Ktetaichinh’s Blog

April 4, 2009

G20 & G2 040109

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 1:57 am
Tags: ,

Ngày 2-4, các nước thuộc G20 nhóm họp tại Anh. Trước đó, Osin được Đại sứ Anh, Mark A. G. Kent, mời với tư cách là một blogger, cùng với 2 nhà báo, Xuân Linh, Vietnamnet và Hồ Điệp, VOV, dưới sự chăm sóc chu đáo của người phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, cũng có mặt ở London và đã phỏng vấn ông Jack Straw, Bộ trưởng cao cấp của Chính phủ Anh. Ông Jack Straw nổi tiếng như là một chính khách quốc tế khi ông đóng vai trò Bộ trưởng Ngoại giao của Anh; hiện nay, ông đang là Bộ trưởng Tư pháp. Sau đây là phần phỏng vấn của Osin.

Thưa ông, chúng ta có thể chờ đợi gì ở London G20 Summit?

Đó là sự thỏa thuận tốt hơn nữa giữa những nền kinh tế lớn của thế giới nhằm giải quyết sự đình trệ kinh tế hiện nay. Sự đình trệ này được gây ra bởi hiện tượng sụp đổ của sự tin tưởng vào hệ thống ngân hàng quốc tế trên toàn thế giới. Do đó, nó chỉ có thể được thay đổi bởi những chỉ đạo ở tầm mức quốc gia. Chúng ta đã thấy có những chỉ đạo như thế. Đó là điều tốt, nhưng mục đích của hội nghị này là đạt đến sự chỉ đạo phối hợp nhằm mưu lợi cho toàn thế giới, bất cứ nơi nào, lục địa nào.

Đấy là sự khác biệt với khủng hoảng trong những năm 30?

Năm 1930, khi đối đầu với cuộc đình trệ kinh tế ở tầm mức này, một số chính sách tương tự đã được đưa ra bởi các nền kinh tế trọng yếu của thế giới lúc đó. Nhưng sai lầm là, khi lần lượt từng quốc gia một đóng cửa, chờ đợi những biện pháp bảo trợ và làm tình hình trở nên tồi tệ hơn, gây nên những căng thẳng giữa các quốc gia, dẫn đến chiến tranh Thế giới Lần thứ II. Chúng ta muốn học bài học đó.

Nói là G20 Summit, nhưng có vẻ như cuộc gặp được chờ đợi nhất ở London là giữa ông Obama và Hồ Cẩm Đào?

Tôi nghĩ việc hai ông Hồ (Cẩm Đào) và Obama gặp nhau là một điều tốt và chắc chắn rằng nếu chúng ta không có sự nhập cuộc của Trung Quốc và Mỹ thì các sáng kiến quốc tế sẽ rất giới hạn.

Chính vì thế, nhiều nhà quan sát nói, ở cuộc gặp này, G20 nên gọi là G2, ông nghĩ gì khi ý tưởng G2 trở thành sự thật?

Tôi không nghĩ là có một nhóm gọi là G2, đấy đơn giản chỉ là quan hệ song phương. Trong thời chiến tranh lạnh, đã có nhóm G2, giữa Mỹ và Liên Xô. Nhưng đương nhiên, đã có nhiều quốc gia khác có vai trò tháo gỡ những căng thẳng này. G20 hội tụ những nền kinh tế trọng yếu và tất cả những quốc gia khác phục thuộc vào sự tồn vong của chúng. Đừng quên rằng Trung Quốc và Mỹ không chỉ giao dịch thương mại với nhau mà còn với các quốc gia khác.

Những động thái gần đây cho thấy người Mỹ đang tập trung cho mối quan hệ với người Trung Hoa?

Đó là điều tốt. Kinh tế Mỹ và Trung Quốc phụ thuộc lẫn nhau, nếu chúng ta nhìn vào quan hệ mậu dịch của Trung Quốc và Mỹ. Trung Quốc sở hữu một lượng dự trữ tiền tệ nước ngoài lớn bằng đồng đô-la. Do đó quyền lợi trực tiếp của Trung Quốc gắn liền với sự lành mạnh của nền kinh tế Mỹ.

Ở đây, thưa ông, không chỉ về kinh tế?

Vâng, có những quyền lợi khác nữa.

Lịch sử, đặc biệt là kể từ sau năm 1972, dạy chúng ta bài học, khi người Mỹ và Trung Quốc bắt tay với nhau, quyền lợi của các quốc gia nhỏ có thể bị bỏ rơi và thường thì các quốc gia có liên quan trong khu vực có thể sẽ phải trả giá đắt. Ông có quan tâm về điều đó?

Điều tôi đặc biệt quan tâm là sự đối xử bình đẳng và điều tôi muốn nói là VN không phải là một quốc gia nhỏ. Việt Nam có 86 triệu dân, lớn hơn Anh Quốc, 60 triệu.

Về dân số thì, thưa ông…?

Tôi hiểu. Đương nhiên, chúng ta quan tâm đến quyền lợi của những quốc gia có dân số vừa như VN và Anh Quốc và làm sao để những quốc gia nhỏ cũng không bị thua thiệt, bị lấn ép. Điều này quan trọng không những trên phương diện đạo đức mà còn quan trọng về chiến lược và sự ổn định chính trị. Chúng ta có sự bất ổn chính trị ở những nước nhỏ, cứ nhìn Đông Timor, với rất ít dân số, nhưng đã làm đổ nát cả khu vực. Hay nhìn Bắc Ireland với 1.5 triệu người nhưng là một ám ảnh lớn của chúng tôi.

Thưa, thế giới từng thấy ông với bà Condoleeza Rice (cựu ngoại trưởng Mỹ) đã gần gũi ra sao, nay ông nghĩ gì khi thấy Dương Khiết Trì (Ngoại trưởng Trung Quốc) “chụm đầu” với bà Hillary Clinton?

(Cười) Tôi không thể nói thay cho họ. Nhưng chúng ta biết Bộ trưởng Ngoại giao và Tổng thống Mỹ đang tạo những mối quan hệ ưu tiên, quan trọng cho họ và quan trọng cho cả chúng tôi. Điều mà đôi khi người ta thường quên đi ở Âu Châu là Mỹ có hai bờ biển, Tây và Đông. Trong giai đoạn nào đó, Âu Châu đã thống trị thế giới như một đế chế. Nhiều người nghĩ rằng thế giới bắt đầu và kết thúc ở Âu Châu, điều này không đúng vì chúng ta đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Nếu bạn là một nhà xuất khẩu lớn thì bạn phụ thuộc vào chính sách kinh tế ở các quốc gia bạn xuất khẩu đến. Đây là nguyên nhân tại sao hàng triệu triệu người ở Trung Quốc đang thất nghiệp và phải trở về quê quán của họ.

Xin hỏi một câu có thể là riêng tư, ông (40 năm trước từng chống chiến tranh Việt Nam), năm 2003, đã không đồng ý với Thủ tướng Tony Blair về chiến tranh Iraq?

Vâng, tôi đã (không đồng ý) nhưng, anh biết đấy, khi ấy tôi là Bộ trưởng Ngoại Giao nên tôi đã phải trình bày quan điểm của Chính phủ và tranh luận cho cuộc chiến tranh này ở Liên hiệp quốc và cả ở Quốc hội Anh.

Hôm nay (25-3), ông vừa trình Quốc hội dự thảo luật chống hối lộ?

Vâng, tôi có thể cho anh xem đây.

[Khi đến Việt Nam, ông dùng câu tục ngữ của người Việt “đục nước béo cò” để nói về sự minh bạch], vấn đề tham nhũng của nước Anh là gì, thưa ông?

Chúng tôi đã có luật chống hối lộ. Chúng tôi có thông luật, có luật tục (customary law). Nhưng,chúng khá phức tạp, do đó chúng tôi đã làm sáng tỏ hơn về các mức độ phạm tội này và cũng qui định tội phạm cho việc hối lộ quan chức nước ngoài. Nếu Kara (bà Phó đại sứ tại Việt Nam, có mặt trong cuộc phỏng vấn-HĐ) cố gắng để hối lộ ai đó ở Việt Nam, bà ta sẽ bị bỏ tù.

Phó thủ tướng Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng, đầu tháng Tư sẽ tới Anh trong khuôn khổ một chuyến thăm tìm hiểu về cải cách tư pháp, thưa, ông dự định sẽ chia sẻ những kinh nghiệm gì?

Tôi nghĩ rằng việc nói cho đại diện của một chính quyền nước ngoài cái họ cần làm là điều không nên và tôi không bao giờ làm thế. Tốt hơn là nên chia sẻ kinh nghiệm. Chúng tôi có hệ thống tư pháp rất độc lập và hồi chiều nay (25-3) họ đã có một tuyên bố phê phán các chính sách của tôi. Họ nói tôi hạn chế thẩm quyền và tự do của họ để tuyên phạt bất cứ bản án nào họ muốn đối với tù nhân. Họ có suy nghĩ rất độc lập. Huấn luyện về pháp lý rất quan trọng. Chúng tôi bỏ nhiều tiền cho việc huấn luyận pháp lý. Với văn hóa pháp lý cũng thế. Họ rất độc lập mà hoàn toàn công minh. Tuyệt đối không có tham nhũng. Ý tưởng hối lộ thẩm phán hoàn toàn không nghe đến, và điều này rất quan trọng đối với người dân.

Vốn xuất thân là một người cánh tả, theo ông, nhà nước pháp quyền có thể áp dụng được ở Việt Nam và Trung Quốc?

Mỗi quốc gia muốn vận hành thực sự đều phải có hệ thống pháp quyền hữu hiệu. Pháp quyền có nghĩa là mọi người trong cùng một hoàn cảnh đều có cùng một quyền hạn bất kể họ có tiền hay có bạn bè trong chính quyền. Sự bình đẳng trước pháp luật và niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp lý, một hệ thống pháp lý hữu hiệu, một hệ thống sẵn sàng thách thức những quyết định của những người có quyền, đặc biệt là các bộ trưởng. Những quyết định, hoặc sự thất bại của các bộ trưởng trong việc đưa ra quyết định, đều bị thử thách trước tòa. Những quốc gia mong muốn phát triển kinh tế đến tầm mức cao cần có hệ thống pháp quyền. Pháp quyền cũng là một bộ phận tuyệt đối thiết yếu của sự ổn định chính trị. Những quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam, nay, có thể làm điều này trong vài thập niên thay vì vài thế kỷ (như chúng tôi). Và, sự tiến triển và kết quả của nó là rất quan trọng.

Huy Đức thực hiện (cám ơn Trần Lệ Thùy, đang nghiên cứu ở Oxford, đã giúp làm công việc vất vả nhất là gỡ băng khi tôi đang ngồi trên máy bay)

Advertisements

Việt Nam phục hồi nhanh hay chậm do nội lực 040309

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 1:03 am
Tags: , ,

Cho rằng trong quý 2 tới, kinh tế Việt Nam vẫn còn gặp khó khăn, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cũng đề xuất nên tập trung đầu tư cho những khu vực tạo ra việc làm lâu dài, dù chưa hẳn có tăng trưởng ngay.

Còn nguyên những điểm yếu cơ cấu bên trong

TS Trần Đình Thiên: Tăng trưởng là chỉ tiêu dễ nhận thấy, còn tạo việc làm là mục tiêu lâu dài. Ảnh: LN

Đang có nhiều lạc quan về việc kinh tế Việt Nam sẽ thoát ra khỏi khủng hoảng nhanh hơn các nước. Theo ông, khả năng phục hồi của chúng ta đến đâu?

– Thị trường thế giới đang ảm đạm, chúng ta có thể phục hồi sớm nhưng sẽ chậm. Bởi vì, độ mở của nền kinh tế nước ta tương đối rộng, thể hiện ở giá trị xuất nhập khẩu và đầu tư. Tỉ lệ xuất khẩu của Việt Nam quá lớn so với GDP (gần 70%).

Việt Nam có thể phục hồi sớm theo nghĩa vì nền kinh tế yếu nên xuống đáy sớm.

Thế nào là đáy và khi nào gọi là rớt xuống đáy cũng tùy theo sức mạnh của một nền kinh tế. Có nước đóng cửa hoàn toàn, đáy ít. Có nước mở cửa sâu, đáy sâu. Nền kinh tế yếu, đáy sâu hơn.

Vì thế, quan trọng là phải tính từ chỗ đáy đi lên thế nào. Trong quý 2 tới, kinh tế Việt Nam có thể vẫn còn khó khăn, chưa thể phục hồi mặc dù lĩnh vực nông nghiệp có thể khởi sắc.

Tốc độ phục hồi phụ thuộc vào những yếu tố nào, thưa ông?

– Phụ thuộc vào nội lực của nền kinh tế. Hai năm vừa rồi do lạm phát và suy thoái nên nội lực đã yếu đi nhiều. Kinh tế thế giới cũng sẽ phục hồi chậm hơn vì chưa đến đáy. Nếu sang năm, kinh tế thế giới mới phục hồi như dự đoán của nhiều chuyên gia thì khi đó mới kích thích cho xuất nhập khẩu của Việt Nam được.

Khi chúng ta thoát khỏi khủng hoảng, phải lưu ý những điểm yếu cơ cấu bên trong hầu như vẫn đang còn nguyên, các vấn đề về cấu trúc lại nền kinh tế, hiệu quả đầu tư, thị trường, cấu trúc thị trường, cơ cấu doanh nghiệp, năng lực quản trị chung của đất nước.

“Đã là giải pháp kích cầu, không nên chỉ dựa vào quy tắc thông thường của ngân hàng là chưa trả nợ thì chưa cho vay. Tháo gỡ cho doanh nghiệp chính là ở chỗ này”.

Chính phủ đã xác định tăng đầu tư cho nông nghiệp, đây là khu vực quan trọng, chiếm đông đảo lao động, là khu vực rất nghèo, yếu thế.

Hiện đây cũng là vùng đệm để giảm xóc, nơi những người thất nghiệp tập trung. Không chỉ giải quyết bài toán tăng trưởng mà cần giữ được thế ổn định xã hội, nên rất cần sự ưu tiên yểm trợ.

Có ý kiến cho rằng với tốc độ sử dụng vốn và kế hoạch tín dụng hiện nay, cả năm khả năng giải ngân gói kích cầu chỉ dừng lại tối đa ở mức 6.000 tỷ đồng. Làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ sử dụng trong thời gian tới?

– Khả năng giải ngân bao nhiêu, phải có điều tra doanh nghiệp. Thực tế nhiều DN không tiếp cận được khoản vốn hỗ trợ 4% lãi suất, bởi còn tồn đọng nợ xấu, không có khả năng thế chấp dù là vay với lãi suất hỗ trợ.

Ngân hàng có thể cho vay để đảo nợ hay không? DN có thể trả dứt nợ xấu thông qua vốn vay hỗ trợ lãi suất của gói kích cầu được không? Đã là giải pháp kích cầu, không nên chỉ dựa vào quy tắc thông thường của ngân hàng là chưa trả nợ thì chưa cho vay. Tháo gỡ cho doanh nghiệp chính là ở chỗ này.

Nhiều DN không vay vì họ không có cơ may tìm ra thị trường. Việc chuyển hướng tiêu thụ vào thị trường nội địa cũng là áp lực lớn vì có sự cạnh tranh gay gắt, dồn dập trong khi DN quen làm hàng xuất khẩu lại không quen trận mạc ở nội địa.

Cẩn trọng với lạm phát

Chính phủ đang dự kiến sẽ báo cáo với Quốc hội điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế xuống còn 5%, trong khi dự báo tăng trưởng trung bình ở châu Á chỉ là 3,4%. Theo ông, nên chọn chỉ tiêu bao nhiêu để chủ động trong điều hành? Bởi vì nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng việc điều chỉnh chỉ tiêu chỉ là cách làm đẹp con số?

“Chính phủ đưa ra con số 5% có vẻ phù hợp với dự báo thế giới và thực lực, quyết tâm của mình.

Nhưng tôi cho rằng tốt nhất nên để một khoảng cách rộng hơn, khoảng từ 4 – 5%, vì tính bất định của kinh tế năm nay còn cao”.

– Lần đầu tiên có đề xuất chính thức để giảm một chỉ tiêu quan trọng nhất.

Đây là một thay đổi quan trọng trong cách điều hành. Chính phủ đưa ra con số 5% có vẻ phù hợp với dự báo thế giới và thực lực, quyết tâm của mình.

Nhưng tôi cho rằng tốt nhất nên để một khoảng cách rộng hơn, khoảng từ 4 – 5%, vì tính bất định của kinh tế năm nay còn cao. Rộng ra như vậy để dễ cho điều hành.

Sau đó, phải tính đến hàng loạt chỉ tiêu khác như tạo việc làm. Mục tiêu tạo việc làm còn phải đặt trước so với tăng trưởng. Theo công thức thì tăng trưởng 1% sẽ giải quyết được 0,34% việc làm. Nhưng đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc sẽ đem lại số việc làm tương ứng.

Vì nếu ưu tiên tăng trưởng, thì sẽ dốc sức đầu tư cho khu vực tạo ra sản lượng nhanh. Có thể tăng GDP mà chẳng tạo ra được mấy phần trăm của cải cho xã hội.

Nếu đặt vấn đề ưu tiên cho tạo việc làm thì sẽ hoàn toàn thay đổi cấu trúc mối quan hệ. Chúng ta có thể tập trung đầu tư cho những khu vực tạo ra việc làm lâu dài nhưng chưa hẳn có tăng trưởng ngay.

Mặt khác, đặt mục tiêu tạo việc làm nhiều còn để đảm bảo tính ổn định cho xã hội. Hiện nay, các chính sách hỗ trợ cho khu vực làng nghề còn chưa rõ ràng. Khu vực này đang có 5, 6 triệu lao động mất việc. Nên có một định hướng chiến lược rõ ràng cho khu vực này, không thể chỉ dựa trên các nguồn tài nguyên chiến lược không chắc chắn.

Tăng trưởng là chỉ tiêu dễ nhận thấy, còn tạo việc làm là mục tiêu lâu dài.

Chính phủ đã đề xuất nâng mức bội chi lên không quá 8%GDP. Ông có khuyến cáo gì để kiểm soát mức bội chi trong thời gian tới?

–  Thâm hụt ngân sách cao là điều không tránh khỏi. Nhiều phán đoán còn cho rằng bội chi có thể lên tới 9% – 10%. Nên thận trọng với gói kích cầu, không vì hoàn cảnh khó khăn mà thả lỏng điều kiện. Các nước chi gói kích cầu lớn nhưng cũng siết rất chặt.

Tăng mạnh chi tiêu, phát hành trái phiếu phải tính giải pháp đi kèm để kiềm chế lạm phát. Nếu tính khả năng thoát khỏi suy thoái sớm thì cũng phải tính phương án đối phó với lạm phát sớm.

Thâm hụt ngân sách và gánh nặng tăng trưởng 040309

Dù tăng thu trong mấy năm gần đây, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu

Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô đang chuẩn bị phương án bội chi ngân sách tăng lên 8% GDP để trình ra kỳ họp quốc hội vào tháng 5 tới, thay vì mức gần 5% được chấp nhận trước đây.

“Việt Nam khó có lựa chọn khác với các quốc gia trên thế giới, khi các chính phủ buộc phải tăng bội chi ngân sách nhằm chống suy thoái,” giám đốc quốc gia ADB Ayumi Konishi bình luận.

Mức bội chi này, nếu được Quốc hội thông qua, sẽ lần đầu tiên vượt qua số chi cho đầu tư phát triển ở mức 112,8 ngàn tỉ đồng trong năm nay. Tuy vậy, mức bội chi lên đến 8% GDP đang mang lại những quan ngại sâu sắc về ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn. Mức bội chi này sẽ tương đương với 144,8 ngàn tỉ đồng (khoảng 8,5 tỉ USD, với tỷ giá là 17.000 VND/USD), căn cứ trên mức bội chi đã được Quốc hội thông qua là 87,3 ngàn tỉ đồng (khoảng 5,1 tỉ USD) tương ứng với 4,82% GDP.

Như vậy, mức thâm hụt này là trầm trọng nhất trong vòng nhiều năm qua, so với các mức thâm hụt 66,2 ngàn tỉ đồng (năm 2008), 56,5 ngàn tỉ đồng (năm 2007), 48,5 ngàn tỉ đồng (năm 2006) và 40,7 ngàn tỉ đồng (năm 2005), theo các bộ Tài chính và Kế hoạch và đầu tư (xem biểu đồ).

Những thống kê trên cho thấy, thâm hụt ngân sách của năm 2009 sẽ vượt quá mức thâm hụt trung bình 5% GDP hàng năm, từ đầu thời kỳ kế hoạch 5 năm đến nay. “Đây là một tỷ lệ quá cao, dẫn đến rủi ro lớn về khả năng trả nợ trong tương lai”, một quan chức của bộ Kế hoạch và đầu tư thừa nhận.

Câu hỏi đặt ra là, vì sao phải đưa mức bội chi lên đến 8% GDP cho năm nay, và liệu nó có quá đi so với khả năng chịu đựng của nền kinh tế? “Chúng tôi thấy rằng, nếu trường hợp ta giảm chi, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là chính sách an sinh xã hội”, thứ trưởng bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp nói trên Thời báo Kinh tế Việt Nam.

Giải thích này xuất phát từ quan ngại nguồn thu ngân sách sẽ co lại do suy giảm từ các nguồn dầu thô (vốn chiếm tới 25% thu ngân sách), giãn thu thuế thu nhập cá nhân, giãn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 50% thuế VAT… Mức suy giảm của các nguồn này, theo bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh tại phiên họp giao ban của Chính phủ, sẽ vào khoảng 12.000 tỉ đồng. Điều này có nghĩa là, tổng thu cân đối ngân sách năm nay dự kiến sẽ còn 377,9 ngàn tỉ đồng, thay vì 389,9 ngàn tỉ đồng như cam kết với Quốc hội trước đây; và sẽ thấp hơn nhiều so với dự toán chi 491,3 ngàn tỉ đồng cho năm 2009.

Lý giải việc thâm hụt ngân sách luôn tăng cao, một quan chức của bộ Kế hoạch và đầu tư nói, “dù tăng thu trong mấy năm gần đây, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu”.

Thông thường, thâm hụt ngân sách được tài trợ bởi các nguồn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ. Trong động thái ủng hộ đề xuất tăng bội chi ngân sách của Chính phủ, Quốc hội dự kiến cho phép phát hành trái phiếu Chính phủ năm nay lên đến 64 ngàn tỉ đồng trong kỳ họp tháng 5 tới, tăng gần gấp đôi so với kế hoạch 36 ngàn tỉ đồng thông qua cuối năm ngoái.

Những bước đi này khiến các nhà tài trợ chính của Việt Nam e ngại. “Bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn vốn trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền, hoặc hạn chế đầu tư tư nhân, hoặc cả hai điều này; và trong trung hạn, có thể làm tăng lạm phát và gây cản trở đối với tăng trưởng”, ông Konishi, giám đốc ADB tại Việt Nam nói.

ADB cho rằng, thâm hụt ngân sách của Việt Nam, thậm chí lên tới 9,8% GDP (gần 9,3 tỉ USD) trong năm 2009. Ông Konishi cảnh báo, chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng, và nợ công tăng thêm (dự kiến 45,8% GDP năm 2009),… có thể lại khiến tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn trở lại.

Trong khi đó, ngân hàng Thế giới tỏ ra hoài nghi về chính sách tài khoá, vốn sẽ vẫn là công cụ chính sách vĩ mô quan trọng của Việt Nam. “Chính sách tài khoá hiệu quả đòi hỏi phải có nguồn thông tin đáng tin cậy về thu và chi của Chính phủ và kiểm soát tốt các dự án đầu tư công. Việt Nam còn nhiều thiếu sót về cả ba mặt này. Tính toán cân đối ngân sách của Việt Nam còn khác xa so với các chuẩn mực quốc tế”, chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới Martin Rama nhận xét trong báo cáo phát triển Việt Nam năm 2009.

Ông viết tiếp: “Việc trả nợ, duy trì tài khoản ngoại bảng và xử lý các khoản thu kết chuyển làm sai lệch tình hình ngân sách của Chính phủ. Thông tin đặc biệt yếu về các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách… Chính phủ cần chấm dứt, hoặc tạm dừng một cách có hệ thống các dự án mục tiêu không rõ ràng, thiếu vốn, hay có kết quả hoạt động kém”.

Điều chỉnh giảm GDP cần tính đến vấn đề thất nghiệp – 040209

Tại phiên họp thường kỳ tháng 3 vừa kết thúc hôm qua, 1-4, Chính phủ đã thống nhất điều chỉnh GDP năm 2009 xuống mức 5%, bội chi ngân sách không quá 8%. Đồng thời tiếp tục bổ sung thêm nhiều giải pháp kích cầu, trong đó đáng chú ý sẽ tập trung kích cầu cho khu vực nông nghiệp; tiếp tục bổ sung đối tượng được hỗ trợ lãi suất 4% và kéo dài thời gian bù lãi suất. Việc điều chỉnh này đang nhận được sự ủng hộ của các chuyên gia kinh tế.

GDP: 5%, bội chi ngân sách: Khống chế 8%!

Giải thích về việc Chính phủ trình Quốc hội chỉ tiêu bội chi ngân sách tối đa không quá 8%, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp cho biết, căn cứ vào tình hình thực tế của quý I-2009, Bộ Tài chính tính toán lại mức thu ngân sách. Hiện nay, về cơ bản Chính phủ thống nhất với phương án lấy căn cứ là giá dầu thô 45 USD/thùng, GDP tăng 5% thì bội chi ngân sách sẽ là 8%.

Điều chỉnh giảm GDP, liệu tình trạng thất nghiệp có tăng lên? (trong ảnh là cảnh công nhân thất nghiệp chờ đón xe về quê)

Ngoài ra, với việc thực hiện giãn, giảm các loại thế (thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp, VAT) cũng khiến giảm thu ngân sách lớn. Tuy nhiên, Chính phủ kiên quyết dù giảm thu cũng không giảm chi, nhất là chi cho kích cầu, an sinh xã hội, thậm chí Bộ Tài chính trình Chính phủ phải tăng chi cho an sinh xã hội. Vì vậy, bội chi sẽ phấn đấu khống chế ở mức 8%. Việc chi sẽ tính toán lại cho phù hợp hơn, giảm chi những thứ không cần thiết, ví dụ như mua ô tô.

Theo ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, bình thường bội chi đã là 5%, vì vậy trong điều kiện hiện nay, Chính phủ đề ra bội chi 8% cũng là cao. Tuy nhiên, nếu bội chi tăng thêm để vực nền kinh tế thì cũng nên sẵn sàng. Các tổ chức nước ngoài còn dự báo bội chi có thể lên đến 9%.

Vẫn theo ông Thiên, việc Chính phủ điều chỉnh GDP đồng nghĩa với việc giảm chỉ tiêu quan trọng nhất. Động thái này có hai ý nghĩa. Thứ nhất, đây là một thay đổi trong cách điều hành, theo xu hướng chung khi bị tác động từ khủng hoảng kinh tế. Thứ hai, chứng tỏ Chính phủ đã bám sát được tình hình thực tế.

Theo dự báo của các chuyên gia quốc tế, tốc độ tăng trưởng năm 2009 của Việt Nam dao động ở mức 3,5% – 4%. Vì vậy, ông Thiên cho rằng, Chính phủ đưa ra con số 5% là phù hợp với dự báo thế giới và thực lực, quyết tâm của mình. Thậm chí, nếu cần, Chính phủ có thể xác định GDP khoảng từ 4% – 5% để dễ điều hành.

Nhưng việc điều chỉnh GDP đồng nghĩa với việc phải tính đến hàng loạt mục tiêu khác, như tạo việc làm. Cứ theo công thức thì tăng trưởng 1% sẽ giải quyết được 0,34% việc làm. Vì vậy, giảm GDP kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Và đó là bài toán mà Chính phủ phải tính toán để xử lý kịp thời.

Có nên cho DN vay bù lãi suất để đảo nợ?

Xoay quanh vấn đề thực hiện việc bù lãi suất 4%, nhiều ý kiến hiện nay vẫn băn khoăn về hiệu quả thực tế. Vào thời điểm hiện tại, không ít doanh nghiệp còn tồn đọng nợ xấu, không có khả năng thế chấp để vay với lãi suất hỗ trợ. Cũng đã diễn ra hiện tượng doanh nghiệp vay bù lãi suất để dành cho việc đảo nợ.

Suy thoái kinh tế, lượng khách du lịch đến VN ít, ngành du lịch sẽ thất thu, giảm việc làmẢnh: VIỆT DŨNG

Theo quy định của Chính phủ, DN không được vay để đảo nợ nhưng cũng có nhiều ý kiến đề nghị nên cho DN vay để đảo nợ. “Doanh nghiệp có thể trả dứt nợ xấu thông qua vốn vay hỗ trợ lãi suất của gói kích cầu. Đã là giải pháp kích cầu, không nên chỉ dựa vào quy tắc của ngân hàng để nói chưa trả nợ thì chưa cho vay. Tháo gỡ cho doanh nghiệp chính là ở chỗ này. Phải vì DN hơn, không thể dùng nguyên tắc bình thường. Cần tập trung cho cứu trợ, yểm trợ khu vực DN”, ông Thiên phân tích.

Ông Thiên cũng cho rằng, hiện nay nhiều DN khó khăn không tiếp cận được nguồn vốn bù lãi suất, vì vậy Chính phủ cần phải có điều tra quá trình thực hiện. Đa số DN không vay vì họ không có cơ may thị trường, áp lực chuyển hướng tiêu thụ thị trường nội địa cũng lớn vì nhiều DN không thể chuyển hướng được sang thị trường nội địa.

DN đang cạnh tranh gay gắt vì phải dồn hàng, lại gặp hàng hóa các nước ùa vào nên rất khó khăn. Theo Thứ trưởng Bộ KH-ĐT Cao Viết Sinh, sau phiên họp Chính phủ tháng 3 này, các thành viên Chính phủ sẽ kiểm tra tình hình thực hiện giải pháp kích cầu ở địa phương để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc.

Tập trung vào nông nghiệp nông thôn – hướng đi đúng

Tại phiên họp Chính phủ vừa kết thúc, Chính phủ đã xác định sẽ tập trung cho nông nghiệp, nông thôn. Theo các chuyên gia kinh tế, đây là xác định rất đúng đắn của Chính phủ. Vì nông thôn là  khu vực xuất khẩu lớn về tôm cá, gạo cà phê, cao su, ảnh hưởng đến đời sống đông đảo người lao động. Nông thôn cũng là “vùng đệm” để giảm sốc cho những người thất nghiệp, mất việc làm. Vì thế, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn không chỉ giải quyết bài toán tăng trưởng mà giữ lại được cả thế ổn định xã hội rất căn bản.

Bình luận về niềm tin của Chính phủ khi cho rằng, quý 2 tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ khá hơn, ông Thiên tỏ ra dè dặt vì cho rằng, độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất rộng. Kinh tế nước ta phụ thuộc vào thị trường thế giới lớn (phản ánh qua tỷ lệ xuất khẩu của Việt Nam quá lớn so với GDP, chiếm gần 70%). Vì vậy, một khi thị trường thế giới đang ảm đạm thì dù nỗ lực để phục hồi sớm, Việt Nam vẫn không thể có tốc độ phát triển nhanh. Đó là chưa kể đầu tư của Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều vào thế giới; khập khẩu lớn. Ông Thiên thận trọng hơn khi cho rằng, năm 2010, kinh tế nước ta mới phục hồi và đó là thời điểm Chính phủ cần ra sức kích thích cho xuất nhập khẩu.

Hanoi’s Capital Games 020409- Currency devaluation is never a good idea, even if – especially if – the IMF tells you to do it.

Filed under: kinh tế,ngân hàng — ktetaichinh @ 12:52 am
Tags: ,

The usual currency complaint these days is that the U.S. dollar isn’t offering a sure enough anchor in stormy seas. The worst thing a developing economy can do is create even greater currency uncertainty. Yet that’s just what Vietnam is opting for now.

The State Bank of Vietnam announced last week that it will allow the dong to trade within a band of plus or minus 5% of the target dollar exchange rate, broader than the previous plus or minus 3%. The aim is to “facilitate the exchange rate to move more flexibly and fairly reflect the foreign exchange supply and demand,” the bank said in a statement.

But investment in Vietnam is declining, courtesy of the global financial crisis, and everyone expects even more depreciation. With those forces pushing the dong as low as traders can get away with, every widening of the band amounts to a depreciation. Since December 2007, Hanoi has widened the trading band five times. Each time the dong has quickly settled lower. This comes on top of a total 5% devaluation in the official mid-point rate the State Bank sets. All told, the dong has dropped 10% versus the dollar since January last year.

That may not seem like much, given events elsewhere in Asia. The Korean won has fallen 30% against the dollar in the same period. After a mid-year rally, the Taiwan dollar has fallen 11% from its peak. But depreciation has serious and often unintended side effects, which are felt most severely in small, relatively poor, developing economies. One immediate concern is inflation. Vietnam is just starting to right itself after inflation peaked at 28% last year. The latest CPI hit 11.25% for March, not as bad as last year but not good either. While some inflation can be healthy for a developing economy, artificially pumping up the dong price of goods via devaluation is the wrong way to do it.

Devaluation also risks undermining Vietnam’s nascent financial sector. Between one-fifth and one-quarter of bank loans in Vietnam are denominated in dollars; the central bank itself just issued $230 million in one-, two- and three-year dollar-denominated bonds. Continued devaluation makes those loans harder to repay for companies doing business in dong, or for a government that receives dong tax payments.

The same economic theories that sparked the Asian financial crisis of 1997-98 are once again in play. In a January report, the Harvard-backed Fulbright Economics Teaching Program based in Ho Chi Minh City argued the dong “is too strong relative to the currencies of Vietnam’s trading partners.” Because this strength makes imports cheaper and exports less profitable, “Vietnam cannot allow the real value of the [dong] to rise too high.” As for the International Monetary Fund, country representative Benedict Bingham told us in an email last week, “We have supported [Vietnam’s] move over the past 12-15 months . . . towards greater exchange rate flexibility.” He adds that this should happen “carefully” and “in the context of a sound macroeconomic policy framework.”

But this ignores the crucial role a stable exchange rate plays in encouraging investment, not to mention allowing businesses to plan and ultimately boosting growth and consumption. Currency stability will also make it possible for Vietnamese to increase their own consumption over time, a policy goal an inflationary depreciation risks thwarting.

If Hanoi wants to tinker with its economy, policy makers would be better off looking at real reforms such as further regulatory liberalization and privatization of state-owned companies. Devaluation, gradual or otherwise, isn’t the cure to what ails Vietnam.

Cho vay hỗ trợ lãi suất: Đã kém mặn mà 040109

Filed under: chính sách,ngân hàng — ktetaichinh @ 12:49 am
Tags: , , ,
(LĐ) – Đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu không nhiệt tình với vay/cho vay hỗ trợ lãi suất cả từ phía khách hàng và ngân hàng thương mại…

NHTM ngại thanh tra

Qua trao đổi, một số lãnh đạo NH và chi nhánh NH tỏ ra e ngại việc mở rộng cho vay hỗ trợ lãi suất (HTLS). Theo họ, các khoản vay HTLS ngoài việc vẫn phải thẩm định, làm đúng mọi thủ tục như một món vay bình thường lại phải luôn lo lắng vì phải chịu trách nhiệm các khoản vay được HTLS đảm bảo tuân thủ đúng đối tượng theo quy định. Nhất là khi bắt đầu đến thời gian thanh tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang chuẩn bị đi thanh tra tình hình triển khai cho vay HTLS.

Một số NH lo ngại, nếu thanh tra NHNN kết luận món vay không đúng đối tượng sẽ không được hoàn trả số tiền lãi giảm trừ từ NHNN. Tâm lý lo ngại này nặng nề hơn ở các NHTM CP. Đây cũng là một lý do tại sao tỉ trọng dư nợ cho vay HTLS ở các NHTM CP thấp. Một số NHTM CP có ý chú trọng vào triển khai cho vay lãi suất (LS) thoả thuận hơn.

Có ý kiến từ một chuyên gia NH nhận xét các NHTMCP (mà Nhà nước không nắm giữ CP chi phối) và NH nước ngoài không “mặn mà” lắm với cho vay HTLS là một phản ánh sự nhìn nhận tình hình kinh tế của họ. Họ chưa tin kinh tế VN sớm thoát khỏi khó khăn và cho rằng chính sách kích cầu qua HTLS khó đạt hiệu quả như mong đợi. Vì vậy, họ chỉ tập trung cho vay các DN có nhu cầu thật sự.

Để đảm bảo tăng tín dụng với tốc độ cao, có nguồn thu nhập, và chống lại sự cạnh tranh của đối thủ, các NH này chuyển qua đáp ứng những nhu cầu tín dụng khác một cách thái quá (ví dụ: Cho vay tiêu dùng).

Một số DN không hào hứng

Mức HTLS là 4%/năm, nhưng với thời hạn được HTLS tối đa là 8 tháng thì thực ra mức LS khách hàng được hỗ trợ trong 8 tháng chỉ là 2,66%/lãi vay thực trả. Đối với các DN vay nhiều thì mức LS được hỗ trợ này là đáng kể nhưng với nhiều DN vay ít/hoặc chưa tiêu thụ được hàng hoá thì mức giảm này cũng không nhiều ý nghĩa so với sự giảm giá hàng tồn kho theo thời gian.

TGĐ một CTCP nói: “Nếu tiêu thụ được hàng thì LS cao, DN vẫn chịu được, thậm chí có những thương vụ có thể chấp nhận vay nóng đến 20-30%/năm, miễn là khi cần được vay ngay, còn không bán được hàng thì LS có thấp cũng chẳng giúp gì”. Điều này đã được thực tế minh chứng trong mặt hàng gạo XK trong đầu quý II/2008. Khi đó, lãi vay NH đang ở mức đỉnh nhưng các DN XK không ta thán về LS mà chỉ ta thán là không có vốn để thu mua gạo XK khi giá gạo trên thị trường thế giới bước qua ngưỡng 1.000USD/tấn.

Chủ tịch HĐQT một DN XNK nói: “Đối với những DN tính toán làm ăn thận trọng thì cũng không hào hứng vay HTLS. Nếu vay để mua nguyên vật liệu sản xuất thì ai đặt hàng mà sản xuất? “Nuốt” hàng còn tồn trong kho chưa hết thì mua thêm làm gì? Còn mở rộng sản xuất, tranh thủ mua máy móc thiết bị cũng chưa cần, vì hiện nay các đối tác nước ngoài chào mời bán rất rẻ và sẵn sàng cho trả chậm 1-2 năm chỉ cần cam kết thanh toán. Do vậy, nguyên tắc của chúng tôi là bất kể cái gì không có thị trường tiêu thụ thì không vay mượn, không làm”.

Đó là chưa kể các nhà nhập khẩu nước ngoài nắm được VN đang thực hiện HTLS nên trong việc thương thảo giá họ tìm mọi cách ép giá bán xuống, nên khoản lợi do giảm chi phí từ HTLS của Nhà nước cho DN, thực chất DN cũng không được hưởng.

Bên cạnh đó, do chính sách thuế chưa chặt chẽ, hiện tượng trốn thuế còn nhiều, nên còn không ít DN sản xuất/cung ứng hàng hoá bán thì nhiều nhưng kê hoá đơn lại ít. Nếu người mua đòi hoá đơn tài chính, người bán sẽ đòi thêm 10% thuế VAT. Khi so sánh với cái mất 10% và cái được 4% HTLS (phải xuất trình hoá đơn Bộ Tài chính) thì một số DN/hộ gia đình dù thuộc đối tượng HTLS vẫn xin vay thương mại thông thường.

Nên đánh giá thực chất hiệu quả HTLS

Mặc dù một vài ý kiến quản lý nhà nước vẫn tỏ ra có phần “dị ứng” với những dư luận về hiệu quả cho vay HTLS. Nhưng cũng nên hiểu rằng kích cầu thông qua HTLS chỉ là một phần trong giải pháp tổng thể của chương trình chống suy thoái kinh tế. Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ (CSTT) trong chống suy thoái kinh tế, nhưng vị trí của CSTT trong chống lạm phát và suy thoái là rất khác nhau.

Trong chống lạm phát, nếu CSTT được thực hiện trước chính sách thắt chặt chi tiêu công thì tác dụng như một cái phanh, phanh cỗ xe kinh tế đang chạy quá nhanh. Nhưng trong chống suy thoái kinh tế, nếu CSTT được thực hiện trước xem kết quả thế nào rồi bổ sung thêm các chính sách khác/hoặc các chính sách đi kèm với CSTT được thực hiện quá trễ thì CSTT lại không đạt hiệu quả ngay như trong chống lạm phát. Việc lầm tưởng CSTT sẽ phát huy ngay tác dụng chống suy giảm kinh tế như đã từng phát huy vai trò trong chống lạm phát là một sai lầm. Nếu không ban hành hay không thực thi các chính sách khác đi kèm, sẽ làm cho CSTT mở rộng kém phát huy tác dụng.

Một chuyên gia tài chính nói: “Cần gấp rút xem xét các biện pháp phối hợp đồng bộ khác như: Vừa tiến hành kích cầu tín dụng, đồng thời sử dụng một nguồn lực thưởng cho DN trong việc giải phóng hàng tồn kho. Đây là hai giải pháp đi kèm. Giải pháp này cũng giống như khuyến khích NĐT cắt lỗ để bán CK vậy. Có giải phóng hàng tồn kho thì dòng vốn tín dụng được HTLS mới thật sự tham gia vào chu kỳ sản xuất kinh doanh mới của DN. Tránh tâm lý không dám cắt lỗ, găm hàng để có báo cáo tài chính đẹp, để rồi đến khi muốn bán thì không bán được.

>> Doanh nghiệp ngoài nhà nước vay 60%
>> Gói kích cầu của Việt Nam cần được sử dụng thông minh
>> Đánh giá hiệu quả cho vay hỗ trợ lãi suất
>> Cho vay hỗ trợ lãi suất: Không có chuyện ngân hàng hưởng lợi
>> Cho vay hỗ trợ lãi suất: Nhanh, nhưng có đạt hiệu quả?

Redrawing the landscape 040109

The Banker

It is almost impossible to generalise about the Asian infrastructure story. In a sprawling region that includes 44 economies, from the central Asia republics to the Pacific islands, it is unfeasible to compare markets such as Vietnam or Indonesia with others such as India or China in terms of levels of infrastructure development, investment or private participation. Moreover, while Asia offers a wealth of opportunities – comprising as it does of most of the world’s fastest growing economies, many in desperate need of even basic infrastructure – investment in many countries is fraught with government restrictions or legal and regulatory risk.

However, one thing is certain: nobody disputes the need for huge infrastructure spending in the region. According to most development agencies, the quantum of anticipated infrastructure spending within the wider Asian market is estimated at between $250bn and $300bn a year for the foreseeable future. It is likely that a significant proportion of this expenditure will be witnessed in the four countries – China, India, Indonesia and Vietnam – that are among the most populous, with some of the fastest forecast economic growth rates in the region, but where significant current and future bottlenecks will be experienced in both economic and social infrastructure.

Running to keep up

Rising populations, economic growth and greater discretionary spending power in many Asian countries mean that demand for energy has increased. A rule of thumb is that for every 1% increase in gross domestic product, demand for power increases by 1.5%, so governments have to constantly run to keep up with demand. At the same time, although the high export focus of many Asian countries means that investment in roads, railways, ports and airports has been identified as central to improving efficiency and promoting foreign trade flows, few governments have kept pace with growth. In Vietnam, for example, double-digit growth is being achieved in spite of the dong’s devaluation, high levels of foreign currency debt, and virtually no transportation logistics infrastructure.

“A period of high economic growth across the region has led infrastructure development rather than followed infrastructure development; consequently there is an infrastructure deficit in whichever country you choose to look at,” says Nick van Gelder, head of Asia and Middle East infrastructure funds at Macquarie in Singapore.

Western banks pull back

But a crucial question now is: where will the money come from? Alongside investment by government and multilateral entities, and loans from major Asian banks, big Western project finance houses such as BNP Paribas, Dexia, Depfa and Royal Bank of Scotland have historically played a major role in Asian infrastructure, but there are signs that the bank universe is being drastically redrawn through a combination of capital constraints and political pressure. It has quickly become clear that banks that have received significant state support are under growing pressure to focus their core lending on domestic markets. For the other banks – particularly in Europe and America – that have overstretched their balance sheets, lending patterns will be reduced. Inevitably, they will shrink their operations faster in non-core markets than in core markets.

RBS – the biggest project finance lender globally in 2008, which inherited a sizeable Asian project finance business through its now controversial ABN AMRO acquisition – has already stated that as part of its restructuring in the wake of the UK government’s part nationalisation, it will be closing its project finance business. Dexia, a major force in Asian public-private partnerships (PPP) and private finance initiatives (PFI), is reported to be closing its Australian office and selling its loan book. Others such as Depfa and DZ Bank are rumoured to be at least pulling back, if not pulling out, from the region.

“We are already seeing a number of banks retrenching project finance specialists, not because of a lack of opportunities but because of the need to refocus their business model on their home market,” says Ian Mathews, executive director and head of project finance, Asia, for ANZ Bank. “As such, we expect to see either an exodus of non-Asia-Pacific banks from the region or a marked slowdown in their appetite for new projects,” he says.

While the long gestation period of many infrastructure projects means that the real impact of such withdrawal is unlikely to be felt immediately, anecdotal evidence suggests that available liquidity is already falling and that it is getting more difficult to raise funds; especially the long-term funding on which project finance usually relies. For example, the PPP funding for Singapore’s ITE College West was closed last August. The $300S ($195.31) deal secured a 26.5-year financing via a fully hedged bank loan. The same deal would not close on those terms now, as transactions are lucky to attract five or seven-year money.

Less long-term money

“Liquidity constraints have inevitably led to a reduction in tenors. Banks are less willing and able to commit funding for long-dated assets. This has particular implications for large-scale infrastructure projects where debt tenors of more than 15 years were not uncommon previously,” says Mr Mathews.

The contraction of liquidity and tenor will have a direct impact on the projects that get under way. With the ‘go-go days’ now over, the focus is back on risk, project quality, and relationships. The projects that do get out of the starting blocks will be those where there are long-term partnerships between stakeholders and strong bank-sponsor relationships. Against the backdrop of slowing economies, a number of projects that were in the pipeline have been delayed, postponed or cancelled.

“For example, there are about half a dozen coal-fired power projects currently in development in Vietnam. If these all go ahead, they would need about $6bn of long-term debt and $3bn of equity. Clearly, in the current market environment, the commercial bank market cannot support that quantum of debt financing in Vietnam. By necessity, therefore, the result will be a phasing of projects and preferential financing for those projects developed by proven sponsors with deep relationships with commercial banks, development agencies and other key stakeholders,” says Mr Mathews.

Capital will target deals of the best quality, with strong off-take agreements and solid concessions. More risky greenfield projects with no proven track record for traffic flows or usage patterns, but which represent the lion’s share of emerging Asia’s infrastructure needs, will likely struggle the most to secure funding.

“Where capital is available, there is now a lot more scrutiny of projects and a great deal more due diligence. Capital will flow to those projects where the quality of the project and the quality of the contract surrounding concessions are assured,” says Mark Rathbone, a specialist in PPP/PFI projects and a partner in PricewaterhouseCoopers’ Asia practice. “Projects such as the better structured power deals that have very good concession-based financings in place and other similarly well structured deals will stand a better chance of attracting investment.”

Need for multilaterals

In India and China, there is a better chance that local lenders are able to fill the funding gap. In China, which boasts the second and third largest project finance houses in Asia, direct lending by Chinese institutions jumped from $120bn in December 2008 to $237bn in January 2009 on the back of the government’s pump priming packages. State Bank of India is the second largest project finance house globally and the largest in Asia, but a recent McKinsey report says India still faces a $190bn shortfall as the global crisis chokes off investment.

However, other countries have less domestic capacity and many expect that there will have to be increased equity commitment in deals. Governments such as Indonesia and Vietnam are seeking to actively re-involve the private sector in areas that they have recently regarded as the preserve of the state. (In Vietnam, for example, despite growth in electricity demand running at more than 15% a year, no new private sector power projects have been financed since 2003). Others anticipate that there will need to be greater participation by development finance institutions and export credit agencies, particularly for larger transactions.

The latter could play a particularly important role for greenfield projects that fail to attract enough investment, or where government and multilateral involvement is needed to ‘credit wrap’ a project. “Multilaterals will play an enormous role in the next 18 months or so,” says Mr Rathbone. “The participation of institutions such as the World Bank, the Asian Development Bank and the Japan Bank for International Co-operation will be crucial in keeping Asian growth going, particularly in ‘real’ developing economies such as Vietnam, Laos, Indonesia, Cambodia and the Philippines. In these markets it is much more difficult to get comfortable with concession agreements and the specific territory’s regulatory framework; in order to attract foreign capital these elements will have to be robust. Many investors may even require multilateral participation as a means to reduce the regulatory and credit risk inherent in a transaction.”

Indonesia is one example of where multilateral involvement could go a long way towards reassuring equity investors and foreign lenders, who have historically lacked confidence in the legal and regulatory framework surrounding projects. This is particularly true with regard to issues surrounding the legitimacy of land acquisition and critical financing features such as tariff structures. The legal details relating to who owns the land and contractual issues about whether road toll rates will be allowed to rise when they are supposed to can be political hot potatoes. But lack of certainty about them ratchets up the risk and makes the environment much less attractive to private investors or bank lenders.

“The Indonesian government is putting in a lot of effort to address many of the issues surrounding projects, and the government is now looking to procure toll roads and other large-scale infrastructure projects. It is increasingly a better story but it remains predominantly a market for participants who are able to get comfortable with the risk exposure of bidding for and completing deals in the territory,” says Mr Rathbone. “It is in this kind of environment where multilaterals can be hugely important in working with other market participants to help build confidence in the project finance environment; by helping to establish sound procurement guidelines, for example, or ensuring that concessions agreements are watertight and that handback procedures are in place.”

Although some state-owned and policy banks within north Asia have redirected their attentions to domestic markets in line with proposed government stimulus packages, others have already increased investment abroad. “The quantum of lending of state-owned institutions such as JBIC [Japan Bank for International Co-operation] has actually stepped up markedly in support of their key clients investing overseas,” says Mr Mathews.

Other organisations are making plans to do so. In March, the Asian Development Bank (ADB) announced that it is setting up a regional infrastructure fund that can be accessed by its members, including Indonesia. The bank has managed to bring together funding pledges amounting to about $5bn, including from the Islamic Development Bank, with other possible funding sources still being explored, including those from China and South Korea. According to the ADB, the Islamic Development Bank has committed $1bn to the scheme.

Equity investors

With commercial bank lenders often reserving balance sheets for core clients, many projects are seeking greater participation from equity investors at the same time that investors are facing funding constraints – and their risk appetites have dropped and equity costs have risen accordingly.

Yet infrastructure funds are finding that investors – including institutional players – are still attracted to Asian infrastructure. Standard Chartered and the International Lease Finance Corporation’s joint SCI Asia Infrastructure Fund did a second close in January at more than $600m; the seven limited partners (LPs) include the founding partners, along with European and American institutional investors. Appetite is such that the fund is targeting a third close at about $800m or even $1bn before the end of the year, according to Andrew Yee, global head of infrastructure, principal finance at Standard Chartered.

“European and North America LP investors have shown themselves to be ahead of the curve in their understanding of infrastructure. They have gained a lot of experience in their own, more mature markets, which proved that infrastructure investments are less susceptible to downturns. They are consequently increasingly open to opportunities in less mature infrastructure markets such as Asia,” says Mr Yee.

Macquarie’s Mr van Gelder is also upbeat about the potential of infrastructure. He believes that the infrastructure industry will emerge from the crisis with its reputation enhanced relative to other asset classes – and that this is already being reflected in increasing allocations. “Many institutions who have had a challenging time across their entire investment spectrum are actually increasing allocations to unlisted infrastructure at this time, and to about 10% of their entire portfolio in some cases,” says Mr van Gelder. “There is a growing realisation around the world that long-dated infrastructure income streams have a meaningful role in pension fund portfolios, especially if these income streams are either explicitly or implicitly linked to inflation via toll rate rises, etc.”

Golden age?

In fact, the next three years could turn out to be a “golden age for private equity” in the infrastructure business, says Mr van Gelder. Government investment in new infrastructure will likely benefit existing projects simply because one infrastructure project often benefits another. And because raising equity capital via the initial public offering markets will be challenging and debt will be much tighter, it will leave a huge gap for private equity capital, either through funds or direct investment. A few years down the line, healthy exits are on the cards.

“The capital that many governments consume over the next 24 months in economic recovery packages will leave them short of funding for infrastructure development and they will have no choice but to increase levels of private participation over time. Privatisation of stimulus projects in five to 10 years may offer another level of opportunity for the industry,” says Mr van Gelder.

Mr Yee also believes that, with a few caveats, 2009 and 2010 will be “good vintage years” for infrastructure investment. “There are a lot more opportunities and much less competition. The next couple of years could be very good ones for investment. That said, when assets are getting cheaper, you have to invest very carefully. Projects where sponsors are being too aggressive or where not enough due diligence has been done will fall by the wayside.”

As Western banks tighten their purse strings or even withdraw from the market, there will clearly be a funding gap. It will also mean the loss of key project finance practitioners who have brought their experience of mature infrastructure markets to the region. But for local and regional banks, it is a golden opportunity to grab market share from some of the established Western players. As the global financial crisis and economic slowdown reshape the world’s capital flows, the effects could help to redraw the dynamics of infrastructure investment and the competitive landscape in the Asian region.

Kịch bản kinh tế Việt Nam năm 2009 và tác động cần làm nhằm ổn định kinh tế – Vũ Quang Việt

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 12:25 am
Tags: , ,

Bài này phân tích tình hình hiện nay để nhìn kịch bản có khả năng xảy ra cho cả năm 2009 để từ đó tìm cách điều chỉnh tình hình hiện nay.

Tình hình thực về thống kê xuất nhập khẩu

Việc đầu tiên cần làm là xem xét lại các thống kê chính thức. Trước tiên cần thấy rằng thống kê về xuất nhập khẩu của Việt Nam không phản ánh đúng nguyên tắc mà các nước cần thực hiện theo chuẩn mực Liên Hợp Quốc khuyến nghị, mà hiện nay mọi nước trên thế giới đều chấp nhận, chỉ trừ Cuba và Bắc Hàn. Vàng trừ khi được sản xuất và dùng làm nguyên liệu trong sản xuất hoặc dùng làm đồ nữ trang thì mới có thể ghi vào tài khoản sản xuất, và có thể được nhập hay xuất. Vàng trường hợp này là hàng hóa. Khi vàng được dùng làm phương tiện thanh toán, gọi là tiền vàng (monetary gold) thì bán hoặc mua qua biên giới không được ghi vào xuất nhập khẩu vì chúng là tiền chứ không phải là hàng hóa, không ai ghi bán đồng Đô la Mỹ để mua đồng Yen của Nhật, tất nhiên qua biên giới, là xuất nhập khẩu cả.

Nếu chỉnh lại số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới của ba tháng đầu năm thì ta thấy là xuất khẩu không tăng mà giảm 15% (tính theo giá hiện hành bằng đồng USD). Như vậy 3 tháng đầu năm Việt Nam vẫn nhập siêu chứ không xuất siêu. Nhập siêu là 615 triệu USD. So với nhập siêu 3 tháng đầu năm 2008 là 1,5 tỷ thì giảm hơn một nửa. Tình trạng này hoàn toàn do khủng hoảng kinh tế thế giới gây ra. Nhu cầu của nước ngoài giảm mạnh do đó xuất khẩu giảm mạnh. Thật may mắn là nhập khẩu còn giảm mạnh hơn, tránh cho cuộc khủng hoảng tiềm tàng về cán cân thanh toán. Nhập khẩu giảm mạnh vì nhiều lý do trong đó có nguồn tiền nước ngoài không đổ vào như cũ, tác động của các biện pháp chống lạm phát và các biện pháp ngăn chặn nhập khẩu của các tập đoàn nhằm tránh khả năng xảy ra thêm một cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán.

Vài nét tổng quan về xuất nhập khẩu

Số liệu cơ bản của Tổng cục Thống kê (TCTK) cho năm 2007 trong bảng 2 cho thấy là kinh tế Việt Nam dựa dẫm quá nhiều vào kinh tế thế giới. Xuất khẩu bằng 77% GDP và nhập khẩu bằng 90% GDP. Xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu và hàng gia công. Do tính chất gia công, nhập khẩu nguyên liệu và máy móc luôn luôn lớn để phục vụ xuất khẩu. Tính gia công, dựa vào nguyên liệu nhập khẩu này cho thấy là tác dụng lan rộng của kích thích chi tiêu không có trọng điểm đối với nền kinh tế rất thấp. Hệ số lan rộng theo tác giả tính chỉ khoảng 1,07, tức là nếu kích thêm 1 đồng tiêu dùng, chỉ khoảng 1,07 đồng được tạo ra, thêm 7%. Tất nhiên đấy là nói chung, nhưng nếu biết chọn lọc kích thích những ngành không dựa vào nguyên liệu và máy móc nhập khẩu nhằm phục vụ thị trường nội địa thì tỷ lệ lan rộng sẽ cao hơn nhiều.

Nếu so với tổng nhập khẩu thì nhập máy móc và hàng tiêu dùng thấp hơn nhiều so với nhập nguyên liệu và vì vậy các quan chức ở Việt Nam cho rằng nhập để phục vụ sản xuất không có vấn đề , nhưng nếu so với GDP thì tỷ lệ nhập khẩu hàng tiêu dùng và máy móc lên tới 22% GDP năm 2007, và 34% năm 2008 (theo ước lượng của tác giả), đi gần tới chính tỷ lệ tích lũy trên GDP; một con số rất lớn nếu như ta biết rằng tỷ lệ tích lũy trên GDP của nhiều nước cần cho cất cánh công nghiệp chỉ bằng 25%. Đây là những tỷ lệ khó giải thích, nếu không muốn nói là nền kinh tế Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có khả năng sản xuất bất cứ một loại máy móc gì, nó thuần túy là một công xưởng gia công, lắp ráp, và thậm chí nền kinh tế tự bỏ tiền đầu tư mua máy móc để phục vụ các hợp đồng gia công và lắp ráp này. Có nhiều dấu hiệu là các máy móc mua vào là máy móc lỗi thời, cần thải từ Trung Quốc. Chính vì thế, thiếu hụt cán cân thương mại với nước ngoài luôn luôn lớn đang là mối đe dọa thường trực cho sự ổn định của nền kinh tế. Thiếu hụt đặc biệt lớn với Trung Quốc; năm 2007, nhập từ TQ 12 tỷ, trong khi chỉ xuất nguyên liệu thô được 3,2 tỷ. Nhập siêu đã lớn từ trước, nhưng đặc biệt lớn trong năm 2008, lên tới 18 tỷ USD, bằng hơn 20% GDP. Theo chuẩn mức quốc tế thông thường, ngưỡng tỷ lệ nhập siêu vượt 3% là đèn báo hiệu cho sự cần thiết điều chỉnh nền kinh tế.

Bảng 1. Xuất nhập khẩu qua hải quan 3 tháng đầu năm trong 3 năm 2007-2009

(USD, giá hiện hành)

2007

2008

2009

Tăng giảm giá trị năm 2009 so với 2008

Xuất khẩu (tỷ US)

10,615

13,114

11,192

3%

(Từ hải quan kể cả xuất vàng)

10,615

13,161

13,479

-15%

Tỷ lệ cơ cấu xuất khẩu (%)

Đầu tư nước ngoài

55,8

58,9

43,8

-37%

Nội địa

44,2

41,1

56,2

17%

Nông nghiệp

21,2

17,7

23,5

14%

Than đá

2,3

2,0

2,3

-1%

Dầu thô

16,6

19,9

12,7

-45%

Hàng công nghiệp

39,4

45,6

46,7

-13%

Nhập khẩu (tỷ US)

12,550

19,979

11,807

-41%

(Từ hải quan kể cả nhập vàng)

12,550

21,509

11,832

-45%

Tỷ lệ cơ cấu nhập khẩu (%)

Đầu tư nước ngoài

35,0

32,1

36,7

-32%

Nội địa

65,0

67,9

63,3

-45%

Hàng tiêu dùng

5,2

8,0

7,8

-42%

Hàng nguyên liệu

56,3

67,3

55,5

-51%

Hàng tích lũy

18,9

17,1

20,1

-30%

Nguồn: Bộ Công Thương

Kịch bản cơ sở về sản xuất cả năm 2009

Tổng cục Thống kê cho đến nay vẫn chưa công bố chi tiết về tài khoản quốc gia cho năm 2008 nên để làm kịch bản cơ sở, tác giả cũng phải xây dựng kịch bản cho năm 2008 và từ đó xây dựng cho năm 2009. Mô hình sử dụng là mô hình sản xuất vào-ra (input-output model) đơn giản, chứ không phải là mô hình dự báo, do đó dựa vào một số giả thiết, nếu giả thiết thay đổi thì kết quả cũng thay đổi.

Tình trạng kinh tế thế giới hiện đang tồi tệ đi. Quí 4 năm 2008, ở Mỹ, GDP giảm 6%. Quí I năm 2009, GDP ở Nhật giảm 12%, ở Đài Loan giảm 8,4%, ở TQ chỉ tăng 6.8% so với 13% năm 2008. Ngân hàng Thế giới dự báo là năm 2009 sản xuất công nghiệp toàn cầu sẽ giảm 15%, và lần đầu tiên trong 80 năm xuất nhập khẩu sẽ giảm. Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những dự báo rất xấu tương tự.

Theo Tổng cục Thống kê, GDP Việt Nam chỉ tăng 3,1% vào 3 tháng đầu năm. Tình hình kinh tế Việt Nam sẽ tồi tệ hơn vì quí I có thể vẫn còn những đơn đặt hàng của thời mà kinh tế thế giới chưa quá tồi tệ; những quí sắp tới sẽ phản ánh rõ hơn các tác dụng tiêu cực của kinh tế thế giới. Xuất khẩu có thể giảm mạnh hơn chứ không chỉ ở mức 15% (theo giá hiện hành) của 3 tháng đầu năm, nếu không có biện pháp kích thích xuất khẩu như chủ động giảm giá đồng Việt Nam, kêu gọi các nhà sản xuất chủ động giảm giá, kể cả không có lời, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, để làm hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới và khuyến khích tiêu dùng trong nước.

Có thể nói chính sách kích cầu 1 tỷ bằng bù lỗ lãi suất của chính phủ chưa thể có tác dụng gì đến sản xuất và GDP trong quí I này. Nhưng dù có triển khai thì kích cầu bằng bù lỗ sẽ không đạt hiệu quả vì vài lý do sau: (1) đây là biện pháp kích cung chứ không phải là kích cầu, cầu không có thì biện pháp này chỉ làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty vì được trả lãi suất thấp (2) việc dùng tiền cho vay đáo nợ là chuyện đương nhiên và không thể kiểm soát được, dù chính phủ muốn, vì người vay dễ dàng mượn ở một ngân hàng và đáo nợ ở một ngân hàng khác, (3) nếu tiếp tục và chuyển thành kích tích lũy, đặc biệt là mở rộng cho việc nhập máy móc nước ngoài, thì sẽ tăng thêm thiếu hụt cán cân thanh toán, vừa phí phạm vừa kích tham nhũng, nhưng không lấp nổi chỗ trống do xuất khẩu giảm gây ra. Và chỗ trống đó ít nhất lên tới 5,6 tỷ USD trong năm 2009.

Bảng 2. Kịch bản cho năm 2009, tính theo tỷ USD theo giá năm 2007

2007

2008

2009

tăng, giảm
2009 so với 2008

Xuất khẩu

54,7

58,5

52,6

-10%

Nhập khẩu

64,2

74,7

64,6

-15%

Nhập khẩu cho sản xuất

48,2

51,1

52,8

3%

Nhập khẩu tiêu dùng, tích luỹ

16,1

23,6

11,8

-50%

Cán cân thương mại

-9,6

-16,2

-12,0

-30%

Tích lũy

29,6

34,1

32,4

-5%

Tiêu dùng cuối cùng

50,5

57,0

57,0

0%

GDP

70,6

74,9

77,4

3,4%

% GDP

6,1%

3,4%

Chú thích: chỉ có số liệu năm 2007 là chính thức từ TCTK, các số liệu khác tính dựa vào mô hình.

Trên cơ sở kết quả sản xuất 3 tháng đầu năm, nếu cho rằng xuất khẩu cả năm giảm 10% (tính theo giá của năm 2007, tương đương với 15% theo giá hiện hành) và nhập khẩu giảm 15%, trong đó nhập cho tiêu dùng và tích lũy giảm 50%, tích lũy giảm 5%, còn tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và chính phủ không tăng thì GDP sẽ tăng 3,4% năm 2009, và cán cân thương mại thiếu hụt khoảng 12 tỷ USD. Ta thấy mọi yếu tố đều giảm thì tại sao GDP lại có thể tăng (xem cột cuối của bảng 2)? Tăng sản xuất và GDP trong trường hợp này chính là do chuyển tiêu dùng cuối cùng, và tích luỹ từ hàng nhập sang hàng sản xuất trong nước.

Mô hình này cho thấy chỉ cần giảm tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu dùng trong sản xuất 5% thôi thì mô hình cho thấy cùng với kịch bản ở bảng 2 GDP có thể tăng 7,7% thay vì 3,4% . Trung Quốc là một nền kinh tế công xưởng, vì họ sản xuất ra hầu hết các nguyên liệu dùng trong sản xuất, còn Việt Nam là một nền kinh tế gia công, do một tỷ lệ lớn nguyên liệu (đến gần 40%) dựa vào nhập khẩu. Điều này nói lên sự cần thiết ở Việt Nam một chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ mà nhiều nhà kinh tế đã nói tới. Và năm 2009, nếu không có biện pháp thích hợp thì việc thả lỏng cho nhập khẩu kể cả cho tích lũy và tiêu dùng như năm 2008 chắc chắn sẽ làm GDP tăng với số âm lớn.

Kết quả của mô hình cho thấy là nếu tình hình cứ như 3 tháng đầu năm thì GDP cả năm khó tăng hơn 3% và có nguy cơ âm nếu xuất khẩu xấu đi.

Nếu dùng chính sách phát huy nhập khẩu theo nghĩa thay đổi máy móc đã cũ trong lúc này thì tình hình có thể xấu hơn, vì cán cân thương mại sẽ âm lớn hơn. Thay đổi máy móc là quyết định của thị trường chứ không nên là quyết định bơm tiền cho doanh nghiệp nhà nước làm chuyện này.

Cho nên biện pháp kích cầu hữu hiệu đối với nền kinh tế Việt Nam có những đặc thù riêng thì phải là kích cầu tiêu thụ của thành phần mà sản xuất không dựa vào nhập khẩu nguyên liệu và người tiêu thụ nghèo không chạy mua hàng hóa cao cấp nhập khẩu: đó chính là nông dân và công chức nhà nước.

Chính sách kích cầu và hiểu sai các nguyên tắc kinh tế học

Chính sách kích cầu, dù kiểu gì, cũng chỉ là biện pháp nhằm giảm thiểu các khó khăn nhất thời để chờ nền kinh tế trở về quân bình. Khi nền kinh tế mang tính khủng hoảng cấu trúc như ở Việt Nam thì các biện pháp dùng tiền nhà nước để kích trở thành nguy hiểm.

Hiện nay dùng tiền nhà nước nghĩa là gì? Phải chăng là từ ngân sách vì đây là điều mà tất cả mọi người có hiểu biết về kinh tế đều nghĩ thế? Ở Việt Nam thì không thế. Hôm 20-3-2009 BT Võ Hồng Phúc trả lời chất vấn UBTV Quốc hội về gói kích cầu 1 tỷ USD, trong đó có nói tiền kích cầu lấy từ dự trữ ngoại hối quốc gia, do hoạt động ngân hàng mà có, không thuộc ngân sách nhà nước. Đây là chuyện hiểu lạ. Ngân hàng Nhà nước không làm kinh doanh mà chỉ có mục đích điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là bảo vệ giá trị đồng bạc Việt Nam. Tiền Việt mà NHNN in để mua vào tiền nước ngoài, chính là hình thức tăng khối lượng tiền mặt nội địa và rút đi ngoại tệ, khối lượng tiền dùng trong lưu thông không tăng vì khối lượng tiền phải được hiểu là gồm nội tệ, ngoại tệ và vàng dùng trong lưu thông nằm ngoài NHNN. Bây giờ nhà nước muốn có tiền tiêu, lấy dự trữ ngoại hối, có nghĩa là in khống, tăng khối lượng tiền để tiêu. Đáng lẽ ngân sách muốn bù lỗ lãi suất thì phải bán trái phiếu chính phủ ra thị trường chứ không thể dùng dự trữ ngoại hối như thế. Đây rõ ràng là biện pháp in khống tiền để chi, và lại nằm ngoài ngân sách. Và thật ra việc in khống này vẫn không liên quan gì đến quĩ dự trữ ngoại hối, trừ khi Bộ Tài chính ra lệnh cho NHNN đưa tiền ngoại tệ từ quĩ dự trữ cho mình tiêu.

Hiện nay bù lãi suất 1 tỷ USD (17 ngàn tỷ đồng) theo cách in tiền như vừa qua chưa tạo ra ảnh hưởng tới lạm phát cũng là cái may vì số tiền này chưa tạo ra tín dụng mới mà chủ yếu là đáo nợ. Với một tỷ bỏ ra bù lỗ, thì số tín dụng mới có thể tạo ra là 25 tỷ USD, tức là tăng thêm là 25%. so với tổng tín dụng năm 2008 là 97 tỷ USD (1.687 ngàn tỷ đồng). Nếu chỉ nói đến 2 tỷ USD (chứ chưa nói đến 6 tỷ mà chính phủ đã nói nhưng chưa làm), thì mức tăng tín dụng sẽ là 50% so với năm 2008, đây là tỷ lệ tăng của năm 2008 — nguyên nhân của lạm phát nhảy vọt. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ vừa có lạm phát cao vừa suy thoái, mà ta có thể cần một từ mới, có thể là lạm suy cho ngôn ngữ tiếng Việt. Cho nên dù chính sách kiểu gì, thì NHNN vẫn phải bảo đảm tổng tín dụng năm 2009 không tăng hơn 20-25%, và nếu như lạm phát bắt đầu tăng mạnh thì suất tăng tín dụng có thể phải thấp hơn, và phải bảo đảm có sự độc lập nhất định giữa NHNN và ngân sách.

Vũ Quang Việt

31.3.2009

Ứng xử biển Đông: Nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc lợi ích 032809

Filed under: chính sách,chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 12:22 am
Tags: , ,
Thời điểm đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục đang tới gần. Việc điều chỉnh của Việt Nam là cần, nhưng phải trên cơ sở nghiên cứu kĩ lưỡng, để điều chỉnh có hiệu lực cao hơn, các nước tôn trọng nhiều hơn, dựa trên lợi ích chính đáng của Việt Nam, không chạy đua theo thời gian. – Nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ Trần Công Trục nói.

Tiến sĩ Trần Công Trục đã có thời gian dài là Trưởng ban Biên giới của Chính phủ. Ông từng tham gia nhiều phiên đàm phán giữa Việt Nam – Trung Quốc về phân định biên giới trên đất liền và trên biển. Ông cũng tham gia biên dịch sang tiếng Việt bản Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.

Đụng độ Trung – Mỹ: Việt Nam cần xem xét cẩn trọng

Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Trần Công Trục. Ảnh: Cao Nhật.

Gần đây, vấn đề Biển Đông thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước và quốc tế, nhất là với căng thẳng Mỹ – Trung do sự xuất hiện của tàu Impeccable ở khu vực Trung Quốc tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình và Tổng thống Philippines thông qua dự luật về đường cơ sở mới. Bình luận của ông về những diễn tiến gần đây?

Biển Đông vốn là vấn đề phức tạp với tranh chấp chủ quyền trên các đảo, quần đảo, tranh chấp vùng biển và nhiều vùng chồng lấn, liên quan tới nhiều nước.

Bây giờ, cùng với nhu cầu khai thác lợi ích kinh tế như dầu khí, tài nguyên và đường hàng hải.., biển Đông càng thu hút được sự quan tâm cũng là dễ hiểu.

Về sự kiện tàu Impeccable, đây không phải là căng thẳng đầu tiên giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở vùng biển này. Việt Nam cần xem xét cẩn thận Luật Biển quốc tế, căn cứ vào vụ việc cụ thể để có tiếng nói.

Không tạo tiền lệ xấu

– Vậy theo ông, Việt Nam nên ứng xử như thế nào trước vụ việc này?

Theo Công ước Luật biển thì tàu thuyền nước ngoài có quyền tự do hàng hải, nghĩa là tàu thuyền các nước được phép tự do hoạt động nhưng trên cơ sở tôn trọng quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển. Điều đó có nghĩa là không được gây tổn hại đến các hoạt động kinh tế của quốc gia ven biển.

Việt Nam cũng từng nhiều lần thực hiện quyền tài phán của mình ở vùng đặc quyền kinh tế.

Ví dụ, Công ty Cable and Wireless Hồng Kông có nhu cầu đặt ống cáp ngầm qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ cho rằng họ được quyền thực hiện quyền này mà không cần phải xin phép và chịu sự giám sát của Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam cho rằng công ty này có quyền lắp đường ống cáp ngầm nhưng việc đặt hệ thống cáp ngầm qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đang có nhiều hoạt động thăm dò khai thác có thể gây tổn hại đến các hoạt động đó, vì thế họ phải xin phép Chính phủ Việt Nam theo đúng thủ tục và phải chịu sự giám sát của phía Việt Nam.

Sau đàm phán, công ty của Hồng Kông đã chấp nhận vô điều kiện. Không những thế, họ còn có nghĩa vụ ưu tiên cho VN trong việc tham gia khai thác hệ thống cáp ngầm này.

Các tuyến hàng hải quan trọng đều đi qua biển Đông. Ảnh: uscc.gov

Nói cách khác, quyền tài phán và quyền thuộc chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế là những quyền cần được tôn trọng và được bảo vệ hoàn toàn, đầy đủ. Và quyền tự do hàng hải của tàu thuyền nước ngoài ở khu vực này hoàn toàn khác với ở khu vực biển cả (high sea).

Quay trở lại với việc tàu Impeccable của Mỹ, theo các nguồn tin chính thức từ phía Hoa Kỳ thì đây là tàu nghiên cứu biển của hải quân Koa Kỳ, đang làm nhiệm vụ nghiên cứu biển để phục vụ cho hải quân. Tàu này xuất hiện trong khu vực biển cách bờ biển ven bờ lục địa Việt Nam và các bờ biển đảo Hải Nam – Trung Quốc dưới 200 hải lý. Như vậy, tàu Impeccable của hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành thăm dò nghiên cứu biển phục vụ cho mục đích quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc.

Theo Công ước Luật Biển LHQ, đây là hành vi sai trái, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển có liên quan ở vùng đặc quyền kinh tế.

Tại Mục 3, Điều 246 Công ước Luật biển 1982 đã quy đinh rất rõ nội dung này:  “Trong việc thi hành quyền tài phán của mình, các quốc gia ven biển có quyền qui định cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của mình theo đúng các qui định tương ứng của Công ước.” Và, “trong những trường hợp bình thường, các quốc gia ven biển thoả thuận cho thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học biển mà các quốc gia khác hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền dự định tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế hay trên thềm lục địa của mình theo đúng Công ước nhằm vào mục đích hoàn toàn hòa bình và để tăng thêm kiến thức khoa học về môi trường biển, vì lợi ích của toàn thể loài người…”.

– Nhưng có một số ý kiến cho rằng, Việt Nam không có lợi gì trong việc ủng hộ quan điểm của Trung Quốc mà ủng hộ tiền lệ quốc tế về hoạt động của tàu quân sự và tàu phục vụ mục đích quân sự ở vùng đặc quyền? (Xem thêm bài: Vùng đặc quyền kinh tế hay vùng đặc quyền quân sự?)

Hoa Kỳ vẫn thường khẳng định quyền đi lại tự do trên biển, thực chất là muốn mở rộng phạm vi triển khai lực lượng quân sự của mình trên khắp các châu lục trên bộ lẫn trên biển mà không cần tuân thủ bất kỳ một luật lệ nào, dù đó là Luật Biển của LHQ.

Nhiều cuộc họp bàn về Luật Biển đã diễn ra ở Mỹ, Mỹ cũng đã kí Công ước Luật Biển 1982 nhưng chưa phê chuẩn là cách để Mỹ để ngỏ quyền hoạt động của mình trên các vùng biển.

Tuyên bố chủ quyền của các bên liên quan trong tranh chấp biển Đông.

Với vai trò siêu cường và sức mạnh Mỹ, Mỹ có thể cho mình cái thế để gây sức ép lên các nước nhỏ. Các quốc gia, nhất là nước nhỏ đang phát triển, ngược lại muốn chống lại quyền hoạt động hải quân của các cường quốc hải quân.

– Nhưng vấn đề ở chỗ, các ý kiến ủng hộ thông lệ hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế vì lo ngại rằng, với tham vọng về đường lưỡi bò trên biển Đông, một ngày nào đó, Trung Quốc cũng sẽ biến vùng đặc quyền kinh tế thành đặc quyền quân sự của mình. Và điều đó chỉ bất lợi cho Việt Nam?

Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán để phân định ranh giới khu vực đặc quyền kinh tế chồng lấn có liên quan.

Trong vụ tàu Impeccable, Trung Quốc đã phải đứng ở thế của người tự vệ khi xem xét vùng đặc quyền kinh tế trong vụ việc có liên quan tới cường quốc có quan hệ nhạy cảm.

Việt Nam có thể ghi nhớ và sử dụng những luận điểm tranh luận của Trung Quốc khi tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế. Nếu một cuộc đụng độ tương tự xảy ra trong tương lai giữa Trung Quốc và Việt Nam, Việt Nam có thể trích dẫn những lời của Trung Quốc cho chính Trung Quốc. – Gs. Brantly Womack.

Vì thế, khu vực này không phải đã là khu vực biển hoàn toàn thuộc về Trung Quốc. Việc Trung Quốc đơn phương thực hiện quyền của mình với tư cách là nước hoàn toàn có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở vùng biển này là không tôn trọng các quyền và lợi ích của Việt Nam, vi phạm các cam kết của hai bên khi đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới biển. Việt Nam cần có ý kiến phản đối hành vi sai trái này của Trung Quốc theo đúng các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngoài ra, tàu quân sự và phục vụ mục đích quân sự ở vùng này không chỉ là tàu của Mỹ, vì không phải một mình Mỹ là cường quốc quân sự. Hiện nay, Trung Quốc cũng đầu tư rất nhiều cho việc nâng cấp lực lượng quân sự của mình.

Nếu các quốc gia ven biển làm ngơ, sẽ tạo tiền lệ xấu, các cường quốc hải quân có thể lợi dụng để hoạt động bất cứ khi nào, ở đâu nếu muốn.

Các nước ven biển nên thực hiện quyền tài phán của mình trên vùng đặc quyền kinh tế, chính là nhằm đảm bảo tôn trọng nội dung Công ước 1982, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, bảo vệ thành quả đấu tranh không mệt mỏi và kiên trì trong suốt gần một thế kỷ để có được một bộ luật về biển đồ sộ và công bằng cho mọi quốc gia, dân tộc có biển và không có biển.

Điều chỉnh đường cơ sở mới: Cân nhắc trên lợi ích

– Ông nghĩ sao về việc Philippines đưa ra đạo luật về đường cơ sở của mình?

Việc pháp điển hóa lợi ích và quyền của các nước trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia là rất cần thiết và chính đáng. Việt Nam cũng cần phải làm như vậy.

Tuy nhiên, đối với các qui định có ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của mình thì nhất thiết phải có ý kiến bảo lưu, nếu không thì coi như đã mặc nhiên thừa nhận, bất lợi về pháp lý, nhất là ở các khu vực có tranh chấp.

Về nguyên tắc, nếu Việt Nam không có tuyên bố chính thức, đồng nghĩa với việc Việt Nam mặc nhiên thừa nhận quyền của nước khác.

Tuy nhiên, việc phản ứng như thế nào của Việt Nam phải trên cơ sở nghiên cứu, phân tích khách quan, cả về nội dung, hình thức và thời điểm đưa ra ý kiến đó sao cho có lợi nhất, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế…

– Thời điểm hạn chót cho việc các nước đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục địa ngày 13/5/2009 đang đến gần. Theo ông, Việt Nam cần làm gì?

Theo tôi biết, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam đang xem xét, nhưng để có sự thay đổi, điều chỉnh nào thì không dễ. Bởi thay đổi phải để có hiệu lực cao hơn, các nước tôn trọng nhiều hơn, dựa trên lợi ích chính đáng của Việt Nam. Đó phải là sản phẩm của sự nghiên cứu kĩ lưỡng.

Việt Nam không nhất định chạy đua với thời gian. Việt Nam phải đặt lợi ích, vị trí của mình trong khu vực và quốc tế để cân nhắc đã nên điều chỉnh hay chưa vào lúc này.

Giữ vững vùng  biên cương của Tổ quốc.
Ảnh: Blog Hồ Trung Nghĩa.

Theo tôi được biết còn có nhiều nước chưa thay đổi đường cơ sở dù vô lý. Mình thay đổi là cần, nhưng theo tôi, Việt Nam nên cân nhắc kỹ tất cả các yếu tố có liên quan, nhất là thời điểm.

Thiếu chỉ đạo thống nhất, nghiên cứu có thể sai lệch

Nghiên cứu biển đảo của Việt Nam vẫn đang còn là vấn đề lớn?

Việc nghiên cứu thiếu bài bản và vẫn còn khiếm khuyết. Gần đây, chúng ta đã khuấy động lên nhưng còn ở mức tập hợp lực lượng trong và ngoài nước nghiên cứu hơn là có một đề án cụ thể. Các nghiên cứu phần nhiều là tự phát, dù có nhiều người tâm huyết.

Ngay cả tư duy, bản lĩnh của người nghiên cứu cũng chưa chín, phần nhiều còn cảm tính và theo xu hướng chính trị chứ chưa dựa trên kiến thức vững vàng, khoa học và khách quan.

Hơn nữa, thiếu chỉ đạo, nghiên cứu có thể sai lệch đi.

– Theo ông, Việt Nam phải gỡ từ đâu?

Từ nhận thức của các cơ quan quản lý cấp cao, phải có quyết tâm tạo chuyển biến trong nhận thức và chỉ đạo thống nhất. Người lãnh đạo giỏi cần có cố vấn tin cậy, tâm huyết. Công tác thông tin, truyền thông phải đẩy mạnh với nhiều kênh thông tin.

Hiện nay, công tác biển đảo tập trung vào một đầu mối là Cục Quản lý Biển của Bộ Tài nguyên – Môi trường và Biển, liệu có làm nổi một chương trình mang tính tổng hợp?

Việt Nam cần có người có tầm chiến lược vĩ mô trong hình huống nhạy cảm, đặt vấn đề đúng tầm nhu cầu, có tiếng nói thống nhất, xử lý nhanh, nhạy. Muốn vậy phải có nghiên cứu tốt, sâu. Luật pháp không thể hiểu lơ mơ.

Vốn ODA của Nhật sẽ được kiểm soát như thế nào? 033109

Filed under: chính sách,kinh tế — ktetaichinh @ 12:21 am
Tags: ,
Ông Tsuno Motonori – Ảnh: M.Chung.
Nhật Bản sẽ phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam trong việc giám sát nguồn vốn ODA để tránh những vụ việc tiêu cực.

Thông tin này được ông Tsuno Motonori, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam đưa ra trong buổi gặp gỡ báo chí sáng 31/3 tại Hà Nội, thời điểm trước khi Nhật Bản chính thức nối lại các dự án vốn vay ODA cho Việt Nam vào chiều cùng ngày.

Ông Motonori nói:

– Chiều nay tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chính phủ hai nước sẽ thực hiện ký kết công hàm trao đổi ODA giữa hai bên và thực hiện ký kết cho các dự án vốn vay. Căn cứ trên công hàm trao đổi giữa hai chính phủ, JICA sẽ ký hiệp định vốn vay tại trụ sở chính tại Tokyo.

Việc cho vay vốn của Nhật Bản cho Việt Nam nửa cuối năm 2008 đã bị đình lại do việc sử dụng bất chính vốn vay ODA của Công ty PCI. Sau đó, nhờ hai nước thành lập ủy ban hỗn hợp Nhật-Việt trong phòng chống tham nhũng và thống nhất với nhau về cách phòng chống tham nhũng từ các dự án vốn vay của Nhật Bản, việc viện trợ ODA của Nhật Bản đã được bình thường hóa trở lại vào cuối tháng 2/2009.

Các dự án được ký kết vốn vay trong lần này gồm 4 dự án với tổng vốn vay là khoảng 82,3 tỷ Yên, tương đương 900 triệu USD. Đó là dự án tuyến đường sắt nội đô Hà Nội; hai dự án hỗ trợ cải thiện môi trường và các đối sách chống lũ lụt tại Hà Nội và Hải Phòng; và cuối cùng là dự án tín dụng chuyên ngành giao thông nhằm cải thiện mạng lưới đường quốc gia.

Việc triển khai các dự án vốn vay ODA sắp tới sẽ được quản lý như thế nào để thực sự có hiệu quả và không rơi vào “vết xe đổ PCI”, thưa ông?

Cuối năm 2008, hai nước đã áp dụng các biện pháp như thiết lập đường dây nóng, công khai thông tin đấu thầu, mời bên thứ ba cùng đánh giá thầu và tăng cường giám sát kiểm tra đối với quá trình đấu thầu.

Trong các biện pháp phòng chống tham nhũng đã được nêu ra từ báo cáo của ủy ban hỗn hợp Việt – Nhật có ghi kỳ hạn, đơn vị đứng ra giám sát, và JICA cũng sẽ cùng Chính phủ Nhật Bản thực hiện chức năng giám sát.

Các hợp đồng vay vốn lần này được ký kết xuất phát từ các biện pháp phòng chống tham nhũng mà hai nước đã cam kết và công bố rộng rãi. Chúng tôi hy vọng sẽ không bao giờ xảy ra tình trạng tiêu cực nữa.

Trong tương lai, chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với Việt Nam để thực hiện triệt để những biện pháp này.

PCI hoặc các đơn vị có liên quan trong dự án đại lộ Đông-Tây có bị cấm tham gia các dự án lần này không?

Tại Nhật, PCI đã bị giải tán, còn với những doanh nghiệp có hành vi tham nhũng bị phát hiện từ trước đến nay, chúng tôi thực hiện các biện pháp kỷ luật bằng cách không cho những doanh nghiệp như thế này tham gia các dự án ODA trong một thời gian nhất định tùy mức độ tham nhũng nặng nhẹ.

Một số nhân viên tư vấn của PCI vẫn tham gia vào một số dự án ODA khác tại Việt Nam, vậy việc tham gia này có vi phạm các quy định về phòng chống tham nhũng không?

Việc các chuyên gia, kỹ thuật viên của PCI chuyển sang công ty khác để tham gia các dự án ODA không xung khắc với các quy định đã đặt ra.

Ủy ban hỗn hợp Việt – Nhật có lập ra đơn vị trung gian thứ ba để giám sát và xét thầu, nhưng lại thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam. Quan điểm của ông về việc này?

Trong các công trình xây dựng, các cơ quan thực hiện phía Việt Nam tổ chức đấu thầu, sẽ có bên thứ ba tham gia giám sát để tăng cường tính minh bạch trong quá trình đánh giá thầu.

Bên thứ ba này phải là đơn vị có chuyên môn cao trong các cơ chế, chế độ đấu thầu thực hiện các các hợp đồng đấu thầu quốc tế. Trung tâm hỗ trợ đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chính là bên thứ ba có ý nghĩa lớn để tham gia đánh giá thầu. JICA sẽ giám sát phương pháp thực hiện và hiệu quả thực hiện và đề xuất các giải pháp với phía Việt Nam nếu có.

JICA có trách nhiệm giám sát triển khai các dự án ODA của Nhật Bản tại Việt Nam, nhưng vẫn có một số sai sót mà JICA không phát hiện ra mà phải chờ tới khi có thanh tra. Vậy JICA nói gì về điều này?

Từ sự kiện tham nhũng vừa qua, chúng tôi cũng rút ra kinh nghiệm để xem xét kỹ lưỡng các thủ tục liên quan đến quá trình đấu thầu trong thời gian tới.

Một trong những hạn chế lớn là ciệc giải ngân vốn ODA vẫn diễn ra rất chậm chạp và có những trở ngại lớn. Vậy theo ông, những dự án vốn ODA lần này cần có những giải pháp gì để thúc đẩy giải ngân vốn ODA đúng như dự kiến?

Để tăng cường tiến độ giải ngân thì các công trình phải được thực hiện. Cho đến nay, chúng tôi nhận thấy, quá trình chuẩn bị bao gồm giải phóng mặt bằng, tái định cư, thủ tục chi trả sau xây dựng tốn nhiều thời gian hơn dự tính.

Trong 15 năm Việt Nam thực hiện các dự án ODA tại Việt Nam, nhiều công trình đã được hoàn thành, trong quá trình thực thi các bộ, ngành đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và đã có khả năng giải ngân nhanh hơn trước.

Tuy nhiên, với các công trình tại các đô thị lớn ở Việt Nam như Hà Nội, Tp.HCM, thì nhìn chung, chúng tôi cảm nhận là gặp nhiều khó khăn hơn và tiến triển tương đối chậm. Do đó, JICA có đề xuất các bộ Xây dựng, Giao thông Vận tải, Kế hoạch và Đầu tư cần có hỗ trợ để thúc đẩy tiến độ giải ngân nhanh hơn.

Hôm nay (31/3) là ngày cuối cùng của năm tài khóa 2008  của Nhật Bản, kết quả giải ngân các dự án đến nay khoảng 67,4 tỷ Yên, con số này gần như đạt được mục tiêu ban đầu đề ra cho năm tài khóa năm nay.

Next Page »

Blog at WordPress.com.