Ktetaichinh’s Blog

April 25, 2009

Lệch cung – cầu ngoại tệ: Chưa dứt!

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 9:05 pm
Tags: , ,
Lệch cung - cầu ngoại tệ: Chưa dứt!

Cung ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng vẫn khan hiếm, xu hướng nắm giữ ngoại tệ vẫn cao.

Đồng USD trên thị trường tự do đã có chiều hướng giảm nhẹ trong 2 ngày qua, từ mức cao nhất 18.300 VND/USD xuống còn 18.181 – 18.200 VND/USD trong chiều 23/4.

Nhà xuất khẩu chưa muốn bán ngay ngoại tệ bởi tiếp tục kỳ vọng giá lên. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ mặt của nhà nhập khẩu vẫn duy trì khi cần thanh toán các L/C cũ, cũng như mở L/C mới.

Ông Phạm Quốc Thanh, Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cho biết, cung – cầu ngoại tệ tại Ngân hàng tiếp tục căng thẳng. Một phần do lượng ngoại tệ khách hàng bán lại cho ABBank có xu hướng giảm dần, trong khi tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng khó giao dịch thành công hơn trước, cho dù giá cao hơn. Bởi các ngân hàng đều gặp phải tình trạng thiếu cung ngoại tệ, khó đáp ứng được cầu.

Tỷ giá liên ngân hàng trong những ngày gần đây được chào bán với giá cao hơn mức trần niêm yết tại các ngân hàng thương mại. Trong ngày 23/4, tỷ giá niêm yết tại Eximbank, Vietcombank là 17.784 VND/USD (cả mua và bán), tăng 1 VND/USD so với một ngày trước đó. Song gần đây, tỷ giá niêm yết tại ngân hàng luôn đụng trần với diễn biến tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Cũng theo ông Thanh, hiện tượng nhà xuất khẩu hạn chế bán ngay ngoại tệ cho ngân hàng được lặp lại trong các tuần cuối tháng 4/2009, khiến nguồn cung USD cho ngân hàng càng khó hơn.

Nguồn USD vào ngân hàng bị hạn chế dần theo diễn biến đi lên của USD trên thị trường tự do, vì tỷ giá niêm yết của ngân hàng thấp hơn. Trong khi đó, tuy kim ngạch nhập khẩu hàng hóa có giảm so với trước, nhưng nhà nhập khẩu vẫn có nhu cầu thanh toán nhiều L/C cũ, cũng như mở thêm L/C mới.

Giám đốc khối khách hàng doanh nghiệp của một ngân hàng cho biết, trước đây khi tỷ giá trên thị trường tự do biến động theo chiều hướng nhích lên, muốn mua được USD từ nhà xuất khẩu, nhiều nhà băng đã sử dụng biện pháp mua – bán thỏa thuận ngầm để thu hút nguồn ngoại tệ.

Nhưng kể từ sau khi biên độ tỷ giá được nâng lên +/-5%, Ngân hàng Nhà nước có quy định cấm các ngân hàng thương mại mua – bán ngoại tệ ngoài giá niêm yết cũng như vượt trần cho phép, nên khó hút được nguồn USD từ khách hàng.

Trong khi đó, ông Đào Hồng Châu, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết, tâm lý của nhiều nhà xuất khẩu vẫn giữ quan điểm phải bán được giá cao nên trước mắt chưa vội bán USD khi có nguồn.

Thêm vào đó, sở dĩ nguồn ngoại tệ trở nên khan hiếm trong thời gian gần đây một phần do xuất hiện tình trạng vàng lậu vào thị trường Việt Nam, khi giá bán trong nước cao hơn giá thế giới.

Từ những thực tế trên gây sức ép lên tỷ giá, dẫn đến cung ngoại tệ tại Eximbank cũng không tránh được sự căng thẳng và khó đáp ứng được nhu cầu cho nhà nhập khẩu.

Advertisements

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 2:32 pm
Tags: ,

Vỡ mộng vì vay vốn qua công ty tài chính

Cần thêm tiền mua căn nhà, chị Ngọc Mai vay 120 triệu đồng tại một công ty tài chính với lãi suất ưu đãi, thủ tục nhanh gọn. Nhưng làm hợp đồng xong rồi, chị mới té ngửa ra khi thấy tiền lãi phải trả cao hơn rất nhiều.

Với cách tính lãi suất theo dư nợ ban đầu (add – on) mà Công ty Tài chính Prudential áp dụng cho vay tín dụng tín chấp hiện nay, nếu vay số tiền 120 triệu đồng trong thời hạn 48 tháng, lãi suất 1,25% một tháng, khách hàng sẽ phải trả số tiền lãi tổng cộng là 72 triệu đồng, trong khi nếu lãi suất được tính theo dư nợ giảm dần, khách hàng chỉ phải trả khoản lãi 36,75 triệu đồng.

Tuy nhiên, cũng có một số người thắc mắc, yêu cầu nhân viên giải thích thì mức độ tư vấn của đội ngũ nhân viên cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích là nhu cầu của khách hàng cần mua sản phẩm gì, khả năng trả trước bao nhiêu phần trăm, cần vay thêm bao nhiêu, thời hạn trả trong bao lâu… Nhân viên sẽ theo đó hướng dẫn khách hàng cách tính lãi, tiền gốc hàng tháng phải trả để họ cân nhắc trước khi ký hợp đồng vay.

Hầu hết các công ty tài chính khi cho vay đều có quy định số tiền khách hàng vay sẽ tùy thuộc vào thời hạn vay. Thời hạn vay càng ngắn, số tiền được vay sẽ càng bị hạn chế. Với mức thu nhập được vay 60 triệu đồng, khách hàng phải vay trong thời hạn 36-48 tháng, nếu muốn vay trong 24 tháng thì chỉ được số tiền 40 triệu đồng.

Trong khi đó, với cách tính lãi theo dư nợ ban đầu, thời hạn vay càng kéo dài, khách hàng càng thiệt thòi vì mỗi tháng phải trả lãi luôn cho cả phần nợ gốc đã được “trả dần” ở các tháng trước đó. Đặc biệt, trong tình hình lãi suất thị trường liên tục được điều chỉnh theo xu hướng giảm, người vay càng lỗ vì công ty vẫn cố định theo mức lãi cũ đã ký trong hợp đồng với khách hàng.

Vay tiêu dùng: Dễ mà khó

Khách hàng không cần tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh nếu cần một khoản tiền lớn phải vay tín chấp tại Ngân hàng Việt Á (VietAbank). Thời gian làm thủ tục vay chỉ trong vòng 32 giờ, với số tiền lên đến 200 triệu đồng.

Theo quy định của VietAbank, thời gian trả nợ gốc và lãi linh hoạt từ 12 đến 36 tháng. Mức lãi suất 0,75%-0,82% một tháng, tương đương 9-9,84% một năm, tính trên dư nợ ban đầu tùy theo mức tiền vay. Người vay chỉ cần có thu nhập thực lĩnh mỗi tháng từ 5 triệu đồng trở lên đối với khu vực TP HCM và 4 triệu đồng trở lên đối với khu vực ngoài TP HCM.

Tuy nhiên, điều khó chấp nhận đối với phần lớn khách hàng khi tiếp cận sản phẩm này là theo quy định của nhà băng, khách hàng phải mở tài khoản tại VietAbank và tài khoản này sẽ bị khóa lại. Khi có nhu cầu mua sắm khách hàng phải viết giấy ủy nhiệm chi để ngân hàng chuyển tiền đến nơi bán hàng. “Điều kiện ràng buộc như vậy khiến khách hàng cảm thấy bị bó buộc, không thoải mái”, chị Thanh, nhân viên một công ty xuất nhập khẩu quận 1 cho hay.

Trong khi cách tính lãi suất của đa số các ngân hàng đối với sản phẩm vay tiêu dùng tín chấp là theo dư nợ ban đầu khiến nhiều người phải đắn đo, cân nhắc thì cách tính lãi dựa trên dư nợ giảm dần mà một số ngân hàng đang áp dụng cũng khiến nhiều người chùn tay. Tất cả chỉ vì mức lãi quy định quá cao….

Sản phẩm vay tiêu dùng của Ngân hàng TNHH Một thành viên HSBC (Việt Nam) với lãi suất 0% khá ấn tượng đối với những người có nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, mức lãi suất 0% chỉ áp dụng cho tháng đầu tiên, những tháng còn lại sau đó các “thượng đế” sẽ phải đối mặt với mức lãi cao ngất ngưởng, lên đến 24% một năm.

Gian nan xin bảo lãnh vốn vay

Rất nhiều ý kiến bức xúc khi tiếp cận chương trình bảo lãnh vay vốn được các doanh nghiệp nêu ra tại hội thảo “Chính sách ưu đãi thuế và tín dụng ngân hàng nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế” do Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Trung tâm phát triển doanh nhân Việt Nam phối hợp Ngân hàng Liên Việt tổ chức tại TP HCM sáng 24/4. Phần lớn các khó khăn xuất phát từ chính sách về thủ tục kê khai thuế, tài sản thế chấp.

April 23, 2009

Khủng hoảng toàn cầu và ứng phó của Việt Nam- 042209- Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan.

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 8:14 pm
Tags: , , ,

Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan.

Trong nhiều tháng nay đề tài khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu đã được nói đến ở mọi nơi, mọi lúc. Các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh doanh, những người hoạch định chính sách và lãnh đạo quốc gia, các phương tiện thông tin đại chúng, các hội nghị khu vực và toàn cầu và cả những người dân thường đồng thanh phân tích, mổ xẻ nguyên nhân, dự báo diễn biến, tiên đoán hậu quả của nó đối với mỗi người, mỗi quốc gia và cả thế giới. Bản thân người viết bài này cũng đã có dịp bày tỏ ý kiến trong bài “Nỗi bận tâm trong Mậu Tý” đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 1-2/2/2008 và “Khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền kinh tế nước ta” đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/11/2008, cùng một số bài khác. So sánh hai cuộc khủng hoảng Cuộc đại suy thoái lớn nhất nửa đầu thế kỷ 20 (1929-1933) và cuộc khủng hoảng đầu tiên và nghiêm trọng nhất từ khi thế giới bước vào thế kỷ 21 có nhiều điều giống nhau. Cả hai cuộc đều bùng nổ ở khâu nhạy cảm nhất là thị trường chứng khoán, tài chính tiền tệ. Cả hai cuộc đều nổ ra tại nước Mỹ – một nền kinh tế lớn nhất thế giới. Cả hai cuộc đều bắt nguồn từ những nguyên nhân na ná giống nhau. Nếu ta “cắt lớp” chúng ra thì nguyên nhân trực tiếp là những sự bất ổn trong sự vận hành của hệ thống tài chính – tiền tệ, cho vay bừa bãi; ở lớp sâu hơn là chính sách tài chính dễ dãi kéo dài đưa tới tình trạng “xài quá cái làm ra” và ở tầng sâu kín bên trong là nghịch lý của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (hay nền kinh tế thị trường tự do?) thể hiện trong sự chiếm hữu và hoành hành của một nhúm người vì những lợi ích ích kỷ trong một nền kinh tế được xã hội hoá cao. Diễn biến của cả hai cuộc đều theo một kịch bản đại thể như nhau: hệ thống tài chính – ngân hàng rung chuyển, gây tắc nghẽn đối với dòng vốn đầu tư, kéo theo sự suy giảm sản xuất, tiêu dùng, xuất – nhập khẩu, làm cho hàng triệu người thất nghiệp, đưa tới những xáo động chính trị – xã hội. Phác đồ chữa trị hai cuộc khủng hoảng tương tự như nhau, trong đó có hai vị thuốc nổi trội là sự can thiệp của nhà nước và mở hầu bao kích cầu nội địa đi liền với các biện pháp bảo hộ công khai hoặc trá hình. Cả hai cuộc đều dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và tài chính tiền tệ. Lần trước, chế độ bản vị vàng bị thay bằng các khu vực tiền tệ và sau Thế chiến thứ hai đã hình thành hệ thống Bretton Wood. Lần này, đang xuất hiện những ý tưởng về việc nâng cao vai trò của cơ chế quyền rút vốn đặc biệt (SDR), “đồng tiền quốc tế”, dùng nội tệ của nước này hay nước khác để thanh toán xuất – nhập khẩu, thậm chí có nơi còn quay về cơ chế cổ lỗ sĩ là “hàng đổi hàng”. Những điều nói trên nhắc nhở chúng ta nhiều điều: phải theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ hệ thống tài chính – ngân hàng, thị trường chứng khoán; phải ngăn ngừa những lợi ích nhóm phá hoại nền kinh tế; không xài quá cái làm ra và để nền kinh tế quá nóng; khi xuất hiện những biểu hiện bất ổn cần tính ngay tới tác động dây chuyền và xử lý đồng bộ chứ không thể xử lý từng khâu riêng lẻ; cần thường xuyên theo dõi diễn biến trong nền kinh tế thế giới, nhất là các nền kinh tế lớn, đặc biệt là kinh tế Mỹ… Tuy khủng hoảng chu kỳ hay cơ cấu là bạn đồng hành của kinh tế thị trường; sự phát sinh, diễn biến của nó thuận theo những quy luật nhất định song mỗi cuộc lại có những nét đặc thù riêng, do vậy hai cuộc khủng hoảng lớn cách nhau gần 8 thập kỷ cũng có những nét khác biệt. Lần này khủng hoảng tài chính, kinh tế diễn ra đồng thời với những xáo động về năng lượng, lương thực và cả khí hậu, môi trường. Do đó, giải quyết khủng hoảng ở mỗi nước và trên phạm vi toàn cầu phải tính đến đặc điểm này và mang tính tổng thể. Khác trước, với xu thế toàn cầu hoá và công nghệ thông tin, một lượng khổng lồ các phi vụ giao dịch tài chính được thực hiện qua mạng toàn cầu với tốc độ cực nhanh, tạo nên đồng tiền ảo có giá trị gấp trăm ngàn lần giá trị đồng tiền thật và không một ai có thể kiểm soát nổi. Đã hội nhập sâu với kinh tế thế giới và sống trong thời đại thông tin, chúng ta không thể không chú trọng tới đặc điểm mới này. Tuy khủng hoảng lần này rất trầm trọng, song chưa được gắn danh hiệu “đại khủng hoảng” vì tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay được dự báo sẽ ở mức âm một vài phần trăm, trong khi sản xuất những năm 1929-1933 sụt giảm tới 15-20%; lần này thương mại toàn cầu sụt giảm gần 10% so với trên 20% lần trước, tỷ lệ thất nghiệp dao động xung quanh 10% so với 25-30% lần trước… Tất nhiên đây mới là sự so sánh cho tới thời điểm hiện nay, kết cục cuối cùng chỉ có thể biết được sau khi kinh tế thế giới hồi phục. Ngày nay những xáo động chính trị – xã hội chưa nghiêm trọng như lần trước, mới chỉ có vài chính phủ ở các nước nhỏ bị sụp đổ do khủng hoảng tài chính – kinh tế, chính quyền ở các nước lớn chưa bị thay đổi như những năm 30 thế kỷ trước và đặc biệt khó có khả năng nổ ra chiến tranh thế giới. Nay cũng sẽ diễn ra quá trình cải tổ hệ thống tài chính-tiền tệ song có nhiều khả năng không đưa tới những biến động cơ bản như lần trước. Một khác biệt lớn nữa là lần này đã xuất hiện một cơ chế xử lý khủng hoảng đại diện cho cả các nền kinh tế phát triển lẫn các nền kinh tế đang phát triển; đó là G-20. Điều đó chứng tỏ tính tuỳ thuộc lẫn nhau sâu sắc giữa các nền kinh tế trong một thế giới bị toàn cầu hoá rất cao, mọi nền kinh tế đều ở trên một con thuyền. Cho dù cơ chế này chứa đựng không ít khuyết tật, song nó là một “hiện tượng” mới của thời đại. Những tác động lớn lao trên phạm vi toàn cầu Cho tới nay chưa ai có thể dự báo được chuẩn xác bao giờ kinh tế thế giới sẽ phục hồi cho dù đã xuất hiện vài “tia hy vọng”. Người ta đưa ra mấy kịch bản khác nhau (theo hình chữ V, U, L, W…). Dù có diễn ra kịch bản nào thì cuộc khủng hoảng lần này cũng đã gây ra sự tàn phá ghê gớm, đẩy hàng trăm quốc gia và hàng triệu người vào cảnh gian khó, để lại nhiều hậu quả lâu dài. Sau cuộc khủng hoảng lần trước đã xuất hiện lý thuyết kinh tế Keynes đề cao vai trò điều tiết của nhà nước. Những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước đã thịnh hành trường phái “tân tự do” dựa trên 3 trụ cột: tự do hoá, tư nhân hoá và phi điều tiết hoá. Cuộc khủng hoảng lần này đã lật nhào học thuyết đó và khơi dậy lý thuyết Keynes. Không biết rồi ra có hình thành lý thuyết kinh tế nào mới không, chúng ta cần đợi thêm. Mỗi cuộc khủng hoảng đều như một bộ lọc khổng lồ, gạn đi những gì không hợp lý, chôn vùi những gì không hiệu quả. Cuộc khủng hoảng lần này cũng không phải là ngoại lệ; rồi ra sẽ diễn ra cả một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế toàn cầu. Đó là quá trình cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường do đi đôi với khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng năng lượng và khủng hoảng khí hậu, môi trường. Đó là quá trình cơ cấu lại hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý, giám sát trong từng quốc gia và trên toàn cầu. Đó là việc điều chỉnh lại mối tương quan giữa chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa vì vừa qua những nước gắn quá sâu với xuất khẩu đều chịu tác động mạnh. Trước mắt xu hướng bảo hộ gia tăng và sẽ gây ra nhiều khó khăn song nhiều khả năng không diễn ra cuộc “đại chiến” thương mại, xu thế toàn cầu hoá và vòng đàm phán Doha tuy bị chững lại song chắc rằng sẽ tiếp tục vì tính tuỳ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế quá lớn, không dễ gì xa rời, đối đầu nhau. Còn một quá trình cơ cấu lại nữa sẽ diễn ra là vai trò, vị trí của các nền kinh tế thay đổi. Mặc dầu kinh tế và đồng Đô la Mỹ vẫn còn giữ vị trí hàng đầu song bị thách thức nghiêm trọng trong khi các nền kinh tế mới nổi, trong đó người ta quan tâm nhiều nhất tới kinh tế Trung Quốc, đóng vai trò ngày càng quan trọng. Ngày nay Mỹ trở thành con nợ lớn nhất và Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của nước Mỹ – một điều không ai có thể hình dung nổi vào những thập kỷ trước. Cuộc đấu tranh để hình thành hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới sẽ diễn ra gay gắt song trước mắt IMF vẫn được bơm thêm tiền để đóng vai trò điều tiết đi đôi với sự ra đời của cơ chế giám sát tài chính toàn cầu; đồng Đô la Mỹ vẫn đóng vai trò lớn, các ý tưởng về một đồng tiền quốc tế mới xem ra chưa thể trở thành hiện thực. Tất cả những tác động trên đều liên quan tới nước ta; trong việc hoạch định chính sách kinh tế và cả đối ngoại không thể không tính đến chúng. Ứng phó của Việt Nam Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới, vả lại ngày nay kinh tế nước ta đã hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới, chúng ta không thể không tính đến những tác động sâu xa, mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng toàn cầu đối với Việt Nam, không thể không nghĩ tới một số vấn đề nảy sinh đối với nước ta. Về tác động thì có lẽ nên tính tới cả những tác động ngắn hạn lẫn trung hạn và dài hạn. Về những tác động ngắn hạn đã được nói tới nhiều, thậm chí đang được xử lý, nên có lẽ không cần đề cập lại. Ở tầm trung hạn, đã đến lúc nghĩ tới và chuẩn bị cho thời kỳ “hậu khủng hoảng”. Hiện nay chưa thể dự báo được quá trình phục hồi của kinh tế thế giới sẽ ra sao, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu. Dù sao đi nữa thì thị trường thế giới hàng hoá và cả dịch vụ, trong đó có các dịch vụ du lịch, lao động…, sẽ sống động trở lại đi đôi với những biện pháp bảo hộ và sự cạnh tranh gay gắt hơn; nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài sẽ quay lại; giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới, kể cả giá nhiên liệu sẽ gia tăng, có thể lạm phát sẽ diễn ra do vừa qua các nước tung ra lượng tiền cứu trợ quá lớn, thâm hụt ngân sách nghiêm trọng, lãi suất không còn thấp như hiện nay… Trong hoàn cảnh đó sẽ nổi lên 4 yêu cầu lớn: khôi phục và mở rộng thị trường bên ngoài đi đôi với việc đề phòng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, nhưng không lơi lỏng thị trường trong nước; tạo dựng môi trường kinh doanh thật thông thoáng để thu hút các nguồn vốn đầu tư cả trong lẫn ngoài nước; đề phòng lạm phát tái bùng nổ, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là giảm thiểu bội chi ngân sách, thu hẹp các biện pháp cứu trợ kinh tế từ ngân sách; chú trọng xử lý các vấn đề xã hội do kinh tế giảm sút gây ra, nhất là tình trạng tái nghèo. Trong lúc bươn trải đối phó với những khó khăn trước mắt càng cần quan tâm tới các vấn đề lâu dài của nền kinh tế nước ta, chỉnh sửa những điểm yếu phát lộ rõ nét trong cơn khủng hoảng. Điều này càng trở nên bức thiết trong bối cảnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 sắp kết thúc và nước ta bước vào thời kỳ chiến lược 10 năm mới nhằm một mục tiêu khác về chất; đó là biến nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đây là vấn đề lớn, cực kỳ quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với con đường phát triển của nước ta trong thời gian dài, cần có sự nghiên cứu thấu đáo, chưa thể lạm bàn. Tuy nhiên, đối chiếu với những gì đang diễn ra dưới tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu, sơ bộ có mấy vấn đề cần suy nghĩ. Một là, sẽ diễn ra quá trình cơ cấu lại nền sản xuất thế giới theo hướng tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; chú trọng các nguồn năng lượng tái sinh; sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nước nào không bắt trúng mạch của xu thế phát triển đều lún sâu vào cảnh tụt hậu ngày càng xa. Vậy nước ta sẽ cơ cấu lại nền kinh tế ra sao? Chắc chắn rằng không thể tiếp tục con đường phát triển dựa vào khai thác và tiêu hao tài nguyên, phá hoại môi trường; cũng không thể tiếp tục chạy theo tốc độ, không chú trọng đúng mức tới hiệu quả và tính bền vững. Hai là, sẽ tính toán sao đây về mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường thế giới, hay nói một cách khác, kim ngạch xuất – nhập khẩu nên chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong GDP là hợp lý? Xưa kia nhiều nước đi theo con đường thay thế nhập khẩu rồi có thời người ta đề cao tác dụng của chiến lược hướng mạnh ra xuất khẩu (và trên thực tế nó đã đem lại sự phát triển vượt bậc của hàng loạt quốc gia), vậy nay sẽ như thế nào? Ba là, cơ cấu lại và hoàn thiện thể chế giám sát hệ thống tài chính tiền tệ, nhất là các ngân hàng này bao gồm rất nhiều ngân hàng tư nhân và cả ngân hàng nước ngoài, thị trường chứng khoán, bất động sản trở thành yêu cầu bức bách và cực kỳ quan trọng đối với sự ổn định kinh tế – xã hội. Bốn là, trước thất bại của chủ nghĩa tân tự do, nay người ta nói nhiều tới vai trò điều tiết của nhà nước. Lâu nay, khi chuyển sang thể chế thị trường chúng ta vẫn coi trọng vai trò điều tiết của nhà nước. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quay trở lại thể chế tập trung, quan liêu bao cấp, can thiệp vô lối vào hoạt động sản xuất kinh doanh; không đồng nghĩa với việc từ bỏ con đường cổ phần hoá, làm sống lại các doanh nghiệp quốc doanh theo kiểu cũ. Năm là, với việc cơ cấu lại vị thế của các quốc gia trong nền kinh tế (và cả chính trị) cũng như hệ thống tài chính – tiền tệ quốc tế, chúng ta cần chủ động định vị vị thế của mình, trong một thế giới đã thay đổi ở thời kỳ “hậu khủng hoảng”.

April 18, 2009

Giá thấp, chất lượng cao – chìa khóa vượt khủng hoảng

Filed under: khủng hoảng,thị trường (market) — ktetaichinh @ 9:02 pm
Tags: ,

Suy thoái kinh tế đã làm nhiều tập đoàn tại Nhật Bản phá sản, nhưng lại là cơ hội cho nhiều công ty khác chiếm lĩnh thị trường với công thức sản phẩm chất lượng tốt giá cạnh tranh, nhằm đối phó với tình trạng sức mua giảm mạnh.

Một cửa hàng Uniqlo của Fast Retailing. Ảnh: Daylife.

Hai công ty Nhật Bản chứng tỏ khả năng tận dụng cơ hội trong thời buổi kinh tế khó khăn là Fast Retailing, sở hữu chuỗi cửa hàng bán lẻ các sản phẩm may mặc Uniqlo và Nitori, nhà bán lẻ sản phẩm nội thất. Cả hai công ty này đều thích nghi tốt với hiện tượng tiết giảm chi tiêu của phần đông người tiêu dùng. Họ sản xuất những sản phẩm rẻ tiền nhưng chất lượng lại cao hơn, làm cho khách hàng cảm thấy yên tâm với đồng tiền bỏ ra.

Kể từ năm 2006, nhà sản xuất và phân phối đồ may mặc Fast Retailing bắt đầu hợp tác với nhà sản xuất sợi vải Toray Industries nhằm cho ra những sản phẩm chất lượng cao, thu hút người tiêu dùng. Heat-Tech – quần dành cho phụ nữ – được sản xuất trên công nghệ mới, giúp chống vi khuẩn và có chức năng giữ hơi ấm, đồng thời nhẹ hơn các loại vải bình thường. Dòng sản phẩm này đạt doanh thu kỷ lục trong mùa thu đông vừa rồi và luôn luôn trong tình trạng cháy hàng tại các cửa hiệu của Fast. Công ty hy vọng sẽ bán được 28 triệu quần Heat-Tech trong mùa thu đông năm nay.

Một sản phẩm chất lượng cao khác là loại vải dành cho giặt máy được tung ra tháng 12/2008 cũng nhanh chóng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Loại vải này không bị giãn kể cả sau quá trình dài giặt bằng máy. Tadashi Yanai, Chủ tịch kiêm CEO của công ty, tự tin nói: “Chúng tôi đã dành rất nhiều năm nghiên cứu phát triển công nghệ. Những sản phẩm nào không bỏ công sức đầu tư thì không thể thành công được.”

Còn Nitori, nhà cung cấp đồ nội thất với 184 cửa hàng khắp nước Nhật, đã quyết định giảm giá 20% cho 1.000 loại sản phẩm từ tháng 5 đến tháng 11/2008, thời điểm tất cả các loại hàng hóa khác đều đang không ngừng tăng giá. Chính sách tưởng như ngược đời này cuối cùng đã mang lại kết quả xứng đáng. Trong 2008, khi hầu hết các doanh nghiệp Nhật rơi vào cảnh khó khăn, Nitori vẫn đánh dấu năm thứ 22 liên tiếp tăng trưởng cả lợi nhuận lẫn doanh thu. Năm nay, công ty có kế hoạch mở thêm 35 cửa hàng trên khắp nước Nhật. Chủ tịch công ty, ông Akio Nitori nói: “Chúng tôi tìm thấy cơ hội trong suy thoái, nhất là khi các công ty khác phải ngừng mở thêm hoặc thậm chí đóng cửa các gian hàng.”

70% các sản phẩm của Nitori được thiết kế và sản xuất trong nước Nhật. Công ty đảm nhiệm hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất, từ thu mua nguyên liệu đến phân phối. Do đó, chi phí ban đầu cho các sản phẩm của công ty này chỉ bằng 1/3 so các hãng đối thủ. Theo một lãnh đạo của Nitori, dù giảm giá 30 đến 40% thì họ vẫn có lãi.

Mùa xuân năm ngoái, Nitori bắt đầu thuê một nhà máy tại Ấn Độ sản xuất mặt hàng thảm nhà bếp. Trước đó, công ty đã phải bỏ ra 2 năm rưỡi nghiên cứu 5 nhà máy tại Ấn Độ nhằm tìm ra nơi có chi phí rẻ nhất. Kết quả mà Nitori đạt được là sản phẩm họ tung ra thị trường rẻ hơn 10% so với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc.

Thanh Bình (theo Yomiuri Shimbun

Tranh biếm họa khủng hoảng kinh tế Mỹ

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 9:01 pm
Tags: ,

Vận hạn đến với 3 đại gia xe hơi khiến cướp biển Somali cũng chẳng thèm ngó tới tàu chở hàng của họ. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson phải thay đổi chiến thuật thuyết phục Quốc hội. Dưới đây là chùm tranh biếm họa của Time về những diễn biến mới tại nền kinh tế lớn nhất thế giới.

“Chẳng kiếm chác được gì” – đến cướp biển Somali cũng chê 3 đại gia xe hơi của Mỹ. Những tập đoàn này đã cầu cứu Chính phủ Mỹ. CEO của General Motors thống thiết nói rằng sự sống còn của ngành công nghiệp xe hơi liên quan đến toàn bộ nền kinh tế, song các nghị sĩ Mỹ vẫn lặng thinh.
“Hy vọng túi khí hoạt động”. Ngành công nghiệp ôtô Mỹ sau khi Quốc hội im lặng trước lời cầu cứu của các hãng.
Tổng thống sắp mãn nhiệm Bush và Tổng thống đắc cử Obama đều mong chóng đến ngày ông Obama nhậm chức 20/1/2009. Nhưng tâm trạng của họ có lẽ khác nhau, nhất là với nền kinh tế được giới chuyên gia nhận định là đã suy thoái.
Cuối cùng thì giá xăng dầu đã giảm. Nhưng xem ra ôtô của người Mỹ, và cả nền kinh tế của họ, cũng không thể chạy như xưa.
Hệ quả mỗi khi người ta đưa ra một gói bảo lãnh (bailout) cho doanh nghiệp đang bên bờ phá sản…
Thực đơn của người Mỹ hiện có nhiều món nghe rất “thời sự” – subprime rib (sườn non – đồng âm với cho vay dưới chuẩn), black Tuesday sundae (mứt – ngày thứ ba đen tối của phố Wall khi Dow Jones mất tới gần 10%).
Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson thay đổi “chiến thuật”: cứ thử bỏ tiền ra bảo lãnh, được đến đâu, hay đến đó.

Lộ diện những “cú sốc” rủi ro tỷ giá 033009

Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, đánh tụt kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Những rủi ro đó vẫn chưa dừng lại…

Quý 4/2008, kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (Gilimex) có đột biến. So với quý 3/2008, doanh thu tăng 11,8%; đặc biệt, lợi nhuận sau thuế đạt tăng tới 49,5%.

Có thể xem Gilimex là một hiện tượng khi đặt trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng từ thế giới, nhất là đối với hoạt động xuất khẩu. Nhưng, một thuận lợi tác động trực tiếp đến kết quả trên là do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trong quý 4/2008.

Gilimex cũng là một điển hình nhận được lợi ích từ chính sách tỷ giá, cũng như mục đích chính hỗ trợ xuất khẩu nói chung trong những đợt điều chỉnh vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. Đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá về mặt lợi. Nhưng, trên thực tế, có một “mặt thứ hai” đang lộ diện ở diện rộng: nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì tỷ giá tăng quá nhanh và mạnh.

Bóp méo cả kết quả kinh doanh

Trong câu chuyện với phóng viên, chủ tịch hội đồng quản trị một công ty niêm yết nói: “Rủi ro tỷ giá đã được thấy trước, lường trước và có thể chỉ là ảnh hưởng nhỏ đối với kết quả kinh doanh nếu so với dự phòng đầu tư tài chính. Thế nhưng, khi kết toán, nó làm méo mó kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp không dễ ứng xử với cổ đông và nhà đầu tư”.

Đó cũng là lý do để trong tháng 2 và 3 vừa qua, một loạt doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) phải có văn bản giải trình chênh lệch số liệu trong báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Như với Công ty Cổ phần Hàng hải Sài Gòn (SHC), kết quả kinh doanh năm 2008 được báo cáo với doanh thu đạt 174,436 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2007, đạt 116% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 17,979 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2007, đạt 120% kế hoạch và lợi nhuận sau thuế 15,462 tỷ đồng.

Thế nhưng, sau khi kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty này chỉ có 13,925 tỷ đồng, không đạt kế hoạch (92,8%). Nguyên nhân là do SHC chưa tính đến khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ.

Trao đổi với VnEconomy, ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc SHC, cho biết, những điều chỉnh trên là do khoản chênh lệch tỷ giá kết toán đối với khoản vay ngoại tệ mua tàu (USD) lên tới hơn 3,6 tỷ đồng, dù khoản chênh lệch tỷ giá này chỉ là dự phòng chưa xẩy ra (vì thời hạn của hợp đồng vay vốn là 5 năm). Ông Ái cũng kiến nghị Bộ Tài chính cần có hướng dẫn cụ thể hơn về mặt kỹ thuật kiểm toán đối với khoản mục này.

Do chỉ là dự phòng chưa xẩy ra nên ông Ái cho rằng doanh nghiệp không mất và không bị ảnh hưởng nhiều. Nhưng các cổ đông phải chịu thiệt thòi, cụ thể là tỷ lệ chi trả cổ tức bị giảm, giá cổ phiếu trên sàn có thể bị ảnh hưởng…

Tương tự, rủi ro về tỷ giá cũng nổi bật trong loạt báo cáo giải trình của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác, với tác động chính là làm giảm lợi nhuận hoặc đánh tụt kết quả kinh doanh so với kề hoạch đề ra.

Chỉ riêng sự kiện ngày 26/12/2008, Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 3% cũng đã làm cho chi phí tài chính của nhiều doanh nghiệp biến động mạnh. Tại Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá, chênh lệch tỷ giá cuối năm tính vào chi phí quý 4/2008 đã tăng thêm tới hơn 441 triệu đồng, đồng nghĩa với lợi nhuận giảm tương ứng.

Hay tại Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình, lợi nhuận quý 4/2008 giảm 15,7% cũng có nguyên nhân chính là tỷ giá USD/VND “có quá nhiều biến động”. Công ty đã phải hạch toán vào chi phí chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện cuối năm với số tiền lên tới 909.931.314 đồng. Với Công ty Cổ phần Gas Petrolimex, lợi nhuận giảm 17,7 tỷ đồng trong quý 4/2008 cũng chủ yếu do chênh lệch tỷ giá và trích dự phòng tài chính.

Ngoài ra, rủi ro tỷ giá có thể thấy ở tổn thất của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác. Và không loại trừ ở nhiều trường hợp chưa niêm yết, khi thông tin tài chính thường chưa công bố công khai và cụ thể.

Thụ động hay rủi ro từ chính sách?

Năm 2008, chính sách tỷ giá và tỷ giá trên thị trường chứng kiến tần suất điều chỉnh và những mức tăng chưa từng có trong lịch sử. Biên độ liên tục được nới rộng; tỷ giá liên ngân hàng đã tăng tới 5%, của các ngân hàng thương mại tăng tới 9% – một mức tăng gây sốc trong báo cáo tài chính ở những trường hợp nói trên.

Năm 2009, đặt trong câu chuyện này, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục đón một năm không bình yên. Ít nhất, từ ngày 24/3, biên độ tỷ giá đã được nới rộng lên +/-5%, tỷ giá USD/VND của các ngân hàng đã tăng thêm gần 2%.

Suốt những năm trước đó, tỷ giá USD/VND liên tục được duy trì ổn định, thường chỉ tăng quanh 1% mỗi năm. Thay đổi này ảnh hưởng không nhiều đối với chi phí tài chính của doanh nghiệp, và là một phần giải thích vì sao phần lớn chưa mặn mà với các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cũng không loại trừ mức thay đổi quen thuộc và ổn định đó đã hạn chế sự chủ động của doanh nghiệp trước những điều chỉnh nhanh và khác thường của chính sách vừa qua.

Còn trong giải thích của một doanh nghiệp, năm 2008, tỷ giá đã có quá nhiều biến động khiến họ không thể thích nghi kịp thời để ổn định sản xuất kinh doanh.

Một giải pháp được đặt ra là doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh của các ngân hàng thương mại. Nhưng, bên cạnh phí dịch vụ, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã có chủ trương tạm ngừng cung cấp các sản phẩm này.

Ở một ứng xử khác, như định hướng mà ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SHC, đưa ra là trong thời gian tới sẽ hạn chế dần những khoản vay bằng ngoại tệ. Trong khi đó, giải pháp mà Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen xác định là chuyển đổi các hợp đồng vay USD thành vay VND để tránh rủi ro tỷ giá trong năm 2009.

Liệu đây có phải là một phần nguyên nhân khiến cầu vay ngoại tệ tại các ngân hàng đầu năm nay có xu hướng giảm

Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD thì không ít doanh nghiệp lại được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0cm; margin-right:0cm; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0cm; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Times New Roman”,”serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoPapDefault {mso-style-type:export-only; margin-bottom:10.0pt; line-height:115%;} @page Section1 {size:21.0cm 842.0pt; margin:70.9pt 2.0cm 70.9pt 99.25pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin-top:0cm;
mso-para-margin-right:0cm;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0cm;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD lên + 5% do phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập ngoại, hoặc có nguồn vốn vay ngoại tệ lớn… thì cũng không ít doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

Vay ngoại tệ: Thiệt thòi !

PPC (Nhiệt điện Phả Lại) là một trong những cổ phiếu “thiệt kép” với đợt nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này. Do doanh nghiệp này vay nợ bằng Yên Nhật.

Do đó, khi đồng tiền này tăng lên so với USD, trong khi VND lại mất giá so với USD khiến cho khoản nợ của PPC tăng lên đáng kể. Phần doanh thu tăng thêm khoảng 96 tỷ đồng từ khoảng tăng giá điện mới đây quá “bèo bọt” so với con số của đợt biến động tỷ giá.

Tính đến ngày 31/12//2008, dư nợ vay là 36,2 tỷ JPY. Sự biến động tỷ giá trong năm ngoái đã khiến cho trăng trượng lợi nhuận kinh doanh ấn tượng của PPC không đủ bù đắp cho khoản lỗ kỷ lục 207,7 tỷ đồng tính đến cuối năm.

Khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện của PPC gần 1,600 tỷ đồng cho khoản vay nợ ngoại tệ trên và khoản lỗ 10 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá đã thực hiện do thanh toán 1,8 tỷ JPY tiền gốc vay trong năm nay.

Với khoản nợ vay bằng Yên Nhật là 36 tỷ JPY, thì chỉ cần 1% biến động trong tỷ giá VND/JPY so với cuối năm 2008, PPC có thể phải trích lập thêm hoặc hoàn nhập gần 66.5 tỷ đồng.

Để hạn chế rủi ro này, hiện nay PPC cũng đang tìm kiếm đối tác để bảo hiểm rủi ro. Tuy nhiên, “thiệt thòi” chắc chắn cũng khó ước đoán do khoản vay này không hề nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, việc VND giảm giá so với USD sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành dầu khí thu được khoản lợi lớn nhờ tiền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch là USD.

Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng với những doanh nghiệp có sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ như PVD. Trong quý 4/2009, do sự biến động của tỷ giá hối đoái, PVD chịu một khoản lỗ khoảng 140 tỷ đồng do đánh giá lại các khoản vay ngoại tệ.

Trong đó, khoảng 70 tỷ đồng đã được hiện thực hoá, 70 tỷ đồng còn lại mới được lập dự phòng và sẽ được hoàn nhập lại nếu tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho công ty.

Ngoài ra, trong quý 4/2009, chi phí quản lý của PVD tăng cao so với các tháng trước do công ty đã trích dự phòng mất việc làm, trả tiền lương tháng thứ 13 cho công nhân viên, trả phí quản lý cho tập đoàn Petrovietnam và phí tập đoàn bảo lãnh các khoản vay của PVD.

Theo dự báo của công ty Kim Eng Việt Nam, tổng doanh thu của PVD năm 2009 sẽ giảm khoảng 9,8% so với 2008 do sự thu hẹp của hoạt động thương mại và các dịch vụ liên quan tới hoạt động khoan dầu khí.

Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của công ty sẽ không thay đổi nhiều so với năm 2008 nhờ các hợp đồng dài hạn được ký cho đến hết tháng 7/2009. Trong những tháng còn lại, nhiều khả năng PVD sẽ cho công ty khai thác dầu Phú Quý thuê PV Drilling I theo một hợp đồng khoảng 140 ngày.

Mặc dù giá trị hợp đồng vẫn chưa được công bố nhưng giá thuê có lẽ không thể quá chênh lệch so với giá cho thuê giàn hiện tại tại khu vực Đông Nam Á khoảng 153.000 USD/ngày.

“Theo ước tính của chúng tôi, chi phí cho một giàn khoan một ngày khoảng 110.000-120.000 USD bao gồm chi phí hoạt động, quản lý, khấu hao và lãi vay. Như vậy, cho dù giá cho thuê giàn khoan sụt giảm mạnh chỉ còn khoảng 160.000 USD/ngày tỷ suất lợi nhuận kinh doanh của hoạt động này cũng được duy trì ở mức tối thiểu là 25%”.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty chứng khoán Kim Eng Việt Nam nhận định: “Theo dự báo của chúng tôi, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của PVD sẽ tăng bình quân 22%/năm trong vòng 5 năm tới. Về mặt lợi nhuận, khi mà hoạt động cho thuê giàn khoan chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu dịch vụ do PVD cung ứng, tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tiếp theo”.

Cơ hội với thị trường nội địa

Cũng chịu nhiều tác động xấu từ việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này, nhưng những doanh nghiệp sữa “nội” có khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước có thể nhân cơ hội để mở rộng thị phần vẫn bị các doanh nghiệp “ngoại” chiếm ưu thế. Điển hình như “ông lớn” VNM (Vinamilk).

Tuy là một trong những doanh nghiệp chủ động trong việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước nguồn nguyên liệu chính là sữa bột, chiếm khoảng 50% nguyên liệu sản xuất, vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn.

Như vậy, việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD sẽ đẩy chi phí đầu vào của doanh nghiệp này tăng lên, đặc biệt trong quý 2/2009 vì VNM đã cam kết sẽ không tăng giá sữa đến hết tháng 5/2009.

Nhưng bên cạnh tác động tiêu cực, VNM hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để mở rộng thị phần sữa, đặc biệt là với sản phẩm sữa bột – vốn đang bị các nhà sản xuất ngoại chiếm ưu thế.

Năm 2008, Vinamilk chiếm 37% thị phần tính chung cho tất cả các sản phẩm sữa ở Việt Nam. Sản phẩm sữa bột nhãn hiệu Dielac của doanh nghiệp này chỉ chiếm 15% thị phần. Sản phẩm sữa bột có tỷ suất lợi nhuận gộp cao nên được VNM tập trung phát triển trong thời gian tới.

Sau khi đã tính đến yếu tố VND mất giá khoảng 8% so với USD trong năm 2009 thì tỷ suất lợi nhuận gộp năm nay của VNM sẽ tăng lên từ 31,7% lên 33,6%. Theo đó lợi nhuận sau thuế năm 2009 ước đạt 1.492 tỷ đồng, tăng trưởng 21% so với năm 2008.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty Chứng khoán Kim Eng Việt Nam cho rằng: “Cổ phiếu VNM hiện đang được giao dịch quanh mức P/E dự kiến là 11,6 lần, khá thấp so với mức bình quân 16 lần của cổ phiếu ngành sữa trong khu vực Châu Á. Đây là cổ phiếu đáng được xem xét đầu tư khi nhìn vào tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn của thị trường sữa Việt Nam”.

Theo P.Lan
DĐDN

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Mất tiền oan!

Vào những tháng cuối năm 2008, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá của hầu hết nguyên vật liệu giảm mạnh, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp sản xuất.

Đặc biệt là các doanh nghiệp do lo sợ giá nguyên liệu vật tư tăng nhanh như các tháng đầu năm 2008 nên đã dự trữ khá nhiều nguyên vật liệu vào những tháng cuối năm và hệ quả là phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn.

Vấn đề không có gì đáng bàn nếu năm 2009 này giá nguyên liệu, vật tư bình ổn trở lại và cuối năm doanh nghiệp không phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2009. Như vậy, khoản dự phòng của năm 2008 sẽ được hoàn nhập, nhưng vấn đề này lại không đơn giản như bản chất vốn có của nó.

Mâu thuẫn khi hoàn nhập dự phòng

Mâu thuẫn nảy sinh khi các doanh nghiệp đang trích lập dự phòng này có mức thuế suất thuế ưu đãi 10%, 15%, 20%, tức là thấp hơn so với mức thuế suất thuế thu nhập chung cho các doanh nghiệp là 25% theo Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, vì theo Thông tư 130, khoản hoàn nhập dự phòng này được xem là “thu nhập khác”. Cụ thể, Khoản 7, Mục V, Phần C Thông tư 130 quy định một trong các khoản “thu nhập khác” là “hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ khó đòi và hoàn nhập khoản dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã trích nhưng hết thời gian trích lập không sử dụng hoặc sử dụng không hết”. Cũng theo quy định của Thông tư 130 thì “thu nhập khác” không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể, Khoản 2.6, Mục I, Phần H quy định, việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp không áp dụng đối với “các khoản thu nhập khác quy định tại Mục V, Phần C, Thông tư này”.

Như vậy, khoản hoàn nhập dự phòng của doanh nghiệp sẽ được xem là “thu nhập khác” và phải chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, tức là không áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ: Một doanh nghiệp năm 2008 có lãi trước thuế là 100 tỷ đồng, chưa trích lập dự phòng. Số dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho phải trích lập là 30 tỷ đồng. Như vậy, lãi trước thuế của doanh nghiệp sẽ là 70 tỷ đồng.

Nếu không trích lập dự phòng 30 tỷ đồng thì tiền thuế phải nộp cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 15% = 4,5 tỷ đồng (giả sử doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 15%). Nếu trích lập dự phòng, qua năm 2009 doanh nghiệp đó phải nộp thuế cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 25% = 7,5 tỷ đồng (doanh nghiệp không được áp dụng thuế suất ưu đãi 15%, mà phải áp dụng thuế suất chung là 25%). Số tiền thuế phải nộp thêm là: 7,5 – 4,5 = 3 tỷ đồng. Khoản nộp thuế thêm sẽ lớn hơn nếu như khoản trích lập dự phòng lớn hơn và chênh lệch của mức thuế suất ưu đãi và không ưu đãi lớn hơn.

Giải quyết thế nào?

Thiết nghĩ, việc Thông tư 130 xác định “thu nhập khác” bao hàm cả các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là không hợp lý, vì bản chất của nó là từ hoạt động sản xuất – kinh doanh chính, điều này dẫn đến hai hệ quả:

– Các doanh nghiệp không muốn trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2008 vì sẽ phải nộp thêm tiền thuế vào năm 2009.

– Các công ty kiểm toán không thể chấp nhận báo cáo tài chính của doanh nghiệp nếu không trích lập dự phòng vì không phản ánh trung thực tình hình giảm giá nguyên vật liệu. Thế nhưng, công ty kiểm toán không thể trả lời việc sau khi trích, doanh nghiệp vì phải phản ánh trung thực tình hình tài chính cho năm 2008 mà phải nộp thêm thuế thu nhập cho năm 2009!?

Vì vậy, ngay từ bây giờ, doanh nghiệp đã trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn cho năm 2008 mà hiện tại đang có thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất 25% phải kiến nghị ngay lên Bộ Tài chính để có chính sách phù hợp hơn cho trường hợp này.

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho của một số DN năm 2008

Tên doanh nghiệp

Giá trị trích lập (tỷ đồng)

CTCP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RAL)

15,832

CTCP Nam Việt (ANV)

63,562

CTCP Kim khí TP. HCM (HMC)

86,242

Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM)

642,993

CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG)

185,041


Nguyễn Khả Phong, Công ty TNHH Chế biến bột mỳ Mê Kông

Theo ĐTCK

CÁC TIN LIÊN QUAN: Siêu thị ĐM-NT Chợ Lớn: Giảm giá đến 50% để giải phóng hàng tồn kho

Kẻ thắng, người thua sau hội nghị thượng đỉnh G20- 040309

(CafeF) – IMF, Mỹ, Pháp, Đức và nước ủng hộ thương mại tự do chiến thắng trong hội nghị G20. Thế nhưng cũng có không ít kẻ bại trận sau hội nghị.

Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc với cam kết của Tống thống Obama về việc nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Ai là kẻ bại trận sau hội nghị này? Đó chính là những “cao bồi” trên thị trường tài chính.

Tổng thống Obama trả lời phỏng vấn báo giới sau khi Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc : “Mọi chuyện đều ổn.”

Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh cảm thấy hài lòng và Thủ tướng Pháp cho biết ông chưa bao giờ tin rằng hội nghị thượng đỉnh G20 lại thành công đến thế.

Thông thường, nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn trên thế giới sau hội nghị thượng đỉnh không bao giờ tuyên bố rằng họ đã làm được cái họ muốn. Điều này nhiều khi đúng. Tại London lần này, không khí sau buổi họp hết sức bình an, dễ chịu bởi đó là cái kết có hậu cho nhiều tuần tranh cãi về những vấn đề từ kế hoạch cứu kinh tế cho đến việc thắt chặt điều tiết thị trường tài chính toàn cầu.

Sau cuộc họp, ít nhất mỗi người đều hài lòng vì đã làm được một điều gì đó. Vậy kẻ thắng, người thua tại hội nghị thượng đỉnh G20 là ai?

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chiến thắng vang dội nhất

Nguồn tiền cho quỹ tăng từ 250 tỷ USD lên 750 tỷ USD. Trước khi khủng hoảng tài chính thế giới thật sự gây chấn động thế giới, không ai muốn vay tiền của quỹ này và uy tín của quỹ vì thế cũng đi xuống.

Tuy nhiên, trong khủng hoảng, IMF được coi như một “đấng cứu thế” của các nước lớn nhỏ, đặc biệt là những nước nào chịu ảnh hưởng chủ yếu từ bên ngoài. Latvia, Iceland, Hungary, và Ukraina và chuẩn bị có cả Mêhicô sẽ vay tiền của quỹ.

Có thêm tiền đồng nghĩa với sẽ phải chấp nhận một số thay đổi. IMF sẽ phải từ bỏ những điều kiện hết sức ngặt nghèo đi kèm các khoản vay trước đây. Thủ tướng Ấn Độ hết sức hài lòng về việc này : “Chúng tôi rất vui mừng khi điều kiện cho vay đã được nới lỏng.”

Trong vài năm tới, cấu trúc của IMF có thể sẽ thay đổi để tiếng nói của những nước như Trung Quốc hay Ấn Độ thêm trọng lượng.

Ai là người chiến thắng?

Mỹ

Mỹ đã không thể thuyết phục Đức và nhiều nước châu Âu khác tăng tiền cho các kế hoạch cứu kinh tế. Thế nhưng với số tiền khổng lồ được rót vào kinh tế thế giới thông qua số tiền 750 tỷ USD vào IMF, ngoài ra là 250 tỷ USD vào Ngân hàng Thế giới và một số ngân hàng phát triẻn khác, Mỹ hẳn cũng cảm thấy hài lòng.

Để đổi lại, Mỹ ủng hộ Đức và Pháp trong nỗ lực quản lý sát sao hơn các quỹ đầu cơ, đưa ra chính sách mạnh tay đối với hành vi trốn thuế và ủng hộ đối với hệ thống tài chính được điều tiết toàn cầu và tập trung – điều mà bao lâu nay các nước châu Âu mong muốn.

Pháp và Đức

Họ hết sức hài lòng bởi yêu cầu về thể chế của họ đã được đáp ứng, đặc biệt là yêu cầu về thuế. Tổng thống Pháp nhận xét : “Cuối cùng họ cũng nhận ra rằng mọi chuyện cần phải thay đổi.”

Những nước ủng hộ tự do thương mại

Trong nhóm này có Canada và Úc. Hai nước này và nhiều nước khác hết sức lo ngại về việc bảo hộ trên toàn cầu ngày một tăng cao, trong đó mới nhất có thể kể đến điều khoản “Buy American” trong kế hoạch 787 tỷ USD của Mỹ.

Họ hài lòng bởi G20 đã không chỉ đưa ra những cam kết về tự do thương mại – nhưng cam kết mà cuối cùng đã bị phá vỡ, nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn trên thế giới cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để kiểm soát những gì đang diễn ra trên thế giới và thông báo cụ thể về những hành vi nào là không thể chấp nhận được.

Thủ tướng Anh Gordon Brown

Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy ông không được lòng người dân Anh, việc kêu gọi nhà lãnh đạo trên thế giới và tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh G20 cũng khiến uy tín của ông có phần cải thiện. Tuy nhiên điều này nhiều khả năng sẽ vẫn là không đủ để ông có thể đắc cử.

Lãnh đạo các nền kinh tế thuộc G20 thừa nhận những thỏa thuận mới đạt được không thể ngay lập tức vực dậy nền kinh tế thế giới hay giải quyết những vấn đề ngày một nhiều của các ngân hàng. Để hồi phục, kinh tế thế giới phải mất cả một quá trình và họ dự kiến sẽ tiếp tục nhóm họp vào mùa thu năm nay để xem xét về tiến độ và kết quả thực hiện các biện pháp.

Có vẻ như không ai thua thiệt sau hội nghị thượng đỉnh G20, thực tế không đẹp đẽ như vậy.

Ai là kẻ thua cuộc?

Người đứng đầu ngân hàng, tổ chức tài chính

Những nhà tài phiệt tài chính và nhiều giám đốc điều hành khác, người đã ra đi để lại hàng loạt khoản thua lỗ cho ngân hàng hay công ty họ sẽ chịu nhiều ảnh hưởng nhất.

G20 sẽ thắt chặt quản lý các khoản lương thưởng của đội ngũ điều hành, lương thưởng của họ sẽ gắn liền với mức tăng trưởng dài hạn của công ty/ngân hàng/tổ chức đó. Chế độ luật mới sẽ được áp dụng đặc biệt chặt chẽ đối với các ngân hàng, ngăn tối đa rủi ro trong các hoạt động mà giám đốc điều hành mạo hiểm.

Nhà đầu tư tại các thị trường không chính thức sẽ phải chịu thiệt nhiều nhất. Theo chương trình cải tổ khung điều tiết mới, đòn bẩy sẽ được quản lý chặt chẽ hơn tại các công ty tài chính.

Ngọc Diệp

Theo CNN

Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay- GS Đặng Phong

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 4:28 pm
Tags: ,

Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong – tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo Người Đô Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển tiềm năng”

Ông mời tôi ăn cơm trưa: “Có cá diếc kho tương và rau muống học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy “chúng nó” hét dzô, dzô… không nuốt nổi”. Ăn lối nhà quê, nhưng ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.

Người ta sợ tôi bị “mua”

Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng dạy?

– GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi làm tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp). Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện… ở đó ra. Tôi cũng bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của tôi là: “Chế độ thu mua thóc ở VN”, được đánh giá tốt, có lẽ vì thế ông thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở lại giảng ở trường ĐH Paris VII.

Nghe nói ông từng bị “đả đảo” ở Mỹ?

– Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là “chuyện động trời” đối với một trí thức xã hội chủ nghĩa. Thêm chuyện trường ĐH Irvine (bang California – Mỹ) mời tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã “bị phương Tây mua rồi”. Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi trao đổi thẳng thắn với một cán bộ đại sứ quán ta ở Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua Mỹ vào năm 1991.

Buổi giảng đầu tiên tại Irvine “Thực trạng kinh tế VN” khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình “đả đảo”, đòi “Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!” Họ đòi bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn. Tôi đồng ý, có ba người xấn vào nóng nảy lên án tình trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về tham những, tôi nói đúng có tham nhũng – nhưng chính quyền Sài Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế, có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ… không hề muốn xuống ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ nguyện vọng đó như mọi công dân khác.

Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận, sửa chữa – sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.

Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?

Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?

– Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.

Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính – thu nhập của họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.

Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ – có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí… là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.

Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ – là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.

Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào… để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia, Malaysia, Nhật Bản… để sản xuất.

Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ). Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.

Bộ máy kinh tế giỏi

Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế giỏi?

– Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng… phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm…, Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng…) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế – xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm… trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.

Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế đó?

– Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi…

Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế giỏi?

– Marx nói “Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong 100 – 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại”. Tức là tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp, tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.

Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ “lực lượng lao động hợp tác xã” thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta- bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ – nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa.

Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn…

Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?

– Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn Nhất… là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá… rồi bán thầu cho Hoa kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ…) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v… Tất nhiên sự tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí… Đó một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.

Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?

Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng là con đường “nâng giai cấp” của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.

Hơn và kém xưa

Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:

Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc… đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên – thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.

Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình, người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan. Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ trấn lột, chém giết, cướp bóc… Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới. Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn… Mọi người được yên ổn làm ăn.

Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu… lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng… Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.

Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống, mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ cũng không ổn định.

Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai nạn xảy ra liên tục… thể hiện sự bất cập của hệ thống quản lý hiện nay.

Mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng Việt Nam-Porter’s 5 forces

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 3:30 am
Tags:

(TBKTSG) – Bài viết này sử dụng mô hình của Michael Porter (Năm lực lượng của Porter – Porter’s 5 forces) để nhìn vào thị trường ngân hàng Việt Nam và phân tích những lực lượng cạnh tranh, các xu hướng phát triển cũng như cơ hội khai thác để tạo nên lợi thế cạnh tranh phù hợp với nguồn lực của các ngân hàng.

Nguy cơ từ các ngân hàng mới

Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập. Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm. Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ.

Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2008.

Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam. Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai.

Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng có nguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phép thành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008. Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp, đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng trở lại.

Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được. Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyết định khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam.

Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không. Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ.

Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối. Các ngân hàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất. Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM.

Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng như thế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá cao khiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp. Nhưng một khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là một điều gần như chắc chắn.

Nguy cơ bị thay thế

Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại:

• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)

• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)

• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán

• Là nơi cho vay tiền

• Là nơi hoạt động kiều hối

Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.

Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng. Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân. Nhưng các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm.

Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọc thẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán. Chính sự bất tiện này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụng tiền mặt hơn là thông qua ngân hàng.

Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất. Đó là chưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi”. Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng. Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàng đang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm.

Quyền lực của khách hàng

Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận. Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam.

Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải. Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao. Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác.

Quyền lực của các nhà cung cấp

Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu.

Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắc đến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng. Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một ngân hàng khác. Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. Ở một khía cạnh khác, ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.

Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành

Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*). Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn. Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.

Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có một phân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ. Họ đã phục vụ những khách hàng này từ rất lâu ở những thị trường khác và khi khách hàng mở rộng thị trường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo.

Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều ngân hàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản. Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựa trong khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều này là không thể. Ngoài ra, ngân hàng ngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internet banking).

Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiều nước của ngân hàng ngoại. Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này, các ngân hàng trong nước đã trang bị  hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhân sự… khá quy mô. Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với khách hàng có sẵn. Ngân hàng trong nước sẵn sàng linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối với những khách hàng quan trọng của họ.

Xu hướng trong ngành ngân hàng

Hiện nay Việt Nam đang có quá nhiều ngân hàng nhưng chưa có một ngân hàng thực sự mạnh tầm cỡ quốc tế. Nhìn chung, các ngân hàng đã đua nhau mở rộng quy mô mạng lưới để huy động nhiều vốn (phát triển theo chiều rộng). Việc này dẫn đến tình trạng các ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt với nhau trong hoạt động tín dụng mà quên mất các sản phẩm và dịch vụ tiện ích kèm theo (chiều sâu). Đồng thời, các ngân hàng mở rộng quy mô nhưng do thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cho nên công tác quản trị lại không theo kịp quy mô phát triển.

Khủng hoảng kinh tế cũng mang lại rất nhiều khó khăn cho ngành ngân hàng, một số ngân hàng đã không thể duy trì được mức tăng trưởng trong năm vừa qua. Đây chính là cơ sở để nhiều chuyên gia về sáp nhập (M&A) đưa ra nhận định rằng xu hướng sáp nhập trong ngành ngân hàng đang đến gần.

Tuy nhiên, ngành ngân hàng là một trong những ngành nghề nhạy cảm, do vậy việc sáp nhập chỉ có thể xảy ra trong vòng một, hai năm nữa khi ngành ngân hàng đã được mở nhiều cửa hơn theo cam kết với WTO.

ThS. TRỊNH VIỆT DŨNG

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.