Ktetaichinh’s Blog

March 28, 2009

Khi giáo dục đại học vào WTO

Filed under: thị trường (market) — ktetaichinh @ 2:45 am
Tags:

Vấn đề quan trọng nhất vẫn là phương thức quản lý và chiến lược phát triển của nhà nước. Tuy được xem là ngành dịch vụ, nhưng giáo dục là một loại dịch vụ đặc biệt vì nó tác động lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội và liên quan đến hàng triệu gia đình.
Dịch vụ giáo dục và nỗi lo “thương mại hóa”

Cũng như trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ trước đây, trong văn bản cam kết với WTO, dịch vụ giáo dục được đặt bên cạnh những dịch vụ khác như y tế, viễn thông, phân phối, vận chuyển…

Như vậy, Nhà nước đã thừa nhận, ở một phương diện nào đó, giáo dục không đơn thuần chỉ là phúc lợi xã hội, mà còn là quan hệ giữa đơn vị cung cấp dịch vụ giáo dục và người sử dụng dịch vụ phải trả phí.

“Đây là một sự thay đổi nhận thức quan trọng mà cho đến nay không phải mọi người trong xã hội ta đều dễ dàng chấp nhận” – một nhà hoạt động giáo dục lâu năm (yêu cầu không nêu tên) đã nhận xét.

Quả vậy, không kể thời kỳ mà mọi thứ đều được Nhà nước bao cấp, những năm gần đây, dù đã có những đổi mới đáng kể, giáo dục nước ta vẫn cứ lướng vướng nửa bao cấp – nửa thị trường.

Điều này thể hiện rõ nhất ở giáo dục bậc đại học. Một mặt, xã hội yêu cầu phải có những trường đào tạo chất lượng cao, vươn lên ngang tầm khu vực, nhưng mặt khác, chi phí đào tạo thì một phần Nhà nước phải gánh phần lớn.

“Cần quan niệm rằng giáo dục đại học không phải chủ yếu là nâng cao dân trí mà là đào tạo người có trình độ ra làm việc. Vì vậy chính người đi học phải thanh toán chi phí đào tạo; Nhà nước không phải bao cấp tràn lan – hẳn nhiên ngoại trừ những trường hợp đặc biệt hoặc những người trong diện chính sách cần được hỗ trợ. Do đó, cần chấp nhận một thực tế là không phải bất cứ ai cũng có thể vào đại học” – vị này nói.

Tuy nhiên, cách nhìn nhận này khiến nhiều người lo lắng đặt vấn đề: liệu với sự mở cửa giáo dục, tình trạng thương mại hóa giáo dục có diễn ra tràn lan, vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước? Nỗi lo này không phải là không có cơ sở từ thực tế: những năm gần đây đã xảy ra tình trạng nhiều trường chỉ chạy theo doanh thu, lấy học phí cao mà chất lượng đào tạo kém, thậm chí có cả chuyện bán bằng, lừa đảo người đi học.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, Trưởng ngành kỹ thuật hàng không Đại học Bách khoa, cụm từ “thương mại hóa” khá chung chung, cho nên cần xác định thật rõ. Khi đã được xem là ngành dịch vụ, các cơ sở đào tạo – cả trong nước lẫn nước ngoài – chính là đơn vị cung cấp dịch vụ giáo dục và khách hàng là những người đi học. Nếu họ cung ứng một dịch vụ giáo dục chất lượng tốt đúng như cam kết và tương xứng với chi phí người đi học bỏ ra thì đó là kinh doanh lành mạnh, không phải là thương mại hóa giáo dục; còn ngược lại mới đáng lên án, ngăn chặn.

Thực ra, những hiện tượng tiêu cực, lộn xộn xảy ra trong giáo dục thời gian qua không phải do chính sách mở cửa, xã hội hóa mà có nguyên nhân từ tình trạng quản lý còn lỏng lẻo, quy chế còn chưa rõ ràng, thực hiện đổi mới không đến nơi đến chốn.

Theo GS. Lê Ngọc Trà, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục ĐHSP TPHCM, không phải vào WTO xu hướng thương mại hóa giáo dục – hiểu theo nghĩa tiêu cực – sẽ tăng lên mà thực ra, nếu tiếp tục duy trì tình trạng thị trường tranh tối tranh sáng như lâu nay thì nhiều người cứ nhân danh kinh tế thị trường để thương mại hóa giáo dục.

Kinh tế thị trường có luật lệ của nó và giáo dục trong nền kinh tế thị trường không hề đồng nghĩa với thương mại hóa giáo dục. Hầu hết các nước trong WTO đều có nền kinh tế thị trường nhưng giáo dục của họ nào có bị thương mại hóa.

Vấn đề quan trọng nhất vẫn là phương thức quản lý và chiến lược phát triển của nhà nước. Tuy được xem là ngành dịch vụ, nhưng giáo dục là một loại dịch vụ đặc biệt vì nó tác động lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội và liên quan đến hàng triệu gia đình. Do vậy Nhà nước cần có các định hướng phù hợp, có sự giám sát, thẩm định về chất lượng đào tạo, bảo đảm quyền lợi của

Chẳng hạn đối với các cơ sở nước ngoài được phép hoạt động trong nước, cơ quan quản lý nhà nước cần kiểm tra xem có hay không tình trạng lợi dụng bán “thương hiệu” – tức đào tạo không đúng chất lượng cam kết, hoặc thấp hơn nhiều so với chính gốc trong khi vẫn thu học phí tương đương.

Cần cơ chế tự chủ để vươn lên

Thực ra, so với các lĩnh vực khác như kinh tế chẳng hạn, giáo dục nước ta chậm hội nhập với thế giới. “Vào WTO sẽ thúc đẩy nền giáo dục nước ta đổi mới hơn nữa, rút ngắn khoảng cách với thế giới. Đó là cái lợi lớn do WTO mang lại” – GS. Lê Ngọc Trà nhận định như vậy.

Sự thúc đẩy đổi mới giáo dục, theo GS. Trà, chính là từ những thách thức đặt ra trong quá trình mở cửa. Đối với giáo dục đại học chẳng hạn, sự xuất hiện của những trường đại học được đầu tư lớn về cơ sở vật chất, có phương thức quản trị tiên tiến, thu học phí cao đi liền với chất lượng giảng dạy cao… buộc các trường trong nước phải đổi mới về nhiều mặt để vươn lên trong cuộc cạnh tranh.

Ngay chương trình học cũng phải xây dựng làm sao để có tính liên thông với chương trình giáo dục ở nhiều nước. “Dù muốn hay không muốn, mình cũng bị tác động, bị lôi kéo. Nếu như ở lĩnh vực kinh tế, vào WTO ta không thể làm hàng giả, trốn thuế, vi phạm bản quyền… mà phải làm ăn nghiêm chỉnh trong giao thương quốc tế thì ở giáo dục cũng vậy: không thể tồn tại và phát triển trong sân chơi WTO nếu cứ đào tạo kém chất lượng, “thương mại hóa” giáo dục ” – GS. Trà nói.

Theo cam kết của nước ta với WTO, đối với giáo dục từ cấp 3 trở lên (ở các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, ngoại ngữ), kể từ ngày 1-1-2009 sẽ cho phép thành lập cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài.

Như vậy, còn hơn hai năm nữa, đại học Việt Nam sẽ vào cuộc cạnh tranh gay gắt với nhiều đại học nước ngoài. Có ý kiến cho rằng có quá ít thời gian để chuẩn bị và chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có khi “thua” trên sân nhà.

Tuy nhiên, theo bà Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng Đại học Hoa Sen, thì nếu cứ chờ đủ điều kiện để đương đầu thì biết đến bao giờ mới đủ? Nên xem cái mốc thời gian trong bản cam kết như một thực tế để chúng ta phấn đấu. Cần phải chấp nhận thách thức và tăng cường nội lực để đứng vững trong cuộc cạnh tranh giáo dục. Như vậy chúng ta mới khai thác được cơ hội do WTO mang lại.

Vấn đề đặt ra hiện nay, theo GS. Lê Ngọc Trà, là làm sao chuẩn bị những điều kiện tốt để nước ta có thể chơi được, chơi có hiệu quả khi vào sân chơi WTO. Trước nhất là cần có một cơ chế thích hợp. Đối với giáo dục đại học, chúng ta cần làm quen với cơ chế tự chủ, để cho các trường tự chủ trong quản trị và tổ chức các hoạt động giáo dục; Nhà nước chỉ nên nắm những cái cần nắm.

Cùng một quan điểm như vậy, TS. Nguyễn Thiện Tống cho rằng cần sớm thực hiện cơ chế tự chủ ở đại học – đúng hơn là tự trị đại học như thường thấy ở các nước có nền giáo dục phát triển – thì mới đủ điều kiện vươn lên, cạnh tranh với đại học các nước.

“Thật khó cạnh tranh nổi với đại học các nước nếu ta cứ duy trì tình trạng đại học bị gò bó, lệ thuộc nhiều vào Nhà nước, từ bộ máy lãnh đạo điều hành nhà trường cho đến quy định khung học phí, xây dựng chương trình như hiện nay. Phải có một cơ chế hoạt động, một bộ máy phù hợp với kinh tế thị trường và tương đương với đại học nước ngoài thì mới cạnh tranh được”.

Tuy vậy, TS. Tống cũng lưu ý rằng cơ chế tự chủ đại học là cơ chế giao quyền điều hành nhà trường cho một tập thể có đủ năng lực, tâm huyết, chứ không phải là giao trường cho một số “ông chủ”.

Trong cơ chế này, vẫn có sự hiện diện của Nhà nước thông qua việc cử những người có uy tín vào hội đồng quản trị của trường. Và từ sự thay đổi về mặt tổ chức này sẽ dẫn đến những thay đổi về nhân sự và hoạt động của các trường đại học: có ban lãnh đạo tốt, năng động, quy tụ được đội ngũ thầy giỏi, nâng cao chất lượng đào tạo.

TS. Tống nói: “Tôi tin rằng có rất nhiều trí thức, chuyên gia tài năng, tâm huyết ở trong nước và Việt kiều sẵn sàng hợp tác, làm việc lâu dài ở các trường đại học trong nước một khi có cơ chế thoáng, có ban lãnh đạo tốt. Đối với họ, đồng tiền không phải là tất cả và sự cạnh tranh thu hút chất xám có quyết liệt đến đâu cũng khó đánh bạt mong ước được góp sức cho một nền giáo dục đại học Việt Nam tiến bộ ngang với các nước phát triển”.

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: