-đại lượng vĩ mô số một của thị trường, giúp ổn định nền kinh tế trên một quy mô rộng lớn, nhằm làm giảm những cuộc khủng hoảng đau đớn gây ra cho chính thị trường đó. Do đó, thoạt tiên Ngân hàng Trung ương được sản sinh và duy trì bởi các nhóm tư nhân, với những mục đích hoàn toàn mang tính tư nhân. Trong trường hợp này, lợi ích của nhóm tư nhân ấy rất gần với lợi ích của xã hội, đó là sự bình ổn nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Về sau này Ngân hàng Trung Ương phát triển lên trở thành một tổ chức vượt lên trên mọi chủ thể của thị trường, – một siêu chủ thể, và hiển nhiên gia nhập cùng một nhóm những siêu chủ thể khác cũng đã vượt lên mọi chủ thể của thị trường như thế, và đó không gì khác là các tổ chức nhà nước (như tổ chức Lập Pháp, Hành pháp, và Tư pháp – Pháp, theo nghĩa kinh tế học, là luật chơi để giữ cho thị trường phát triển bền vững, mà không đổ vỡ). Do đó, ngay từ buổi ban đầu, Ngân hàng Trung ương đã là một tổ chức độc lập với nhà nước. Độc lập bởi vì đó đều là những siêu chủ thể đứng lên trên, bao quát toàn bộ thị trường.

Thứ hai, việc hình thành ngân hàng trung ương ở các nước như nước ta không giống như các nước khác. Cấu trúc thị trường của các nước có thị trường kém phát triển có một đặc thù là các tổ chức siêu thị trường (tức là Nhà nước) có một sức mạnh cố hữu lớn hơn thị trường rất nhiều. Các tổ chức siêu thị trường này, không phải được sinh ra từ thị trường nhằm duy trì sức mạnh của thị trường, mà trái lại, nó còn giúp sinh ra thị trường và dẫn dắt thị trường. Đó là các nhà nước phát triển (developmental state). Các tổ chức siêu thị trường này, về mặt lý thuyết, không thể dẫn dắt cái mà về nguyên lý là sinh ra nó, theo định luật bảo toàn thông tin. Nhưng định luật bảo toàn thông tin, giống như định luật bảo toàn năng lượng, chỉ áp dụng được cho các hệ đóng. Mà các tổ chức xã hội phát triển sau lại không phải là một hệ đóng xét về mặt thông tin. Nó là một hệ mở vì nó có thể tiếp nhận thông tin sản sinh bởi các tổ chức xã hội phát triển, đi trước, tức là các tổ chức thị trường tự do đi trước (Thế giới thứ Nhất). [Lưu ý là có thể coi Thế giới thứ Nhất là một hệ đóng về thông tin, vì nó không có cơ hội tiếp cận các luồng thông tin từ một nước đi trước nào cả, vì nó đã ở hàng đầu rồi.]

Vì các xã hội phát triển sau học tập ở các nước đi trước, nên các tổ chức siêu thị trường vốn có có khả năng tự sản sinh ra các tổ chức siêu thị trường khác, nhằm dẫn dắt thị trường, theo cách thức mà nó học được từ các nước đi trước.

Do đó, nhìn về hình thức xã hội, ở các nước này cũng có các tổ chức thị trường và các tổ chức siêu thị trường. Nhưng về bản chất là hoàn toàn khác nhau.

Hai đặc điểm tương phản nêu trên dẫn đến một hệ quả quan trọng. Đó là các nước chậm phát triển xa lạ với việc chấp nhận một tổ chức siêu thị trường đứng bên ngoài nhóm siêu thị trường – nguồn gốc của thị trường và các tổ chức siêu thị trường nhân tạo khác. Vì ngay từ đầu Ngân hàng Nhà nước ở những nước như Việt Nam hay Trung Quốc đã có nguồn gốc là của nhà nước, chứ không phải một nhóm tư nhân, nên việc tách nó khỏi nhóm công buộc phải đồng nghĩa trao cho nó tư cách tư nhân, là cái mà nó chưa bao giờ thuộc về cũng như thoát thai từ đó cả. Cho nên nói, việc tách một tổ chức ra độc lập với Nhà nước, mà vẫn giữ vị thế siêu thị trường, tức là ngang hàng với chính nó, là một điều xa lạ về tư duy, và không thể nào chấp nhận trong thực tiễn. Nhà nước, với tư cách cái đã tạo ra mọi thứ, thấy rất khó chịu đựng được cái cảm giác có một cái gì do mình tạo ra, lại vượt ra bên ngoài tầm kiểm soát của mình và đứng độc lập với mình. Đó thực sự là điều không hiểu nổi. Điều tương tự cũng vậy đối với việc tách Nhà nước thành ba bộ phận về Pháp như có đề cập trên kia.

***

NHNN Việt Nam hoạt động với tư cách một siêu chủ thể trong lòng siêu chủ thể: giống và khác với tư cách một siêu chủ thể bên cạnh siêu chủ thể ở Thế giới thứ Nhất như thế nào?

Cuộc phân ly giữa hai thế hệ kinh tế gia

Hôm nay dự một cuộc họp về lạm phát và chống lạm phát rất thú vị. Trong số nhiều cuộc họp đã dự về vấn đề này (bây giờ người ta họp liên miên về cái này), thì đây là một buổi hữu ích bậc nhất. Là một cuộc họp nhỏ, không rầm rĩ khuyếch trương, nhưng thành phần hội đủ các kinh tế gia có tên tuổi nhất trong lĩnh vực nghiên cứu và tư vấn chính sách vĩ mô. (Lúc đầu nghĩ là một cái nho nhỏ, mà lại họp sớm, cho nên dề dà đến hơi muộn, không ngờ lúc đến thấy quần hùng đã an toạ, toàn là cao thủ võ lâm, thậm chí còn nhiều hơn cả lúc đi uống rượu. Một lão tiền bối thì đang đứng tấn chém gió vù vù.).

Cuộc họp diễn ra chặt chẽ về thời gian và rất tập trung. Rất may là hầu như không có thành phần quan chức, nên không phải nghe những luận điểm chủ quan mang đậm màu (duy) ý chí.

Đã hình thành ranh giới rõ ràng giữa hai thế hệ kinh tế gia: những lão gia kỳ cựu từng thượng đài trong cuộc chống lạm phát khi đất nước mới mở cửa và bọn anh hùng mới hạ sơn chục năm gần đây, nhưng thân thủ không kém phần phi phàm, mà giang hồ còn cho là trội hơn rất nhiều cả kiếm lẫn khí. Có những đồng thuận rất căn bản, như việc tăng lãi suất và thắt chặt cung tiền. Nhưng có một sự phân ly rõ rệt trong chính sách tỷ giá. Điều này nhìn tưởng đơn sơ, nhưng thực ra là vô cùng quan trọng.

Không có một ý kiến nào liên quan đến việc cứu thị trường chứng khoán. Đúng là một cuộc họp rất có đẳng cấp.

Cổ phiếu phát hành thêm: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Cổ phiếu phát hành thêm: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo magnify

Theo dõi thị trường gần đây, so sánh với 1-2 năm về trước, không thể không chạnh lòng buồn nhớ một thủa vàng son, hồn nhiên và yêu dấu. Như một cá nhân hoài niệm tuổi thơ tinh khôi mà nồng cháy, như một dân tộc ôm giấc mơ xưa về thời hồng hoang mộc mạc mà anh hùng.

Tôi vẫn nhớ ngày ấy cứ hễ cổ phiếu nào sắp tăng vốn, sắp phát hành thêm hay chia thưởng bằng cổ phiếu, là người ta cứ nhao nhao, rào rào lên mua vào. Giá cổ phiếu tăng vùn vụt như pháo cao xạ bắn vèo vèo tới thời điểm chốt danh sách. Các doanh nghiệp tha hồ tăng vốn. Đúng là không lúc nào vốn rẻ đến như thế. Một kỷ nguyên vĩ đại của thị trường.

Lúc ấy thông tin về anh nào sắp tăng vốn, tỷ lệ chia thưởng thế nào, v.v… là cả một kho báu, được nói ngắn gọn và đầy yêu thương là “tin tốt.” “Tin tốt” được lan truyền rì rào và bí mật. Bởi vì bí mật, tin lan rất nhanh. Giá cổ phiếu cứ thế kịch trần không gì níu kéo được.

Thế mà giờ đây, mọi sự đều thay đổi. Tin sắp có phát hành thêm, sắp có quyền mua là cả một nỗi kinh hoàng! Khi tôi nói với anh bạn là Kim Long ra Tết sẽ phát hành, mắt anh buồn xa xăm như có cái gì sụp đổ. Nhìn anh qua cốc bia trong buổi chiều cuối năm lạnh giá, ”bóng chiều không thắm, không vàng vọt, sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”. Anh mếu máo bảo, thể thì không biết ra Tết mở cửa thị trường có kịp đẩy đi không. Vì bây giờ hễ có tin phải đóng tiền tăng vốn là người ta quất hàng đi.

Thế rồi Tết hết năm đến. Cái năm định mệnh của thị trường. Cổ phiếu đua nhau lao vùn vụt, nhưng lần này không phải là súng phòng không, mà là những tay trượt tuyết cừ khôi tranh nhau về nhất.

Nhìn theo cổ phiếu Kim Long của anh bạn, ngày 21 chốt danh sách càng tới gần, cuộc đua càng gay cấn… Tính đến hôm nay giá đã về khoảng 56. Kim Long khi xưa chào bán ra công chúng giá “hữu nghị” 50, ai cũng phải có người quen mới mua được. Và vạn người mua đều qua quen biết cả, nên giá khá thống nhất ở mức 50 trên toàn quốc. Tính đến bây giờ, thế là lãi vừa bằng gửi tiết kiệm. Vừa xinh!

Vì sao lại thế?

Theo tôi, mấu chốt nằm ở vấn đề thanh khoản. Khi xưa, cổ phiếu thì chưa nhiều và thanh khoản thì lại rất sẵn. (Nhân tiện xin nói thêm luôn, “thanh khoản” (liquidity) là một thuật ngữ của các nhà kinh tế hàn lâm ưa dùng, có nghĩa là các khoản tiền hoặc giống như tiền, có thể chuyển đổi được nhanh, hầu như không có rủi ro. Từ này được Keynes ưa dùng và đi vào kinh tế học chính thống từ độ ấy. Nôm na mách qué không nói “thanh khoản”, thì cứ nói là “tiền” cho nó quần chúng cũng không sao.)

Khi xưa, ai cũng muốn có cố phiếu. Mà kể cũng lạ, hồi ấy giá cổ phiếu cứ sểnh ra là tăng. Thành ra ai có cổ phiếu là có thêm tiền. Cho nên “phải nắm nhiều cổ phiếu” đã trở thành một khao khát cháy bỏng của bao nhiêu người con của dân tộc. Cứ hễ có tin sắp có thưởng, sắp có phát hành thêm là cổ phiếu ấy đắt giá. Mà khi cầu tăng, tất nhiên giá tăng.

Ngày nay, thanh khoản không còn nhiều nữa. Một phần đã bị siết chặt vì Chỉ thị 03, một phần đã trèo tường sang bên anh Bất Động Sản. Một phần nữa, rất quan trọng, là nỗi ngao ngán vì cảnh trượt dốc triền miên, mà tiền thì kẹt trong chứng khoán không sao rút ra được. Ấn tượng “có cổ phiếu là có thêm tiền” giờ đã chuyển thành “có cổ phiếu là mất thêm tiền” đã bén rễ sâu sắc. Một tấm màn ảm đạm phủ lên quần chúng xanh xao lạnh cóng. Cho nên, cứ nhắc tới là sắp có thêm cổ phiếu đã chẳng thích gì, lại còn “phải đóng tiền tăng vốn” lại càng kinh hơn. Thế nên tốt nhất là bán cho thoát nợ. Thế là ngày xưa những lúc thế này thì cầu tăng, còn bây giờ lại là cung tăng. Mà cung tăng, tất nhiên giá giảm.

Nhưng tôi vẫn cho rằng, tất cả những làn sóng trên chỉ là tâm lý bầy đàn, sản phẩm của những niềm tin duy cảm. Sự duy cảm không có chỗ đứng trong thị truờng.

Những người sáng suốt, trong đó đa số là các nhà đầu tư nước ngoài, thế nào cũng mua mạnh Kim Long những lúc thế này. Nhìn vào khối lượng giao dịch, rõ ràng vẫn tăng rất mạnh. Điều ấy cho thấy vẫn có những người đang âm thầm mua vào, ở mức giá rất tốt, “bằng lãi gửi tiết kiệm.”

Vì sao lại thế?

Bởi vì cần phải phân biệt rõ các hình thức tăng vốn. Cần phân biệt rõ lợi ích khác nhau của việc “chia cổ phiếu thưởng” và “phát hành thêm với giá thấp.” Đây là hai cách tăng vốn, nhưng khác nhau hoàn toàn. Nhiều người lại cứ tưởng “chia cố phiếu thưởng” = “phát hành thêm với giá bằng không.”

Hai điều này khác nhau, và có tác động đến quyền lợi của cổ đông hiện hữu khác nhau.

Không biết chúng khác nhau thế nào, xem một entry sau sẽ rõ.

Bài khai bút đầu xuân trên Sài Gòn Tiếp Thị

Bắt nguồn từ một entry viết hôm trước, sau đó Lệ đặt triển khai thành bài cho SGTT. Cảm ơn Lệ vì đã thúc giục.
***

Có cần “can thiệp” vào thị trường chứng khoán?

Sự thành công của kinh tế thị trường với tư cách một cỗ máy đem lại sự phồn vinh nằm ở chỗ đó là cơ chế đào thải những tác nhân kinh tế yếu kém ra khỏi cuộc chơi một cách hữu hiệu… chứ không phải bởi vì đó là một cỗ máy siêu nhiên có phép lạ liên tục sản sinh ra sự giàu có

Khi thị trường chứng khoán đi xuống, người ta luôn cho rằng có một lỗi lầm gì đó đang diễn ra ở đâu đó, mà chẳng bao giờ buồn chất vấn lý tính của chính mình. Ảnh: Lê Quang Nhật

Sự phồn vinh gắn liền với nền kinh tế thị trường là kết quả chứ không phải nguyên nhân của nền kinh tế ấy. Chính sự thanh lọc hữu hiệu các phần tử kém ưu tú mới là nguyên nhân.

Thị trường tài chính, hay cụ thể hơn nữa là thị trường chứng khoán, không chỉ đơn thuần là một trong số các thị trường: nó là đỉnh cao của các loại thị trường. Do đó, nguyên lý trên càng đúng hơn bao giờ hết. Nói cách khác, không phải sự tăng lên không ngừng của các chỉ số làm thị trường phát triển, mà chính là cái khả năng gạt bỏ không thương tiếc, hữu hiệu, từng lúc và ở mọi nơi, với chi phí thấp, những thành viên không ưu tú ra khỏi thị trường, mới là nguyên nhân tạo nên sự bền vững cho thị trường này. Và cái cơ chế gạt bỏ hữu hiệu ấy không gì khác chính là sự thăng trầm thất thường, đa hướng, đa biên độ, không thể dự báo được của nó. Có thị trường hay cuộc chơi nào không tàn yểu ngay nếu đa số người chơi luôn dự báo được kết quả chung cuộc?

Thế nhưng ở nước ta hiện nay, quan niệm về sự lành mạnh của thị trường chứng khoán dường như rất thiên lệch. Ở đây người viết không muốn đi sâu vào nguyên nhân của tầm nhìn này, vì đó là một hiện tượng phức tạp được đan bện nên từ nhằng nhịt những lối tư duy, động lực và lợi ích rất khác nhau. Người viết chỉ muốn đi vào mô tả hình thức của nó.

Khi thị trường đi lên, người ta hân hoan và ai cũng tự cho mình là thiên tài chứng khoán. Nhưng khi thị trường đi xuống, người ta luôn cho rằng có một lỗi lầm gì đó đang diễn ra ở đâu đó, mà chẳng bao giờ buồn chất vấn lý tính của chính mình. Hễ có dịp thị trường đi xuống, là ào ạt hình thành những quan điểm như “tăng room cho nhà đầu tư nước ngoài” hoặc “giãn cung” và thậm chí là “kiểm soát cung” như cách hành ngôn nghiêm nghị của một số người trong ngành chứng khoán.

Quan điểm “kiểm soát” rất dễ hình thành, và thường hình thành một cách dễ dãi. Điều này làm lộ tẩy tư duy chống lại thị trường (có thể nằm sâu trong tiềm thức) của những người đang sống trong nền kinh tế thị trường nhưng chưa bao giờ thấm đẫm các giá trị của thị trường.

Vì sao phải kiểm soát hành vi phát hành, vì khi cung tăng dồn dập như hiện nay, chính các doanh nghiệp tăng cung bị thiệt trước tiên? Và họ cũng thấm thía điều này nhanh và trực tiếp hơn bất cứ một người ngoài nào khác. Do đó, nếu họ thấy có hại cho họ, họ sẽ tự ngừng phát hành mà chẳng cần tới yêu cầu của một ai. Nhưng nếu họ còn thấy có lợi, họ sẽ vẫn có lý do để phát hành, bất chấp ai khác kêu ca là thị trường đang thấp. Thấp, như thế, chỉ là thấp với những kẻ đang kêu ca, chứ nhất định không là thấp với doanh nghiệp cứ nhất quyết phát hành, và lại càng không là thấp với những người muốn mua thêm cổ phiếu.

Vậy việc kiểm soát là để giúp cho ai?

Thực ra, việc tăng cung như thế sẽ lây lan sang những người đang nắm giữ các cổ phiểu khác, đang hân hoan thấy tài sản của mình mỗi ngày một nở ra như bong bóng. Khi bóng xẹp xuống dần, họ thấy quyền lợi bị ảnh hưởng.

Do đó, tiếng nói đòi kiểm soát tăng cung không phải để bảo vệ những doanh nghiệp sắp phát hành cổ phiếu, mà là những doanh nghiệp đã phát hành rồi. Như vậy, chính sách này là một hình thức thiết lập rào cản tham gia thị trường.

Cái tư duy cố hữu cứ động đến quyền lợi của mình là đòi có chính sách bảo vệ, bất chấp cấu trúc thị trường bị méo mó ra sao, và do đó là quyền lợi của anh ta về lâu về dài có thể phải lâm nguy thế nào, luôn thường trực trong đầu rất nhiều người, dù họ tự cho mình là những đứa con ưu tú của thị trường. Hành vi ấy xét về khía cạnh thị trường là chống lại tự do, xét về khía cạnh tư duy là không duy lý, xét về khía cạnh văn hoá là thiếu dân chủ.

Thiếu một trong ba yếu tố trên, thị trường không coi anh là một người ưu tú.

Vì sao vẫn có những doanh nghiệp muốn phát hành khi VN-Index đang xuống dốc bên kia của 1.000 điểm? Vì sao VCB vẫn IPO bất chấp sự suy giảm của thị trường? Vì điều ấy có lợi cho họ. Họ muốn có những lợi ích khổng lồ mà người khác đã nhận được rồi, mà họ thì chưa. VN-Index ở mức 800 là cao hay thấp? Giá VCB 100.000 đồng là thấp hay cao phi lý?

Chỉ số 800 chỉ là thấp với những người đã mua cổ phiểu khi VN-index ở mức 1.000, và khư khư không chịu bán ra vì hy vọng thị trường vẫn mãi mãi đi lên. Nhưng mức 800 lại có thể vẫn là cao chót vót với những người chưa tham gia thị trường, cả từ phía cung lẫn phía cầu. Ai kêu khóc cho chỉ số lúc 800? Chỉ là những người đang nắm giữ cổ phiếu từ lúc thị trường đang hân hoan ở mức 1.000 và kẹt cả tài sản trong tài khoản. Cho nên, tiếng nói đó chưa chắc là đại diện cho tất cả.

Có người kêu khóc thì cũng có người cho rằng chỉ số 800 là ngày hội của những ai duy lý và sáng suốt, những ai biết rằng đợi chờ là hành động dũng mãnh nhất trên thị trường.

Nguyễn Đức Thành
Nguồn: SGTT
Suy thoái ở Mỹ và tình hình Việt Nam
Suy thoái ở Mỹ và tình hình Việt Nam magnify

Trích phần mở đầu một báo cáo gần đây viết trong khuôn khổ công việc. Báo cáo đầy đủ nhan đề “Diễn biến kinh tế thế giới gần đây và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.” Theo yêu cầu, tập trung chủ yếu cho năm 2008, tức là rất ngắn hạn. Bản thân toàn bộ bài viết cũng rất tóm tắt (8 trang), vì đòi hỏi phản ứng nhanh và nêu quan điểm cá nhân. Phải hoàn thành ngay trong hai ngày cuối tuần vừa rồi, sau khi vừa quay lại Hà Nội.

Bài gồm 3 phần: (1) Biến động của nền kinh tế thế giới, (2) Tác động đến nền kinh tế Việt Nam, (3) Khuyến nghị chính sách.

Ở đây chỉ trích đăng phần đầu. Các phần sau thuộc bản quyền của Chính phủ… :)

***

1. BIẾN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

Tình hình kinh tế thế giới có khuynh hướng tăng trưởng chậm lại bắt nguồn chủ yếu từ những vấn đề ngày càng nghiêm trọng từ nội tại nền kinh tế Mỹ, cùng những niềm tin không còn lạc quan như trước về nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ.

Nhiều nhà kinh tế hàng đầu ở Mỹ đổ lỗi cho chính quyền Bush vì sự suy thoái đang đến gần của nền kinh tế Mỹ. Lập luận chủ yếu của họ là chính sách cắt giảm thuế đi liền với tăng chiến phí ở Iraq đã tạo thâm hụt ngân sách trầm trọng, thêm vào đó là thâm hụt thương mại lớn với thế giới (đặc biệt là Trung Quốc) đã đẩy Mỹ vào tình trạng thâm hụt kép nghiêm trọng nhất trong lịch sử, gây nên những bất ổn tiềm tàng cho nền kinh tế lớn nhất thế giới này. Bên cạnh đó, chính sách hạ thấp lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang dưới thời Greenspan đã đẩy giá bất động sản tăng dần lên, khiến tạo nên một cơn sốt mua và đầu cơ bất động sản. Thêm vào đó, việc nới lỏng các quy chế cho vay gần đây ở Mỹ, sản phẩm của làn sóng tăng tự do hoá tài chính, đã khiến người dân tiếp cận các khoản vay dễ dàng hơn trước nhiều.

Trước tình hình giá dầu tăng khiến lạm phát tăng, việc thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất đe doạ một cuộc sụt giảm giá bất động sản, hay nguy cơ bong bóng nhà đất nổ vỡ. Do đó, Mỹ đang đứng trước thế lưỡng nan trong điều hành vĩ mô và lãi suất vẫn có khuynh hướng giảm để “kéo dài thời gian” trước khi tới miệng hố suy thoái.

Trước những mối bi quan về nền kinh tế Mỹ và sự đình trệ nhãn tiền của nó, một hiện tượng đáng lưu ý trong thời gian qua là đồng Đô la Mỹ liên tục mất giá trên toàn cầu.

Dù nguyên nhân là gì và đuợc giải thích như thế nào, thì nửa cuối năm 2007 đã chứng kiến tăng trưởng âm của nền kinh tế Mỹ. Do đó, các chính sách kích thích nền kinh tế đã được thông qua vào giữa tháng 1 năm 2008, với quy mô gói ngân sách mở rộng khoảng 150 tỷ USD. Cả hai phe Cộng Hoà và Dân Chủ đều nhất trí với chính sách kích thích, nhưng khác nhau về quan điểm chính trị và phương pháp. Nhìn tổng thể, cả hai phe đều sử dụng chính sách kích thích tổng cầu kiểu Keynes, nhưng khác nhau về thành phần tổng cầu cần được kích thích. Phe Cộng Hoà chú ý tới thành phần tổng đầu tư, với phương pháp là tạm thời giảm thuế đánh vào các khoản đầu tư. Phe Dân Chủ hướng tới tổng tiêu dùng, thông qua tăng trợ cấp thất nghiệp và phúc lợi xã hội, cũng như tăng phân bổ ngân sách từ cấp Liên Bang xuống cấp Bang. Hiện nay chính sách đang nghiêng theo hướng của phe Cộng Hoà vì đây là phe cầm quyền. (Các chính sách của phe Cộng Hoà nhìn chung có lợi trực tiếp cho các nhà sản xuất lớn, thay vì đi thẳng vào quảng đại quần chúng như phe Dân Chủ chủ trương.)

Ảnh hưởng của việc nền kinh tế Mỹ chững lại tất nhiêu mang tính tiêu cực đến phần còn lại của Thế giới. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định rằng ảnh hưởng này lên Trung Quốc và Ấn Độ không lớn như lên các nước Đông Nam Á, vì tỷ tệ giá trị xuất khẩu sang Mỹ trên GDP của Trung Quốc và Ấn Độ mới chỉ là 8% và 2%, còn các nước NICs ở Đông Nam Á là khoảng 40% (Con số này ở Việt Nam vào khoảng 16%). Nhưng ngay cả với các nước Đông Nam Á, ảnh hưởng cũng không lớn như trong những cuộc suy thoái trước đây.

Hỗn loạn: Thị trường hay Tư duy?
Hỗn loạn: Thị trường hay Tư duy? magnify

(Tùy bút từ Bangkok. Giờ ăn trưa. Không có font tiếng Việt. Mượn một cái forum làm nền để viết. Cứ thử cho lên xem có đọc được không)

****

Mấy hôm liền không vào web, thấy nhiều bài lạ, nhất là khi thị trường xuống dồn dập. Thử xem qua mấy bài, thấy kiến nghị chính sách rất hỗn loạn và lăng nhăng:

Có kiến nghị kiểm soát cung chứng khoán của một người trong ngành:

Kiến nghị kiểm soát chặt việc phát hành chứng khoán

Quan điểm “kiểm soát” rất dễ hình thành, và thường hình thành một cách dễ dãi. Điều này phát lộ tư duy chống lại thị trường (có thể là vô thức) của những người làm việc trong nền kinh tế thị trường nhưng chưa bao giờ thấm đẫm các giá trị của thị trường. Việc gì phải kiểm soát vì khi cung tăng dồn dập như hiện nay, chính các doanh nghiệp tăng cung bị thiệt hại. Thiệt hại này lây lan sang cả những người đang sở hữu những cổ phiểu khác, đang hân hoan thấy tài sản của mình mỗi ngày một nở ra như bong bóng. Khi bóng xẹp xuống dần, họ thấy quyền lợi bị ảnh hưởng. Do đó, tiếng nói đòi kiểm soát tăng cung không phải để bảo vệ những doanh nghiệp sắp phát hành cổ phiếu, mà là những anh đã phát hành rồi. Do đó, chính sách kiểm soát tăng cổ phiểu là một hình thức thiết lập rào cản tham gia thị trường. Cái tư duy cố hữu cứ động đến quyền lợi của mình là đòi có chính sách bảo vệ, bất chấp cấu trúc thị trường bị méo mó ra sao, và do đó là quyền lợi của anh ta về lâu về dài, luôn thường trực trong đầu rất nhiều người, dù anh ta tự cho mình là một người của thị trường. Tư duy ấy xét về khía cạnh thị trường là chống lại tự do, xét về khía cạnh tư duy là không duy lý, xét về khía cạnh văn hóa là thiếu dân chủ.Kinh tế thị trường – Tư duy duy lý – văn hóa dân chủ: đó chỉ là những khía cạnh khác nhau của nền văn minh. Không có nó, nền văn minh sẽ suy tàn hoặc sụp đổ.

Giả sử chính sách trên được thông qua, thì hóa ra khi thị trường đang dâng cao lại chính là lúc doanh nghiệp bị ràng buộc để phát hành chứng khoán nhất chăng? Vì sao họ vẫn phát hành khi thị trường ở mức 800 điểm? Vì sao VCB vẫn IPO bất chấp sự suy giảm của thị trường? Vì điều ấy có lợi cho họ. Những lợi ích khổng lồ mà người khác đã nhận được, còn họ thì chưa. VNindex ở mức 800 là cao hay thấp? Giá VCB 100.000 đồng là thấp hay cao phi lý?

Chỉ số 800 chỉ là thấp với những anh mua cổ phiểu ở giá 1000. Còn nó vẫn là cao chót vót với những anh chưa tham gia thị trường, cả từ phía cung lẫn phía cầu. Ai kêu khóc cho chỉ số lúc 800? Chỉ là những người đang năm giữ cổ phiếu từ lúc nó 1000 và kẹt cả tài sản trong tài khoản. Cho nên, tiếng nói đó không phải là tiếng nói của đám đống, mà là của một nhóm người thôi. Chỉ số 800 là ngày hội của những kẻ duy lý và sáng suốt, những kẻ biết rằng đợi chờ là hành động dũng mãnh nhất trên thị trường.

***

Bài viết của nhóm nghiên cứu của một công ty chứng khoán Tân Việt nào đó:

Thử “bắt bệnh” thị trường chứng khoán

Bài này phần đầu phân tích các diễn biến của thị trường trong năm 2007 khá chính xác. Nhưng đoạn sau lại kiến nghi tăng cung tiền rót vào thị trường rất ngây thơ (vì sẽ không tạo ra lạm phát do không phải khu vực sản xuất, v.v…).

Hayek đã từng nói một nhà vật lý tồi thì chỉ khổ thân anh ta thôi. Còn một nhà kinh tế tồi, thì là cả một mối nguy cho xã hội.

Suy nghĩ về hướng đi của lạm phát năm 2008
Suy nghĩ về hướng đi của lạm phát năm 2008 magnify
“Samson and Delilah” của Rubens, hoàn thành năm 1610.
Bức tranh này có thể dùng minh hoạ cho chủ đề “Tăng trưởng và Lạm phát”
***

Viết xong bài này chắc nghỉ một thời gian, chuyển sang viết đề tài gì đó khác cho vui. Hoặc tốt nhất là nghỉ.
Tia Sáng, 13:40:54 17/12/2007

[Lạm phát] có cả vai trò kinh tế lẫn tâm lý. Nó là đòn chí mạng đánh vào nguyên tắc cần kiệm và uy quyền của nhà nước.
(Erich Fromm (1941), Escape from Freedom, tr. 214.)

Ngày 21/11/2007, kỳ họp thứ hai và cũng là kỳ họp cuối cùng trong năm của Quốc hội khóA XII đã kết thúc, với việc thông qua chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2008 từ 8,5 đến 9%, và mức lạm phát phải dưới mức tăng trưởng.
So với năm trước, chỉ tiêu trên dường như không khác biệt nhiều. Tuy nhiên, chưa kể đến những yếu tố bất định của thị trường thế giới, và các nguyên nhân hiện thời vẫn tiếp tục tồn tại, thì lạm phát năm 2008 đã chứa đựng một yếu tố mới, đó là áp lực tăng lương. Áp lực này vừa là kết quả của lạm phát thời gian qua, lại vừa là một phần nguyên nhân quan trọng cho lạm phát trong thời gian tới. Có thể nói quyết định tăng lương đã hoàn thành chu trình tạo ra lạm phát hiện nay, báo hiệu nguy cơ tự tái tạo của hiện tượng này. Do đó, nếu Chính phủ không tiếp tục chống lạm phát một cách cứng rắn, đạt được mục tiêu trên có thể trở thành một nhiệm vụ khó khăn.

Giải cấu trúc lạm phát 2007-2008
Hình 1 phác hoạ cơ chế vận động của chu trình lạm phát trong bối cảnh chung của nền kinh tế Việt Nam.
Hãy lấy điểm xuất phát từ hộp trung tâm, nằm phía dưới của Hình 1, mang tên “Nền kinh tế Việt Nam”. Ba mũi tên đi theo ba hướng thể hiện nền kinh tế đòi hỏi ba yêu cầu lớn là tăng trưởng kinh tế nhanh, phân phối thu nhập quốc dân theo hướng bền vững, và tái cấu trúc để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba yêu cầu này nếu được đáp ứng, thì vừa phản ánh thành quả của nền kinh tế, vừa hỗ trợ sự phát trưởng của nó trong dài hạn.
Chúng ta bắt đầu phân tích chu trình từ yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế hiện nay phụ thuộc vào ba nhóm động cơ chính (tính từ phải sang trái): hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư của nhà nước và sự lớn mạnh của khối kinh tế tư nhân (không vẽ trong biểu đồ).

Hội nhập kinh tế quốc tế lại có thể quy về ba khía cạnh lớn: nhập khẩu, xuất khẩu, và tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Để hỗ trợ hàng xuất khẩu và bảo vệ sản xuất trong nước, chính sách tỷ giá hối đoái thường hướng đến mục tiêu giữ cho giá trị đồng Việt Nam không tăng quá nhanh. Tuy nhiên, gần đây có hai nguyên nhân lớn khiến đồng Việt Nam có xu hướng tăng so với đồng USD, là đồng tiền được dùng chủ yếu trong thương mại quốc tế của ta. Thứ nhất, đồng USD suy yếu trên toàn cầu do nền kinh tế Mỹ chịu thâm hụt kép liên tiếp trong mấy năm qua (thâm hụt ngân sách do chính quyền Bush cắt giảm thuế và tăng chi tiêu cho chiến tranh ở Iraq, đi cùng thâm hụt thương mại lớn với thế giới, đặc biệt là Trung Quốc). Thứ hai, dòng kiều hối và các dòng vốn nước ngoài (trực tiếp lẫn gián tiếp) chảy mạnh vào nước ta trong những năm gần đây. Có thể nói, nguyên nhân thứ nhất mang tính toàn cầu, nguyên nhân thứ hai mang tính quốc gia, và cùng gây sức ép làm tỷ giá USD trong nước giảm. Để giữ đồng tiền Việt không lên giá quá nhanh, Ngân hàng Nhà nước đã phải mua vào rất nhiều USD, dẫn đến cung ứng tiền Việt tăng, góp phần tạo ra lạm phát trong năm 2007 (mũi tên số 1).
Nguyên nhân thứ hai được xem là góp phần tạo ra lạm phát trong năm 2007 là sự tăng giá nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu. Điều này được thể hiện bằng mũi tên (2).
Đó là hai nhân tố gây lạm phát bắt nguồn từ động lực tăng trưởng kinh tế thông qua ngoại thương.
Trở lại động lực tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư nhà nước. Có thể nói đây là một điểm đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Suốt từ khi thực hiện Đổi Mới kinh tế đến nay, đầu tư của nhà nước vẫn luôn giữ vai trò chi phối trong tổng đầu tư của toàn nền kinh tế. Ví dụ, trong giai đoạn 1995-2006, tỷ trọng đầu tư hằng năm của nhà nước bình quân chiếm khoảng 52% trong tổng đầu tư (Biểu đồ 1). Trong khi đó, ở Trung Quốc, con số này chỉ vào khoảng 24%.

Khi có nhu cầu đầu tư lớn, nhà nước thường phải đối diện với một cám dỗ rất khó vượt qua là tài trợ đầu tư thông qua lạm phát, hay thuế lạm phát (thường dưới hình thức phát hành tín dụng ưu đãi cho khu vực nhà nước đi liền với tăng cung tiền để giảm lãi suất thực). Do đó, nhà tư bản tài chính nổi tiếng người Mỹ Warren Buffett thường coi lạm phát là một vấn đề chính trị, liên quan đến nhu cầu ngân sách của Chính phủ.
Mũi tên (3) trong Hình 1 minh họa thêm một nguyên nhân gây lạm phát trong những năm qua, bắt nguồn từ sự tăng trưởng nhanh chóng của tín dụng nhà nước để đáp ứng nhu cầu đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính phủ.
Có thể nói, ba nguyên nhân nêu trên đã khiến lạm phát tăng cao trong năm 2007. Hậu quả là thông tin thị trường bị bóp méo, tích tụ nên những sai lệnh kinh tế. Trong Hình 1 chúng tôi đưa ra hai vấn đề dễ thấy hiện nay: thứ nhất diễn ra trên thị truờng tài chính, thứ hai trên thị trường lao động.
Trên thị trường tài chính, khi lạm phát cao và dai dẳng, người ta có khả năng sẽ cố gắng chuyển sang nắm giữ những tài sản tích cực hơn tiền do lãi suất thực giảm. Chỉ những người thụ động nhất, ít có điều kiện tham gia các thị trường khác, mới giữ tiền trong tài khoản tiết kiệm. Điều này dẫn đến mấy điểm bất lợi về tổng thể xã hội. Thứ nhất, cá nhân tự đầu tư có thể không hiệu quả bằng ngân hàng hay các tổ chức tài chính do mức chuyên môn hóa kém hơn. Đồng thời, thời hạn của vốn huy động sẽ giảm vì người ta e ngại lãi suất thực sẽ có thể âm nếu lạm phát cao. Kết quả là xã hội có thêm nhiều khoản đầu tư rủi ro và tính bất ổn định của các dòng vốn tăng. Thứ hai, khi mọi người tự đầu tư, vì khả năng hạn chế, họ thường đầu tư vào các thị trường có quan hệ gián tiếp với quá trình sản xuất, như chứng khoán hay nhà đất. Điều này có thể góp phần làm xuất hiện bong bóng trên những thị trường phi sản xuất do cầu đầu tư tăng mạnh. Bong bóng, đến lượt nó, dẫn đến ít nhất hai hệ quả: một là nó thu hút nhiều hơn nữa dòng vốn gián tiếp từ nước ngoài. Điều này gây thêm sức ép làm tăng giá đồng Việt Nam như đã phân tích trên kia. Hai là, tăng trưởng kinh tế bị đe dọa khi bong bóng vỡ.
Trên thị trường lao động, tiền lương thường không điều chỉnh kịp theo mức tăng giá. Vì thế, mức sống của những nhóm có thu nhập cố định như công nhân, viên chức, người về hưu, người buôn bán nhỏ, v.v… bị xói mòn trước sức tấn công của lạm phát. Trong khi đó, nhóm chủ doanh nghiệp thường có lợi nhờ lạm phát, vì khi giá cả tăng, doanh thu của họ tăng theo. Kết quả là, lạm phát đóng vai trò như một loại thuế chuyển giao thu nhập âm thầm nhưng liên tục từ người nghèo sang người giàu.
Do ảnh hưởng đến quá trình phân phối, không sớm thì muộn lạm phát cũng dẫn đến sức ép tăng lương. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào ảnh hưởng chính trị của các tầng lớp nhận thu nhập cố định. Như đã thấy, ở nước ta sức ép này đưa tới quyết định tăng lương tối thiểu từ đầu năm 2008. Việc tăng lương tất yếu dẫn đến tăng giá vì chi phí sản xuất tăng (mũi tên số 4).

Thế lưỡng nan của Chính phủ
Như đã phân tích, trong bốn nhân tố gây lạm phát, có một đến từ bên ngoài (tăng giá nhập khẩu), hai đến từ nỗ lực tăng trưởng kinh tế (tăng tín dụng và giữ giá USD), và một là hệ quả của chính tình trạng lạm phát (tăng lương). Do đó, những công cụ chống lạm phát tích cực nhất hiện nay thường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác, các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiện nay có khuynh hướng góp tạo ra lạm phát, và nếu muốn chống lạm phát, cái giá phải trả là tăng trưởng kinh tế giảm.
Sự tăng trưởng đi liền với lạm phát cao tạo ra phát triển rất không bền vững. Vì lạm phát tạo ra cơ chế phân phối ngược từ người nghèo sang người giàu, nên nó đang cuốn trôi những thành tựu xóa đói giảm nghèo trong nhiều năm ở nước ta, và tích tụ nên những bất ổn xã hội tiềm tàng.
Về phía nhà nước, các công cụ chính sách cũng trở nên kém hiệu quả hơn. Thứ nhất, hiện tượng ngoại tệ hóa sẽ tăng làm xói mòn sức mạnh của chính sách tiền tệ. Thứ hai, việc phát hành trái phiếu phục vụ cho ngân sách phát triển sẽ gặp khó khăn, nếu không có sự điều chỉnh lãi suất theo lạm phát. Thứ ba, chi phí chống lạm phát ngày càng cao, đặc biệt, khi lạm phát bước vào giai đoạn tự tái tạo như trong năm tới.
Cuối cùng, và quan trọng hơn cả, lạm phát cao và dai dẳng làm giảm niềm tin của nhân dân vào Chính phủ, đồng thời tích tụ những bất ổn kinh tế và tài chính. Lịch sử thế giới đã cho thấy, các nền kinh tế có lạm phát kéo dài đa phần kết thúc bằng khủng hoảng tài chính. Đây sẽ là tổn thất rất lớn và gây hậu quả lâu dài.

Lối thoát từ phía cung?
Có thể thấy một đặc điểm quan trọng là các chính sách chống lạm phát hiện nay chủ yếu mang tính ngắn hạn, và đối tượng tác động là mặt tổng cầu của nền kinh tế. Hạn chế rất rõ của các chính sách này là chúng thường xung đột với mục tiêu tăng trưởng. Do đó, khả năng theo đuổi đến cùng một chính sách không cao. Việc chồng chất các chính sách ngắn hạn và nửa vời thường không đem lại một kết quả thống nhất. Kết quả là lạm phát vẫn không có dấu hiệu suy giảm, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
Theo quan điểm của chúng tôi, chúng ta nên quan tâm nhiều hơn đến những kế hoạch tổng thể ở mức dài hạn hơn, với các chính sách hỗ trợ mặt cung nhằm giảm bớt ảnh hưởng của các nhân tố gây lạm phát hiện nay.
Thứ nhất, tăng hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở khu vực tư nhân, cả về thể chế lẫn kinh tế như ưu đãi tín dụng. Khi khu vực nhà nước được thu hẹp tương đối, sức ép lạm phát sẽ giảm (như đã thấy ở Trung Quốc). Thứ hai, tiếp tục phát triển các thể chế hỗ trợ thị trường nhằm giúp thị trường vận hành tốt hơn. Ví dụ, việc giá cả một số mặt hàng tăng nhanh khi giá nhập khẩu tăng, nhưng lại giảm chậm khi có cắt giảm thuế, có nguyên nhân từ cấu trúc độc quyền trong thị trường của mặt hàng đó. Nếu giải độc quyền, giá sẽ giảm linh hoạt hơn. Thứ ba, việc nới lỏng từ từ giá trị đồng USD nên được đi liền với các chính sách tái cấu trúc nền kinh tế, giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh bằng chất lượng thay vì bằng giá. Điều tương tự cũng nên áp dụng cho thị trường lao động. Việc tăng lương cơ bản đi liền với tỷ giá USD giảm, tất yếu khiến lao động Việt Nam đắt lên tương đối. Để đối phó với tình huống này trong dài hạn, chúng ta cần có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động để tăng sức cạnh tranh thông qua kỹ năng lao động cao, chứ không phải chỉ nhờ giá lao động rẻ.

Lạm phát: bài phỏng vấn với SGTT
Bài này làm cùng Lệ mất nhiều thời gian, bài dài và chi tiết. Lệ biên tập rất thông minh và khéo. Nhưng đưa lên báo bị cắt đi rất nhiều, nên người đọc có khi thấy khó hiểu và cụt lủn. Rút kinh nghiệm lần sau không mất nhiều thời gian vào những bài thế này nữa.

***

Lạm phát: tiền của người nghèo chạy vào túi người giàu

Đã có những tranh luận gay gắt tại Quốc hội về việc nên ưu tiên mục tiêu chống lạm phát hay tăng trưởng. Nhưng dường như mọi người đang quên đi những tác động trực tiếp của lạm phát đến túi tiền của các tầng lớp xã hội. SGTT ghi lại ý kiến của ông Nguyễn Đức Thành, người vừa kết thúc chương trình tiến sĩ tại viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật tại Tokyo về vấn đề này

Lạm phát do lượng tiền cung ra thị trường tăng nhanh hơn lượng hàng hoá dịch vụ đối ứng. Ảnh : L.Q.N

Mức tăng thu nhập của các nhóm dân chúng rất khác nhau nên lạm phát có ảnh hưởng không giống nhau đối với từng nhóm.

“Âm thầm” chuyển giao thu nhập

Nhìn chung, lạm phát làm xói mòn mức sống của những nhóm có thu nhập cố định như công nhân, viên chức, người về hưu, những người buôn bán nhỏ không có khả năng điều chỉnh giá mặt hàng của mình theo kịp mức tăng giá. Nó thực sự là thảm hoạ đối với những nhóm dễ tổn thương như phải sống nhờ trợ cấp, không có sức lao động. Còn nhóm chủ doanh nghiệp, nghĩa là những người giàu có, thường không bị ảnh hưởng mấy bởi lạm phát, vì khi giá cả tăng, doanh thu của họ tăng theo.

Có thể nói, đã có sự chuyển giao thu nhập từ người cho vay và người làm công ăn lương sang cho người chủ doanh nghiệp. Bản chất của sự chuyển giao này là người gửi tiền tiết kiệm và người làm công ăn lương thường không thể nương theo lạm phát mà tăng thu nhập cho mình, còn người kinh doanh thì không những có thể nương theo sự tăng giá để bảo toàn thu nhập, mà còn thu thêm được phần sức mua bị mất đi của nhóm kia.

Lạm phát tạo ra một sự chuyển giao thu nhập âm thầm nhưng liên tục từ người nghèo sang người giàu. Do đó, nhiều người cho rằng lạm phát có tính tàn bạo về mặt xã hội.

Tạo kinh tế “bong bóng”

Khi lạm phát cao và dai dẳng, người ta sẽ cố gắng tháo chạy khỏi nó bằng cách chuyển sang nắm giữ những tài sản tích cực hơn tiền. Ngay cả các khoản tiết kiệm, nếu lãi suất huy động không được điều chỉnh hợp lý, chỉ những người thụ động nhất mới giữ tiền trong tài khoản tiết kiệm (vì vẫn hơn là cầm tiền mặt). Còn không thì người ta sẽ cố gắng đầu tư vào các tài sản khác.

Mới nghe như thế có vẻ là tích cực, nhưng có mấy điểm bất lợi về tổng thể xã hội.

Thứ nhất, người dân tự đi đầu tư chưa chắc tốt bằng ngân hàng vì đúng chuyên môn của họ.

Thứ hai, khi người dân ồ ạt tự đi đầu tư, do khả năng hạn chế, chủ yếu chỉ có thể đầu tư vào các thị trường có quan hệ gián tiếp với quá trình sản xuất như chứng khoán hay nhà đất. Kết quả là bong bóng sẽ xuất hiện. Gần đây người ta thấy bong bóng ở cả hai thị trường nhà đất và chứng khoán. Đó là thực tế rất đáng lưu ý.

Không nhất thiết tăng trưởng cao thì lạm phát phải cao

Nhìn chung là lạm phát rất cao, sẽ làm tê liệt các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế cho rằng tăng trưởng nhanh thường đi liền với lạm phát ở mức vừa phải hoặc hơi cao một chút (khoảng 8 – 10%). Điều này có lẽ bắt nguồn từ sự diễn giải thái quá quan điểm của Keynes, rằng lạm phát giúp làm xói mòn tiền công và do đó giúp giới doanh nghiệp thuê thêm nhiều lao động vì lao động đang rẻ dần đi, nhờ đó làm giảm thất nghiệp và tạo ra tăng trưởng kinh tế. Một sự kết hợp quan điểm của Keynes nữa là Chính phủ nên tăng chi tiêu và đầu tư để kích cầu. Do đó, lạm phát xuất hiện vì có sức ép từ phía tổng cầu. Những lập luận như vậy đưa đến sự nuông chiều lạm phát.

Theo tôi, có thể đạt được tăng trưởng kinh tế cao mà vẫn duy trì lạm phát vừa phải hoặc thấp nếu ta chú ý tới mặt cung của nền kinh tế. Tức là chú trọng vào các chính sách giúp tăng khả năng hấp thu nguồn lực của nền kinh tế, xây dựng các thể chế phù hợp và hỗ trợ nền

kinh tế thị trường, tái cấu trúc một số thị trường vẫn do khu vực quốc doanh nắm thế độc quyền, hướng tới khu vực tư nhân làm động cơ tăng trưởng.

Hiện ta vẫn phụ thuộc nhiều vào khu vực nhà nước với tư cách là động cơ tăng trưởng. Khi khu vực này lớn, một lẽ gần như đương nhiên là nhà nước phải cần nhiều vốn hơn. Một phương pháp có sức cám dỗ ghê gớm là tài trợ vốn bằng lạm phát (thường là phát hành tín dụng ưu đãi cho khu vực nhà nước đi liền với tăng cung tiền để giảm lãi suất thực).

Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu tăng trưởng năm 2008 khoảng 8,5 – 9%, và lạm phát phải dưới mức tăng trưởng.

Tôi e là nếu không tiếp tục chống lạm phát một cách quyết liệt, thì lạm phát thực tế có thể diễn biến phức tạp. Các nhân tố mới sẽ xuất hiện, trong đó rất quan trọng là áp lực tăng lương.

Mỹ Lệ thực hiện

Nguồn: Sài Gòn Tiếp thị

Lê Đăng Doanh: Trung Quốc sẽ phát triển thế nào?
Lê Đăng Doanh: Trung Quốc sẽ phát triển thế nào? magnify

Một bài tường thuật thú vị của bác Doanh, lâu lâu mới thấy:

TT – Chiều 16-10, một ngày sau khi Đại hội XVII của Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc và tiếp tục họp đến cuối tuần, tôi đến Bắc Kinh để dự một cuộc họp theo kiểu “tấn công trí não” (brain-storming) về các khả năng phát triển của kinh tế Trung Quốc, do Công ty tư vấn quản lý BSM tại Thượng Hải tổ chức.

Sân bay Bắc Kinh không có biểu ngữ, khẩu hiệu gì về Đại hội XVII, các bảng quảng cáo về Thế vận hội Olympic 2008 đã có từ lâu.

Trên đường từ sân bay về khách sạn tại đường Vương Phủ Tỉnh, chỉ cách Đại lễ đường Nhân dân, nơi đại hội đang diễn ra vài cây số, tôi không thấy bất kỳ khẩu hiệu, băngrôn nào như những lần trước, cũng không thấy cảnh đông đảo người dân được huy động kèn trống, phèng la, hô khẩu hiệu như vào dịp các Đại Hội trước. Tôi tự nhủ Trung Quốc đã thực dụng hơn nhiều và hành động đi vào thực chất hơn so với một Trung Quốc mà tôi đã biết trước đây.

Cuộc hội thảo sáng 17-10 được bắt đầu cũng rất khác so với các hội thảo tương tự tôi đã tham dự ở Bắc Kinh hay Thượng Hải những năm trước đây. Thay vì mời một quan chức trịnh trọng khai mạc, trích dẫn dài dòng văn kiện đại hội như một thủ tục có tính nghĩa vụ, ban tổ chức đã mời tiến sĩ Shengfei Gan của Tập đoàn Anh – Mỹ khai mạc. Ông này chỉ nhắc đến một số quan điểm về “phát triển khoa học”, “xã hội hài hòa”, chú trọng hơn đến bảo vệ môi trường mà Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đã trình bày ngày 15-10, rồi đi thẳng vào vấn đề chính.

Đó là những lo ngại về nền kinh tế Trung Quốc có thể tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao trong tình hình kinh tế Mỹ có thể suy thoái, giá dầu cao kỷ lục, đồng nhân dân tệ lên giá. Những câu hỏi nóng được đặt ra liên tục: có phải kinh tế Trung Quốc là một “hốc đen” đang hút hết năng lượng, nguyên liệu của thế giới hay không? Có phải cân bằng sinh thái đã bị xâm phạm nghiêm trọng đến mức giá phải trả sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hay không, làm sao sử dụng ít nước, ít năng lượng hơn nữa trong nông nghiệp, công nghiệp để có thể tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh, làm sao xây dựng nhanh chóng ngành công nghiệp tái chế để tăng trưởng với tỉ lệ tiêu dùng nguyên liệu thấp hơn nữa và…

Tiến sĩ Frank Gong của Tập đoàn JP Morgan đã đưa ra một bức tranh kinh tế kỳ lạ và còn nhiều điều chưa giải thích nổi: Sự thật là kinh tế Trung Quốc năm nay đóng góp vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu lớn hơn kinh tế Hoa Kỳ; bất chấp giá dầu tăng, giá nguyên liệu tăng, xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục tăng vì hằng năm năng suất lao động công nghiệp của Trung Quốc tăng 20%/năm(!); so với năm năm trước đây, cơ cấu Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn, thay vì xuất khẩu nguyên vật liệu và hàng gia công chiếm hơn 50%, nay máy và trang thiết bị điện và điện tử chiếm 55,9%, thép 10,9%, dệt may 10,7%.

Kinh tế Trung Quốc có phải là một quả bóng sắp vỡ như kinh tế Nhật Bản đã vỡ trước đây hay không? Câu trả lời của tiến sĩ Gong là chưa vì các đặc trưng của “bong bóng” đều chỉ là những biểu hiện tạm thời chứ không phải là biểu hiện cấu trúc: Có thời Trung Quốc thừa điện phải khuyến khích tiêu dùng thì nay lại thiếu điện cục bộ vì công nghiệp tăng quá nhanh, bất động sản ở Phố Đông trước đây mấy năm được báo động là quá dư thừa thì nay không còn diện tích văn phòng để thuê…

Ông Gong cũng lưu ý rằng mức độ đô thị hóa ở Trung Quốc mới đạt 42% và quá trình đô thị hóa vừa qua mới lôi cuốn 300 triệu nông dân, sắp tới Trung Quốc còn phải “đô thị hóa” 700 triệu nông dân nữa và những vấn đề đặt ra vượt quá bất kỳ kinh nghiệm nào trước đây. Một bức tranh thật năng động với những bài toán mà các sách giáo khoa kinh tế học chưa có lời giải sẵn có.

Tham gia một cuộc “tấn công trí não” của các tập đoàn thép của Trung Quốc, tôi rất ngạc nhiên về nhận thức cao về yêu cầu bảo vệ môi trường và tính chuyên nghiệp của những tổng giám đốc tham dự: tập đoàn này sẽ giảm tiêu dùng nước trên một tấn thép xuống còn 50% trong năm năm tới, tập đoàn kia sẽ thay đổi công nghệ để giảm tiêu hao năng lượng xuống còn 1/2 so với hiện nay, tập đoàn thứ ba sẽ chế biến toàn bộ xỉ lò cao thành ximăng và giảm bớt lượng khí CO2 phát sinh… Họ tranh luận to tiếng, quyết liệt với nhau, chỉ ra những chỗ yếu kém một cách không thương tiếc để tìm lời giải của những bài toán hoàn toàn không dễ dàng.

Tiến sỹ Mao Wu của Tập đoàn Shougang nói nhỏ với tôi: “Nếu năng suất lao động của chúng tôi không tiếp tục tăng thì giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ giảm sút ngay, và như vậy thì nguy. Chúng tôi phải sống sót”. Tôi thật sự cảm nhận họ đang chịu áp lực cạnh tranh và đang phải tự vươn lên chứ không còn trông chờ gì vào trợ giúp của nhà nước nữa. Trao đổi với các bạn đồng nghiệp đến từ Ấn Độ và Đức, tất cả chúng tôi đều không thể giải thích được làm sao họ có thể tăng được năng suất lao động 20%/năm trong công nghiệp trong nhiều năm liên tục vừa qua.

Chúng tôi cũng nhận định rằng các bạn Trung Quốc đã nhận thức được những thách thức của thị trường và yêu cầu của thời đại về môi trường và đã bày tỏ quyết tâm để thực hiện, còn họ thực hiện được đến đâu thì phải xem sau.

Trông người lại nghĩ đến ta, mới đây Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã nhận xét các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam đang kiếm lãi chủ yếu từ chứng khoán và bất động sản, thay vì nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới công nghệ. Chắc chắn rằng chúng ta không thể kiếm lời mãi bằng các thủ đoạn ngắn hạn như vậy trong môi trường cạnh tranh như vậy và việc thay đổi các chính sách đòn bẩy đối với doanh nghiệp nhà nước đang cần thiết hơn bao giờ hết..

Nguồn: Tuổi trẻ Online

Một ghi chép nhỏ về tình trang “đô-la hoá” thời Nguyễn Tự Đức
Một ghi chép nhỏ về tình trang "đô-la hoá" thời Nguyễn Tự Đức magnify

Ghi chú: “Đô-la hoá” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là phương tiện lưu thông trong nước bị pha trộn với phương tiện lưu thông của nước ngoài, mà phương tiện đó không nhất thiết là đô-la Mỹ.

***

Năm 1878, Tháng 11 (đây là thời vua Tự Đức).

(Đại Nam thực lục, Đệ tứ kỷ, quyển LX. Bản quốc ngữ mới, NXB Giáo dục 2007, Tập 8, trang 317)

Đoạn này cho biết lúc đó ở các tỉnh phía Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng) dùng tiền nhà Thanh rất nhiều, Triều đình không cấm được, và cũng không định cấm.

Đồng thời, theo phúc trình của Bộ Hộ, thì lúc đó tiền của nước ta cũng được lưu thông rất nhiều ở Bằng Tường, Ninh Minh (Quảng Tây) và Mã Cao (Quảng Đông). Như vậy, tiền của ta cũng là một loại ngoại tệ mạnh ở thị trường nước ngoài (nếu phúc trình không thổi phồng số liệu).

Đoạn này cho thấy Triều đình lo ngại về tình trạng tiền nước ngoài lưu thông lẫn lộn ở trong nước, đặc biệt là lan dần vào phía Nam. Sau khi nghị bàn, Vua tôi quyết định bật đèn xanh cho tình trạng “đô-la hoá,” tức là cho các tàu nước ngoài vào buôn bán thoải mái và sử dụng tiền của họ để trao đổi, vì việc lưu thông “như suối chảy,” chẳng nên ngăn cản làm gì, thêm khó khăn cho việc thông thương. Nhưng quyết định đánh thuế thương mai là khoảng 10% (trên tổng kim ngạch nhập khẩu). Hình phạt nghiêm và có lẽ khá khắc nghiệt. Ví dụ nếu phát hiện ra tàu trốn thuế, thì bắt tịch thu cả thuyền. Nếu quan địa phương thông đồng để trốn thuế, ai tố cáo được thưởng nửa thuyền.

Không thấy nói gì về vấn đề tỷ giá hối đoái hay ngành kinh doanh hối đoái ở các thương cảng. Không biết có đoạn nào trong bộ sử nói về điều này hay không.

Suy nghĩ thêm về nguyên nhân tiền tệ của lạm phát hiện nay
Suy nghĩ thêm về nguyên nhân tiền tệ của lạm phát hiện nay magnify

Bài đã đăng trên Tia sáng báo giấy và báo điện tử. Bài này là dạng rút gọn của một bài dài hơn nằm trong phần thảo luận với bạn bè trong VES và Nhóm Tư vấn Chính sách (PAG) của Bộ Tài chính.

Nay Tia Sáng đã cho lên mạng, thì không còn ngại về bản quyền nữa, nên cũng đưa luôn bài gốc để lưu.

****

Suy nghĩ thêm về nguyên nhân tiền tệ của lạm phát hiện nay  092607

Nguyễn Đức Thành[1]

Qua theo dõi diễn biến kinh tế và một số động thái chính sách của Việt Nam trong những năm gần đây, có đối chiếu trên những khía cạnh tương tự với một số nước trong khu vực, chúng tôi đi đến nhận định rằng tình trạng lạm phát hiện nay ở Việt Nam là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.

Từ những tháng giữa năm nay, khi mức tăng giá chung trở thành một mối quan tâm rộng rãi của xã hội, đã có nhiều cuộc thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề lạm phát, chẳng hạn như nguyên nhân chủ yếu của lạm phát, tác động của lạm phát và chính sách chống lạm phát. Vào cuối tháng 8/2007, một chuyên gia cao cấp có uy tín của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thừa nhận nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là do tăng cung tiền.[2] Điều này có lẽ không gây ngạc nhiên trong giới quan sát, nhưng duờng như nó giúp những cuộc thảo luận bớt lan man hơn.

Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn thảo luận thêm đôi chút về nguyên nhân tiền tệ của tình trạng lạm phát hiện nay. Nội dung chủ yếu trong lập luận của chúng tôi là tình hình lạm phát hiện nay là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.

Hiện tượng kinh tế đặc thù được lưu ý ở đây là sự tăng trưởng mạnh mẽ của kiều hối (bao gồm một phần rất lớn và ngày càng tăng tiền gửi của người đi xuất khẩu lao động), kết hợp với sự tăng trưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Một sự kết hợp nữa là trong năm 2006, quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của thị trường chứng khoán đã đạt những bước phát triển lớn, khiến Việt Nam trở thành một địa điểm hấp dẫn và dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy mạnh vào nước ta. Theo ước lượng không chính thức, có khoảng hơn 5 tỷ USD kiều hối đã được gửi về, và khoảng 1 đến 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp đã được chuyển vào trong nước trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007.

Các chính sách kết hợp không đồng bộ, theo chúng tôi, bao gồm hai chính sách lớn sau: (1) chính sách tăng trưởng cung tiền và tín dụng theo đà của các năm trước, (2) chính sách neo tỷ giá ổn định theo đồng USD thông qua can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại hối.

Ảnh hưởng của sự gia tăng ồ ạt dòng ngoại hối dưới chế độ tỷ giá (tương đối) cố định

Một đặc điểm vĩ mô quan trọng bậc nhất của Việt Nam gần đây có lẽ là sự gia tăng nhanh chóng của dòng tiền gửi về từ nước ngoài, trong đó một phần rất lớn từ người đi lao động (tạm gọi tất cả các khoản tiền gửi kiểu này là kiều hối). Xét trên phương diện quy mô to lớn tương đối của dòng kiều hối, thì Việt Nam chỉ đứng sau Philippines là nước trong khu vực đã có truyền thống xuất khẩu lao động từ lâu, và có những đặc điểm kinh tế khá tương đồng. Philippines hàng năm nhận một lượng kiều hối nhiều hơn Việt Nam rất nhiều kể cả tương đối (so với GDP) lẫn tuyệt đối (vì GDP của Philippines lớn hơn của Việt Nam khoảng 1.5 lần). Tuy nhiên, xét trên mối tương quan với GDP, thâm hụt thương mại của Philippines khá trầm trọng, cộng với các khoản trả lãi vay nước ngoài tương đối lớn, nên có thể nói dòng kiều hối chủ yếu được dùng để tài trợ cho khoản thâm hụt này trong tài khoản vãng lai. Kết quả là bất chấp lượng kiều hối khổng lồ chuyển về mỗi năm, cán cân vãng lai chỉ thặng dư khoảng từ 2% đến dưới 3% GDP.

Trong khi đó, ở Việt Nam, tuy tỷ trọng kiều hối không lớn như ở Philippines, nhưng thâm hụt thương mại, mặc dù đang trở nên rất đáng lưu ý, vẫn chưa trầm trọng như ở nước này, nên cán cân vãng lai được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, và kể từ năm 2005 có khuynh hướng thặng dư (nhưng còn ở mức thấp hơn nhiều so với Philippines). Tuy nhiên, một đặc điểm của Việt Nam mà Philippines không có là cán cân tư bản gần đây luôn thặng dư rất đáng kể, đã dẫn tới khả năng dư thừa ngoại hối thậm chí lớn hơn ở Philippines. Để giữ tỷ giá neo tương đối ổn định vào đồng USD, cơ quan tiền tệ Việt Nam đã liên tục mua lượng ngoại hối thặng dư trên thị trường. Kết quả là dự trữ ngoại tệ mỗi năm đã tăng lên rất mạnh, chẳng hạn như năm 2005 tăng thêm 4% GDP, còn năm 2006 gần 5% GDP.

Như vậy, có thể nói một đặc điểm quan trọng của Việt Nam gần đây là sự tăng trưởng nhanh chóng của cả hai dòng tiền từ bên ngoài là kiều hối và đầu tư nước ngoài. Kết quả là, để giữ cho đồng Việt Nam không lên giá quá nhanh, cơ quan tiền tệ Việt Nam (theo các tuyên bố trên báo chí) đã mua vào trong sáu tháng đầu năm 2007 khoảng hơn 7 tỷ USD (14% GDP). Chính sách này đã làm tăng mạnh lượng tiền Việt được đưa vào lưu thông. Điều này đuợc coi là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng lạm phát hiện nay. (Về nguyên nhân gây phản ứng chính xách, xem thêm Hình 1)

[Hình 1 – chưa biết cho vào đây như thế nào]

Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ đồng bộ

Tuy nhiên, một câu hỏi lập tức được đặt ra là: Vì sao, ở một số nền kinh tế khác, cụ thể là Trung Quốc, cơ quan tiền tệ cũng phải đối mặt với lượng thặng dự ngoại tệ hằng năm rất lớn (chủ yếu từ thặng dư thương mại), trong khi vẫn giữ vững quyết tâm can thiệp để neo đồng nội tệ ổn định vào USD, lại không xuất hiện tình trạng lạm phát cao như ở Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem xét chính sách tiền tệ gần đây của Trung Quốc và đối chiếu nó với tình hình Việt Nam.

Mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất “lý tưởng,” chỉ từ 0,7% (2001) đến 3,9% (2004) và năm 2006 chỉ là 1,5% – trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn hầu như ở mức hai con số. Cần lưu ý ngay rằng, nước này cũng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến “chi phí đẩy,” như là giá cả các mặt hàng thiết yếu và năng lượng trên thế giới tăng không khác gì, thậm chí có thể lớn hơn, so với Việt Nam.

Việc đối chiếu chính sách tiền tệ gần đây cùng xem xét những hậu quả tương ứng của nó ở Trung Quốc và Việt Nam sẽ đem lại một minh hoạ thú vị, cho thấy vì sao lạm phát (dai dẳng) luôn là một hiện tượng tiền tệ. Điều có ý nghĩa quan trọng bậc nhất có lẽ nằm trong tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Theo các báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Trung Quốc đã rất thận trọng trong tăng trưởng tín dụng và tiền tệ, chỉ vào khoảng 15% mỗi năm, kể từ 2004. Trước đó, sự tăng trưởng này cũng chỉ ở dưới mức 20%. Trong khi đó, tăng trưởng tiền tệ của Việt Nam vốn đã ở mức cao (trên 20%) từ năm 2001, lại có xu hướng tăng ngày càng tăng nhanh hơn, đạt mức 30% trong hai năm 2004 và 2005. Thêm vào đó, tín dụng còn được mở rộng nhanh và vững chắc hơn rất nhiều: tăng trưởng hơn 20% vào năm 2001, rồi liên tục được gia tốc, lên đến đỉnh cao năm 2004 ở mức 40%, và năm 2005 vẫn ở mức 30%.

Thực tiễn cho thấy một kết quả thú vị là, mặc dù cả hai nước đều có tăng trưởng rất mạnh trong dự trữ ngoại hối, nhưng Trung Quốc vẫn duy trì một mức lạm phát nhẹ, trong khi Việt Nam luôn phải gánh chịu lạm phát cao (trên 8%) liên tiếp kể từ năm 2004. Thêm vào đó, tăng trưởng ở Trung Quốc vẫn được giữ ở mức cao (hơn Việt Nam), thặng dư thương mại lớn (dự trữ ngoại hối đã tăng ngoạn mục từ mức 16.5% năm 2001 lên 36.6% GDP vào năm 2005), và giá trị đồng nội tệ ổn định (tỷ giá danh nghĩa chỉ giảm khoảng 2.5% trong giai đoạn 2001-2005). Như vậy, có cơ sở để nhận định rằng Việt Nam đã thực hiện chính sách can thiệp tăng dự trữ ngoại tệ nhưng không đồng thời thắt chặt tiền tệ, nên đã dẫn tới lạm phát cao. Trong khi đó, Trung Quốc đã thực hiện thắt chặt tiền tệ rất có chủ ý để kết hợp hài hoà với chính sách giữ ổn định đồng Nhân dân tệ, và đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát.

Trường hợp Trung Quốc cho thấy bài học đáng giá rằng kiểm soát tăng trưởng tiền tệ và tín dụng vẫn là phương tiện căn bản, quan trọng và hữu hiệu hàng đầu giúp kiểm soát lạm phát. Một bài học nữa có thể được rút ra, là sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô có ý nghĩa quan trọng. Cụ thể trong trường hợp này, khi cơ quan tiền tệ đã xác định có kế hoạch mua vào một lượng ngoại tệ lớn, thì nó cũng đồng thời phải dự trù một kế hoạch thắt chặt cung tiền một cách hài hoà từ trước đó.

Một số gợi ý chính sách

Tóm lại, có thể hình dung “con đường lạm phát” những năm qua như sau:

– Một hiện tượng kinh tế đặc thù trong những năm gần đây của Việt Nam là sự tăng trưởng mạnh của các dòng tiền từ nước ngoài (bên cạnh những dòng tiền truyền thống như dòng vốn đầu tư trực tiếp và tiền của Việt kiều, còn có tiền gửi về của người Việt lao động ở nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp).

– Để giữ đồng tiền Việt ổn định (nhằm giữ lợi thế cho xuất khẩu), cơ quan tiền tệ Việt Nam đã phải mua vào ngoại tệ với lượng ngày càng lớn. Do đó, hằng năm một lượng lớn tiền đã được đẩy vào lưu thông. Lượng tiền này có thể lên tới 15% GDP hoặc hơn.

– Một chính sách nên được tiến hành đồng bộ với chính sách trên là thắt chặt hợp lý tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Nhưng trong thời gian vừa qua, nó đã không được thực hiện.

– Kết quả là lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh niên (ở mức cao, trên 8%) kể từ năm 2004.

Trên cơ sở những luận điểm như vậy, chúng tôi khuyến nghị những giải pháp như sau:

1. Lạm phát hiện nay ở nước ta nên được xem xét nghiêm túc và thẳng thắn là có căn nguyên từ chính sách tiền tệ. Trên cơ sở đó, các chính sách chống lạm phát nên mang tính tiền tệ. Điều ấy đồng nghĩa với việc nên hạn chế sử dụng chính sách tài khóa (như giảm thuế một số mặt hàng được quan sát thấy là tăng nhanh nhất), hay chính sách hành chính (đốc thúc doanh nghiệp, kêu gọi sự hỗ trợ của người dân). Chúng tôi cho rằng các biện pháp tài khoá và hành chính đều mang tính thoả hiệp, tạm thời và có khuynh hướng che đậy bản chất thực sự của lạm phát. Đi kèm với nó là chi phí cao, hiệu quả thấp.

2. Các biện pháp tiền tệ mang tính gốc rễ là giảm tốc độ tăng tiền và tín dụng. Các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành trái phiếu chỉ nên coi là tức thời và cục bộ mà thôi. Ví dụ, chính sách tăng dự trữ bắt buộc khiến khối ngân hàng gánh nhiều chi phí hơn các khu vực khác trong công cuộc chống lạm phát. Ngược lại, việc cắt giảm tín dụng và cung tiền trên toàn nền kinh tế, áp dụng cho toàn bộ các thành phần kinh tế, sẽ san sẻ chi phí chống lạm phát một cách bình đẳng hơn.

3. Bên cạnh cam kết chống lạm phát đã được thể hiện rõ ràng của chính phủ, cần công khai các biện pháp cụ thể để thể hiện cam kết là đáng tin cậy, đồng thời ràng buộc chính phủ vào cam kết đó. Điều này sẽ giúp người dân hình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai (nếu họ biết và tin các chính sách là đúng đắn và cứng rắn), dẫn đến khả năng thành công dễ dàng hơn của chính sách chống lạm phát. (Một chính sách chỉ có hiệu lực khi người ta tin là nó có hiệu lực).

4. Không nên duy trì quan điểm cho rằng lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng GDP là tốt, mà có lẽ chỉ nên coi đây như một kinh nghiệm để phấn đấu khi lạm phát đã thành một sự đã rồi. Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu trên, do đó, chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi (khoảng 8%), để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiện nay.


[1] Tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Vũ Quang Việt, các thành viên của Vietnam Economic Society về những góp ý và thảo luận hữu ích trong quá trình viết bài báo này. Tôi cũng xin cảm ơn ông Đinh Thạch Anh (Tạp chí Tia Sáng) đã mất nhiều công sức biên tập bài viết này.

[2] TS. Lê Xuân Nghĩa trả lời phỏng vấn Báo Lao Động: http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2007/8/51372.laodong

Power QuickStick
Power QuickStick magnify

“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành Nghị quyết số 32 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông (TNGT) và ùn tắc giao thông. Trong đó, đáng chú ý nhất là để giảm thiệt hại do TNGT, từ ngày 15/12/2007, người đi mô tô, xe máy trên tất cả các tuyến đường (kể cả trong đô thị) đều bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm. (nguồn)

***

Điều gì sẽ diễn ra từ giờ đến trước ngày 15/12 (từ phía Chính quyền) và sau đó (từ cả hai phía) sẽ là một ví dụ kinh điển về cách lập chính sách và thực thi chính sách cho sau này, kể cả trong các vấn đề khác.

Cũng có thể TT Dũng muốn dùng sự kiện này như một que thử quyền lực của ông. Còn nhớ là khi ông mới lên Phó thủ tướng, ông cũng đề ra chính sách này, nội dung y chang. Tiếc là khi nhấc que lên, chỉ có một vạch thôi! Nhưng dù âm tính, việc đội mũ bảo hiểm trên quốc lộ đã được cải thiện đáng kể, đã tạo nên một thói quen tốt cho người dân đi xe máy đường trường.

Tuy nhiên, vấn đề khác về chất khi áp dụng chính sách này trong đô thị. Vì giao thông trong đô thị không chỉ đơn giản là lưu thông giữa hai vị trí địa lý như trên quốc lộ, mà nó còn là hoạt động văn hoá (đi xe vòng quanh bờ hồ của nam thanh nữ tú chẳng hạn).

Nhưng cũng cần phải lưu ý một điều là ở Indonesia, từ những đô thị đông nghịt thanh niên trên toàn lãnh thổ mênh mông của hòn đảo Jawa, cho tới những hòn đảo nhỏ bé trong hàng ngàn hòn đảo của đất nước này, mọi người khi đi xe máy đều đội mũ bảo hiểm. Nhưng mũ bảo hiểm của họ chỉ là một cái mũ cứng, nhẹ và không chùm xuống tai. Có thể cũng không cần mặt mica.

Lần đầu tiên tôi chứng kiến điều này, tôi mới hiểu là hoá ra chính sách toàn dân đội mũ bảo hiểm là có thể khả thi. Không biết nó hình thành từ thời quân phiệt của Suharto hay mới gần đây. Và không hiểu nó có hình thành ngay từ thời xe máy ở Indonesia còn ít hay không. Điều này rất nên nghiên cứu để suy xét cho trường hợp Việt Nam.

Dù điều kiện hiện nay có áp dụng được chính sách đội mũ bảo hiểm toàn dân trên toàn đường phố hay không, thì bài học Indonesia vẫn rất nên được quảng bá trên thông tin đại chúng. Bởi vì người ta cũng sẽ như tôi, sẽ biết là hoá ra có một nước mà toàn dân vẫn đã và đang nghiêm chỉnh chấp hành chính sách này. Nghĩa là chính sách này có thể khả thi. Nếu không, người ta sẽ luôn nghĩ là chính sách này không khả thi, như tôi trước đây, và như đa phần người Việt hiện nay.

Mà khi người ta nghĩ một chính sách không thể có hiệu lực, thì nó sẽ thực sự không có hiệu lực.

Một vạch hay hai vạch, âm tính hay dương tính, vậy là vẫn phải sang năm mới biết được

khẩn trương chống lạm phát: xoa bóp mạnh nhưng dường như chưa đúng huyệt
khẩn trương chống lạm phát: xoa bóp mạnh nhưng dường như chưa đúng huyệt magnify

Sáng nay là thứ Hai, tức là đầu tuần. Buổi sáng điểm báo thấy các báo đều nói nhiều đến chính sách chống lạm phát của Chính phủ. Trên mạng cũng có nhiều bài báo hoặc phỏng vấn liên quan đến vấn đề này.

Trong số đó, chỉ có bài của Trần Đình Thiên là tỏ ra sáng suốt hơn cả. TĐ Thiên nói nên hy sinh tăng trưởng để giải lạm phát, tức là nên trượt xuống theo đường Phillips. Điều này rất dễ hiểu và dễ chấp nhận với các nhà kinh tế, nhưng lối diễn ngôn như thế có thể gây hiểu nhầm hoặc khó chịu (đối với giới chính trị cao cấp nhưng không am hiểu kinh tế).

Trước đó Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố không nên để mức lạm phát cao hơn mức tăng trưởng, và điều này đã được đưa vào chương trình làm việc của chính phủ. Kể ra không nói như thế thì hay hơn. Giới chuyên gia (bao gồm cả chuyên gia nước ngoài) có thể sẽ cho là Chính phủ ta chưa nắm đúng ý nghĩa của vấn đề. (Mặc dù độ lớn hai chỉ số ấy có khi nó từa tựa nhau, nhưng không ai giải quyết vấn đề theo kiểu ấy). Có lẽ sẽ là sáng suốt hơn nếu bày tỏ quyết tâm kiềm chế lạm phát trong một con số (tức là chưa để thành phi mã).

Hiện nay các chính sách chủ yếu là:

– Giảm thuế một số mặt hàng nhập khẩu để hy vọng giảm giá trong nước.

– Sử dụng các biện pháp hành chính để kiềm giá tăng (hoặc đầu cơ giá lên, nếu có)

Các biện pháp đã sử dụng:

– Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Như vậy, có thể tạm nhận xét:

– Đầu tiên là sử dụng chính sách tiền tệ, nhưng hiện nay bắt đầu sử dụng chính sách tài khoá và hành chính.

– Đối với việc điều hành chính sách, động thái này cho thấy giới ra chính sách bắt đầu mất bình tĩnh.

– Từ đó suy ra, trong tương lai có thể tiếp tục sử dụng thêm các công cụ tài khoá, ví dụ trợ giá xăng dầu.

Một điểm đáng lưu ý: đồng tiền Việt dạo này có khuynh hướng mất giá.

Như vậy, phải chăng đang có hiện tượng đầu cơ đô la trước tình hình lạm phát (và do đó là mất giá của tiền Việt)?

Nếu thực sự như vậy, chính sách mạnh và sáng suốt hiện nay nên mang tính tiền tệ, thay vì tài khoá. Thử gợi ý một gói chính sách:

– thứ nhất, bơm USD ra để hút tiền Việt về. Đây sẽ là một mũi tên trúng hai đích: vừa làm đồng tiền Việt giữ giá hoặc thậm chí tăng giá (như thế sẽ khiến giá nhập khẩu giảm mà không cần giảm thuế). Thứ hai vừa hút bớt tiền Việt trong lưu thông và do đó làm giảm tốc độ lạm phát.

– thứ hai, thắt chặt tín dụng, đặc biệt tín dụng nhà nước.

– thứ ba, đánh những tín hiệu đầu tiên thể hiện sẽ áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn gián tiếp trong tương lai gần.

– thứ tư, cứng tay với chính sách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện nay

– thứ năm, chuẩn bị phát hành tín phiếu kho bạc để hút tiền Việt trong lưu thông.

– thứ sáu, lên kế hoạch thực hiện chính sách thắt chặt chi tiêu chính phủ từ nay đến cuối năm (hoặc lâu hơn).

– thứ bảy, tất cả các chính sách nêu trên đều cần công khai, vì bản thân sự công khai đã là một chính sách vĩ mô rồi. [có tác dụng tác động đến tâm lý các tác nhân trong nền kinh tế (expectations)]

[Nếu có thời gian thì sẽ giải thích thêm về cơ chế tác động của mỗi chính sách và hậu quả của nó, –> có vẻ phức tạp phết]

Ghi chú: Các suy nghĩ ở đây chỉ là tạm thời, vì cần phải xác minh thêm rất nhiều số liệu, mà những cái đó lại không công khai hoặc để nắm được thì rất tốn kém, sau đó là sự suy ngẫm và trao đổi lấy ý kiến từ các chuyên gia khác.

07-17-07 g dưới 1000 điểm một tý. Mặc dù chỉ số không nói lên tất cả, nhưng giảm thế là đáng kể. Một niềm hy vọng lung linh là thị trường sẽ lao xuống thêm mấy ngày nữa. Như thế sẽ là một bữa tiệc được dọn ra nhờ Merrill Lynch cho những ai đầu cơ giá xuống.

Thực ra việc Merrill Lynch (ML) ra khỏi Việt Nam, nếu khuyến nghị của Mark Matthews và đồng đội được chấp nhận, không nói lên nhiều về thị trường Việt Nam. Nó nói về ML nhiều hơn. Nhìn vào bảng phân bổ tài sản đầu tư của ML ở châu Á, thì dễ dàng thấy là ML có thế mạnh đầu tư vào các thị trường đã khá phát triển, như bốn con hổ Châu Á (Hàn Quốc, Đài Lan, Hồng Kông, Singapore) và Úc (hơn 70 %), còn vào thị trường mới nổi và nhỏ như các nước Đông Nam Á (bốn con mèo châu Á: Thái Lan, Indo, Philippines, VN) thì rõ ràng không phải là thế mạnh của ML (chỉ chiếm vỏn vẹn có 8.5%). Phần còn lại được phân bổ cho Trung Quốc (14%) và Nam Á (có 5%, trong đó chia đều cho Ấn và Pakistan, mỗi nước 2.5%).

Tất nhiên hai thị trường khổng lồ là Tầu và Ấn thì không nói làm gì. Vì quy mô quá lớn, nên có đầu tư vào cũng như muối bỏ biển. Do thị trường ở đây rộng, nên cơ hội đầu tư còn nhiều, do đó Matthews và các bạn nhấn mạnh phải đẩy mạnh vào thị trường Ấn. Đó là một điều dễ hiểu.

Việc khuyến nghị không đầu tư vào thị trường Việt Nam có lẽ là khá sáng suốt xét từ giới hạn nguồn lực của ML. ML chưa có văn phòng đại diện ở VN, suốt một năm qua cứ quanh quẩn tìm hiểu thị trường, lấn bấn chưa đâu vào đâu. Trong khi đó cơ sở ở Trung Quốc đã ổn định rồi, chỉ việc rót vốn vào thêm, không tốn thêm fixed cost. Tóm lại, việc khuyến nghị chuyển hết nguồn lực qua Lĩnh Nam là một khuyến nghị có thể hiểu được trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư Việt Nam, vốn giống như đứa trẻ nẳm ngửa trên bãi cỏ, theo cách ví von của một nhà thơ người Huế, đã hoảng loạn trong hai ngày cuối tuần lòng như lửa đốt, không ăn uống được gì, không có golf hay tennis gì hết cả, chỉ trực khi sàn mở vào sáng thứ Hai là nhoai ra bán ào ạt một cách bấn loạn.

***

Bây giờ đi sâu hơn phân tích quan điểm của báo cáo nêu trên, trong bối cảnh lịch sử của nhóm tác giả. Những gì được phân tích ở đây chỉ dựa trên nguồn tài liệu tôi có hiện nay mà thôi.

Báo cáo sớm nhất mà tôi có trong tay đề ngày 02/02/2006, tức là khá lâu rồi, do Spencer White và Stephane Corry, Willie Chan thực hiện (tất cả đều thuộc ML Hongkong). Vì tên tác giả không viết theo thứ tự ABC, ta có thể phỏng đoán Spencer là trưởng nhóm. Báo cáo này là báo cáo rất chi tiết, dài đến 52 trang. Tinh thần chung của báo cáo rất lạc quan, đại ý là thúc giục ML tiến vào Việt Nam càng sớm càng tốt.

Báo cáo thứ hai đề ngày 29/06/2006, vào thời điểm khi thị trường đang đi xuống (chắc nhiều người còn nhớ giai đoạn này, vì từ đây trở đi đến tầm tháng 8 là giai đoạn ôm vào ngon lành nhất của năm 2006). Báo cáo này vẫn giữ nguyên đội hình tác giả. Mặc dù trước tình hình thị trường đang đi xuống, báo cáo vẫn rất lạc quan về thị trường, và tin rằng sẽ có sự mở rộng trong tương lai. (Báo cáo này tập trung chủ yếu vào chủ đề chứng khoán ngân hàng.)

Báo cáo thứ ba đề ngày 05/10/2006, nhưng thấy có phụ chú “đã sửa lại cho đúng” (corrected). Trong nhóm tác giả lần này xuất hiện Mark Mathews chỉ đứng sau Spencer, và Mark là người của ML Singapore chứ không phải Hongkong như các thành viên còn lại. Điều thú vị là đây chính là lúc thị trường đang phục hồi và sẽ tăng mạnh liên tục vài tháng nữa, thì tinh thần báo cáo đã có những nhận định rất không tích cực về thị trường Việt Nam.

Trong báo cáo cuối cùng mà tôi có, tức là báo cáo gần đây nhất (05/07/2007) thì Spencer đã hoàn toàn biến mất và Mark giữ vị trí trưởng nhóm. Báo cáo này như chúng ta đã biết, hoàn toàn bi quan với thị trường Việt Nam và khuyến nghị định hướng nguồn lực của ML lên phía Bắc, bên kia Lĩnh Nam.

Như vậy, dù không biết gì về nội tình của ML, chúng ta có thể cảm nhận rằng có sự dịch chuyển về quan điểm của nhóm phân tích, cụ thể là việc thông qua thay đổi nhân sự tư vấn cho các vấn đề có liên quan đến Việt Nam. Khuynh hướng của quan điểm của chuyển dịch theo hướng từ lạc quan sang bi quan, và đôi khi không hề phụ thuộc vào tình hình thị trường.

Ở đây chúng ta nhớ lại câu cách ngôn nổi tiếng của Goeth: “thực tiễn đã là lý thuyết rồi” mà các nhà kinh tế Áo rất hay trích dẫn.

Vậy là, các nhà đầu tư Việt Nam dường bị tác động nhiều bởi những cuộc tranh chấp tư tưởng rất nhỏ trong một văn phòng nhỏ bé cách xa họ hàng ngàn cây số. Sự mất tự chủ dễ dàng của họ tất nhiên sẽ mang lại những hậu quả mà họ phải gánh chịu.

***

(Bài sau [nếu có]: Thấy gì qua báo cáo của HSBC)

Ghi chú: bài này được biên tập lại và đăng trên Dân Trí. Ngay trong ngày có hơn 40.000 lượt người đọc.

Sau đó (cùng ngày) thì Thời báo Kinh tế Việt Nam đăng nhưng biên tập kỹ hơn, lược bỏ những đoạn trào phúng, và thay đổi đầu đề.

06-12-07

Giải bài toán độc quyền trong đào tạo chứng khoán:

Vẫn còn nhiều việc phải làm

(Dân trí) – Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh vừa đồng ý cho phép mở rộng các khóa đào tạo chứng khoán tại 5 trường đại học thay vì bắt buộc phải học tại Trung tâm đào tạo Chứng khoán như hiện nay. Đây có lẽ nên coi là những bước đầu tiên của việc phi tập trung hóa việc đào tạo chứng khoán, một việc mà nhiều người đánh giá là hợp lý để có một môi trường đào tạo lành mạnh.

Ông Nguyễn Đức Thành, Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia, Tokyo (Nhật Bản) đã có cuộc trao đổi với Dân trí về vấn đề này.

Ông có nhận xét gì về dịch vụ đào tạo trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam hiện nay?

Theo tôi, trước hết chúng ta cần phân biệt rành mạch các bước mà một người phải trải qua để trở thành chuyên gia chứng khoán chuyên nghiệp. Bước thứ nhất là được đào tạo kiến thức chuyên môn, bước thứ hai là được thừa nhận trình độ và bước thứ ba là được chấp nhận hành nghề. Tương ứng với mỗi bước có một nhóm dịch vụ đi kèm: dịch vụ cung ứng tri thức (đào tạo), dịch vụ chứng nhận trình độ (cấp chứng chỉ) và cuối cùng là dịch vụ cấp chứng chỉ hành nghề. Ba bước này có thể thấy ở nhiều ngành nghề khác, từ nghề luật sư, bác sỹ cho đến phiên dịch ngoại ngữ. Điều tôi muốn lưu ý trước hết là không nên tự ràng buộc mình vào một thiên kiến cho rằng các dịch vụ này nhất thiết phải do Nhà nước cung cấp.

Đối với nhóm thứ nhất, nhóm dịch vụ cung ứng tri thức, đặc điểm của nó là tính phổ thông và xã hội hoá cao, thường có tính phi tập trung, và rất xa lạ với độc quyền Nhà nước. Nhóm thứ hai, dịch vụ chứng nhận trình độ, cũng tương tự. Nó có thể được cung cấp bởi chính cơ sở đào tạo. Nhóm cuối cùng là cấp chứng chỉ hành nghề, cũng là một loại hình dịch vụ, nhưng có tính chất đặc biệt hơn, không thể xã hội hoá tuỳ tiện. Loại dịch vụ này có thể do Nhà nước độc quyền cung cấp, nhưng cũng không hoàn toàn tuyệt đối, vì ở một số nước, các hiệp hội nghề nghiệp cũng có thể làm điều này.

Ở Việt Nam hiện nay, trong lĩnh vực đào tạo chứng khoán, có điểm đặc thù là muốn có chứng chỉ hành nghề thì phải học qua 3 khoá đào tạo của UBCK, cụ thể là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo Chứng khoán (TTKHĐTCK). Điều này tất nhiên đã tạo nên độc quyền trong việc đào tạo. Bởi vì nếu anh học và nhận chứng chỉ ở chỗ khác thì không được dự thi cấp chứng chỉ hành nghề, nên học ở những nơi khác sẽ chẳng ích gì; cho nên có thể nói, dịch vụ đào tạo chứng khoán hiện nay là do TTKHĐTCK độc quyền cung ứng.

Xét về bản chất độc quyền, hậu quả mà nó mang lại sẽ như thế nào, thưa ông?

Theo tôi, hậu quả của việc độc quyền đạo tạo chứng khoán thời gian qua có ảnh hưởng trên ba khía cạnh.

Thứ nhất, ảnh hưởng lên chính đơn vị tổ chức cung ứng dịch vụ đào tạo, tức là TTKHĐTCK của UBCKNN. Do nhu cầu của xã hội rất lớn, đã dẫn tới sự quá tải trong khâu đào tạo. Mặc dù tập thể cán bộ ở Trung tâm, theo cá nhân tôi được biết, đã rất nỗ lực, nhưng do cơ sở công nghệ và trang thiết bị chưa đủ mạnh, đã dẫn tới sự trì đọng ở nhiều khâu. Ví dụ như phải mất nhiều thời gian cho các khâu tổ chức, từ khâu đăng kí, đóng tiền của học viên (mất khá nhiều thời gian để thu và viết hoá đơn, chứ chưa có hình thức đăng kí qua mạng, nộp tiền qua mạng…), đến khâu đào tạo (phần mềm đào tạo, số lượng giáo viên, phòng ốc, v.v…) và cuối cùng là khâu thi cử, vẫn phải phát đề thủ công, chấm cũng thủ công (chưa thể tiến hành thi trắc nghiệm trên máy vi tính và chấm tự động). Tôi biết là các cán bộ ở đây luôn trong trạng thái làm việc quá tải, nhưng vẫn bị kêu ca phàn nàn rất nhiều.

Thứ hai, ảnh hưởng đến khách hàng, tức là người học. Họ phải chịu thiệt thòi vì phải đối diện với một độc quyền bán. Họ chỉ có thể học chỗ đó mà không có sự lựa chọn nào khác. Nếu thị trường là cạnh tranh, thì người học có thể lựa chọn nơi nào phù hợp nhất với họ như: thời gian, địa điểm, chất lượng và chi phí. Khi không có quyền lựa chọn, tất nhiên lợi ích xã hội bị suy giảm. Hơn nữa, chỉ nhìn vào số lượng người đang đợi chờ được nhận vào học hiện nay thôi cũng đủ thấy việc độc quyền tự nó không đủ đáp ứng nhu cầu xã hội. Cùng với sự đợi chờ là những hiện tượng tiêu cực tất yếu nảy sinh, như chen ngang nhờ quen biết, chạy chọt, thuê người học hộ thi hộ cho xong, v.v… Chưa kể là học viên phải chấp nhận chất lượng dịch vụ do cơ sở đào tạo độc quyền đưa ra. Theo tôi biết thì một phòng học hiện nay có tới hơn 500 người (một quy mô khổng lồ khiến tất cả giảng viên trên thế giới ghen tị), nhưng có người giảng bài vẫn điểm nhiên sử dụng công nghệ viết phấn lên bảng chứ không dùng máy chiếu. Và hệ thống điều hoà thì không được nâng cấp đầy đủ. Nên học viên đành phải chịu trận tất cả.

Thứ ba, trên một quy mô nhỏ hơn, là ảnh hướng đến bản thân đội ngũ giảng viên. Vì chỉ có một cơ sở đào tạo được xã hội xem là có giá trị, đội ngũ giảng viên cũng không có lựa chọn nào khác: họ phải đối diện với một độc quyền mua. Nếu chỉ có thể giảng dạy ở một nơi duy nhất, khả năng mặc cả của họ rõ ràng là yếu hơn. Thêm vào đó, do cơ sở đào tạo là độc quyền, không phải cạnh tranh với các cơ sở khác để thu hút học sinh, họ không nhất định phải nỗ lực tìm kiếm những giảng viên tốt nhất. Do đó, có khả năng là những người do quen biết hay những mối liên hệ nào đó, vẫn có thể làm giảng viên mà học viên đành chấp nhận. Trong khi những giảng viên giỏi hơn có thể không được dùng tới.

Những điều nêu trên dẫn tới hệ quả tất yếu chất lượng và số lượng đào tạo sẽ không cao, khó lòng đáp ứng được như cầu thực sự của xã hội và gây nên những méo mó không cần thiết.

Vậy đâu là lời giải cho bài toán độc quyền đã tồn tại trên thị trường chứng khoán mấy năm qua, thưa ông?

Quan điểm của tôi là phải giải độc quyền. Nhà nước cần điều chỉnh lại cấu trúc thị trường theo hướng mang tính cạnh tranh cao hơn, nghĩa là tăng số nhà cung ứng dịch vụ đào tạo. Vừa rồi có chính sách cho phép năm trường đại học được đào tạo đã là một bước đi đúng đắn để giải độc quyền.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở năm cơ sở đào tạo như vậy rất có thể là chưa đủ. Nếu cầu vẫn lớn hơn cung, thị trường vẫn mang tính độc quyền (độc quyền nhóm). Về lâu dài, theo tôi, các đơn vị, tổ chức nào đáp ứng được một số điều kiện nhất định theo luật định về điều kiện chuyên môn hay điều kiện vật chất thì đều nên được phép cung ứng dịch vụ. Khi đó sẽ xuất hiện thị trường cạnh tranh, giống như đào tạo ngoại ngữ hay các ngành nghề khác vậy. Trong bối cảnh đó, các cơ sở phải cạnh tranh với nhau trên cả hai thị trường: thị trường người học và thị trường người dạy, để giúp cải thiện chất lượng đào tạo cũng như số lượng đào tạo.

Về phía người học sẽ có thể chọn lựa trung tâm đào tạo nào phù hợp nhất với điều kiện của họ. Về phía giảng viên cũng vậy, họ có thể lựa chọn nơi nào ưu ái họ nhất. Như vậy các cơ sở phải cạnh tranh với nhau và kiện toàn chất lượng đào tạo. Còn về cấp chứng chỉ, thường thì ở đâu đào tạo nơi đó sẽ cấp chứng chỉ luôn. Và bản thân các chứng chỉ cũng sẽ cạnh tranh với nhau để xây dựng uy tín cho cơ sở cấp chứng chỉ.

Khi đã giải độc quyền ở nhóm dịch vụ thứ nhất và thứ hai, thì UBCK nên tập trung năng lực vào nhóm dịch vụ cuối cùng, tức là cấp chứng chỉ hành nghề thông qua sát hạch. Để đồng bộ với thị trường đào tạo, theo tôi về lâu dài, nên bỏ điều kiện ai được quyền tham dự kỳ thi. Ai thi cũng được, không cần biết anh xuất thân từ đâu, anh học chỗ nào, khi thi mà anh qua được yêu cầu của kì thi thì sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề. Chúng ta cũng có thể học hỏi từ những kỳ thi chuẩn hoá kiến thức của quốc tế như: TOEFL, GMAT, GRE hay các kì thi chuyên nghiệp về tài chính như CFA ( Chartered Financial Analyst- chứng chỉ dành riêng cho nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp). Vấn đề là người tổ chức kỳ thi phải nghiêm minh, đề thi phải bao quát được các vấn đề chuyên môn.

Quan điểm “ai thi cũng đựơc” của ông có vẻ hơi cấp tiến quá. Theo ông làm thế nào để kiểm soát chất lượng nếu ai cũng được dự thi?

Tôi biết hiện nay trong giới làm chính sách vẫn thịnh hành quan điểm cho rằng phải có điều kiện cho người dự thi, như là số năm kinh nghiệm, chuyên môn cơ sở (background) phải liên quan đến ngành tài chính-kinh tế, v.v… nhằm sàng lọc một lần trước khi vào thi. Đó là một phương pháp khá hữu hiệu. Tuy nhiên, trong ngành chứng khoán, như đã chứng kiến ở các nước phát triển, có những người đã rất thành đạt trên thị trường mà không hề được đào tạo bài bản. Do đó, nếu sàng lọc như vậy có thể khiến nhiều người tài giỏi bị bỏ qua. Theo tôi, thay vì chúng ta đi sàng lọc, mà hãy tạo cơ chế để thí sinh tự sàng lọc trước khi dự thi. Đó là quá trình tự chọn lọc (self-selection) rất thông dụng trong kinh tế học. Công cụ ở đây có thể đơn giản là lệ phí thi. Về ý nghĩa kinh tế, lệ phí thi chỉ cần trang trải đủ chi phí tổ chức kỳ thi là được. Về ý nghĩa là một công cụ tự chọn lọc, lệ phí thí có thể cao hơn mức hoà vốn một cách đáng kể. Bởi vì nếu lệ phí thi thấp, có thể một anh sinh viên mới ra trường cũng muốn dự cho vui. Nhưng nếu lệ phí thi đủ cao, người ta sẽ phải cân nhắc nghiêm túc việc đi thi, về khả năng thi đỗ, cũng như khả năng họ sẽ làm được gì thực sự sau khi thi. Lấy việc thi CFA làm ví dụ. Lệ phí mỗi lần dự thi là 1000 USD, và nếu anh trượt, phải một năm sau anh mới được dự thi. Vậy là họ áp đặt một lúc hai tiêu chí sàng lọc: tiền và thời gian. Rõ ràng với điều kiện nêu trên, không ai thi CFA cho vui cả.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là khâu chọn lọc thí sinh. Về phía UBCK với tư cách là người cung cấp dịch vụ thi tuyển và cấp chứng chỉ, họ cần cải tiến các thủ tục hành chính cho thí sinh dự thi cũng như công nghệ ra đề và chấm thi. Đặc biệt là phải giữ được việc sát hạch sao cho trong sáng, nghiêm minh.

Tuy nhiên, nói thì dễ mà làm thì sẽ khó. Trong điều kiện hiện nay, nâng cao chất lượng sát hạch hiện hành, theo cá nhân tôi được biết, vẫn là vấn đề nan giải. Chúng ta hiện vẫn sử dụng các công nghệ truyền thống như làm bài trên giấy. Lấy ví dụ ở Đài Loan, thí sinh làm bài trên máy tính, trả lời rất nhiều các câu hỏi trắc nghiệm lấy từ một ngân hàng câu hỏi. Khi hết giờ, máy tính tự dừng lại và chấm điểm luôn. Nếu anh thi đỗ, máy tính có thể in chứng chỉ ra cho anh ngay.

Tuy nhiên, với một công nghệ tiên tiến như thế, tôi cho rằng Việt Nam sẽ không thể làm được ngay trong một sớm một chiều, vì nó còn liên quan tới việc xây dựng phầm mềm ngân hàng câu hỏi sao cho có thể bao phủ hết tất cả các tri thức của ngành trong điều kiện Việt Nam. Đó thực sự là điều nan giải. Nếu Việt Nam tự xây dựng sẽ rất lâu và nếu mua chắc chắn sẽ rất đắt. Đây là bài toán mà UBCKNN phải giải.

Xin cảm ơn ông!

An Hạ (thực hiện)

Niềm đau Trương Vĩnh Kỹ
Niềm đau Trương Vĩnh Kỹ magnify

Ghi chú: bài này được bắt đầu viết vào đêm 23/2/2006, trên tàu điện ngầm từ Trường về nhà khi tôi còn ở Tokyo (hồi đó thường đi chuyến tàu cuối cùng, về đến nhà khoảng 1h đêm). Đó là những ngày mới từ Hà Nội quay lại Tokyo, nên có mang theo cuốn Trương Vĩnh Ký – Cuốn sổ bình sanh của Nguyễn Sinh Duy. Đọc xong dâng lên một mối xúc động sâu sắc, nên không thể không viết ra. Nhưng bài viết hiện chỉ ở dạng đề cương mà thôi. Khi nào có điều kiện sẽ hoàn thiện chi tiết.

Bài này được lưu trong file Độc thư tuỳ bút (Tuỳ bút viết khi đọc sách). Nay đưa lên đây để tiện lưu giữ. (Có sửa chữa đôi chút để phù hợp nơi public)

***

Đọc cuốn Trương Vĩnh Ký để hiểu thêm về cuộc đời của một người trí thức trong bối cảnh vô cùng phức tạp, trọng đại và đau thương của lịch sử. Về mặt tài liệu, qua tác phẩm này cũng biết thêm một số nguồn căn bản. Sẽ lưu ý sưu tầm để bổ sung nhằm có cái nhìn đầy đủ hơn về nhân vật này.

Có một vấn đề cốt yếu, là phải hiểu Trương Vĩnh Ký như thế nào? Hàm ý của nó với thời cuộc mà những người tìm hiểu ông đang sống ra sao?

Đọc về cuộc đời ông, trong bối cảnh hiện nay của đất nước, tôi bỗng ngộ ra nhiều điều.

Thứ nhất, về việc đánh giá các nhân vật lịch sử nói chung. Người đánh giá hậu sinh thường nằm trong một bối cảnh lịch sử khác, do đó trải nghiệm lịch sử hay thực tế của người ấy sẽ khác chính nhân vật đang được đánh giá. Do trưởng thành trong bối cảnh lịch sử khác nhau, con người là khác nhau, do đó họ có thế giới quan, phương pháp luận và hệ giá trị rất khác nhau. Mỗi tác giả khi đánh giá về một nhân vật lịch sử chỉ có thể sử dụng tri thức của mình để đánh giá mà thôi. Mà tri thức ấy thì lại khác nhau trong từng giai đoạn. Lấy một ví dụ, Nguyễn Sinh Duy và những người đương thời khi đánh giá Trương Vĩnh Ký chủ yếu trong hoàn cảnh đất nước (miền Nam) nằm dưới ách thực dân mới của Mỹ (hay để cho chung chung hơn, là dưới sự ảnh hưởng rất mạnh của một chính phủ nước ngoài), nên vấn đề họ đặt ra, cũng như thế giới quan mà họ nằm trong đó, là thế giới quan của người trí thức trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm. Tuy nhiên, khi tôi tìm hiểu về Trương Vĩnh Ký, tôi lại có một thế giới quan của một xã hội nằm trong một thể chế khá lạc hậu, đang bộc lộ mâu thuẫn, hạn chế với những tiến bộ rất nhanh của lịch sử. Có thể nói chúng tôi có thế giới quan của người trí thức trong bối cảnh đất nước cần có một cuộc cải cách chính trị tự thân.

Thứ hai, xã hội thời Trương Vĩnh Ký hàm chứa hai mâu thuẫn vĩ đại: (1) mâu thuẫn giữa chế độ xã hội đương thời (phong kiến nhà Nguyễn) với khát vọng được giải phóng, và (2) mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam độc lập và nước Pháp đi xâm chiếm thuộc địa.

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi xã hội đều chứa đựng những mâu thuẫn, và ở những khúc quanh lịch sử, thường xuất hiện một mâu thuẫn lớn, ảnh hưởng sống còn đến lịch sử. Nếu chỉ có một mâu thuẫn lớn thôi, thì giới trí thức có thể dễ dàng phân thành hai chiến tuyến đối lập nhau, và sau này hậu sinh có thể nhìn nhận đánh giá rất dễ dàng. Một ví dụ điển hình là giai đoạn lịch sử nhà Trần chống giặc Nguyên. Tuy nhiên, vấn đề trở phức tạp hơn nhiều khi ở khúc quanh của nó lại có nhiều hơn một mâu thuẫn căn bản.

Đây chính là cái giai đoạn Trương Vĩnh Ký rơi vào. Vì thế, khi chúng ta lấy thế giới quan của người trí thức trong bối cảnh nạn ngoại xâm như của Nguyễn Sinh Duy hay những người Việt Nam mất nước khác mà nhìn, thì chúng ta rất khó lòng tha thứ cho một Trương Vĩnh Ký cộng tác với thực dân Pháp. Nhưng sự tận tuỵ, nhiệt tình đến lạ lùng của một người hiểu biết thâm sâu, kiến văn quảng bác như ông khiến hậu sinh không thể không suy xét cho thận trọng. Và giờ đây, với tư cách là người trí thức nằm trong vòng xoáy khát khao đòi hỏi ở dân tộc một cuộc cải cách tự thân trong nền tảng, chúng ta một cách rất tự nhiên nhìn thấy một Trương Vĩnh Ký khác.

Những ý chính cần thể hiện:

– Sự mục nát của chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Những khao khát canh tân. Lý tưởng đặt ra là nâng cao dân sinh dân trí, kinh tế mở mang. Và nếu là người hiểu biết về phương Tây, tất nhiên còn muốn dân tộc tiến tới trạng thái giải phóng: tự do, bình đẳng và nhân văn.

– Các học giả biện hộ cho những mong muốn canh tân nơi Tự Đức, nhưng có những ràng buộc của hệ thống mà chính Tự Đức và triều đình của ông sẽ không vượt qua được.

– Cách nhìn rất khác nhau. Đối với các sĩ phu hay văn thân, mâu thuẫn thời đại của họ là mâu thuẫn giữa tự chủ dân tộc với xâm lược thực dân. Do đó, họ đối lập dân tộc với ngoại bang. Nhưng trong thế giới quan của họ, nhà nước phong kiến (triều Nguyễn) lại được đồng nhất với dân tộc. Còn từ phía Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký và những người theo ông, mâu thuẫn thời đại là mâu thuẫn giữa sự mục nát của chế độ đương thời và khao khát canh tân nâng cao dân sinh dân trí.

Nguyễn Trường Tộ đi theo hướng thuyết phục Triều đình canh tân để được như phương Tây, hoặc để phát triển như phương Tây. Ông đã thất bại và thất bại của ông là một tất yếu lịch sử. Nguyễn Trường Tộ kiên định với lập trường của ông, tức là kêu gọi cải cách tự thân của chính quyền, mà không muốn viện tới sự cải cách áp đặt tự bên ngoài, tức là viện đến sức đồng hoá của người Pháp. Có thể thấy ở ông cái bi kịch của người trí thức mắc kẹt giữa dòng xoáy nơi điểm đồng quy của hai mâu thuẫn lịch sử lớn lao đã nói trên kia.

Khác với Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký đã dứt khoát bất hợp tác với chính quyền ngay từ đầu, và ông hướng tới một chương trình cải cách dân tộc được áp đặt từ bên ngoài, đó là sự khai hoá của người Pháp. Sẽ là vội vàng và thiển cận nếu kết tội ông là một tên đại việt gian bán nước cầu vinh. Vấn đề là TVK nhìn nhận mâu thuẫn về sự mục nát của dân tộc nghiêm trọng hơn nhiều so với mâu thuẫn về độc lập dân tộc. Tôi không tin rằng những người luôn dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc là những người sáng suốt tuyệt đối, dù rằng họ luôn được ngợi ca như những vị anh hùng bất khuất và gợi nhiều cảm hứng nhất, điều này được thừa nhận ngay cả từ phía kẻ thù. Tuy nhiên, nếu độc lập chỉ là độc lập cai trị không thương tiếc của một nhóm nhỏ suy đồi trên một biển quần chúng thống khổ mênh mông, thì độc lập ấy có nghĩa gì nhìn từ con mắt của đa số?

Tất nhiên, một dân tộc nhỏ bé, hủ lậu và tự nó không đủ sáng suốt để giải quyết mâu thuẫn nội tại, thì cái giá phải trả để giải quyết bất cứ mâu thuẫn thời đại nào cũng là rất đắt. Đòi hỏi giải quyết mâu thuẫn độc lập dân tộc nhưng lại thoả hiệp với mâu thuẫn tổ chức dân tộc, thì cả dân tộc buộc phải bị cuốn vào bể máu, bởi vì chấp nhận thoả hiệp tức là đồng nhất toàn thể dân tộc với một nhóm nhỏ ấu trĩ và lạc hậu, cái nhóm độc tài sẽ tất yếu đẩy dân tộc xuống bùn lầy dưới bánh răng xích của lịch sử. Trái lại, muốn giải quyết mâu thuẫn tổ chức dân tộc bằng một lực lượng từ bên ngoài, từ bên trên, thì cái giá của một dân tộc nhược tiểu phải trả chính là sự độc lập của nó.

Cho nên, bài học về Trương Vĩnh Ký không phải bài học của riêng giới trí thức, lại tuyệt nhiên không phải bài học cho những tên Việt gian hay phản quốc, mà chính là bài học cho một dân tộc, cho một nhà nước vậy.

(Tư liệu cần bổ sung: thái độ đón chào của các trí thức Đức khi Napoleon tiến vào nước này, như Fichte, Hegel để hiểu rằng, bản thân sự lựa chọn tương lai cho dân tộc cần phải có nhiều khía cạnh, nhiều góc nhìn. Đây cũng là cái mà chúng ta phải suy ngẫm, nếu chúng ta tự cho là văn minh, tiến bộ và dân chủ. Bởi vì, duy trì độc lập dân tộc trong sự mục nát của nó, chỉ là một trong số các lựa chọn mà dân tộc ấy có quyền chọn lựa mà thôi.)

Tưởng nhớ Milton Friedman (1912-2006)
Tưởng nhớ Milton Friedman (1912-2006) magnify

Tôi viết bài này sau khi được tin ông mất ngày 16/11/2006.  Cái tên Milton Friedman, cũng như David Ricardo, John Stuart Mill, John Maynard Keynes, Joseph Schumpeter, John Hicks, Paul Samuelson, Arthur Lewis, Simon Kuznets v.v… là những cái tên thân thuộc đầu tiên đưa tôi đến với Kinh tế học. Thấm thoắt cũng đã gần 10 năm rồi… Giờ thì Friedman đã đi gặp những vị trên kia trong ngôi đền Panthéon vĩnh hằng của Kinh tế học. Chúc các ông có một cuộc hạnh ngộ vui vẻ và ấm áp…

Mọi người có thể đọc thêm chương về Friedman trong cuốn sách 50 nhà kinh tế tiêu biểu của Pressman, do nhóm Tuấn-Nam-Trang dịch và tôi hiệu đính (Nxb Lao Động, 2003), để biết thêm về ông. Tiếc là tôi không có soft-copy cuốn sách ấy ở đây, không thì có thể cũng sẽ paste chương đó lên đây phục vụ mọi người (với hy vọng là nhóm dịch giả sẽ đồng ý Image).

Các bạn cũng có thể đọc bài này trên Thời báo Kinh tế Việt Nam số cuối tuần, ngày 25/11/2006.

***

Khi Milton Friedman tạ thế tại nhà riêng ở San Francisco vào ngày 16/11/2006, khoa học kinh tế mất đi một người thầy lớn, nhân loại mất đi một nhà tư tưởng lỗi lạc. Cùng với những nhà kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ XX, như John Maynard Keynes, Joseph Alois Schumpeter, hay Friedrich von Hayek, Milton Friedman đã để lại một di sản không gì thay thế được trong toà lâu đài nguy nga của kinh tế học hiện đại. Những cống hiến của ông về lý thuyết, lịch sử và chính sách tiền tệ, về lý thuyết tiêu dùng, lạm phát và thất nghiệp, về triết lý tự do kinh tế, không chỉ có ảnh hưởng lâu dài trong giới hàn lâm, mà còn phủ bóng lên cuộc sống kinh tế hàng ngày của quảng đại quần chúng, và đặc biệt là vẫn đã và đang định hình nên tư tưởng của nhiều thế hệ trên khắp thế giới.

Friedman sinh năm 1912 tại Brooklyn, Hoa Kỳ, trong một gia đình Do Thái nhập cư từ Đông Âu. Khi cậu bé Milton được hơn một tuổi, gia đình chuyển đến Rahway, một thị trấn nhỏ ở phía bắc bang New Jesey. Là con trai út và duy nhất trong bốn chị em, cậu lớn lên trong tuổi thơ nghèo khó. Cả nhà Milton sống dựa vào một cửa hàng tạp hoá nhỏ, trong hoàn cảnh chật vật bấp bênh, mà sau này ông từng hóm hỉnh ôn lại rằng “khủng hoảng tài chính thường xuyên diễn ra.” Dù ông sẽ không thể quên những đêm dài cha mẹ thao thức bàn cách giải quyết các khoản tiền sắp đến kỳ phải trả, ông cũng vẫn luôn giữ mãi những ký ức êm đềm về không khí ấp ám tràn đầy tình thương của mọi nguời trong gia đình dành cho nhau.

Từ nhỏ Milton đã say mê với những cuốn sách trong cái thư viện nhỏ bé của thị trấn Rahway và hầu như đã đọc hết sách ở đó. Cậu luôn là một học sinh suất xắc trong lớp và qua năm lớp Năm liền học nhảy cóc lên luôn lớp Bảy. Sau khi tốt nghiệp trung học, cậu nhận được học bổng miễn học phí để vào trường Đại học Rutgers không quá xa nhà. Tuổi sinh viên trôi qua với đủ thứ nghề để kiếm sống, như chạy bàn, gia sư, hay làm sổ sách kế toán cho một cửa hàng tạp hoá. Chính trong thời kỳ đại học, cậu sinh viên đã được hai vị giáo sư kèm cặp, những người sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến tư tưởng của cậu trong tương lai. Người thứ nhất là Arthur Burns, sau này sẽ có lúc trở thành Chủ tịch Cục Dự trữ Liên Bang, người chắc hẳn đã làm Friedman quan tâm đến các vấn đề tiền tệ. Người thứ hai là Homer Jones, vị giáo sư trẻ luôn nhiệt thành truyền bá cho sinh viên những giá trị cao cả của tự do cá nhân.

Dù sao, khi sắp sửa tốt nghiệp, tìm đường cho cuộc mưu sinh là nhu cầu thiết yếu cho chàng trai nghèo. Chàng sinh viên Friedman đã nghĩ sẽ tìm kiếm một công việc có thu nhập ổn định, như làm chuyên viên bán bảo hiểm. Nhưng đó cũng là những năm định mệnh của thế kỷ XX, khi cuộc Đại khủng hoảng đang tàn phá dữ dội nền kinh tế Mỹ và lan ra như cơn lốc trong các nước công nghiệp phương Tây, cướp đi thành quả của nhiều năm phồn vinh trước đó. Giống như nhiều nhà kinh tế vĩ đại của thế kỷ XX, thực tại nghiệt ngã đã khiến Friedman không thể không ý thức về các vấn đề kinh tế. Đó là năm 1932, năm quyết định số phận ông. Sau này ông lý giải: “nếu anh là một sinh viên sắp ra trường ở tuổi 19, điều gì sẽ là quan trọng hơn đối với anh: tìm cách tính ra mức giá đúng cho các khoản bảo hiểm nhân thọ, hay là thử cố tìm hiểu xem điều gì đã khiến cho thế giới thành ra nông nỗi này?”

Vậy là người thanh niên 20 tuổi đã từ bỏ con đường dẫn tới một chỗ làm ổn định, để đi theo tiếng gọi của niềm ham hiểu biết. Arthur Burns sẵn lòng viết thư giới thiệu để giúp  cậu học trò xuất sắc của mình được nhận vào chương trình sau đại học của khoa Kinh tế trường Đại học Chicago.

Đại học Chicago đã mở ra cho Friedman một thế giới huy hoàng của kinh tế học, nơi ông khám phá những chân trời mới và có cơ hội tham gia vào những dự án nghiên cứu nghiêm túc. Đây cũng là nơi ông quen biết và yêu Rose Director, một nghiên cứu sinh cùng khoa, người sẽ trở thành vợ ông sau đó. Ông vừa theo học ở Đại học Chicago và Đai học Columbia, đồng thời làm việc tích cực ở các trung tâm nghiên cứu, và cuối cùng chuyển tới làm việc với nhà kinh tế danh tiếng Simon Kuznets ở Ban Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) trong một dự án nghiên cứu về thu nhập của các ngành có chuyên môn cao. Kết quả của dự án là một cuốn sách ông đứng tên tác giả cùng Kuznets. Cũng chính trên kết quả nghiên cứu này, Friedman đã phát triển luận văn tiến sỹ của mình. Trong luận văn ông vạch ra rằng vì các ngành có chuyên môn cao như luật sư, bác sỹ, cần phải có giấy chứng nhận của ngành, nên đã tạo ra một rào cản không cho mọi người tự do gia nhập ngành, dẫn đến hiện tượng độc quyền nhóm. Do đó, ông kết luận rằng những người làm trong các ngành này được hưởng một mức thu nhập cao hơn hẳn các ngành khác nhờ vị thế độc quyền của họ, dẫn đến hậu quả là người tiêu dùng phải trả mức giá cao hơn trong khi lượng dịch vụ cung ứng lại ít hơn mức mong đợi. Vấn đề ông nêu lên quá nhạy cảm vào thời gian đó và đe doạ làm nổ ra những cuộc tranh cãi gây chia rẽ. Đại học Columbia đã đình luận văn của ông lại 5 năm liền không để ông tốt nghiệp, nghĩa là mãi đến 1946 ông mới nhận được bằng Tiến sỹ. Đây là một bài học quan trọng đầu đời cho nhà kinh tế trẻ, khiến ông thấm thía rằng những khám phá khoa học hàn lâm có thể gây phiền phức cho cá nhân người nghiên cứu như thế nào, nhưng đồng thời nó cũng có thể khuấy lên những cơn bão táp ra sao.

Sau khi nhận bằng Tiến sỹ, Friedman được bổ nhiệm giảng dạy kinh tế học ở Đại học Chicago. Từ đây sự nghiệp của ông bắt đầu phát triển rực rỡ với những đóng góp to lớn cho kinh tế học. Cùng với George J. Stigler (Giải Nobel 1982), ông góp phần phục hưng trường phái Chicago sau Thế chiến II, biến Khoa Kinh tế thành nơi tụ hợp và đào tạo nên những nhà kinh tế lỗi lạc, mà có thể kể ra những tên tuổi như Theodore W. Schultz (Giải Nobel 1979), Ronald H. Coase (Giải Nobel 1991), Gary. S. Becker (Giải Nobel 1992), Merton H. Miller (Giải Nobel 1990), Robert W. Fogel (Giải Nobel 1993), Robert E.Lucas (Giải Nobel 1995), Hebert A. Simon (Giải Nobel 1978), James M. Buchanan (Giải Nobel 1986), Harry M. Markowitz (Giải Nobel 1990) và Myron S. Scholes (Giải Nobel 1997).

Sự phục hưng trường phái Chicago không chỉ là việc bành trướng ảnh hưởng của khoa Kinh tế Chicago trong ngành kinh tế học nói riêng, mà còn là sự bành trướng chính môn kinh tế học thành một đế chế trong khoa học xã hội, với tham vọng giải thích sự vận động của lịch sử cũng như nhiều hành vi cá nhân và xã hội trên những nền tảng căn bản của kinh tế học.

Suốt trong ba thập kỷ ở Chicago, từ năm 1946 cho đến khi nghỉ hưu năm 1977, Friedman đã cống hiến không ngừng nghỉ cho kinh tế học, từ triết lý và phương pháp luận kinh tế, đến lý thuyết tiêu dùng, và quan trọng hơn cả là lý thuyết tiền tệ cùng những nguyên lý làm nền tảng cho chính sách tiền tệ và tài khoá.

Ngay từ cuối những năm 1950, khi chủ nghĩa can thiệp của trường phái Keynes như ngọn triều cường đang lan tràn trên khắp thế giới tư bản chủ nghĩa, Friedman đã khẳng định mình như một tư tưởng gia kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa tự do kinh tế, cái truyền thống được gây dựng suốt từ trước thế kỷ XIX, nhưng đã bị cái bóng vĩ đại của Keynes che khuất từ sau cuộc Đại khủng hoảng. Cùng với một số ít các nhà tư tưởng tự do kiên định lúc bấy giờ như Hayek, Friedman đã truyền bá không biết mệt mỏi đức tin vào thị trường tự do và sự hài hoà mà nó có thể mang lại cho nền kinh tế, đồng thời cương quyết chống lại chủ nghĩa can thiệp và bảo hộ của chính phủ. Chính trên truyền thống này, ông đã gây dựng nên hệ thống triết lý xã hội tự do có ảnh hưởng lâu dài và vươn ra rất xa ngoài giới hàn lâm. Năm 1962 ông xuất bản tác phẩm “Chủ nghĩa tư bản và Tự do” (Capitalism and Freedom) trong đó nêu rõ những gì chính phủ nên làm và không nên làm, nhằm kiến tạo một xã hội thịnh vượng mà vẫn bảo đảm được quyền tự do cho các công dân của mình. Quan điểm chủ đạo xuyên suốt tác phẩm này là chính phủ chỉ nên đóng vai trò tối thiểu, như làm người bảo đảm pháp luật và trật tự xã hội, phân định quyền sở hữu, duy trì và chỉnh sửa luật chơi cho các tác nhân kinh tế, bảo đảm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, cung cấp một hệ thống tiền tệ thống nhất, khuyến khích cạnh tranh và chống độc quyền, cung cấp dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật và trẻ vị thành niên.

Cũng trong thời gian này, ông công bố lý thuyết về hàm tiêu dùng (1957), nội dung chủ yếu cho rằng tiêu dùng của cá nhân hoặc hộ gia đình phụ thuộc vào thu nhập dài hạn kỳ vọng chứ không phải thu nhập hiện thời như quan điểm của Keynes. Do đó, ông cho rằng tổng tiêu dùng của nền kinh tế ổn định hơn những người theo Keynes vẫn nghĩ. Lý luận này của Friedman được biết đến như là giả thuyết thu nhập lâu dài trong các lý thuyết chuẩn hiện nay về hàm tiêu dùng.

Tuy nhiên, từ trước tới nay, có lẽ Friedman vẫn được biết tới nhiều nhất như là nhà lãnh đạo của phái Trọng tiền (Monetarism) trong kinh tế học. Là người ngay từ đầu đã bảo vệ lý thuyết số lượng tiền tệ, Friedman chắc chắn là lý thuyết gia có công lớn nhất trong thế kỷ XX làm mới và truyền bá học thuyết này, đưa nó vào làm nền tảng lý luận cho những cuộc tranh luận không khoan nhượng của ông về chính sách tiền tệ.  Ông thống lĩnh những cuộc tấn công làm xói mòn bức trường thành tín điều do Keynes dựng nên cho rằng chính sách tiền tệ có thể đẩy lui được nạn thất nghiệp nhờ tạo ra lạm phát. Gần như đồng thời, vào cuối những năm 1960, Friedman và Edmund Phelps, một nhà kinh tế ở Đại học Columbia (người mới được nhận giải Nobel Kinh tế năm nay), cùng đưa ra khái niệm “thất nghiệp tự nhiên,” là mức mà mọi tham vọng đẩy thất nghiệp xuống thấp hơn mức này bằng chính sách tiền tệ sớm muộn đều thất bại, và cái giá phải trả chỉ có thể là lạm phát triền miên và ngày càng tăng tốc. Với khái niệm này, Friedman và Phelps đã chấm dứt giấc mộng của các nhà kinh tế trường phái Keynes muốn đưa nền kinh tế đến toàn dụng nhân công thông qua chính sách tài khoá và tiền tệ.

Để có bẳng chứng củng cố cho lý thuyết số lượng tiền tệ, Friedman dành một phần lớn công sức và thời gian cho các công trình nghiên cứu về lịch sử tiền tệ. Những nghiên cứu này của ông, hoàn thành với sự góp sức của nhà kinh tế Anna Schwartz, đã trở thành những công trình kinh điển có một không hai về lịch sử tiền tệ của Mỹ và Anh. Cũng thông qua những nghiên cứu này, Friedman lại một lần nữa đưa ra kết luận rất táo bạo, rằng chính chính sách thắt chặt tiền tệ một cách sai lầm vào cuối thập kỷ 1920 là nguyên nhân gây ra cuộc Đại khủng hoảng.

Dù những luận điểm của Friedman luôn gây nhiều tranh cãi, năm 1976 ông lên đến đỉnh cao vinh quang trong giới hàn lâm khi được trao giải Nobel về Kinh tế học. Những cống hiến to lớn của Friedman được Hội đồng trao giải khẳng định một cách rõ ràng và súc tích: “vì những thành tựu của ông trong lĩnh vực phân tích tiêu dùng, lịch sử và lý thuyết tiền tệ, và vì việc làm rõ tính phức tạp của chính sách bình ổn”

Một năm sau khi nhận giải Nobel, ở tuổi 65, Friedman ngừng công việc giảng dạy ở Đại học Chicago, và hai ông bà chuyển sang San Francisco để an dưỡng tuổi già.  Nhưng thực ra công việc của ông hầu như không bị gián đoán, vì ở đây ông chuyển sang cộng tác với Viện Nghiên cứu Hoover của Đại học Stanford. Đồng thời, đây cũng là quãng thời gian làm việc không kém phần năng suất và lý thú của hai ông bà. Đây là khi ông gây được ảnh hưởng to lớn tới quần chúng Mỹ nhờ bộ phim tài liệu nhiều tập “Tự do lựa chọn!” (Free to Choose, 1979), mà nền tảng triết lý hoàn toàn nhất quán với những gì ông đã viết ra trong “Chủ nghĩa tư bản và Tự do” gần 20 năm về trước. Bộ phim và cuốn sách cùng tên xuất bản sau đó đã góp phần định hình dư luận của quảng đại quần chúng Mỹ cũng như quan điểm chính sách kinh tế ở nước này trong thập kỷ 1980.

Rõ ràng, Friedman là một nhà lý thuyết đầy uy tín được ngưỡng mộ, nhưng ông không ngự trên tháp ngà của giới hàn lâm, mà tham gia tích cực vào đời sống xã hội. Trong nhiều năm trời, Friedman đã viết hàng trăm bài xã luận và bình luận trên báo chí đại chúng, nêu cao những giá trị của chủ nghĩa tự do, truyền bá niềm tin vô bờ vào cơ chế thị trường như là công cụ giúp ổn định xã hội và làm nền tảng cho nền văn minh. Về mặt chính trị, ông ủng hộ các quan điểm tự do, liên tục làm cố vấn kinh tế cho các ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hoà từ những năm 1960. Khi Nixon và Reagan trúng cử, họ đều ít nhiều áp dụng các chính sách kinh tế của ông. Một thành công chính trị mà Friedman thực sự thừa nhận và cảm thấy tự hào vì đã tham gia vào quá trình vận động, là việc bãi bỏ chế độ quân dịch bắt buộc vào năm 1973.

Khi Trung Quốc đang trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách kinh tế, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản lúc đó là Triệu Tử Dương đã mời Friedman sang thuyết trình cho các nhà lãnh đạo nước ông về kinh nghiệm xây dựng nền kinh tế thị trường. Trong một bài viết vào năm ngoái, ở tuổi 93, Friedman đã không che dấu niềm hạnh phúc được tận mắt chứng kiến khúc khải hoàn của thị trường tự do đang tấu lên trên khắp đất nước đông dân nhất thế giới này.

Nhìn lại sự nghiệp bao trùm gần như toàn bộ nửa sau thế kỷ XX của Milton Friedman, chúng ta nhận thấy ở đây sự tiếp nối không ngưng nghỉ của truyền thống nhân văn phương Tây, truyền thống tin tưởng vào sự tự do trong bản chất con người, cái mà họ, với lương tri và sự sáng suốt nơi bản thân, có thể tự đấu tranh để gìn giữ, mà không cần đến một thế lực bên ngoài và bên trên nào ban phát cho. Triết lý kinh tế của Friedman không gì khác là sự vận dụng truyền thống đó trong đời sống hiện đại, bằng cách đặt niềm tin sắt đá vào thị trường, vào sức sống mãnh liệt của nó, cũng như sự hài hoà mà nó có thể tạo ra.

Tokyo, rạng sáng, ngày 22/11/2006

P/S: Kể ra có thời gian thì nói thêm về quan hệ của ông với Galbraith về Kinh tế Ấn Độ. Nói rõ hơn sự đơn độc của ông trong kỷ nguyên của Keynes (cũng như Hayek đã phải ngồi chơi xơi nước mấy chục năm, nhờ thế mà có thời gian thong thả viết một cuốn sách về Tâm lý học với những ý tưởng manh nhà từ thời 18 tuổi, để rồi cuốn sách đó trở thành kinh điển trong Tâm lý học hiện đại (một ngày nào đó tôi muốn viết bài so sánh cuốn này với lý luận Duyên Khởi của Phật giáo). Chân thành cảm ơn Keynes và binh đoàn của ông!)

Phụ lục:

1. Một số trang web và links để tham khảo nhanh và hữu ích về Friedman:

Bài trên Los Angeles Times đăng ngay hôm ông mất

Bài trên BusinessWeek.com hôm 17/11/2006

Nhóm bài trên Ideachannel.com tập hợp nhiều link hay

và tất nhiền là mục “Milton Friedman” trong trang ruột của tôi về Lịch sử Kinh tế học (nhiều thông tin chuyên ngành)

Một bài viết công phu trong số ít các bài bằng tiếng Việt: “Milton Friedman và Á Châu” của Nguyễn Mạnh Phát

2. Một thoáng Friedman

– Về Chính phủ

– Về tự do mua bán ma tuý

– Về bãi bỏ chế độ quân dịch (đoạn đối thoại với Tướng Westermoreland)

3. Danh mục các tác phẩm của Friedman

(Sẽ làm mấy hôm nữa khi có thời gian)

A. Danh mục các tác phẩm chính (thường được nhắc đến):

(…)

B. Danh mục đầy đủ và chi tiết hơn:

(…)

C. Điểm sách từ thư viện của GRIPS

Di sản của Friedman có thể tạm chia ra làm mấy mảng:

1. Lý thuyết và chính sách tiền tệ

1956, “Studies in the Quantity Theory of Money,” ed., Uni of Chicago Press, 265p. Cuốn sách tập hợp các bài tiểu luận của ông và các nhà kinh tế tiền tệ hàng đầu đương thời. Mở đầu là bài viết tổng kết của ông về Lý thuyết số lượng tiền tệ (The Quantity Theory of Money – A Restatement), tiếp đó là bài của Phillip Cagan về Siêu lạm phát, John J. Klein về tình hình tiền tệ ở Đức giữa hai cuộc thế chiến (German Money and Prices, 1932-44), Eugene M. Lerner về lạm phát thời chiến tranh Nam Bắc (Inflation in the Confederacy, 1861-65), và cuối cùng là về tốc độ lưu thông tiền tệ ở Mỹ của Richard T. Selden (Monetary Velocity in the United States).

1963, “Inflation: Causes and Consequences,” Asia Publishing House, NY, 51p. (published by The Council for Economic Education, Bombay). Là một bài lecture của ông và sau đó có phần thảo luận, hỏi đáp.

1969, “Monetary vs. Fiscal Policy,” with Walter W. Heller, Norton & Company, NY, 95p.

1970, “Milton Friedman’s Monetary Framework – A Debate with His Critics,” ed. by Robert Gordon, Uni of Chicago Press, 192p. Mở đầu bằng bài viết của Fiedman (A Theoretical Framework for Monetary Analysis). Sau đó là các bài phê phán của Karl Brunner và Allan H. Meltzer, James Tobin, Paul Davidson, và Don Patinkin. Kết thúc là bài trả lời và bình luận của Friedman về các phê phán.

1971, “A Theoretical Framework for Monetary Analysis,” NBER Occasional Paper 112, NBER, 69p. Xuất bản riêng rẽ tiểu luận của ông (được dẫn trên cuốn sách trên). Tiều luận này dựa trên hai bài nghiên cứu trước đó là “A Theoretical Framework for Monetary Analysis” (JPE 78:2) và “A Monetary Theory of Nominal Income” (JPE 79:2).

2. Lịch sử tiền tệ

1963, “The Great Contraction, 1929-1933,” with Anna Jacobson Schwartz, NBER & Princeton Uni Press, 150p. Lý giải nguyên nhân cuộc khủng hoảng là do phản ứng sai lầm của chính sách tiền tệ (thắt chặt tiền tệ).

1970, “Monetary Statistics of the United States: Estimates, Sources, Methods,” with Anna Jacobson Schwartz, NBER & Columbia Uni Press, 629p.

1982, “Monetary Trends in the United States and the United Kingdom: Their Relation to Income, Prices, and Interest Rates, 1867-1975,” with Anna Jacobson Schwartz, NBER & Uni of Chicago Press. Tác phẩm kinh điển về lý thuyết và lịch sử tiền tệ. Các nhà kinh tế vĩ mô đều nên đọc cuốn này.

3. Lý thuyết kinh tế và phương pháp luận kinh tế học

1953, “Essays in Positive Economics,” Uni of Chicago Press, 328p. Có chương đầu tiên rất quan trọng: “The Methodology of Positive Economics.” Các chương khác về kinh tế vĩ mô (lý thuyết cầu) và về chính sách tiền tệ và tài khoá, v.v…

1962, “Price Theory,” Water de Gruyter, Berlin & NY (1976), 357p. with Preface by the author in 1975. Một cuốn sách vẫn còn hữu ích người mới nghiên cứu kinh tế. Nhiều chi tiết nhỏ tinh tế và hữu dụng, giúp ta hiểu sâu hơn về lý thuyết kinh tế vi mô. Tôi đọc cuốn này khi học cao học, thấy ngỡ ngàng.

4. Triết lý xã hội về chủ nghĩa tự do, truyền bá ra quảng đại quần chúng.

1962, (1982, 2002), “Capitalism and Freedom,” 208p. Bản này có Prefaces of 1982 & 2002 by the author. Cuốn sách nhỏ, dễ đọc cho đại chúng, nhưng quan điểm chính trị (chủ nghĩa tự do) rất rõ ràng. Làm sống lại truyền thống tự do kinh tế.

1980, “Free to Choose – A Personal Statement,” with Rose Friedman, Harcourt Brace Jovanovich Publishers, 338p. Khai sinh từ cuốn Capitalism và lời thuyết minh bộ phim tài liệu nhiều tập cùng tên “Free to Choose.”

1983, “Bright Promises, Dismal Performace – An Economist’s Protest,” ed., intro & notes by William R. Allen, Harcourt Brace Jovanovich Publishers, small size, 393p. Tập hợp các bài viết của ông cho đại chúng, trên tạo chí Newsweek từ năm 1966-1982, về các vấn đề xã hội, thuế khoá, thương mại, kinh tế và chính sách kinh tế.

Một số cuốn sách về Friedman dùng cho tham khảo nhanh:

1995, “Economic Thought since Keynes – A History and Dictionary of Major Economists,” by Michel Beaud & Gilles Dostaler, trans. from French by V. Cauchemez & E. Litwack, Edward Elgar, 488p.

1999, “The Legacy of Milton Friedman as Teacher,” ed. by J. Daniel Hammond, in 2 vols., Edward Elgar, 555p & 562p. Bộ sách có 2 phần chính. Phần I do một số học sinh viết về thầy mình (4 bài), trong đó có bài của Gary Becker (1991) nhan đề “Milton Friedman 1912-,” rút từ một tập san của Uni of Chicago. Phần II là các bài nghiên cứu của các học trò của Friedman, có 42 bài nhiều vấn đề như kinh tế vi mô, tài chính, ngân hàng, tiền tệ và lịch sử tiền tệ.

Điểm sách của Fukuyama
Điểm sách của Fukuyama magnify

Bài này tôi viết ở Tokyo, xong ngày 27/11/2005, theo yêu cầu của bạn tôi, anh Nguyễn Cảnh Bình, với danh nghĩa đại diện cho Nhà sách Alpha và Nhà xuất bản Tri Thức (Hà Nội), dưới dạng một bài điểm sách. Sau đó có yêu cầu không được xuất bản cuốn sách này ở Việt Nam. Giờ tôi đưa lên đây làm tư liệu tham khảo.

Về việc dịch và xuất bản cuốn

“Sự Cáo chung của Lịch sử và Con người Cuối cùng” của Francis Fukuyama

Thông tin chung: “The End of History and the Last Man,” NXB Free Press, 1992, 418 trang. Xem thêm trên Amazon.

Francis Fukuyama (sinh năm 1952) là nhà tư tưởng hiện đang nổi danh ở Mỹ và trên thế giới, có lẽ kể từ sau khi ông công bố bài báo nổi tiếng và gây nhiều tranh cãi “The End of History” (Sự Cáo chung của Lịch sử) trên tạp chí National Interest năm 1989 khi Liên Xô sụp đổ, chấm dứt cuộc Chiến tranh Lạnh. Trong bài báo này ông tuyên bố sự thất bại của Liên Xô báo hiệu một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại, cho thấy trên thế giới sẽ không còn một ý thức hệ (hay một cách tổ chức xã hội) nào có thể cạnh tranh với ý thức hệ dân chủ tự do (liberal democracy) đã hình thành và phát triển vững chãi ở các nước tư bản dân chủ hiện đại. Trong lịch sử và đặc biệt là trong thế kỷ XX, nhiều ý thức hệ đã thách thức với ý thức hệ dân chủ tự do, như chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa phát-xít và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản, nhưng tất cả đều lần lượt thất bại. Fukuyama lập luận rằng trong sự tiến hóa của lịch sử loài người, ý thức hệ dân chủ tự do là ý thức hệ cuối cùng, là giai đoạn tột cùng của lịch sử mà con người có thể đạt tới, là hệ thống, dù không hoàn hảo hay tuyệt đẹp như thiên đuờng Utopia (không tưởng), nhưng là tốt nhất trong thực tiễn mà con người có thể đạt tới. Và khi hệ thống dân chủ đuợc xác lập khắp nơi trên thế giới, sẽ không còn những xung đột lớn nữa, các mâu thuẫn nội tại lớn nhất đã đuợc giải quyết. Đó là thời điểm Lịch Sử cáo chung, với Lịch sử viết hoa. Nói một cách dễ hiểu và bớt tính triết học hơn, một khi toàn bộ nhân loại đã xây dựng đuợc hệ thống dân chủ tự do ở khắp nơi, thì đó là cách thức tổ chức xã hội có cân bằng bền vững, có khả năng tự bảo vệ, không có các mâu thuẫn cơ bản từ bên trong mãnh liệt đến mức thủ tiêu chính hình thức xã hội ấy. Nghĩa là, đây là hình thức tổ chức xã hội cao nhất của loài người, mà sau đó, sẽ không còn cách tổ chức xã hội nào khác nữa.

Để hiểu sâu hơn luận điểm của Fukuyama, chúng ta cần làm quen với nền tảng triết học của ông. Người ta thường nói ông là môn đệ của Hegel về phương pháp (hay tư tưởng) Biện chứng của Lịch sử (ở Việt Nam quen gọi là biện chứng duy tâm, nhằm đối lập với biện chứng duy vật về lịch sử của Mác). Theo Hegel, Lịch sử là lịch sử của “đấu tranh để được thừa nhận” (struggle for recognition), tương đuơng với quan điểm “đấu tranh giai cấp” trong hệ thống Mác-xít. Sự “được thừa nhận” ở đây là đuợc thừa nhận với tư cách một con người, ít ra là bình đẳng với những người khác trong xã hội. Người tiền sử nào tự nhận thức ra mình như một cá nhân trong cộng đồng, và đấu tranh để đồng loại “thừa nhận” mình như một cá nhân, thì đó chính là Con người Đầu tiên và cũng là thời điểm Lịch sử bắt đầu. Theo Hegel, các cuộc cách mạng hay xung đột trong lịch sử đều là các cuộc “đầu tranh để đuợc thừa nhận.” Hegel cho rằng xã hội Tự do (Liberal) là giai đoạn cao nhất trong lịch sử của con người, vì xã hội ấy cho phép tất cả các cá nhân đuợc khẳng định mình, và do đó đuợc thừa nhận. Luu ý rằng, Mác đã đi theo phương pháp biện chứng lịch sử tương tự Hegel, nhưng khác về nội dung của “động lực lịch sử,” nên ông có kết luận tương tự Hegel về sự tồn tại của một giai đoạn lịch sử cuối cùng của nhân loại, nhưng khác với Hegel, ông cho rằng giai đoạn đó là giai đoạn Cộng sản.

Cuốn sách của Fukuyama không đơn giản là sự mở rộng bài báo năm 1989, mà là sự phát triển và diễn giải quan điểm lịch sử của ông trước những phê phán và cách hiểu (mà ông cho là sai lầm) về bài báo ấy. Cuốn sách mang tham vọng diễn giải lại Lịch sử lâu dài của nhân loại từ Con người Đầu tiên cho đến Con người Cuối cùng. Sách viết mạch lạc, sống động, văn phong uyển chuyển, hấp dẫn, hướng tới quảng đại độc giả chứ không phải các nhà chuyên môn. Cuốn sách đã từng là một cuốn international bestseller.

Ở Việt Nam, nếu cuốn sách đuợc dịch và xuất bản nó sẽ là một tài liệu tham khảo quý báu và cần thiết. Cuốn sách mang tính “khai sáng” ít nhất theo hai nghĩa. Thứ nhất, nó cho độc giả thấy rằng trong dòng chảy tư tưởng của nhân loại cũng có những hệ thống quyết định luận lịch sử mạnh mẽ và duy lý không kém gì chủ nghĩa Mác, nhưng có kết luận hoàn toàn khác về tương lai của nhân loại, với giai đoạn tột cùng là dân chủ tự do chứ không phải chủ nghĩa cộng sản. Thứ hai, với kiến thức triết học-chính trị giàu có và phong phú của tác giả, cuốn sách có thể sẽ gợi cảm hứng mạnh mẽ (hoặc ở mức độ thấp hơn, gợi trí tò mò) cho độc giả về các triết gia chính trị trong dòng chảy lâu đời của phuơng Tây, từ Plato đến Hobbes, Locke, Hume cho đến Hegel, Nieztches, Kojeve, v.v… cùng những nguyên lý về giá trị con người căn bản mà họ phụng thờ

The End of History? (Vietnamese version)
The End of History? (Vietnamese version) magnify
Sự cáo chung của lịch sử?

Francis Fukuyama, The National Interest, Mùa Hè 1989
(bản dịch còn dang dở của tôi, 2006)

Khi theo dõi dòng sự kiện trong quãng một thập niên vừa qua, ta khó tránh khỏi cảm thấy một cái gì đó rất căn bản đã diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm vừa qua đã chứng kiến biết bao bài viết bình luận về sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh, và về cái thực tế rằng “hoà bình” đã tới với nhiều vùng trên thế giới. Đa số các phân tích này đều thiếu một khuôn khổ lý thuyết rộng lớn hơn để phân biệt cái gì là bản chất và cái gì là vô tình hay ngẫu nhiên trong lịch sử thế giới, và vì thế có thể thấy trước là đều hời hợt. Nếu ông Gorbachev bị tống khỏi Điện Kremlin hay một vị Đại giáo chủ (Ayatollah) tuyên bố về thời đại hoàng kim đang mở ra cho một thủ đô điêu tàn xứ Trung Đông, thì cũng những nhà bình luận ấy hẳn sẽ bám theo đó mà tuyên ngôn về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới.

Thế nhưng, tất cả những người này đều cảm thấy mơ hồ rằng có một quá trình nào đó to lớn hơn đang vận động, một quá trình tạo ra mối liên kết và trật tự cho những sự kiện nổi bật hàng ngày. Thế kỷ XX chứng kiến thế giới các nước phát triển sa vào một cơn bộc phát bạo lực vì tư tưởng hệ, khi chủ nghĩa tự do bước vào cuộc đấu, trước tiên với tàn dư của chủ nghĩa chuyên chế, rồi thì chủ nghĩa bôn-xê-vích và chủ nghĩa phát xít, và cuối cùng là một chủ nghĩa Mác được cập nhật, mà nó đã đe doạ dẫn tới ngày tận thế cuối cùng với một cuộc chiến hạt nhân. Nhưng cái thế kỷ khởi đầu đầy tự tin vào khúc khải hoàn sau cuối của nền dân chủ tự do phương Tây, vào lúc khép lại, dường như đang lượn trọn một vòng tới điểm mà nó đã bắt đầu: không phải tới điểm “cáo chung của tư tưởng hệ” hay đồng quy của chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, như được dự đoán trước kia, mà tới sự chiến thắng hào hùng của chủ nghĩa tự do về chính trị và kinh tế.

Khúc khải hoàn lừng lẫy của phương Tây, của ý tưởng phương Tây, thấy rõ ràng trước hết là qua sự suy kiệt tuyệt đối của các hệ thống khác đã từng tồn tại song hành cùng chủ nghĩa tự do phương Tây. Trong thập kỷ vừa qua, đã có những thay đổi hoàn toàn đúng đắn trong môi trường trí thức của hai nước cộng sản lớn nhất thế giới, và những khởi đầu của các phong trào cải cách to lớn tại cả hai nước này. Nhưng hiện tượng này vượt ra ngoài khuôn khổ chính trị cấp cao, và còn có thể thấy qua sự lan toả không cưỡng lại được của văn hoá tiêu thụ phương Tây trong những bối cảnh rất đa dạng, như thị trường của nông dân và những bộ TV màu có mặt khắp nơi ở Trung Quốc, các quán ăn văn phòng và những của hàng may mặc mở ra trong năm ngoái ở Moscow, nhạc Beethoven xâm nhập các cửa hàng băng đĩa Nhật Bản, và nhạc rốc chơi tưng bừng ở những nơi như Prague, Rangoon, và Tehran.

Những gì chúng ta đang mục kích không chỉ đơn thuần là sự cáo chung của cuộc Chiến tranh Lạnh, hay là diễn tiến của một giai đoạn đặc biệt thời lịch sử hậu chiến, mà là sự cáo chung của lịch sử hiểu theo nghĩa: đó là điểm cuối cùng trong sự tiến hoá tư tưởng hệ của nhân loại và sự phổ quát hoá nền dân chủ tự do phương Tây như là hình thức cuối cùng của các chính quyền loài người. Nói như thế không có nghĩa là sẽ không còn các sự kiện để điền vào những báo cáo thường niên về quan hệ quốc tế của tờ Foreign Affairs, bởi vì chiến thắng của chủ nghĩa tự do mới chỉ diễn ra trên lãnh địa tư tưởng và ý thức, mà vẫn còn chưa hoàn thành trong thế giới thực hay thế giới vật chất. Nhưng có những lý do vững chãi để tin rằng đó sẽ là cái lý tưởng thống trị thế giới vật chất trong dài hạn. Để hiểu vì sao lại thế, trước hết chúng ta phải xem xét một số vấn đề lý thuyết liên quan đến bản chất của sự thay đổi lịch sử.

I

Ý niệm về sự cáo chung lịch sử không phải là một sáng tạo mới. Người tuyên truyền nổi tiếng nhất cho nó là Karl Marx, người tin rằng hướng đi của sự phát triển lịch sử là một hướng đi có mục đích được xác định bởi sự tác động qua lại giữa các lực lượng vật chất, và sẽ đi tới điểm cáo chung chỉ khi nó đạt tới một chế độ utopia cộng sản chủ nghĩa, và khi ấy mọi mâu thuẫn trước đó đều được giải quyết. Nhưng khái niệm lịch sử như là một quá trình biện chứng với một khởi đầu, trung gian, và kết thúc lại được Marx vay mượn từ vị tiền bối vĩ đại người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel.

Không biết là tốt hay xấu, nhưng một phần lớn trong di sản duy sử luận (historicism) của Hegel đã đi vào hành trang trí thức của chúng ta ngày nay. Ý niệm rằng loài người đã trải qua một chuỗi các giai đoạn ý thức nguyên thuỷ trên con đường tiến hoá đến ngày hôm nay, và rằng các giai đoạn này tương ứng với mỗi hình thức tổ chức xã hội, như các xã hội bộ lạc, chủ nô, thần quyền và cuối cùng là bình quân dân chủ, đã trở thành các hình thức không thể thiếu trong hiểu biết của chúng ta về loài người. Hegel là triết gia đầu tiên sử dụng ngôn ngữ của khoa học xã hội hiện đại, mà theo ông con người chỉ là sản phẩm của môi trường xã hội và lịch sử cụ thể xung quanh anh ta, và không phải một tập hợp ít hay nhiều các thuộc tính “tự nhiên,” như các lý thuyết gia về quyền tự nhiên (natural right) trước đó thường chủ trương. Sự làm chủ và chuyển hoá môi trường tự nhiên của con người thông qua việc áp dụng khoa học và công nghệ về nguồn gốc không phải là một khái niệm Mác-xít, mà là một khái niệm của Hegel. Không giống như các nhà duy sử luận sau này, mà tương đối luận lịch sử (historical relativism) của họ thoái hoá thành tương đối luận không một lời giải thích, Hegel tin rằng lịch sử lên đến đỉnh điểm vào một thời khắc tuyệt đối – thời khắc tại đó một hình thức xã hội và nhà nước duy lý, tột cùng dành chiến thắng.

Thật không may cho Hegel là người ta chủ yếu biết đến ông như vị tiền bối của Marx, và thật không may cho chúng ta là rất ít trong chúng ta quen thuộc với các tác phẩm của Hegel một cách trực tiếp, mà chỉ có thể nhìn nó qua lăng kính của chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, tại Pháp, đã có một nỗ lực cứu vãn Hegel khỏi những diễn giải mác-xít về ông, và phục hồi ông như một nhà triết học sáng suốt nhất khi nói về thời đại chúng ta. Trong số các nhà diễn giải Hegel ở Pháp, người vĩ đại nhất chắc chắn là Alexandre Kojève, một người Nga nhập cư xuất chúng, đã thuyết giảng một loạt sê-mi-na có ảnh hưởng lớn lao ở Paris trong những năm 1930 tại Trường Ecole Practique des Hautes Etudes [1]. Mặc dù không nổi tiếng lắm ở Mỹ , Kojève lại có ảnh hưởng to lớn trong đời sống tri thức ở châu Âu. Trong số các học trò của ông, có những người sẽ trở thành ngôi sao rực sáng trong tương lai như Jean-Paul Sartre về cánh Tả hay Raymond Aron bên cánh Hữu. Chủ nghĩa hiện sinh sau Thế chiến II vay mượn rất nhiều phạm trù cơ bản từ Hegel thông qua Kojève.

Kojève đã nỗ lực phục sinh Hegel của Hiện tượng học Tinh thần, Hegel người tuyên bố lịch sử đã cáo chung vào năm 1806. Bởi vì ngay từ khi ấy Hegel đã nhìn thấy trong chiến thắng của Napoleon trước vương triều Phổ tại trận Jena khúc khải hoàn của các lý tưởng Cách mạng Pháp, và sự phổ quát hoá đang tới gần của cái nhà nước đã kết hợp các nguyên lý tự do và bình đẳng với nhau. Kojève, trước thực tế của những sự kiện hỗn loạn xảy ra một thế kỷ rưỡi sau đó, không hề từ khước Hegel, mà nhất quyết cho rằng Hegel đã đúng về bản chất [2]. Trận Jena đánh dấu sự cáo chung của lịch sử bởi vì đó là thời điểm đội tiên phong của nhân loại (một thuật ngữ khá quen thuộc với những người mác-xít) biến những nguyên lý của Cách mạng Pháp thành hiện thực. Dù còn rất nhiều việc phải làm sau năm 1806 — loại bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ, mở rộng quyền bầu cử tới người lao động, phụ nữ, người da đen và các chủng thiểu số khác, v.v… — nhưng các nguyên lý cơ bản của nhà nước dân chủ tự do đã đạt tới đỉnh cao của nó. Hai cuộc thế chiến trong thế kỷ này cùng những cuộc cách mạng và nổi dậy theo sau chúng chỉ đơn thuần là hiệu ứng mở rộng những nguyên lý này về không gian, để đưa những miền đất khác nhau trong nền văn minh nhân loại tiến lên tầm mức của những tiền đồn tiến bộ nhất, đồng thời thúc đẩy những xã hội ở Châu Âu và Bắc Mỹ vốn là đội tiên phong của nền văn minh thực thi chủ nghĩa tự do của họ một cách đầy đủ hơn nữa mà thôi.

Cái nhà nước trỗi dậy vào lúc cáo chung của lịch sử là tự do trong chừng mực nó thừa nhận và bảo vệ quyền tự do phổ quát của con người qua một hệ thống luật pháp, là dân chủ trong chừng mừng nó tồn tại với sự ưng thuận của những người bị trị. Đối với Kojève, cái gọi là “nhà nước nhất thể phổ quát” [có thể dịch là “nhà nước đại đồng” – như một số người gợi ý. ND] tìm thấy hiện thân sống động của nó tại các nước Tây Âu thời hậu chiến — chính xác là những nhà nước mềm dẻo, thịnh vượng, tự thỏa mãn, hướng nội, độ lượng, mà dự án vĩ đại nhất của chúng không gì hào hùng hơn là việc sáng lập khối Thị trường Chung [3]. Nhưng điều này đã từng chỉ là niềm kỳ vọng. Bởi vì lịch sử loài người và cuộc xung đột để xác định nên nó dựa trên tồn tại của các “mâu thuẫn”: việc kiếm tìm sự thừa nhận lẫn nhau của con người nguyên thuỷ, biện chứng của ông chủ và nô lệ, sự chuyển hoá và làm chủ thiên nhiên, cuộc đấu tranh cho việc thừa nhận phổ quát pháp quyền, và sự phân đôi giữa người vô sản và nhà tư bản. Nhưng trong nhà nước nhất thể phổ quát, tất cả các mâu thuẫn trước đó được giải quyết và toàn bộ nhu cầu của con người được thoả mãn. Không còn cuộc đấu tranh hay xung đột về những vấn đề “lớn”, và do đó không còn cần những vị tướng hay quan chức; cái còn lại chỉ đơn thuần là các hoạt động kinh tế. Và thực sự thì cuộc đời của Kojève nhất quán với những gì ông rao giảng. Tin rằng sẽ không còn việc cho các triết gia, bởi vì Hegel (được hiểu một cách đúng đắn) đã đạt tới tri thức tuyệt đối rồi, nên Kojève từ bỏ việc dạy học sau khi chiến tranh kết thúc và dành phần đời còn lại của mình làm việc như một viên chức trong Cộng đồng Kinh tế Châu Âu cho đến khi ông mất năm 1968.

Đối với những người cùng thời với ông vào giữa thế kỷ [XX], lời tuyên bố của Kojève về sự cáo chung của lịch sử chắc hẳn phải giống thứ chủ nghĩa duy ngã kỳ cục điển hình của một anh trí thức Pháp, như đã xuất hiện khi Thế chiến II đang dày xéo nhân loại và vào thời cực điểm của cuộc Chiến tranh Lạnh. Để thấu hiểu vì sao Kojève đã có thể táo bạo kiên trường đến thế trong việc xác quyết rằng lịch sử đã cáo chung, trước tiên chúng ta phải hiểu ý nghĩa của nó trong chủ nghĩa duy tâm Hegel.

II

Đối với Hegel, những mâu thuẫn thúc đẩy lịch sử trước hết nằm trong địa hạt ý thức con người, tức là, ở tầm mức tư tưởng (4) – không phải các dự thảo cho năm bầu cử phổ thông của các chính trị gia Mỹ, mà là những tư tưởng theo nghĩa là những thế giới quan được thừa nhận rộng rãi, có thể được hiểu rõ nhất dưới cụm từ tư tưởng hệ. Tư tưởng hệ theo nghĩa này không chỉ bị giới hạn trong các học thuyết chính trị rõ ràng và phổ thông như ta thường gán cho cụm từ này, mà còn có thể bao hàm cả tôn giáo, văn hoá, và phức hệ giá trị đạo đức nằm dưới bất cứ xã hội nào.

Quan điểm của Hegel về mối quan hệ giữa địa hạt tinh thần và thế giới vật chất hay thế giới thực cực kỳ phức tạp, bắt đầu với thực tế rằng đối với ông sự phân biệt giữa hai thế giới chỉ là bề ngoài mà thôi(5). Ông không tin rằng thế giới thực là tương thích hay có thể làm cho tương thích với các định kiến mang tính tư tưởng hệ của các giáo sư triết học theo bất kỳ cách thức dễ dãi nào, hay rằng thế giới “vật chất” không thể vươn tới thế giới tinh thần. Thực sự thì Hegel vị giáo sư tạm thời phải thôi việc vì một sự kiện hết sức vật chất, đó là trận Jena. Nhưng dù tác phẩm hay ý nghĩ của Hegel có thể bị cắt ngang vì một viên đạn từ thế giới vật chất, thì bàn tay bóp cò khẩu súng lại đến lượt nó chịu sự thúc đẩy bởi những tư tưởng tự do và bình đẳng đã định hướng cho cuộc Cách mạng Pháp.

Đối với Hegel, mọi hành vi con người trong thế giới vật chất, và do đó là lịch sử nhân loại, bắt nguồn từ trạng thái ý thức trước đó – một ý tưởng tương tự như quan điểm được thể hiện về sau bởi John Maynard Keynes khi ông nói rằng quan điểm của các nhà chính trị thường bắt nguồn từ các nhà kinh tế đã quá cố hay những ông học giả nào đó từ thế hệ trước. Cái ý thức này có thể không hiển hiện rõ ràng và tự nhận biết, như các học thuyết chính trị hiện đại, mà thường thể hiện dưới hình thức tôn giáo hay những thói quen đạo đức hoặc văn hoá bình thường. Thế nhưng lĩnh vực ý thức này trong dài hạn nhất định sẽ biểu lộ rõ ràng trong thế giới vật chất, mà thực chất là tạo ra thế giới vật chất theo chính hình tượng của nó. Ý thức là nguyên nhân chứ không phải kết quả, và có thể phát triển độc lập với thế giới vật chất, do đó cái thông điệp ẩn thực sự nằm dưới mớ bòng bong hiển hiện các sự kiện đương thời là lịch sử của tư tưởng hệ.

Chủ nghĩa duy tâm của Hegel đã bị đối xử khá tàn tệ dưới tay các nhà tư tưởng sau ông. Marx đã đảo ngược hoàn toàn trật tự của tinh thần và vật chật, chuyển đổi toàn bộ lĩnh vực ý thức – tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá, và bản thân triết học, thành một “thượng tầng kiến trúc,” cái hoàn toàn bị quyết định bởi phương thức sản xuất vật chất đương thời. Nhưng một di sản đáng buồn khác của chủ nghĩa Mác là cái khunh hướng chúng ta co về những kiến giải duy vật chủ nghĩa hay vị lợi về các hiện tượng lịch sử và chính trị, cùng thái độ bất đắc dĩ của chúng ta khi phải tin vào quyền năng độc lập của tư tưởng. Một ví dụ gần đây về điều này là cuốn Sự hưng vong của các đại cường (The Rise and Fall of the Great Powers) thành công vang dội của Paul Kennedy, mà trong đó nó quy kết sự suy vong của các đại cường đơn thuần bắt nguồn từ sự bành trướng quá mức về kinh tế. Hiển nhiên là, điều này đúng ở một mức độ nào đó: một đế quốc mà nền kinh tế của nó chỉ vừa hơn mức sinh tồn không thể làm phá sản ngân khố của nó một cách vô hạn định đuợc. Nhưng liệu một xã hội công nghiệp hiện có sức sản suất rất cao sẽ lựa chọn tiêu dùng 3 hay 7 phần trăm thu nhập quốc dân (GNP) cho quốc phòng lại hoàn toàn là vấn đề của những ưu tiên chính trị trong xã hội ấy, mà sự ưu tiên này đến lượt nó lại được quyết định trong lĩnh vực ý thức.

Khuynh hướng duy vật chủ nghĩa trong tư tưởng hiện đại không chỉ là đặc điểm của những người theo phe Tả nhiệt thành với chủ nghĩa Mác, mà còn thấy ở nhiều người chống chủ nghĩa Mác sôi nổi. Thật vậy, về cánh hữu có cái mà ta có thể gọi là trường phái Tạp chí Phố Uôn (Wall Street Journal) duy vật tất định luận (deterministic materialism), là trường phái tối giản tầm quan trọng của tư tưởng hệ cùng văn hoá, và coi con người về căn bản là cá nhân duy lý, tối đa hoá lợi nhuận. Chính mô hình cá nhân này cùng với mưu cầu động lực vật chất của anh ta được ấn định như là nền tảng cho đời sống kinh tế trong các sách giáo khoa kinh tế học (6). Một ví dụ nho nhỏ sẽ minh hoạ cho đặc điểm bất ổn của quan điểm duy vật chủ nghĩa kiểu này.

Max Weber mở đầu cuốn sách nổi tiếng của ông, Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism), bằng việc lưu ý thành tựu kinh tế khác nhau giữa các cộng đồng Tin lành và Công giáo trên khắp châu Âu và nước Mỹ, được gói gọn trong câu thành ngữ rằng người Tin lành thì ăn ngon còn người Công giáo thì ngủ ngon. Weber nhận xét rằng theo bất cứ học thuyết kinh tế nào coi con người là kẻ duy lý tối đa hoá lợi nhuận, thì tăng một chút tiền công sẽ làm tăng năng suất lao động. Nhưng trên thực tế, trong nhiều cộng đồng nông dân truyền thống, tăng tiền công lại có hiệu ứng ngược lại là làm giảm năng suất lao động: khi tiền công cao hơn, một anh nông dân đã quen với tiền công 2,5 mác một ngày nhận ra rằng anh ta có thể kiếm được cùng số tiền ấy dù có làm việc ít đi, và thế là liền làm ít đi vì anh ta thích được nghỉ ngơi hơn là có thêm thu nhập. Sự lựa chọn giữa nghỉ ngơi và thua nhập, hay giữa cuộc sống quân nhân của các chiến binh thành Sparta với sự giàu có của những thương gia thành Athena, hay thậm chí giữa cuộc sống khổ hạnh của các doanh nhân tư bản chủ nghĩa buổi sơ kỳ với cuộc sống của các vị quý tộc nhàn rỗi truyền thống, không thể nào giải thích được bằng sự tác động của các lực lượng vật chất phi nhân tính, mà dễ dàng hơn nhiều nếu nhìn nó từ lĩnh vực ý thức – cái mà ở đây chúng ta đang đề cập một cách rộng lớn như là tư tưởng hệ. Và quả thực, một mệnh đề trung tâm trong tác phẩm của Weber là chứng minh rằng, đối lập với Marx, phương thức sản xuất vật chất, không những chẳng phải là “nền tảng”, mà chính là “thượng tầng kiến trúc” mà cội rễ nằm trong tôn giáo và văn hoá, và rằng để hiểu được sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản hiện đại và các động cơ lợi nhuân, chúng ta phải nghiên cứu cái khởi nguyên của chúng trong lĩnh vực tinh thần.

Nếu chúng ta nhìn quanh khắp thế giới đương đại, sự nghèo nàn của tất cả các lý thuyết duy vật chủ nghĩa về phát triển kinh tế đều quá rõ ràng. Trường phái Tạp chí Phố Uôn về duy vật tất định luận thường lấy sự thành công kinh tế rực rỡ của châu Á trong mấy thập kỷ qua làm minh chứng cho tính ưu trội của kinh tế thị trường tự do, với hàm ý rằng mọi xã hội sẽ chứng kiến sự phát triển tương tự nếu họ đơn thuần cho phép dân chúng theo đuổi mối quan tâm riêng về vật chất một cách tự do. Tất nhiên là thị trường tự do và chế độ chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết cần cho tăng trưởng kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng cũng rõ ràng di sản văn hoá của các xã hội viễn đông ấy, quan niệm đạo đức về công việc, về sự cần kiệm và về gia đình, một di sản tôn giáo không thiết đặt rào cản lên một số hình thức của hành vi kinh tế, như thấy ở đạo Hồi chẳng hạn, cùng với những phẩm chất đạo đức đã bám rễ rất sâu, đều là những nhân tố có khả năng giải thích không kém phần thuyết phục thành tựu kinh tế của họ.[7] Thế nhưng sức nặng tri thức của chủ nghĩa duy vật lớn đến nỗi, không có một lý thuyết phát triển kinh tế đương đại đáng kể nào xem xét ý thức và văn hóa một cách nghiêm túc như là một ma trận từ đó định hình nên hành vi kinh tế.

Thất bại trong việc hiểu rằng cội rễ của hành vi kinh tế nằm trong lãnh địa tinh thần và văn hoá dẫn đến sai lầm chung là gán các nguyên nhân vật chất cho các hiện tượng mà về bản chất có căn bản là tinh thần. Ví dụ, ở phương Tây đa phần đều lý giải các phong trào cải cách đầu tiên ở Trung Quốc rồi gần đây nhất là ở Liên Xô như là thắng lợi của vật chất đối với tinh thần – nghĩa là, nhận thức rằng các động lực tư tưởng hệ không thể thay thế động lực vật chất trong việc kích thích một nền kinh tế hiện đại có sức sản xuất cao, và rằng nếu anh muốn giàu có thì anh phải viện tới những thể thức hèn kém của tính tư lợi. Thế nhưng những vết rạn rất sâu của các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã hiển hiện, đối với những ai muốn nhìn vào, từ 30 đến 40 năm nay rồi. Vì sao các nước này lại từ bỏ chế độ kế hoạch hoá vào thập kỷ 1980? Câu trả lời nhất định phải được tìm từ ý thức của tầng lớp tinh hoa và các nhà lãnh đạo những nước ấy, những người đã quyết định chọn cuộc sống giàu có và mạo hiểm của người “Tin lành” thay vì đi theo con đường nghèo và yên ổn của người “Công giáo”.8 Sự thay đổi không phải đến một cách tất yếu từ các điều kiện vật chất khi cả hai nước này ở đêm trước của cải cách, mà trái lại, là kết quả của sự chiến thắng một tư tưởng này đối với một tư tưởng kia.[9]

Đối với Kojève, cũng như với mọi người theo phái Hegel chân chính, thấu hiểu các quá trình nền tảng của lịch sử đòi hỏi sự thấu hiểu những phát triển trong lĩnh vực ý thức hay tư tưởng, bởi vì ý thức xét cho cùng sẽ tái tạo thế giới vật chất theo chính hình ảnh của nó. Nói lịch sử đã cáo chung vào năm 1806 nghĩa là nói sự tiến hoá tư tưởng hệ của loài người đã chấm dứt với những lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp hay Mỹ. Dù một số chế độ trong thế giới thực có thể còn chưa thực thi những lý tưởng này một cách đầy đủ, thì chân lý lý thuyết của chúng là tuyệt đối và không thể tiến thêm được nữa. Do đó, đối với Kojève không có gì đặc biệt khi ý thức của thế hệ người châu Âu sau thế chiến II chưa được phổ quát hoá ra khắp thế giới; nếu sự phát triển tư tưởng hệ trên thực tế đã chấm dứt, thì nhà nước nhất thể đã ca khúc khải hoàn trên toàn thế giới vật chất rồi.

Tôi không có đủ chỗ cũng như, phải nói thẳng ra, không đủ khả năng để bảo vệ cho sự uyên áo thâm sâu trong nhãn quan duy tâm cấp tiến của Hegel. Vấn đề không phải là liệu hệ thống của Hegel có đúng hay không, mà là liệu tầm nhìn của ông có hé mở được hết cái bản chất có vấn đề của rất nhiều cách kiến giải duy vật mà chúng ta vẫn coi là một sự hiển nhiên. Điều ấy không có nghĩa là phủ nhận vai trò của các nhân tố vật chất theo đúng nghĩa của cụm từ này. Đối với một người duy tâm thành tín, xã hội loài người có thể được dựng nên từ bất cứ một tập hợp các nguyên lý mà không cần đếm xỉa gì đến mối quan hệ của chúng với thế giới vật chất. Và trên thực tế con người đã chứng minh là bản thân họ có thể vượt qua những gian khó vật chất cùng cực nhất nhân danh các tư tưởng chỉ tồn tại trong lĩnh vực tinh thần mà thôi, dù đó là sự thần thánh nơi những con bò hay trong bản chất của Thánh Ba Ngôi.[10]

Nhưng trong khi chính cái nhận thức của con người về thế giới vật chất được định hình bởi ý thức lịch sử của anh ta về nó, thế giới vật chất lại có thể đến lượt nó ảnh hưởng một cách rõ ràng đến sự tồn tại của một trạng thái ý thức nào đó. Đặc biệt, sự sung túc diệu kỳ của các nền kinh tế tự do tiến bộ và nhờ đó là nền văn hoá người tiêu dùng đa dạng đến bất tận dường như vừa thúc đẩy vừa duy trì chủ nghĩa tự do trong lĩnh vực chính trị. Tôi muốn né tránh quyết định luận duy vật, là lý thuyết cho rằng kinh tế học tự do tất yếu sản kinh ra chính trị học tự do, bởi vì tôi tin rằng cả kinh tế học lẫn chính trị học đều tiền giả định rằng có một trạng thái ý thức độc lập trước đó khiến cho chúng xuất hiện. Nhưng cái trạng thái ý thức cho phép sự phát triển của chủ nghĩa tự do dường như ổn định theo cách mà chúng ta kỳ vọng vào lúc cáo chung của lịch sử nếu nó được bảo đảm bởi sự sung túc thịnh vượng của một nền kinh tế thị trường tự do hiện đại. Chúng ta có thể tóm tắt nội dung của nhà nước nhất thể phổ quát như là một nền dân chủ trong lĩnh vực chính trị được kết hợp với sự phồn thịnh trong lĩnh vực kinh tế.

III
(…)
IV
(…)
(Đoạn III và IV chưa dịch, vì suốt từ độ ấy không có thời gian, rất mong được lượng thứ Image – nhưng tôi sẽ sớm hoàn thành thôi)
V

Việc từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin đầu tiên ở Trung Quốc rồi đến Liên Xô nói lên rằng cái chết của nó với tư cách một hệ tư tưởng sống có tầm quan trọng lịch sử thế giới. Mặc dù vẫn còn một số người thật sự thành tín rải rác ở một vài nơi như Managua, Pyongyang, hay Cambridge, Massachusetts, nhưng cái thực tế rằng không còn một nhà nước lớn nào coi hệ tư tưởng ấy là mối quan tâm hiện thời nữa, đã làm xói mòn hoàn toàn cái tham vọng đóng vai đội tiên phong trong lịch sử loài người của nó. Và cái chết của hệ tư tưởng này đồng nghĩa với tiến trình “Thị trường Chung hoá” ngày càng tăng của các mối quan hệ quốc tế, cũng như sự thu hẹp khả năng xung đột trên diện rộng giữa các nhà nước.

Điều này tự nó không hề hàm ý sự kết thúc các xung đột quốc tế. Bởi vì thế giới vào thời điểm ấy sẽ bị chia ra làm hai phần, một phần vẫn còn lịch sử và một phần là hậu lịch sử. Cuộc xung đột giữa các nhà nước còn trong lịch sử với nhau, và giữa chúng với các nhà nước đã tới điểm cáo chung của lịch sử, vẫn có thể xảy ra. Sẽ vẫn còn bạo lực dân tộc chủ nghĩa hay bạo lực sắc tộc ở mức độ cao hoặc thậm chí gia tăng, bởi vì đó là những nguyên nhân chưa được loại trừ hoàn toàn, thậm chí ngay cả trong những phần thuộc về thế giới hậu sử. Người Palestine và người Kurd, người Sikh và Tamil, người Công giáo Ai-rơ-len và người Walloon, người Armenia và Azeri, sẽ vẫn tiếp tục còn những mối bất hoà chưa giải quyết được. Điều này hàm ý rằng chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh giải phóng dân tộc sẽ vẫn là những vấn đề quan trọng trên bàn nghị sự quốc tế. Nhưng xung đột diện rộng thì đòi hỏi phải có sự tham dự của các nước lớn còn chưa thoát khỏi gọng kìm lịch sử, mà điều này thì khó xảy ra vì chính các nước ấy đang tiến tới điểm cuối của lịch sử như chúng ta thấy.

Sự cáo chung của lịch sử sẽ là một thời đại vô cùng buồn thảm. Cuộc đấu tranh để được thừa nhận, tinh thần dám mạo hiểm cả cuộc đời vì một mục tiêu trừu tượng, cuộc đấu tranh tư tưởng hệ trên diện toàn thế giới đòi hỏi sự táo bạo, lòng can đảm, trí tưởng tượng, và chủ nghĩa duy tâm, sẽ bị thay thế bằng những tính toán kinh tế, mối bận tâm bất tận giải quyết những vấn đề kỹ thuật, mối lo về môi trường, và làm sao thoả mãn nhu cầu phức tạp của người tiêu dùng. Trong giai đoạn hậu sử, sẽ không còn nghệ thuật cũng như triết học, mà chỉ còn việc chăm lo hằng đời cho toà bảo tàng lịch sử nhân loại mà thôi. Tôi tự cảm thấy trong lòng, và cũng thấy thế nơi những người quanh tôi, niềm hoài cổ da diết về thời đại khi lịch sử còn tồn tại. Nỗi niềm ấy, trên thực tế, sẽ còn tiếp tục truyền lực cho cuộc cạnh tranh và xung đột ngay cả trong thế giới hậu sử thêm một thời gian nữa. Cho dù tôi có nhận thức được tính tất yếu của nó, nhưng tôi vẫn có những cảm giác lẫn lộn khó tả vô cùng về nền văn minh được tạo nên ở châu Âu sau năm 1945, rồi những hậu duệ của nó ở Bắc Mỹ và châu Á. Có lẽ chính cái viễn cảnh buồn chán kéo dài hàng thế kỷ như thế khi lịch sử cáo chung, sẽ làm cho lịch sử một lần nữa bắt đầu.

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: