Ktetaichinh’s Blog

March 26, 2009

Nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% – 032309

Filed under: khủng hoảng,kinh tế,ngân hàng — ktetaichinh @ 3:07 pm
Tags: , ,

Sáng nay (23/3), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định nới rộng thêm biên độ tỷ giá giữa VND với USD lên +/-5%.

Cụ thể, tại Quyết định số 622/QĐ-NHNN ngày 23/3/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá giữa VND với USD tăng từ mức +/-3% lên mức +/-5%, có hiệu lực kể từ ngày 24/3/2009.

Theo Ngân hàng Nhà nước, việc điều chỉnh trên “bắt” theo những tín hiệu mới của nền kinh tế, như nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong quý 1/2009 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức thấp, cán cân thương mại thặng dư…

Mặt khác, việc điều chỉnh biên độ tỷ giá này cũng nhằm để “tăng cường khả năng điều chỉnh linh hoạt của nền kinh tế”.

Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, quyết định trên sẽ giúp cho tỷ giá biến động hai chiều linh hoạt hơn, bám sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường; đồng thời tạo điều kiện cho các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động lập phương án sản xuất kinh doanh trong năm 2009.

Cùng với việc mở rộng biên độ này, Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định sẽ kiên quyết áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với mọi hành vi mua bán ngoại tệ có bản chất giao ngay vượt trần biên độ theo quy định, bên cạnh việc chủ động áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp, đảm bảo việc chu chuyển ngoại tệ lành mạnh trong nền kinh tế.

Trước đó, trong năm 2008, Ngân hàng Nhà nước cũng đã ba lần nới rộng biên độ tỷ giá, từ +/-0,75% lên +/-3%, và hai lần trực tiếp tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng

Advertisements

Vùng đặc quyền kinh tế hay đặc quyền quân sự? 032909

Filed under: chính sách,chính trị — ktetaichinh @ 3:04 pm
Tags: , ,

(TuanVietNam) – Sự kiện Mỹ – Trung đụng độ trên biển không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ – một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc – một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó.

Bài cùng chủ đề:
Đụng độ Mỹ – Trung và lựa chọn ứng xử cho ASEAN
Ba góc nhìn về xung đột Mỹ – Trung
Đụng độ Mỹ – Trung và ý nghĩa với tranh chấp biển ĐNA

Ngày 08/03/2009, cách đảo Hải Nam 75 hải lý về phía Nam, 5 tàu Trung Quốc bao vây một tàu do thám không vũ trang của hải quân Mỹ, tiến tới cách tàu này 8 mét, cản đường tàu này và tìm cách phá hoại những thiết bị thuỷ âm mà tàu này đang kéo trên biển.

Cường quốc đang lên Trung Quốc bắt đầu “thách thức” vị trí thống lĩnh của Mỹ ở ngoài khơi.

Vùng biển nơi sự kiện xảy ra nằm ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý từ đảo Hải Nam của Trung Quốc, ngoài vùng 12 hải lý từ đất liền Việt Nam và từ các đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang chiếm đóng. Tọa độ chính xác chưa được công bố nhưng theo Trung Quốc thì vùng này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Sau đó, Mỹ cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật biển quốc tế. Trung Quốc cáo buộc ngược lại là Mỹ vi phạm luật quốc tế và luật Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Sự kiện này không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ – một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc – một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó.
1 Vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), trên nguyên tắc nước ven biển có quyền có 5 vùng biển sau: Nội thủy; Lãnh hải; Vùng tiếp giáp lãnh hải; Vùng đặc quyền kinh tế; và Thềm lục địa.

Xét về tính chất pháp lý, 5 vùng biển mà nước ven biển có quyền đòi hỏi theo UNCLOS có thể được chia thành 2 nhóm khác nhau:

Các vùng biển thuộc chủ quyền của nước ven biển, bao gồm:

– Nội thủy: vùng biển nằm phía bên trong đường cơ sở.

– Lãnh hải: vùng biển rộng 12 hải lý phía ngoài đường cơ sở.

Các vùng biển này có quy chế pháp lý như lãnh thổ trên đất liền, tức quốc gia ven biển có quyền thực thi chủ quyền của mình tại vùng biển này như đối với lãnh thổ đất liền. Tuy nhiên, có một điều khác với lãnh thổ trên bộ, tàu thuyền hay máy bay nước ngoài được quyền đi qua vô hại trong lãnh hải.

Các vùng biển mà nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán, bao gồm:

– Vùng tiếp giáp lãnh hải: vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền lãnh hải và rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở.

– Vùng đặc quyền kinh tế: vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

– Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía bên ngoài của lãnh hải trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển được thực hiện một số quyền mang tính chất chủ quyền và chỉ có quyền tài phán trong một số lĩnh vực nhất định.

Riêng đối với vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có những quyền chủ quyền về việc khảo sát, khai thác, bảo tồn, quản lý và nghiên cứu các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như có những quyền chủ quyền về những hoạt động khác vì mục đích kinh tế. Ngoài ra, trong vùng biển này, quốc gia ven biển cũng có quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước và các quyền khác do Công ước này quy định.

Xét về mặt lịch sử, tập quán và luật pháp quốc tế trước khi UNCLOS ra đời không có quy chế về vùng đặc quyền kinh tế. Vùng biển này là sáng kiến của UNCLOS và đặt vùng này nằm giữa vùng lãnh hải và biển cả. Nó nhằm mục đích cho quốc gia ven biển được hưởng những quyền lợi về kinh tế trên những khu vực ngoài 12 hải lý mà không cần phải mở rộng chiều rộng của lãnh hải; đồng thời vẫn đảm bảo những quyền lợi phi kinh tế của những quốc gia khác ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý của quốc gia ven biển.

Quy chế lãnh hải

Thật vậy, từ thế kỷ 18, nước Anh và một số nước trên thế giới bắt đầu công nhận một vùng lãnh hải rộng khoảng 3 hải lý thuộc chủ quyền nước ven biển, và công nhận là không nước nào có chủ quyền đối với vùng biển, gọi là biển cả, bên ngoài vùng lãnh hải này. Từ thế kỷ 19 cho tới giữa thế kỷ 20, khái niệm “lãnh hải – biển cả” này trở thành tập quán ngoại giao, ban đầu là cho các nước Âu Mỹ và sau đó là cho cộng đồng quốc tế.

Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng Tiếp giáp[1] (Công ước 1958) nới chiều rộng của lãnh hải ra thành 12 hải lý. Trong lãnh hải, nước ven biển có chủ quyền, nhưng các nước khác có quyền đi qua vô hại[2].

Theo Công ước 1958, việc bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển là những mục đích của quy chế lãnh hải 12 hải lý.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) kế thừa tinh thần trên của Công ước 1958. Điều 19 của UNCLOS quy định cụ thể về “phương hại tới hoà bình” như sau[3]:

2. Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi như phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sau đây:

a) Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chính quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;

b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;

c) Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

d) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;

f) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;

h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;

i) Đánh bắt hải sản;

j) Nghiên cứu hay đo đạc;

k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;

l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua.

Quy chế biển cả

Ngược lại, khác với trong vùng lãnh hải, tinh thần đối với của biển cả là các nước trên thế giới có tự do hàng hải, hàng không và tự do sử dụng biển cả.

Tuy có quy định rằng biển cả là để cho các mục đích hoà bình và quy định rằng các nước phải tuân thủ luật quốc tế và Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS không cấm đo đạc hay những hoạt động quân sự như từ Điểm b đến Điểm f, Khoản 2 Điều 19 UNCLOS như đã cấm trong vùng lãnh hải. Như vậy, tinh thần tự do hoạt động quân sự trên biển cả có từ lâu đời và được UNCLOS bảo lưu.

Quy chế vùng đặc quyền kinh tế

Trong bài viết về lịch sử của quy chế vùng đặc quyền kinh tế, S.N. Nandan, Đại diện Đặc biệt của Tổng Thư ký về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc cho là mục đích của sự ra đời của quy chế vùng đặc quyền kinh tế trong UNCLOS là cho phép các nước ven biển bảo đảm quyền lợi kinh tế của mình mà không cần phải nới quy chế của lãnh hải rộng ra 200 hải lý[4].

Trong khi tinh thần của lãnh hải là bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển thì tinh thần của vùng đặc quyền kinh tế là bảo đảm quyền lợi kinh tế của nước ven biển. Ngoài việc bảo đảm quyền lợi kinh tế và những quyền tài phán hạn chế, tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế gần giống tinh thần của quy chế biển cả.

Thật vậy, trong khi Điều 19 của UNCLOS cấm đo đạc và hoạt động quân sự, bao gồm thu thập thông tin tình báo trong lãnh hải, không có một điều cấm tương tự trong biển cả hay vùng đặc quyền kinh tế.

Điều 58 của UNCLOS nói rằng trong vùng đặc quyền kinh tế các nước có tự do hàng hải, hàng không được quy định tại điều 87 dành cho biển cả.

UNCLOS có quy định rằng các hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế phải hoà bình và quy định rằng các nước phải tuân thủ luật quốc tế và Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, nhưng điều này không khác với biển cả.

Như vậy, đối với tự do hàng hải, hàng không và đối với hoạt động quân sự, tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế gần với tinh thần của quy chế biển cả, và rất khác với tinh thần của quy chế lãnh hải.

Trên thực tế, phần lớn các nước trên thế giới công nhận là quyền hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế giống như trong biển cả, ngoại trừ hoạt động quân sự không được gây thiệt hại cho kinh tế của nước ven biển và không gây thiệt hại đáng kể cho tài nguyên[5]. Trên thế giới chỉ có vài nước, bao gồm Bangladesh, Brazil, Cape Verde, Malaysia, Pakistan, và Uruguay, tuyên bố là các nước khác phải xin phép trước khi thi hành hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển[6].
2 Hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế

Xét về khía cạnh pháp lý, câu hỏi là những hành động do thám và khảo sát thủy văn quân sự của Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc có vi phạm UNCLOS hay không?

Dựa trên những lý do sau, có thể cho là những hành động đó không vi phạm UNCLOS:

– Tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế như đã nêu trên.

– Điều 19 của UNCLOS cấm đo đạc và thu thập tình báo trong lãnh hải nhưng không tồn tại điều tương đương cấm những việc này trong vùng đặc quyền kinh tế hay biển cả.

– Điều 58 của UNCLOS nói rằng trong vùng đặc quyền kinh tế các nước có những tự do hàng hải, hàng không của điều 87 trong quy chế biển cả.

– Những quy định của UNCLOS về sử dụng biển một cách hoà bình trong vùng đặc quyền kinh tế không khác với trong biển cả.

– Tập quán quốc tế là công nhận quyền đo đạc, do thám và hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế.

Ngược lại, Trung Quốc cho là những hành động đó vi phạm UNCLOS vì những lý do sau.

Trung Quốc cho rằng khảo sát thuỷ văn, đo đạc hay do thám là những hành động để “sửa soạn chiến trường”, vì vậy là một sự đe doạ cho Trung Quốc, và vì vậy vi phạm luật quốc tế, cụ thể là Điều 2, đoạn 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc[7]. Trong quan điểm này, Trung Quốc dùng từ “đe doạ” với nghĩa một nguy hiểm tiềm tàng, khác với ý nghĩa của thuật ngữ “đe dọa dùng vũ lực” trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc có nghĩa như doạ nạt, cảnh cáo và với ý là có thể hành động tức thời. Vì vậy lập luận này của Trung Quốc là không đúng.

Trung Quốc cũng cho rằng những hành động đó xâm phạm an ninh của Trung Quốc, vì vậy không “tính đến các quyền và các nghĩa vụ của nước ven biển” như điều 58 của UNCLOS đòi hỏi[8]. Tuy nhiên, quy định của UNCLOS về an ninh trong vùng đặc quyền kinh tế không khác với trong biển cả. Ngoài việc không cản trở các hoạt động kinh tế và không gây thiệt hại đáng kể cho tài nguyên, không có quan niệm chung thế nào là “tính đến các quyền và các nghĩa vụ của nước ven biển” trong vùng đặc quyền kinh tế[9]. Vì vậy quan điểm này của Trung Quốc không phải là quan điểm cụ thể tồn tại trong UNCLOS.

Lý do thứ ba của Trung Quốc là đo đạc, khảo sát thuỷ văn và do thám là nghiên cứu khoa học biển cho nên UNCLOS đòi hỏi là phải xin phép Trung Quốc, và những hành động đó không phải là những hành động hoà bình cho nên UNCLOS không đòi hỏi là Trung Quốc phải cho phép. Ngược lại, Mỹ cho là những hành động đó không phải là nghiên cứu khoa học biển mà là đo đạc và những hoạt động quân sự mà UNCLOS không cấm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển.
3 Biến vùng đặc quyền kinh tế thành vùng đặc quyền quân sự

Ngày nay, nỗ lực lớn nhất để thay đổi tập quán quốc tế về vùng đặc quyền kinh tế là từ Trung Quốc.

Năm 2002, Trung Quốc ban hành một đạo luật dựa trên luật 1998 của nước này về vùng đặc quyền kinh tế, cấm các nước khác khảo sát, đo đạc trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Mục đích của Trung Quốc là biến vùng đặc quyền kinh tế của nước này thành vùng đặc quyền quân sự. Trong tình hình hải quân Trung Quốc chưa mạnh bằng hải quân Mỹ nhưng mạnh hơn hải quân của các nước Á Đông, có thể ngoại trừ hải quân Nhật, vùng đặc quyền quân sự đó sẽ thuận tiện cho chiến lược biển của Trung Quốc nói chung và chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói riêng.

Có vẻ như là Trung Quốc muốn sử dụng những quy định trong UNCLOS về tài nguyên và kinh tế cho mục đích ngăn cấm những hoạt động đi lại, do thám có tính quân sự của các nước khác trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Khác với Trung Quốc, nhu cầu của Mỹ từ xưa tới nay luôn luôn là tự do hàng hải trên biển. Một trong những nhiệm vụ của hải quân Mỹ là bảo đảm tự do hàng hải cho Mỹ, cho đồng minh của Mỹ và cho những hoạt động kinh tế quan trọng với Mỹ một cách trực tiếp hay gián tiếp. Mặt kia của vấn đề, tự do hàng hải là điều cần thiết cho hoạt động của hải quân Mỹ. Vì vậy, Mỹ luôn luôn chống những chính sách của những nước khác có khả năng làm giảm tự do hàng hải.
4 Lựa chọn cho Việt Nam về hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế

Câu hỏi cho Việt Nam là nên ủng hộ tập quán quốc tế là các nước trên thế giới có quyền hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển, hay ủng hộ quan điểm của Trung Quốc và một số ít các nước khác?

Hiện nay dù Việt Nam có quyền thì cũng không có nhiều khả năng hay nhu cầu để hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác, nhất là bên ngoài Biển Đông.

Ngược lại, nhiều nước trên thế giới có khả năng hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Thoạt nhìn thì có vẻ như là quan điểm như của Trung Quốc sẽ cản trở những nước này hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và như vậy tốt cho quyền lợi của Việt Nam.

Tuy nhiên, trên thực tế thì không hẳn như vậy vì những lý do sau.

Thứ nhất, giả sử Việt Nam có ủng hộ quan điểm không cho các nước khác quyền hoạt động quân sự, khảo sát, đo đạc, do thám trong vùng đặc quyền kinh tế của mình đi nữa thì trên thực tế điều đó cũng không đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Lý do là ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc sẽ không công nhận vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà sẽ cho rằng phần lớn vùng biển đó là của Trung Quốc, và Trung Quốc vẫn sẽ có hoạt động quân sự trong phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Như vậy, ủng hộ quan điểm của Trung Quốc sẽ không có nhiều ích lợi cho Việt Nam mà có ích cho Trung Quốc nhiều hơn. Giả sử Trung Quốc công nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam thì Việt Nam còn có thể ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về quy chế vùng đặc quyền kinh tế.

Thứ nhì, nếu Trung Quốc thành công trong việc biến vùng đặc quyền kinh tế của họ thành vùng đặc quyền quân sự của họ thì điều đó sẽ tăng khả năng cho việc họ đòi hỏi là vùng biển bên trong ranh giới lưỡi bò cũng là vùng đặc quyền quân sự của họ, và tăng khả năng họ thành công trong đòi hỏi đó.

Thứ ba, không có nước nào bên ngoài Biển Đông (mà chỉ có những nước bao quanh Biển Đông) đe doạ trực tiếp và hiện hữu cho sự vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Ngay cả những nước Đông Nam Á trong tranh chấp Biển Đông cũng không có yêu sách trong vùng đặc quyền kinh tế tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam. Vì vậy, nếu những nước này có hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế này mà không gây thiệt hại cho kinh tế và tài nguyên, như UNCLOS đòi hỏi, thì điều đó không là thiệt hại cho Việt Nam.

Vì những lý do trên, Việt Nam tuyệt đối không nên ủng hộ quan điểm của Trung Quốc mà nên ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế. Tuy nhiên, với thực trạng quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam cần phải ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế một cách khéo léo để tăng tối đa lợi ích cho mình và giảm tối thiểu những hệ quả có hại cho mình.
5 Lựa chọn cho Việt Nam về phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của mình

Dù nước ven biển không có độc quyền quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng này vẫn hết sức quan trọng.

Thế nhưng Việt Nam chưa bao giờ công bố bản đồ hay phạm vi cụ thể nào cho vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trên nguyên tắc, đó là một điều bất lợi cơ bản cho việc bảo vệ quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trên thực tế, với thực trạng Trung Quốc có chủ trương và hành động cụ thể để chiếm 75- 80% diện tích trên Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sự chưa công bố này lại càng gây bất lợi nghiêm trọng hơn.

Vì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang trong tình trạng tranh chấp, vì hiệu lực để tính vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này chưa được xác định và chưa được các nước trong khu vực công nhận, vì vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sẽ nằm chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của các nước khác, Việt Nam có thể tuyên bố là sẽ công bố phạm vi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sau. Như vậy sẽ phù hợp với tinh thần của Tuyên bố 2002 của ASEAN và Trung Quốc về quy tắc ứng xử về Biển Đông.

Nhưng Việt Nam cần phải yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của mình càng sớm càng tốt. Trong việc này, Việt Nam phải lựa chọn giữa 2 phương cách.

Phương cách thứ nhất là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 của Việt Nam.

Tuy nhiên, đường cơ sở 1982 của Việt Nam không phù hợp với UNCLOS ở một số điều quan trọng và nằm xa bờ một cách đáng kể so với một đường cơ sở phù hợp với UNCLOS. Trong vòng 2 năm từ khi Việt Nam công bố đường sơ sở 1982, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Thái Lan phản đối đường sơ sở này[10].

Một số khuyết điểm của đường cơ sở 1982 của Việt Nam tương đương với một số khuyết điểm của dự luật HB 3216 của Philippines về đường cơ sở của nước này[11]. Philippines đã bác bỏ dự luật này.

Khả năng là một vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 sẽ không được nhiều nước chấp nhận, thậm chí có thể sẽ bị nhiều nước phản đối.

Nếu yêu sách của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế không được nhiều nước chấp nhận, hay bị nhiều nước phản đối, thì yêu sách đó khó có thể đóng góp cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của nước ta.

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Đường cơ sở 1982 của Việt Nam.
(Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn)

Phương cách thứ nhì là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ những đường ad hoc (những đường biên trong sự việc này) phù hợp với các quy định của UNCLOS về đường cơ sở. Các đường ad hoc (đường biên trong sự việc) này có thể là ngấn thuỷ triều thấp của đất liền, của các đảo ven bờ, và của các đảo trong các nhóm Côn Đảo, Phú Quý, đơn giản hoá một cách phù hợp với quy chế đường cơ sở thẳng bình thường của UNCLOS[12]. Phương cách này cho phép Việt Nam yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế ngay cả khi đường cơ sở 1982 chưa được chỉnh sửa, vì phạm vi đó sẽ không cách đường cơ sở 1982 hơn 200 hải lý.

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Vùng đặc quyền kinh tế của các vùng lãnh thổ không bị tranh chấp, tính từ ngấn thủy triều thấp. Ranh giới lưỡi bò xân phạm phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.

Vùng đặc quyền kinh tế tính bằng phương cách này sẽ phù hợp với UNCLOS, sẽ không gây ra hay chỉ gây ra ít tranh chấp với các nước ASEAN do chồng lấn, và, quan trọng nhất, sẽ công bằng.

Như vậy, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế đó sẽ được nhiều nước công nhận và sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp và công bằng của nước ta. Cụ thể là Việt Nam sẽ có một ranh giới công bằng, hợp pháp và được nhiều nước chấp nhận cho vùng đặc quyền kinh tế của mình để góp phần đối trọng với những yêu sách không thể chấp nhận được của Trung Quốc dựa trên ranh giới lưỡi bò – một ranh giới mập mờ, không công bằng, không phù hợp với luật pháp và không thể chấp nhận được.

Các tác giả xin cảm ơn Hoàng Việt về một số góp ý

* Dương Danh Huy, Lê Minh Phiếu, Phạm Thu Xuân (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
[1] Xem đường link

[2] Công ước về lãnh hải 1958, Điều 14

[3] UNCLOS, Điều 21. Để đọc toàn văn Công ước, này, vui lòng click tại đây http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6032/index.aspx

[4] The Exclusive Economic Zone: A historical perspective, S.N. Nandan, Under Secretary-General, Special Representative of the Secretary-General for the Law of the Sea, FAO Corporate Document Repository, http://www.fao.org/docrep/s5280T/s5280t0p.htm

[5] Military and intelligence gathering activities in the EEZ: definition of key terms, Moritaka Hayashi, School of Law, Waseda University, Japan, 2004, http://www.southchinasea.org/docs/ScienceDirect%20-%20Marine%20Policy%20%20Military%20and%20intelligence%20gat.htm

[6] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[7] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[8] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[9] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[10] Straight baselines of Vietnam, Johan Henrik Nossum, Dissertations & Theses Nọ 12/2000, Department of Public and International Law, University of Oslo, 2000

[11] http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//6082/index.aspx

[12] UNCLOS, Điều 7

Too Little, Too Late In Southeast Asia

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 3:02 pm
Tags: ,

FAR EASTERN ECONOMIC REVIEW
March 2009
By David Jay Green

The global economy is facing a very cheerless 2009. The OECD economies are sliding or already have slid into recession. Developing Asian countries face weaker demand for exports, lower flows of remittances and less investment. Lower energy prices may help some countries, but generally lower commodity prices hurt. The estimates of growth for 2009 fell as last year ended and the new one began. The countries more involved with international trade are clearly suffering the most with Singapore and Thailand expected to be in recession and Malaysia to eke out only slender growth. For some countries, the impact on growth may not seem horribly large, but these are moving targets and the bad news continues to come.

The impact of lower growth in Southeast Asia should not be underestimated. From an OECD or developed country’s perspective, 3% to 4% growth doesn’t seem so bad. From a Southeast Asian developing country’s perspective, it is close to a growth recession and a policy disaster. Political expectations in Southeast Asia target growth well in excess of what is likely; 6% to 7% growth rates are medium-range targets in Malaysia and the Philippines. Political needs for growth relate partly to the commitment to lower poverty.

Over time, for most countries, the incidence of poverty tracks economic growth. A rough rule of thumb is that 1% growth in per capita national income in Southeast Asia results in a 2 percentage-point decrease in the incidence of poverty. In this region, perhaps 200 million people live on or under $2 per day, from a population of approximately 512 million. If growth slackens, large numbers of people will be affected: A 2% fall-off in growth could translate to 20 million people being left in or reduced to poverty. Most of these people will be living in the more populous countries: Indonesia, the Philippines and Vietnam. It is not just the poor that will suffer in a downturn. The middle class will see the loss of jobs and a fall-off in income and in their family businesses. Just as in the 1997-98 Asian financial crisis, the gains of past years are put at risk as businesses fail and trading opportunities vanish. In Southeast Asia, the middle class will make their unhappiness known in the political arena.

The fear of a growth slowdown is quite apparent in the response of monetary policy: there have been determined steps in most countries toward easing credit conditions and shoring up domestic demand. Policy makers rapidly changed from worrying about inflation (when oil prices were widely viewed as likely to stay above $100 per barrel) to fighting a world-wide credit crunch and falling demand. Even before the end of 2008, Singapore had increased liquidity; Indonesia, Malaysia, the Philippines, Thailand and Vietnam had all cut key monetary policy rates and taken other steps to ease domestic credit markets. These steps show a clear focus and flexibility-when conditions changed, so did policy. That monetary policy has been quick to react partly reflects real success in establishing independent monetary authorities. A relatively small group of people in each country has been able to respond to clearly changing conditions in a timely fashion.

Fiscal policy measures, in contrast, appear hesitant, small, and unlikely to have impact over the near term; certainly not commensurate with the economic slowdown we are seeing. Government spending, which could help support domestic demand, especially in the larger nations, is not yet being used to stimulate the economy. At the end of 2008, looking forward to 2009, fiscal policy in most countries was little changed in spite of the expected fall-off in growth. Only in the case of Thailand was there a clear, early public commitment to use fiscal policy to support economic activity and even there, political difficulties suggest implementation could be uncertain. By February of this year, across the region, some additional planning to use fiscal policy is starting to appear, but by no means everywhere. Asia is losing time.

Part of the problem reflects the decision-making processes. In the larger countries, such as Indonesia, the Philippines and in Thailand, changing the government’s budget, and establishing a political consensus on what to do, is no easier than it is in the United States, which has seen months of delay on a stimulus plan.

One issue hindering Southeast Asian public spending is a fear of falling into “debt traps.” Indonesia and the Philippines, especially, have had experiences of public debt weighing on public financial resources for years, restricting fiscal freedom and imposing real costs. The Asian financial crisis drastically elevated external debt levels for some countries. Over time, however, most nations have reduced their external indebtedness. Statistics for total public debt generally show the same trends. For Indonesia, Malaysia and Thailand, as of 2007, public debt as a fraction of GDP ranged from 35% to 42%. The Philippines is the one large nation that potentially is still dogged by past debt problems. While public debt has fallen in the Philippines in relation to the size of the economy, it was still 62.3% of GDP in 2007, well above its regional neighbors. Other than the Philippines, the larger ASEAN countries have fiscal freedom that was lacking earlier in the decade.

A second fear inhibiting the use of fiscal policy may be a legitimate concern over whether deficit spending will be effective. There has been an extensive debate about the efficacy of fiscal policy, especially with respect to long-term outcomes. But in a situation in which there is general weakness in the world economy, when excess capacity is growing, and when monetary policy in most countries is being directed at fighting contractionary tendencies, there should be few theoretical concerns. If ASEAN as a group moves to expand public spending, the impact is likely to be larger than if only some member nations do. Although, as a group, they are not their own most important markets, coordinated efforts will lessen “leakages” through imports. The general issue of fiscal policy and stimulus packages was on the agenda for the Special ASEAN Plus Three finance ministers’ meeting, held in February 2009, in Phuket, Thailand; however, it was overshadowed in the press reports by other topics, such as the mechanisms for swapping foreign exchange to countries in difficulty.

This is not to give license to any and all ideas to spend — bridges to nowhere are still poor choices. But most large nations in Southeast Asia have some leeway to increase spending and to cushion the current slide of their economies. In these situations, it is often suggested that governments quicken their spending for infrastructure. This is particularly appealing for Indonesia and the Philippines where there are well identified needs. In both countries investment for infrastructure as a fraction of GDP has hovered in the 2% to 3% range, a fraction of what is needed to provide for roads, ports, safe water and electricity. Both countries suffer from uneven infrastructure service provision across the nearly 24,000 islands. Indonesia has recently announced that it will seek to spend for infrastructure as one way to support the economy.

Unfortunately, experience shows that new infrastructure programs are very difficult to start in a short period of time. In particular, “greenfield” infrastructure projects take years to move from idea to implementation. Partly that is good news; today’s ASEAN countries are developing more robust, if somewhat cantankerous, democratic institutions. Government-spending programs require considerable political consensus to institute large-scale changes. Implementation demands more local-level consultations, all of which means that governments are more responsive to their citizens, but all of which requires time that is lacking in a crisis. If spending money quickly is important, infrastructure projects are not the best idea.

There are alternatives. A central concern with low growth rates is the impact on the poor. An estimated 200 million people face a $2 per day budget, mostly in Indonesia, the Philippines and Vietnam. While these countries are not rich enough to win any short-term “war on poverty” they are capable, in this period of economic distress, of devoting 1% to 2% of GDP to supporting the poor in direct ways, which could make a tremendous difference. Even in Vietnam, 2% of GDP would allow the government to give an extra $1 a day to the poorest 5% of the population. In Indonesia and the Philippines you could cover 9% to 10% of the population, and in richer Thailand you could reach the poorest 20% of the population.

Of course the situation is not so simple; governments cannot simply throw money at a particular group of poor people. There is little difference between people at the high end of the poorest 20% of the population and the people at the low end of the next group up. To help one without helping the other is neither equitable nor politically sensible. Moreover, simply giving money to large groups of people goes against most of the grain of current policy. But transferring money to the poor and near-poor is likely to be pretty efficient at stimulating economic activity. Arguably it is the poorer in the population who will not save the money, and who will immediately use the funds to buy local goods and services. The businesses of the middle class depend on the spending of the poor.

There are, moreover, targeted processes that can transfer money to poor people in a short period of time and accomplish other goals for the countries. Conditional cash transfers are perhaps the most important of these. These programs provide cash support to families on certain conditions, for instance, that children attend school and are taken regularly to health posts. This means that the program of income support to the families ensures that investments are made in children. Given the dramatic differences that early childhood learning and health care can make in lifetime earnings, this is an investment that will ultimately pay off for the countries. Programs of this type have been instituted in Indonesia and piloted in the Philippines. Conditional cash transfers are only one example of programs that can mitigate the impact of growing poverty, while also providing for greater economic potential in the future. The Philippines provides examples of community development guided by very strong civil-society organizations that have meant real improvements in living standards, especially in urban areas. Funds used in this fashion have a high multiplier impact: When directed to the poor, little money will be saved and most will be used to buy goods and services, thus supporting a broader economy.

In past periods of economic distress, calls to provide support for the poor have struggled to overcome a fear that funds would simply be stolen. Southeast Asian countries have uneven reputations for governance. However, the experience with social-safety nets, especially in Indonesia and the Philippines during the 1997-98 financial crisis, suggest that proper organization provides systems that can be accountable, although problems were surely noted. More importantly, technology is on the side of good governance. The spread of the Internet and the ubiquitous use of cell phones have sharply reduced the costs of tracking government actions. The growing strength of civil-society organizations provides a watch dog that governments increasingly have difficulty ignoring. Transferring funds to millions of people cannot be done without opportunities for theft, but we can do the job better than we have done before as a result of information technology advances.

Last year was abysmal for many in the developed world. The collapse of asset markets and commodity prices has made sure that these troubles will travel to Southeast Asia. But with this warning there is the opportunity to implement programs to protect the vulnerable and cushion the fall in overall growth. To date, however, most countries appear to have found it easier to rely upon monetary policy and a hope that the present crisis will pass quickly, than to truly marshal the fiscal resources needed to turn the economic tide. The year has started with the risk that, by December, we will have done little to help ourselves.

Mr. Green is director of the Regional Cooperation and Integration Group, Southeast Asia Regional Department, at the Asian Development Bank. Later this month he will join the Asian Institute of Management in Manila. The views expressed here are his own.

Uy tín của chính khách 032109

Filed under: chính sách,chính trị — ktetaichinh @ 2:53 pm
Tags: , ,

(TuanVietNam)- Theo dõi các phiên chất vấn, ngoài việc nắm bắt thông tin, cử tri còn dõi theo năng lực, bản lĩnh cũng như tinh thần dám làm, dám chịu của các tư lệnh ngành.

Chưa đầy đủ

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân. Ảnh Tuổi Trẻ

Đó là cụm từ Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhắc đến nhiều lần trong phiên trả lời chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng qua, 20/3.

Không hài lòng với báo cáo chung chung của Bộ trưởng, đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Lạng Sơn muốn biết chính xác bao nhiêu địa phương trong số 63 tỉnh, thành có sai phạm khi triển khai chính sách hỗ trợ người nghèo ăn Tết, việc xử lý tới đâu?

“Về danh sách mà đại biểu Thuyết yêu cầu chúng tôi có hết, nhưng nếu để kể ra tỉnh nào, xã nào thì rất mất thời gian, thực ra bây giờ thống kê chưa đầy đủ. Còn việc xử lý cán bộ có sai phạm, chúng tôi nhận được báo cáo chưa đầy đủ”, Bộ trưởng nhỏ nhẹ đáp lời.

Dự báo, khoảng 300.000- 400.000 lao động mất việc làm trong năm 2009. Con số này khi công bố trên báo chí đã gây tranh luận. Nhiều tổ chức quốc tế tại Việt Nam cho rằng thực tế sẽ cao hơn rất nhiều. Chính Bộ trưởng Ngân cũng thừa nhận, “ta không quản lý được lao động tự do, nhất là lao động ở khu vực hợp tác xã, làng nghề”.

Con số, dữ liệu ở cả quá khứ và hiện tại là “nguyên liệu” để chế thành món ăn có tên “dự báo”. Chúng ta đã có không ít bài học xương máu vì những yếu kém trong công tác dự báo. Việc hiện nay chúng ta chỉ nêu ra được chính sách hỗ trợ cho lao động trong doanh nghiệp, vì không có được con số lao động tự do là một ví dụ cho thấy, có những con số nếu không thống kê được sẽ ảnh hưởng tới việc xây dựng chính sách, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp tới người dân.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân nhã nhặn, sắp tới sẽ có số liệu thống kê về lao động, việc làm để báo cáo với Quốc hội. Chính phủ cũng đã cho phép Bộ lập trung tâm dự báo thị trường lao động.

Dẫu thế, chừng nào còn phụ thuộc và chờ đợi kiểu “nếu như từng xã làm việc nghiêm túc, từng huyện làm nghiêm túc, từng tỉnh có báo cáo chúng ta có thể có một con số khá là yên tâm” như Bộ trưởng nói, và không có chế tài kiểm tra, đôn đốc đi cùng, thì điều này không dễ thành hiện thực.

Cũng phải nói thêm rằng, việc làm là một chính sách lớn trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, vậy một Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có thể quyết được không? Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Chính phủ đang rốt ráo chống đỡ cơn bão suy thoái, vì nó mà hàng vạn người bị thất nghiệp. Liệu những quyết sách đang nhắm đến có góp phần giúp các doanh nghiệp trong nước trở nên cạnh tranh hơn hay không? và tác động của chính sách này có tạo thêm việc làm mới không?

Né tránh

Bộ trưởng Võ Hồng Phúc

Dạn dày kinh nghiệm chính trường, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc luôn nổi trội và ấn tượng trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn.

Có lẽ cái nổi trội đáng nể là Bộ trưởng luôn trả lời linh hoạt hầu hết các câu hỏi của đại biểu, không ít câu sắc sảo, trực diện và rất xoáy.

Liên quan đến gói kích cầu 17.000 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD) đại biểu Ngô Văn Minh (Quảng Nam) băn khoăn không biết khoản tiền này nằm ở đâu trong ngân sách Nhà nước. “1 tỷ USD này tôi không hiểu nằm như thế nào ở trong ngân sách và Chính phủ có thẩm quyền quyết định hay phải chờ Quốc hội”, ông Minh xoáy.

Tư lệnh ngành Kế hoạch – Đầu tư gần như ngay lập tức biện giải: “Tôi cho rằng việc này cần xử lý khẩn cấp nên Chính phủ làm như vậy, tôi cho là rất đúng quy trình, việc này sẽ báo cáo Quốc hội ở kỳ họp sau.

Lưu loát. Tự tin. Nhưng gần suốt hai giờ đồng hồ, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư đã “quên” không trả lời câu hỏi về những giải pháp cụ thể để đảm bảo chống thất thoát, tham nhũng trong sử dụng số tiền ngân sách lớn như vậy, cũng như câu hỏi về trách nhiệm.

Trước câu hỏi của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết: “Tôi đề nghị Bộ trưởng nói rõ hơn khi thực hiện gói kích cầu lớn như thế này thì chúng ta có thực hiện biện pháp gì đặc biệt hơn không để đảm bảo không thất thoát, đảm bảo chống tham nhũng”; ông bảo việc này Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được giao trách nhiệm và sẽ có giải pháp.

Đối với câu hỏi Chủ nhiệm Ủy ban tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiến về những nguyên nhân nào dẫn đến giải ngân trái phiếu chính phủ chậm và có nguyên nhân nào thuộc về trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hay không? Quả bóng trách nhiệm cũng được chuyền đi nhịp nhàng: “Chúng ta có những vấn đề thuộc về thẩm quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, của Chính phủ thì Chính phủ đã cố gắng làm hết sức để cởi, nhưng có những vấn đề đụng đến luật thì chúng ta phải sửa luật”.

Quyết tâm, nhưng…

Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn

Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh có 7 phút nói về thực trạng di tích văn hóa bị xâm phạm trước khi trả lời chất vấn trực tiếp.

Có phần hơi dài dòng, nhưng người đứng đầu ngành văn hóa đã nhìn ra những thiếu sót của ngành, cả những bức xúc mà ngành văn hóa chưa thể giải quyết: “Văn hóa nói chung là mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, bền bỉ, gian khổ, những vấn đề này ra chúng tôi đều thấy cả, thấy hết và chúng tôi cũng có quyết tâm nhưng đòi hỏi phải có thời gian”.

Có lẽ bộ trưởng quên rằng, thời gian không chờ đợi ai cả. Sau tháng, sau năm, thậm có thể chỉ là đơn vị ngày, những di tích cứ dần bị phá hỏng bởi vô vàn lý do… Liệu các di tích văn hóa có “đợi” được đến ngày cơ quan quản lý cảm thấy là đã đủ thời gian hay không?

Bộ trưởng “nhức nhối lắm” việc một số nhà xuất bản cho phát hành truyện tranh của thiếu nhi có ảnh khỏa thân. Nhưng cái nhức nhối ấy có thể là lực đẩy, bệ phóng để xử lý vấn đề này? Không đại biểu nào hỏi câu đó.

Nhưng cái cách Bộ trưởng nhìn nhận về trách nhiệm của bộ trong việc này lại là một câu trả lời hoàn hảo: “Theo luật và theo các văn bản quy định thì trách nhiệm chính là thuộc các cơ quan chủ quản… Vừa rồi những nơi nào làm sai đến mức nào thì có xử lý đến mức đó, nhưng ở đây chúng tôi cũng muốn tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan chủ quản. Ví dụ các nhà xuất bản của các địa phương hoặc các nhà xuất bản của các bộ, ngành thì trách nhiệm là của các bộ, ngành, các địa phương. Còn Bộ Thông tin và Truyền thông với vai trò quản lý Nhà nước, chúng tôi đề ra một số tiêu chí để cấp phép cho các nhà xuất bản còn nội dung cụ thể thì trách nhiệm đã phân rất rõ đối với các bộ chủ quản và địa phương”.

Cho nên cảm giác “vẫn còn bộn bề lắm” của Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng cũng là cảm giác của không ít người khi nghe Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh trả lời chất vấn.

*
Hồng Hà

Chưa có thêm DN bán lẻ nước ngoài vào VN 122508

Thị trường bán lẻ VN có bước phát triển nhanh chóng – Ảnh: Ngọc Thắng
Hôm qua 25.12, Bộ Công thương đã tổ chức họp báo giới thiệu lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ phân phối từ 1.1.2009.
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú, việc mở cửa thị trường dịch vụ phân phối đã được thực hiện ngay sau khi VN trở thành thành viên chính thức của WTO (tháng 1.2007) theo hình thức liên doanh. Nhưng từ 1.1.2009, doanh nghiệp (DN) nước ngoài được hoạt động trong lĩnh vực phân phối dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên theo ông Tú, việc mở cửa cho các DN nước ngoài vào VN gắn liền với một số điều kiện chứ không phải ồ ạt đổ bộ vào thị trường VN.
Trong danh mục hàng hóa mà DN nước ngoài được phân phối theo lộ trình từ 1.1.2009 có máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy. Từ 1.1.2010 có thêm: xi măng, clinke, phân bón, sắt, thép, giấy, lốp xe, thiết bị nghe nhìn… Những hàng hóa DN nước ngoài không được quyền phân phối gồm: lúa gạo, đường, thuốc lá – xì gà, dầu thô và dầu đã qua chế biến, dược phẩm, thuốc nổ, sách-báo-tạp chí, kim loại quý-đá quý, vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu (đĩa, băng, các phương tiện đã lưu trữ thông tin…).
Bà Hoàng Thị Tuyết Hoa, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch thông tin thêm, hiện tại ngoài các tập đoàn bán lẻ đã có mặt từ trước như Metro, BigC, Parkson, Lotte… đăng ký mở thêm địa điểm mới, chưa có thêm DN nước ngoài đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ tại VN. Bà Hoa nhận định: năm 2009, các DN nước ngoài vào VN theo hình thức nhượng quyền thương hiệu sẽ trở nên phổ biến.
Theo đánh giá của Bộ Công thương, thị trường bán lẻ VN những năm gần đây có bước phát triển nhanh chóng. VN đã có khoảng 400 siêu thị, 60 trung tâm thương mại và gần 2.000 cửa hàng tiện ích. Dự kiến đến năm 2010, số siêu thị tăng 62,5% và trung tâm thương mại sẽ tăng 150%. VN liên tục được xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ. Theo A.T. Kearney (hãng tư vấn Mỹ) từ vị trí thứ 4 năm 2007, VN đã vượt lên đứng đầu bảng xếp hạng về chỉ số kinh doanh bán lẻ trong năm 2008.

Mở cửa thị trường bán lẻ

30/11/2008 23:06

Siêu thị Lotte Mart sắp khai trương vào giữa tháng 12.2008 – Ảnh: D.Đ.Minh
Đúng 1 tháng nữa (từ 1.1.2009) Việt Nam chính thức mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ. Cạnh tranh là điều đương nhiên mà bất cứ doanh nghiệp (DN) nào cũng không thể né tránh nếu muốn khẳng định mình.
Nghe đọc bài

Những chuyển động ban đầu
Trong những ngày này, siêu thị Lotte Mart (đường Nguyễn Hữu Thọ, Q.7, TP.HCM) đang gấp rút hoàn tất những khâu cuối cùng để chuẩn bị khai trương vào ngày 18.12 tới, thời điểm bắt đầu cao điểm mua sắm cuối năm. Có thể xem đây là một trong những siêu thị hiện đại, quy mô nhất nước hiện nay. Đến Lotte Mart không chỉ mua sắm, khách hàng còn có thể sử dụng cả một số dịch vụ (ngân hàng, ăn uống, văn hóa phẩm, giải trí…). Tháng 12.2008, chuỗi siêu thị điện tử điện máy Best Carings cũng sẽ khai trương siêu thị thứ 3 ở Việt Nam, cũng đặt tại Q.7, TP.HCM. Best Carings được hình thành từ hợp đồng nhượng quyền thương hiệu giữa Công ty tiếp thị Bến Thành (chủ sở hữu chuỗi siêu thị điện máy Carings) và Tập đoàn bán lẻ điện tử điện máy Best Denki (Nhật Bản), một trong năm nhà bán lẻ điện máy lớn nhất Nhật Bản. Như vậy, chỉ trong năm 2008, Best Carings đã phát triển lên 3 siêu thị (trước đó là Best Carings Cần Thơ và Best Carings Hà Nội).
Mới đây, một nhóm các công ty bán lẻ của Anh (gồm 10 thành viên là các nhà bán lẻ cao cấp, cung cấp dịch vụ như Marks & Spencer, Debenhams, Boots International, Ming Foods, Todays Translations Ldt…) đã đến TP.HCM, Hà Nội tìm hiểu về thị trường bán lẻ, vốn được đánh giá rất tiềm năng. Còn các “cựu binh” như Metro Cash & Carry, Big C, Parkson… cũng đang củng cố vị thế của mình trên thị trường. Nếu nhìn vào chuyển động trên thì có vẻ thị trường bán lẻ Việt Nam đang được các DN nước ngoài hết sức quan tâm. Nhưng thực tế, các DN nước ngoài vào thị trường Việt Nam cũng sẽ gặp không ít khó khăn vào thời điểm này.
Chưa có một làn sóng đầu tư
Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam chỉ đồng ý mở cửa cho phía DN nước ngoài mở một điểm bán lẻ. Kể từ điểm thứ hai trở đi, kế hoạch mở rộng của nhà bán lẻ nước ngoài phải bị kiểm tra nhu cầu kinh tế (tức xem xét ở khu vực đó có nhu cầu để mở một điểm bán lẻ hay không). Điều này sẽ là rào cản cho các nhà bán lẻ nước ngoài thực hiện kế hoạch thâm nhập thị trường Việt Nam, bởi khi mở rộng kinh doanh ở nước khác, họ thường mở hàng loạt siêu thị mới đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả chứ không mở một điểm.
Ưu thế của các siêu thị ngoại trong nước hiện nay là có bãi giữ xe rộng, tuy nhiên lại xa khu vực trung tâm, vốn thích hợp cho mua sắm vào dịp cuối tuần và ngày lễ hơn. Điều này không thuận tiện cho người tiêu dùng khi có thói quen đi mua sắm gần nhà và hằng ngày.
Yếu tố quan trọng nhất của ngành bán lẻ là mặt bằng. Hầu hết các vị trí đẹp nhất trong nội đô TP.HCM, Hà Nội hiện đã thuộc về các DN trong nước. Ngay ở các khu đô thị mới, các tỉnh xa, DN trong nước cũng đang tích cực tìm sở hữu các mặt bằng tốt. Theo đại diện của Công ty Đông Hưng (sở hữu hệ thống siêu thị Citimart), nhiều khả năng khi hết hợp đồng cho thuê mặt bằng 230 Nguyễn Trãi, Q.1 (TP.HCM) – mà trước đây Citimart cho Tập đoàn Dairy Farm (Hồng Kông) thuê để mở siêu thị Wellcom – Citimart sẽ lấy lại mặt bằng để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra, kinh tế nhiều nước như Mỹ, Nhật, Singapore… bắt đầu lâm vào tình trạng suy thoái. Không chỉ nguồn vốn của các DN nước ngoài bị ảnh hưởng đáng kể, mà sức mua trên thế giới giảm. Ở Việt Nam tình hình cũng sẽ tương tự. Do đó, các nhà bán lẻ chưa thể nhanh chóng ồ ạt vào Việt Nam như kế hoạch ban đầu…
Tuy nhiên, không thể chủ quan với các khó khăn của DN nước ngoài mà DN trong nước có thể ung dung chờ “nước đến chân mới nhảy”. Khá nhiều “khoảng trống” mà DN nước ngoài vẫn có thể thâm nhập vào theo cách ít tốn kém nhất. Chẳng hạn, từ 1.1.2009, DN đầu tư nước ngoài có sản xuất tại Việt Nam được quyền nhập khẩu hàng để bán; hoặc DN nước ngoài sử dụng hình thức nhượng quyền thương mại, về lâu dài sẽ có những cách khác để họ nắm quyền thực chất hơn…
Có lợi cho người tiêu dùng
Khi mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ, cả DN trong và ngoài nước đều có những khó khăn riêng. Tất nhiên các DN trong nước sẽ khó khăn nhiều hơn do non kém về kinh nghiệm, tiềm lực tài chính. Nhưng các DN trong nước đã có sự chuẩn bị từ vài năm qua, và phải chấp nhận đối đầu chứ không thể cứ dựa mãi vào chính sách bảo hộ của Nhà nước. Sự cạnh tranh siêu thị nội, ngoại chắc chắn sẽ xảy ra, và người tiêu dùng sẽ được lợi trong cuộc đua này. Chẳng hạn ở TP.HCM, thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất nước, ngành hàng bán lẻ điện tử, điện máy bấy lâu nay vẫn là cuộc đua của các DN trong nước với nhau như Nguyễn Kim, Thiên Hòa, Chợ Lớn, Ideas… Nay có thêm Best Carings vào cuộc, thị trường chắc chắn sẽ sôi động hơn. Hoặc trong những đợt biến động giá cả (như các mặt hàng gạo, sữa bột, rau xanh…), siêu thị nào giữ được giá cả ổn định nhất, chất lượng tốt nhất sẽ được người tiêu dùng tín nhiệm.
Trong cuộc cạnh tranh, hàng hóa rẻ và chất lượng tốt hơn tất nhiên là yếu tố được người tiêu dùng chú trọng. Nhưng thái độ phục vụ khách hàng cũng quan trọng không kém. Những siêu thị thường xuyên diễn ra cảnh khám người thô thiển, thiếu tiền lẻ thối khách hàng… sẽ tự loại mình ra khỏi cuộc đua trước tiên.
Trần Hùng
Trước “giờ G” mở cửa thị trường bán lẻ

07/11/2008 1:09

Thị trường bán lẻ trong nước sẽ có nhiều cạnh tranh từ năm 2009 – Ảnh: khả Hòa
Bắt đầu từ năm 2009, nghĩa là chưa đầy 2 tháng nữa, VN sẽ mở cửa hoàn toàn ngành thương mại bán lẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết WTO. Hơn 400.000 cửa hàng bán lẻ truyền thống của cả nước làm sao có thể cạnh tranh được với các tập đoàn bán lẻ với sức mạnh hùng hậu trên thế giới đang bắt đầu đổ bộ ào ạt vào thị trường trong nước?
Xin điểm lại hiện trạng của ngành thương mại bán lẻ VN, những vấn đề cần lưu ý trước giờ G. Cần thấy rằng, thị trường của VN là đáng mơ ước đối với nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Điều “mơ ước” này được biểu hiện trên nhiều mặt.
VN có số dân hơn 86 triệu người và hằng năm tăng trên 1 triệu người (đứng thứ 3 trong 11 nước Đông Nam Á, đứng thứ 8 trong 50 nước và vùng lãnh thổ châu Á, đứng 13 trong 208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới), là thị trường có tiềm năng rất hấp dẫn đối với các nhà bán lẻ. Tính tự cấp tự túc giảm nhanh, tỷ lệ tiêu dùng thông qua mua bán tăng rất mạnh (tỷ lệ tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng so với tiêu dùng cuối cùng đã tăng từ 64,7% năm 1995 và 68,5% năm 2000, lên 82,1% năm 2005, 93,1% năm 2007 và có khả năng vượt qua mốc 95% trong năm nay). Mức tiêu dùng bình quân đầu người tuy còn thấp, nhưng tốc độ tăng quy mô và tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, nếu loại trừ tốc độ tăng giá tiêu dùng còn tăng cao hơn (tăng 12,3%/năm), ước tính đạt 57,6 tỉ USD trong năm nay. VN có dân số trẻ, nên sự chuyển dịch cơ cấu tiêu dùng cũng khá nhanh. Tỷ lệ dân số đô thị chưa cao (năm 2007 mới đạt 27,44%, thuộc loại thấp trên thế giới), nhưng đang có xu hướng tăng nhanh, nên cơ cấu tiêu dùng cũng sẽ có sự chuyển dịch nhanh.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu đang làm cho người tiêu dùng của các nước không còn tăng với tốc độ như cũ, thậm chí đối với một số nước, một số bộ phận dân cư, một số chủng loại hàng hóa, dịch vụ (như hàng hóa cao cấp, hóa mỹ phẩm cao cấp, du lịch nước ngoài,…) còn bị giảm. Trong khi VN tăng trưởng kinh tế vẫn thuộc loại cao so với các nước, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tuy thấp hơn các năm trước nhưng tính chung 10 tháng qua vẫn còn tăng 6,1%…, thì thị trường VN vẫn còn rất hấp dẫn.
Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cũng có một số điểm đáng lưu ý.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái (triệu USD)
Nguồn: Tổng cục Thống kê

Theo ngành hoạt động, chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là ngành thương nghiệp (tức là thương mại thuần túy)! Năm 2007 còn 77%, năm 2008 cao hơn chủ yếu do giá tăng cao hơn. Lĩnh vực thương mại dịch vụ (khách sạn nhà hàng, du lịch, dịch vụ) mặc dù tăng lên, nhưng hiện vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ (khách sạn nhà hàng 2007 chiếm 11,8%, 10 tháng này giảm còn 11,3%; du lịch, dịch vụ năm 2007 chiếm 11,2%, 10 tháng này còn 6,3%).
Theo loại hình kinh tế, tỷ trọng kinh tế nhà nước tiếp tục giảm xuống và hiện còn chiếm tỷ lệ thấp (năm 2007 chiếm 10,2%). Kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cao (năm 2007 là 85,9%, 10 tháng này là 86,2%). Kinh tế tập thể chiếm tỷ trọng không đáng kể (1%). Kinh tế cá thể chủ yếu là chợ và các cửa hàng nhỏ lẻ vẫn còn chiếm tỷ trọng khá lớn (56,1%) – đây chính là thị phần sẽ có nhiều thay đổi tới đây do cả kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài muốn “thu phục”. Kinh tế tư nhân (doanh nghiệp) mới hình thành từ mười lăm năm nay, đặc biệt trong bảy tám năm nay, nhưng hiện đã chiếm tới 29,1%, phần lớn các siêu thị, các trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi đều do khu vực này quản lý hoặc liên kết với hợp tác xã hay cá thể để hình thành.
Riêng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện còn chiếm tỷ trọng thấp (chiếm 3,9%), nhưng chắc chắn sẽ tăng mạnh trong thời gian tới. Có thể dự đoán rằng, do tiêu dùng trong nước đang tăng chậm lại, nhưng cũng phù hợp với thời gian lựa chọn địa điểm, đầu tư xây dựng, thăm dò thị hiếu,… để các nhà đầu tư nước ngoài có chỗ đứng vững chắc tại thị trường, nên thị phần vào năm 2009 của khu vực này cũng chỉ vào khoảng 5%, sau đó sẽ tăng nhanh từ năm 2010.
Vấn đề đặt ra là các nhà bán lẻ trong nước làm sao có thể cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài để không bị thua ngay trên sân nhà?
Đào Minh Anh
Mở toang cánh cửa thị trường bán lẻ

17/06/2005 22:20

Thương xá Tax – một trung tâm thương mại cao cấp có mặt nhiều thương hiệu Việt Nam
Trong tháng này, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ xuất hiện thêm một tên tuổi “ngoại” là Parkson, thuộc Tập đoàn Lion của Malaysia. Trên bàn làm việc của lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại có thêm một bộ hồ sơ mới của South Asia Investments Pte, nhà bán lẻ đến từ Singapore. Cứ thế, sau khi bật đèn xanh cho các nhà bán lẻ châu Âu, bây giờ đến châu Á và tương lai không xa Việt Nam tiếp tục mở rộng cửa thị trường bán lẻ đón các nhà bán lẻ Mỹ…
Đến và thành công
Trong khi hệ thống siêu thị bán lẻ Big C của Bourbon (Pháp) và siêu thị bán sỉ Metro Cash & Carry ( Đức) đang tiếp tục mở rộng ra phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long, thì tại TP.HCM, Parkson đang chuẩn bị ra mắt trung tâm mua sắm đầu tiên của mình tại Việt Nam. Sau Công ty Dairy Farm (Hồng Kông), theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tập đoàn South Asia Investments Pte của Singapore cũng đang “đánh tiếng” xin được kinh doanh siêu thị và cửa hàng bán lẻ tại Việt Nam. Tham Tuck Choy – Tổng giám đốc Parkson Vietnam nhận xét: “Dân số Việt Nam là một điểm hấp dẫn nhưng hấp dẫn hơn chính là yếu tố dân số trẻ, thu nhập ngày càng cao… Phải nói đây là một thị trường đầy hứa hẹn”. Sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam là cơ sở để Parkson vạch một kế hoạch phát triển 10 trung tâm mua sắm trong vòng 5 năm ngay từ khi chưa nắm được giấy phép đầu tư trong tay. Điểm chung của các nhà bán lẻ nước ngoài là thành lập hàng loạt siêu thị, cửa hàng tại hầu hết các tỉnh, thành phố lớn.

Hàng nhập khẩu mới thường xuyên xuất hiện tại Diamond Plaza
Trên thực tế, trước khi Parkson xuất hiện, tại TP.HCM đã tồn tại 2 trung tâm mua sắm do người nước ngoài quản lý là Zen Plaza (Nhật Bản) và Diamond Plaza (Hàn Quốc). Ông Duck Ho Kim – Tổng quản lý Diamond Plaza không cho biết doanh số nhưng khẳng định là hoạt động của trung tâm mua sắm cao cấp này rất thành công. Còn Zen Plaza thì cho biết, dù mới chính thức hoạt động từ năm 2003 nhưng cũng đã đạt mức tăng trưởng về doanh số đến 30%/năm. Trong một thời gian ngắn, đã có đến 240 nhãn hiệu thời trang trong và ngoài nước tập trung về đây. Giải thích về sự thành công của Diamond Plaza, ông Duck Ho Kim ví von: “Cho dù là một phụ nữ đẹp, bạn vẫn phải trang điểm và luôn “làm mới” mình bằng những bộ trang phục phù hợp, như vậy mới có thể hấp dẫn người khác. Trung tâm của chúng tôi cũng vậy, mới hoạt động nhưng chúng tôi đã phải làm mới cho nó 6 lần rồi đó”. Yếu tố dẫn đến thành công của Diamond Plaza chính là ở sự chia sẻ lợi ích giữa những người thuê mặt bằng bán hàng và chủ cho thuê. Theo tìm hiểu của chúng tôi, khoảng 70% quầy hàng tại đây chia một phần doanh số thu được cho nhà quản lý Diamond Plaza. Đổi lại, họ sẽ được hưởng lợi từ những chương trình khuyến mãi, những sự kiện lôi kéo khách hàng, nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng, thay đổi cách bài trí cho hấp dẫn… từ nhà quản lý. Một tiểu thương từng bán hàng cho Trung tâm Thương mại Saigontourist nhận xét: “Đây là cách đem lại hiệu quả cao cho người bán hàng. Chia sẻ lợi ích như vậy khiến nhà quản lý có trách nhiệm với chúng tôi chứ không như các trung tâm, siêu thị Việt Nam cho thuê mặt bằng xong thường là quên luôn nghĩa vụ với chúng tôi…”.
Thương hiệu Việt chưa thể vào nơi sang trọng?
Cả nước hiện có 170 siêu thị và trung tâm thương mại cùng 600 cửa hàng tự chọn, hệ thống này được xem là còn nhỏ lẻ và manh mún. Bộ Thương mại đã tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm nhằm tìm biện pháp tổ chức lại hệ thống phân phối, bán lẻ trong nước trước khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài tràn vào. Tuy nhiên theo nhiều DN, thay vì họp đi, bàn lại, Bộ Thương mại cần phải có những kế hoạch cụ thể hỗ trợ các DN trong nước nhanh chóng xây dựng hệ thống phân phối nếu không muốn tiếp tục “thua ngay trên sân nhà”.
Sự ra đi chóng vánh của Trung tâm Thương mại Saigontourist, nhường mặt bằng đẹp vào loại bậc nhất TP.HCM cho một công ty nước ngoài khiến nhiều DN ưu tư về “lợi thế sân nhà”. “Nghĩ mà ức, hàng của chúng tôi xuất khẩu đi Mỹ, đi châu Âu nhưng lại không vào được Diamond Plaza. Tôi không hiểu họ chọn theo tiêu chuẩn gì?”, một DN ngành giày da tỏ ra bức xúc. Khi Trung tâm Thương mại Saigontourist được chuyển giao cho Parkson, cũng có rất nhiều mặt hàng của DN trong nước bị loại ra, nhường chỗ cho những nhãn hiệu nước ngoài chưa từng xuất hiện tại Việt Nam. Nhiều DN tỏ ra lo lắng trước viễn cảnh: ngày càng có nhiều trung tâm thương mại, siêu thị nước ngoài chiếm lĩnh những vị trí đẹp, sang trọng nhất của thành phố, thì cũng là lúc ngày càng ít thương hiệu trong nước có mặt tại những nơi này. Giám đốc một công ty may mặc than thở: “Hàng của chúng tôi về mặt chất lượng và mẫu mã chẳng thua kém hàng của Pierre Cardin, giá lại rẻ hơn, nhưng nếu xét về sự nổi tiếng của thương hiệu thì làm sao bằng. Cho nên họ nói là hàng chúng tôi chưa đạt đẳng cấp quốc tế, không thể bán tại đây…”. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, Tổng quản lý Diamond Plaza nói: “Chúng tôi không hề đặt ra một tiêu chuẩn nào để lựa chọn kinh doanh bao nhiêu phần trăm hàng Việt Nam, bao nhiêu phần trăm hàng nước ngoài. Nguyên tắc của chúng tôi là luôn luôn mới và bán cái gì là do khách hàng quyết định. Không riêng gì hàng Việt Nam, những nhãn hiệu nước ngoài nổi tiếng nhưng nếu chúng tôi không bán được thì cũng phải thay bằng nhãn hiệu khác”. Với mục tiêu nhắm đến đối tượng khách hàng từ trên trung lưu đến cao cấp, ông Tham Tuck Choy cho biết: “Việc lựa chọn mặt hàng để kinh doanh của chúng tôi không giống như ở siêu thị. Tuy nhiên, tôi khẳng định là có những thương hiệu dù chưa nổi tiếng vẫn có thể được chúng tôi lựa chọn miễn là có tiềm năng và phù hợp với triết lý kinh doanh của chúng tôi”. Trên thực tế cũng có những thương hiệu Việt nằm xen kẽ với những thương hiệu nổi tiếng nước ngoài tại Diamond Plaza, Zen Plaza và sắp tới là Parkson nhưng tỷ lệ rất khiêm tốn.
Trung Bình

Nhà ở và tư duy bao cấp

Xếp sau quản lý đất đai về mức độ tham nhũng là các lĩnh vực dự án và công trình xây dựng (84,81%), cấp phép (47%), thuế, lệ phí, quỹ (40,64%), điều tra xét xử và thi hành án (38,69%), hải quan (35,51%), thu, chi ngân sách (34,45%), hộ tịch, hộ khẩu (29,33%), và nhận con nuôi (4,59%).

Chung cư Bàu Cát 2 tại P.10, Q.Tân Bình, TP.HCM dành cho người thu nhập thấp -Ảnh: Tuổi Trẻ
Bằng việc đưa ra “chương trình nhà ở xã hội”, bộ Xây dựng có lẽ là cơ quan sớm nhất tìm được lý do để “xin” 2.500 tỉ trong “gói kích cầu”. Bộ hy vọng là trong vòng bảy năm (2009 – 2015) có thể xây dựng 200.000 căn hộ với nguồn vốn đầu tư vào khoảng 49.000 tỉ đồng
Theo báo cáo bộ Xây dựng gửi Thủ tướng hôm 12-12-2008, Nhà nước sẽ chuẩn bị mặt bằng, xây dựng hạ tầng, thiết kế mẫu… rồi giao cho “các thành phần kinh tế” thực hiện các dự án nhà ở; UBND các tỉnh, thành sẽ xem xét để đảm bảo cho những người được giao dự án một khoản “lãi định mức không quá 10%” giá trị công trình.
Những người được giao các dự án này còn được: miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; miễn thuế sử dụng đất trong ba năm; được khấu trừ đầu vào khi chịu thuế VAT; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong bốn năm và giảm 50% trong chín năm kế tiếp. Chính bộ Xây dựng, tác giả của chương trình này, cũng đang “xin phép Thủ tướng được trực tiếp đảm nhận đầu tư xây dựng một số dự án”.
Cần chính sách tín dụng nhà ở
Nếu như Chính phủ đồng ý, nếu như 49.000 tỉ đồng được tung ra, chắc chắn sẽ xây được hàng trăm ngàn căn hộ. Nhưng, ngoài khoản “10% lãi” cho các nhà xây dựng là được đề án này đảm bảo, thật khó hình dung ai sẽ là chủ nhân thực sự của những căn hộ này. Nghĩ tới nhà ở cho những người thu nhập thấp là cần thiết. Tuy nhiên, thay vì bao cấp cho những người được giao dự án, tại sao lại không đề ra chính sách hướng trực tiếp tới người mua nhà.
Một chính sách như thế cũng không nên chỉ nhắm tới “số hộ gặp khó khăn về nhà ở tại các khu vực đô thị”. Nếu như, các đôi lứa nông thôn được tạo điều kiện để có nhà ở quê thì làn sóng bỏ ra thành thị có thể sẽ giảm đi. Chính sách về nhà ở cho nông thôn sẽ cũng không tốn kém như khi thực hiện ở các thành phố lớn. Thay vì miễn thu tiền sử dụng đất và miễn thuế cho các doanh nghiệp thực hiện dự án, Chính phủ nên cho phép các địa phương dùng các khoản thu liên quan đến nhà, đất đầu tư trở lại cho các chương trình nhà.
Bộ Xây dựng lại càng không nên xin xỏ Thủ tướng trực tiếp xây nhà. Công việc của bộ là, tập trung thời gian, ban hành các chính sách, mang lại lợi ích cho toàn xã hội chứ không chỉ mang lại những công trình cụ thể cho những người của mình
Những khoản đầu tư này sẽ được thực hiện thông qua một chính sách tín dụng nhà ở, nếu tiền ít thì chỉ dành cho những người có thu nhập thấp, nếu nhiều tiền hơn thì nên bao gồm cả những thanh niên đã lập gia đình đang muốn mua nhà. Nhà nước, thay vì nhúng tay trực tiếp vào các dự án xây dựng, sử dụng 25.600 tỉ đồng mà bộ Xây dựng đề nghị ấy, lập quỹ tín dụng nhà ở, cho các hộ gặp khó khăn vay tiền mua nhà với lãi suất ưu đãi hoặc không lãi suất, với thời hạn cho vay có thể lên tới 30 năm.
Định mức cho vay sẽ tuỳ thuộc vào từng địa phương, Ví dụ, ở nông thôn, một cặp vợ chồng trẻ khi có ý định ra ở riêng, được gia đình đôi bên cho đất, quỹ này sẽ cho vay 40 – 50 triệu để xây một căn nhà vừa đủ. Ở đô thị, nếu một cặp vợ chồng đã tiết kiệm được một đến hai trăm triệu, quỹ sẽ cho vay bốn đến năm trăm triệu đủ để mua một căn hộ nhỏ ở ngoại thành.
Không nhà nước đang phát triển nào có thể lo được nhà ở cho mọi người dân. Dự án của bộ Xây dựng cũng chỉ tham vọng giải quyết được 30% số hộ cần nhà ở đô thị. Do đó, quỹ này chỉ có thể thực hiện trong trường hợp các gia đình cũng tích luỹ được một phần vốn.
Những khoản tín dụng này sẽ được thế chấp bằng chính căn nhà vừa mua. Nếu sau một thời gian, chủ nhà không thể trả nợ thì có thể phát mãi, ngân hàng thu lại phần nợ chưa trả. Giá trị tăng lên của ngôi nhà thuộc về chủ nhà. Tất nhiên, nếu khoản vay 500 triệu để mua một căn hộ dành cho người thu nhập thấp mà không thể trả góp trong 30 năm thì chính sách tiền lương rõ ràng là điều đầu tiên phải sửa.
Đồng vốn “đòn bẩy”
Với 25.600 tỉ đồng, nếu được Nhà nước đầu tư nhằm để trả lãi và bảo hiểm cho các khoản “tín dụng nhà ở” thì khoản vốn mà “xã hội” có thể tham gia, chắc chắn, sẽ nhiều hơn con số 49.000 tỉ đồng mà bộ đang dự toán. Khi có nhiều khách hàng được vay “ 500 triệu” để mua nhà, các nhà kinh doanh địa ốc sẽ lập tức tung ra các dòng sản phẩm tương đương để bán.
Như vậy, thay vì chỉ một số công ty được chọn khiến cho tham nhũng chạy chọt rất dễ phát sinh, lập một chương trình tín dụng mang cơ hội đến cho mọi người dân, thì “kích cầu” sẽ được tiến hành một cách toàn diện. Thị trường địa ốc, nhờ thế, cũng phát triển lành mạnh vì sẽ không có đồng thời những sản phẩm được bao cấp như dự án mà bộ đang trình.
Kinh nghiệm từ những chung cư phục vụ chương trình giải toả kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè cho thấy, vì chênh lệch giá, những cư dân Nhiêu Lộc thực sự thường phải bán đi căn hộ xây cho họ. Về mặt xã hội, Nhà nước không “tái định cư” được họ, về mặt kinh tế, những khu đất gần trung tâm như Miếu Nổi, đầu đường Nguyễn Đình Chiểu, thay vì có thể xây những căn hộ cao cấp, thu lợi cao, bồi thường thoả đáng hơn cho người dân, thì lại mọc lên những “căn hộ ổ chuột” như ta vẫn thấy.
Tất nhiên, nếu muốn “tín dụng nhà ở” trở thành một chương trình xã hội thì nó không thể ra đời đơn lẻ. Phải bổ sung các thiết chế về tiền tệ, tài khoản cá nhân, lý lịch tín dụng của các cá nhân…
Nhưng, trước hết phải bắt đầu chương trình nhà ở xã hội như là một chính sách thay vì như là một dự án. Bộ Xây dựng lại càng không nên xin xỏ Thủ tướng trực tiếp xây nhà. Công việc của bộ là, tập trung thời gian, ban hành các chính sách, mang lại lợi ích cho toàn xã hội chứ không chỉ mang lại những công trình cụ thể cho những người của mình.
Theo HUY ĐỨC – Sài Gòn tiếp thị

Hạn chế ngân sách mềm, đói đầu tư và trò chơi Ponzi

Hạn chế ngân sách mềm, đói đầu tư và trò chơi Ponzi
25/12/2008 11:22 (GMT+7)

Video:

Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu tư đầy rủi ro và hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp của các tổng công ty nhà nước?

Nhà kinh tế học János Kornai người Hungari, từ những năm 1975-1980, đã chỉ ra nguyên nhân chính khiến các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sản xuất không có hiệu quả, lâm vào tình trạng thiếu thốn triền miên và siêu lạm phát chính là hạn chế ngân sách mềm (soft budget constraints) đối với các doanh nghiệp nhà nước và đói đầu tư (investment hunger) của các doanh nghiệp này.

Hạn chế ngân sách mềm có nghĩa là nhà nước thông qua trợ cấp, miễn giảm thuế, ấn định giá đầu vào, ấn định giá đầu ra, tín dụng ưu đãi hoặc tín chấp… để giúp tạo ra tăng trưởng “giả tạo” cho các doanh nghiệp nhà nước (tăng trưởng của doanh nghiệp không hề liên quan đến tình hình tài chính ở hiện tại và tương lai của doanh nghiệp) và cứu vớt các doanh nghiệp này khỏi thua lỗ và phá sản với bất kỳ giá nào.

Các lãnh đạo của doanh nghiệp không có động lực để thay đổi công nghệ và sáng tạo để đa dạng sản phẩm, nâng cao chất lượng và đầu tư ngược dòng vào các sản phẩm và dịch vụ đầu vào cho sản xuất đòi hỏi nhiều công sức, thời gian đầu tư lâu và thu lợi chậm.

Thay vì đó, để đạt được các kế hoạch như cấp quản lý trên đề ra, các doanh nghiệp này đầu tư liên tục vào những nhà máy và công nghệ hiện có để tăng sản xuất một số ít các sản phẩm cuối cùng. Các kế hoạch lại thường viển vông để theo đuổi mục tiêu công nghiệp hóa và trực tiếp giảm tình trạng thiếu thốn trong nền kinh tế. Tình trạng thiếu thốn càng gay gắt, các doanh nghiệp càng có lý do để xin nhà nước nhiều vốn để đầu tư, điều mà Kornai gọi là “đói đầu tư”.

Bơm vốn và tín dụng

Theo IMF, trong năm 2005 và 2006, Nhà nước đã bảo lãnh cho phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong nước trị giá khoảng 1.200 tỉ đồng cho Tổng công ty Điện lực (EVN) và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam). Việc bảo lãnh phát hành trái phiếu này đã được thực hiện cho các tập đoàn và tổng công ty khác như Vinashin.

Đáng nói là, những trái phiếu này lại thường được mua bởi chính các ngân hàng thương mại nhà nước khi mà lợi tức của nó rất thấp. Trong các chuyến viếng thăm chính thức nước ngoài, Chính phủ “làm chứng” để các tổ chức tài chính nước ngoài bảo lãnh phát hành trái phiếu ra nước ngoài, tạo nguồn vốn cho các tổng công ty.

Ví dụ, Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ), Ngân hàng BNP (Pháp) và Ngân hàng Deutsche Bank (Đức) đã đồng ý đứng ra bảo lãnh phát hành trái phiếu tạo nguồn vốn cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam – Vinashin) (750 triệu USD trái phiếu quốc tế) và Tổng công ty Dệt may Việt Nam – Vinatex (dự kiến 500 triệu USD trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế).

Chính phủ cũng bảo lãnh các hợp đồng tín dụng giữa các ngân hàng nước ngoài với các tổng công ty. Credit Suisse đã đồng ý cho Vinashin vay 600 triệu USD và sau đó là cam kết cho vay đến 1 tỉ USD cho Vinashin và cho Vinalines để mua tàu của Vinashin.

Deutsche Bank cũng đồng ý cấp các khoản tín dụng cho Vinashin và Vinatex trong chuyến công du của Thủ tướng đến Đức vào tháng 3/2008. Chính phủ Ba Lan (70 triệu USD và 300 triệu USD) và Chính phủ Trung Quốc (100 triệu USD) cũng đồng ý các khoản tín dụng ưu đãi cho Vinashin dưới sự bảo lãnh của Chính phủ.

Ngân hàng Phát triển (VBD), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) và các ngân hàng thương mại nhà nước, Vietcombank, Vietinbank và BIDV, vẫn tiếp tục được coi là các công cụ để Nhà nước bơm thêm tín dụng cho các tập đoàn và tổng công ty.

Những hình thức bắt buộc cho vay vượt ngoài mức an toàn tín dụng đã và đang diễn ra dưới các cách khác nhau cho các tập đoàn và tổng công ty khác. Vinashin có được hợp đồng đóng tàu 53.000 tấn của Công ty Graig chính là nhờ yêu cầu của Chính phủ đối với bốn ngân hàng nhà nước bảo lãnh tiền đặt cọc của Graig, đôi khi vượt quá mức an toàn cho ngân hàng.

Trong tháng 5/2007, ngay sau khi Tổng công ty Thép (VSC) được chuyển đổi sang mô hình mẹ con thì Vietcombank cũng bảo lãnh phát hành trái phiếu trong nước trị giá 400 tỉ đồng với cam kết sẽ mua một phần hoặc tất cả số trái phiếu và chuyển đủ tiền cho VSC đúng thời hạn.

Không rõ đây có phải là cách thức VSC vay thêm tiền của Vietcombank vượt quá định mức an toàn khi mà nó vẫn chưa có khả năng trả nợ hết số nợ 51,578 triệu USD (trong tổng nợ 119,58 triệu USD từ cả VBD và các nguồn khác) vào năm 2002 để xây nhà máy thép tấm lá Phú Mỹ.

Trong các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước này vẫn tồn tại một khoản mục là “cho vay chỉ định và theo kế hoạch của Nhà nước”, ngầm hiểu là cho các dự án quốc gia do các tổng công ty nhà nước quản lý.

Hỗ trợ dưới hình thức khác

Có thể phân loại các tập đoàn và tổng công ty thành ba nhóm.

Nhóm thứ nhất là các tổng công ty trong các lĩnh vực được bảo hộ để thay thế nhập khẩu. Các công ty này như VSC, Tổng công ty Hóa chất, Tổng công ty Xi măng, Tổng công ty Giấy đã và đang được bảo hộ bằng hàng rào phi thuế và thuế quan và trợ cấp bằng ấn định giá đầu vào. Cho đến gần đây họ được độc quyền và được bảo hộ nên rất ít áp lực cạnh tranh. Các tổng công ty này đã và đang mắc phải căn bệnh “đói đầu tư”.

Họ đã đầu tư quá nhiều vào sản xuất với công nghệ lạc hậu, các loại sản phẩm cuối cùng không có chất lượng cao, trong khi lại rất ít sản xuất các sản phẩm đầu vào và các sản phẩm cuối cùng chất lượng tốt. Công nghệ lạc hậu khiến chi phí sản xuất cao, hao tổn nhiều tài nguyên và ô nhiễm môi trường.

Họ thất bại trong việc đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô (economies of scale) mà Chính phủ mong muốn khi quyết định hình thành nên họ. Mặc dù được gọi là tập đoàn và tổng công ty, nhưng họ bao gồm những nhà máy, phân xưởng và nông trường với quy mô nhỏ so với tiêu chuẩn của ngành, nằm rải rác ở các tỉnh trải dài đất nước. Các nơi sản xuất này lại không gần với vùng nguyên liệu, hoặc cảng biển để vận chuyển có hiệu quả các đầu vào cho sản xuất và sản phẩm cuối cùng đi tiêu thụ.

Một nhóm khác là những tổng công ty có đặc quyền nắm giữ tài nguyên quốc gia. Họ nắm các loại tài nguyên trong lòng đất như dầu lửa (Petro Vietnam), than đá và các khoáng sản (Vinacomin). Hay họ nắm giữ rất nhiều đất rừng và cao nguyên như Tập đoàn Cao su (VRC) hoặc rất nhiều đất đai và cảng biển dọc theo chiều dài đất nước như Vinashin. Họ thực sự độc quyền và củng cố được quyền lực của mình trong nền kinh tế không phải bằng việc tăng giá trị sản phẩm làm ra để phục vụ các ngành trong nước và xuất khẩu mà dựa vào đặc quyền sử dụng tài nguyên.

Nhóm cuối cùng là những tổng công ty sản xuất các sản phẩm hướng vào xuất khẩu như Vinatex, Tổng công ty Da giày hay Tổng công ty Thủy sản. Những tổng công ty này phải cạnh tranh nhiều hơn với các công ty tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài, không phải tại thị trường trong nước mà để nhận đơn đặt hàng xuất khẩu. Các tổng công ty này vẫn thực hiện các hợp đồng gia công là chủ yếu và không thu được nhiều giá trị gia tăng do không tự túc được đầu vào hoặc do không có kênh phân phối đến khách hàng cuối cùng ở nước ngoài.

Ngoài ra, trong cuộc cạnh tranh họ đã tỏ ra là kém hiệu quả hơn các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài. Vinatex đặc biệt trong nhóm nhận được rất nhiều ưu đãi xuất khẩu và tín dụng để thực hiện chương trình tăng tỷ lệ nội địa hóa thông qua chương trình 1 tỉ mét vải, nhưng kết quả là hết sức khiêm tốn so với những nỗ lực của khu vực doanh nghiệp nước ngoài và tư nhân.

Việc chuyển đổi các tổng công ty này theo mô hình mẹ con không hề làm tăng hiệu quả kinh tế nhờ quy mô vì quy mô của công ty mẹ cũng như các doanh nghiệp thành viên không được mở rộng, vẫn phân tán và nhỏ lẻ. Việc cổ phần hóa đang tăng thêm nguồn vốn cho các tổng công ty và tăng thêm đôi chút quyền tự chủ cho lãnh đạo các tổng công ty. Nhưng nhân sự trong ban lãnh đạo của các tổng công ty thì lại không thay đổi.

Việc tăng thêm quyền hạn cho họ, đặc biệt là việc được phép đa dạng hóa các lĩnh vực sản xuất kinh doanh kết hợp với việc Chính phủ tiếp tục giúp họ không có hạn chế ngân sách đang dẫn đến việc họ tiếp tục “đói đầu tư” để đầu tư không có hiệu quả hoặc mong muốn chuyển mình thành những định chế tài chính nhiều hơn là chuyên vào lĩnh vực sản xuất chính của họ.

Với lý do Việt Nam đang thiếu gần nửa năng lực về sản xuất phôi thép và thiếu hoàn toàn năng lực sản xuất thép tấm lá, cả Vinashin, VSC, GERUCO và một số tổng công ty nhà nước cấp tỉnh đang liên doanh với các công ty nước ngoài để thực hiện các dự án liên hợp thép khổng lồ từ 1 tỉ đến gần 10 tỉ USD (nếu tính cả các dự án 100% FDI thì lên đến gần 10 dự án) bất chấp rất nhiều ý kiến chuyên gia về nguy cơ thừa công suất, thiếu quan tâm đến khả năng cung cấp các đầu vào điện và quặng sắt cho tất cả các dự án, mức độ ô nhiễm môi trường và năng lực tài chính và công nghệ của các đối tác đầu tư để có thể thực sự hoàn thành được các dự án.

Câu hỏi đặt ra là liệu các doanh nghiệp nước ngoài có đang dựa vào cam kết tiếp tục bảo hộ ngành thép trong nước của Chính phủ trong chiến lược phát triển ngành thép 2007-2015 và vào vị thế của các tập đoàn nhà nước để thu lợi cho mình. Hơn thế, VSC cũng đang sử dụng nguồn vốn từ cổ phần hóa và từ “hạn chế ngân sách mềm” để đầu tư vào các dự án quy mô nhỏ.

Tương tự, với mong muốn trở thành nước đứng đầu thế giới về đóng tàu, Vinashin đang huy động số vốn 3,8 tỉ USD để đầu tư đồng loạt vào 17 nhà máy đóng tàu, sáu khu công nghiệp đóng tàu và bảy tổ hợp đóng tàu dọc theo bờ biển của Việt Nam (họ có tổng cộng 70 dự án đang thực hiện).

Vấn đề nổi cộm mà nhiều chuyên gia bình luận về chiến lược đầu tư của Vinashin là liệu có nên đầu tư quá nhiều vào ngành này khi mà tỷ suất lợi nhuận rất thấp (số liệu cho ba công ty đóng tàu lớn nhất của Việt Nam là dưới 1%) và rủi ro lỗ do chênh lệch lớn giá nguyên liệu đầu vào và giá tàu giữa lúc ký hợp đồng và giao tàu.

Có thể những đầu tư này đang tạo ra tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện tại, nhưng là một sự lãng phí nguồn vốn khan hiếm trong dài hạn.

Lấy nợ nuôi nợ

Vấn đề của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước hiện nay không chỉ là “đói đầu tư” như Kornai nhận định mà còn có những đặc điểm của “công ty Ponzi” mà giáo sư kinh tế học Hyman Minsky nhận định là nguyên nhân dẫn đến bất ổn định tài chính của nền kinh tế đóng cũng như nền kinh tế mở và có người cho rằng có thể giải thích được nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay.

Theo Minsky, nếu các công ty không phải quan tâm đến khả năng bị phá sản (đối với các tập đoàn và tổng công ty nhà nước tại Việt Nam là nhờ vào hạn chế ngân sách mềm mà Nhà nước ban cho) thì họ sẽ có xu hướng sử dụng nợ, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn để trả các khoản nợ dài hạn (có thể là được dùng để đầu tư) giống như nhà đầu cơ Ponzi, người Ý đã từng làm trước đây để trở nên giàu có và sau đó bị vỡ lở và vào tù.

Không chỉ có Vinashin được hưởng nhiều khoản vay bằng ngoại tệ và được bảo lãnh của Chính phủ để vay từ thị trường nước ngoài, một số các tập đoàn và tổng công ty lớn như VSC, Vinatex, EVN và Vinalines cũng đang được hưởng những ưu đãi tương tự.

Không rõ khả năng trả nợ của Vinashin như thế nào nhưng như đã nêu ở trên đóng tàu là ngành có lợi nhuận rất thấp, và người đứng đầu Vinashin đã nói rằng hiệu quả của khoản chuyển giao phát hành trái phiếu quốc tế 750 triệu USD chỉ có thể biết trong vòng 10 năm nữa, cũng tương tự như việc lãnh đạo EVN cho rằng, họ phải đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh để “lấy ngắn nuôi dài”.

Bộ Tài chính đã từng tuyên bố rằng các tập đoàn và tổng công ty đang sử dụng nợ để đầu tư ra khỏi lĩnh vực kinh doanh chính vào bất động sản và chứng khoán. Liệu sự “vỡ bong bóng” của cả hai thị trường này trong vòng một năm nay có khiến cho các khoản đầu tư của họ thua lỗ và họ đang đòi được vay thêm để trả các khoản nợ phát sinh do sự vỡ bong bóng này.

Để chống lạm phát, Chính phủ yêu cầu các tập đoàn và tổng công ty dừng hoặc hoãn các dự án và giảm chi đầu tư. Nhưng sự thắt chặt tín dụng chỉ kéo dài chưa được nửa năm. Vinashin đã trở thành tập đoàn đầu tiên được nhà nước “linh hoạt” cho phép đi vay tiếp để “thực hiện” các dự án “trọng điểm” trước cả khi Chính phủ chính thức tuyên bố nới lỏng hơn chính sách tiền tệ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể vay vốn khôi phục sản xuất kinh doanh.

Việc mở rộng cổ phần hóa tới các tổng công ty nhà nước và chuyển đổi các tổng công ty này theo mô hình công ty mẹ con đã cho thấy là chưa đủ để nâng cao hiệu quả sản xuất và đầu tư của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

Dựa vào quy định của Chính phủ là các tập đoàn và tổng công ty chuyển đổi sang mô hình mẹ con thì nên đa dạng hóa sản xuất kinh doanh, các tổng công ty đã đầu tư tràn lan vào những lĩnh vực đầu cơ như các số liệu công bố cho thấy. Họ đang thu được lợi từ việc chuyển sang nền kinh tế thị trường nhưng họ lại không bị áp đặt nhiều kỷ luật hơn từ thị trường.

Bài học rút ra từ giai đoạn tăng chi đầu tư chóng mặt nhưng hiệu quả đầu tư thấp và tăng tín dụng quá lớn để đầu tư vào các lĩnh vực bong bóng như bất động sản và chứng khoán, mà chủ thể chính của những khoản đầu tư này chính là các tập đoàn và tổng công ty cho thấy tăng trưởng kinh tế dựa vào kích cầu đầu tư trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế nhưng không đi liền với việc giám sát đầu tư và củng cố năng lực của phía cung thì rủi ro là rất lớn.

Mượn lời một lãnh đạo của VRC cho rằng các tập đoàn và tổng công ty đầu tư nhiều vào khu đô thị và khu công nghiệp bởi họ có vốn và đất đai nhiều mà các doanh nghiệp khác khó có được cho thấy hạn chế ngân sách mềm đi liền với sự thiếu giám sát và quản lý của Nhà nước có thể khuyến khích các tập đoàn và tổng công ty nhà nước trở thành các “công ty Ponzi” và đặt nền kinh tế trước rủi ro bất ổn tài chính.

Nguyễn Thanh Nga – Chuyên gia kinh tế UNDP (TBKTSG)

Những khó khăn của thị trường ôtô Việt Nam 2009

Những khó khăn của thị trường ôtô Việt Nam 2009
Thuế tiêu thụ đặc biệt, phí trước bạ tăng sẽ là những rào cản cho các liên doanh ôtô năm 2009, chưa kể tới khủng hoảng của các hãng mẹ trên toàn cầu.
Năm 2008 kết thúc bằng những con số không quá buồn với các hãng xe hơi. Nửa cuối năm không thực sự như ý nhưng nửa đầu đã mang về cho các thành viên trong Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô (VAMA) thành tích đáng kể. Doanh số cộng dồn 11 tháng đã đạt mức trên 100.000 chiếc, đánh dấu mốc mới trong quá trình phát triển.
Tuy nhiên, hầu hết đều đang lo lắng cho 2009 được đánh giá là cực kỳ ảm đạm, với những rào cản đến từ nhiều phía, cả trong lẫn ngoài nước. Dưới đây là 4 “chướng ngại vật” đã được định trước, chưa kể những diễn biến bất thường.
1. Phí trước bạ tại Hà Nội tăng lên 12%
Ngày 3/12, VAMA gửi công văn tha thiết đề nghị xem xét lại dự thảo tăng phí trước bạ do khó khăn của thị trường ôtô nhưng UBND TP Hà Nội vẫn quyết định điều chỉnh từ 10% lên 12% và có hiệu lực từ 1/1/2009.
Giữa lúc tiêu thụ khó khăn thì tăng thuế trước bạ ngay thời điểm 1/1 được các liên doanh coi là “họa vô đơn chí”. Bởi với mức phí này, 20 ngày trước Tết nguyên đán sẽ không còn hy vọng ở thị trường Hà Nội, trong khi các năm trước đây là thời điểm sôi động nhất.

Mitsubishi Zinger, mẫu xe mới của Vinastar. Ảnh: H.T.
Mức phí 12% khiến khách hàng mua ôtô phải trả thêm 20%. Chẳng hạn một chiếc Hyundai i30 có giá 30.000 USD hiện phải đóng 3.000 USD tiền phí. Sau ngày 1/1, người mua sẽ phải đóng 3.600 USD, tức là thêm 600 USD nữa.
Tiền phí chưa phải là vấn đề lớn bởi theo lý giải của một chuyên gia, tâm lý khách hàng mới là điều quan trọng nhất. “Vào lúc tất cả đều khó khăn, người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm chi tiêu thì chỉ cần tăng vài phần trăm cũng đã khiến họ lưỡng lự. Huống hồ ở đây lại tăng tới 20%”, vị này phân tích.
2. Thuế tiêu thụ đặc biệt mới
Sau phí trước bạ 3 tháng, biểu thuế tiêu thụ đặc biệt mới sẽ có hiệu lực, ngày 1/4/2009. Trong các loại thuế ôtô thì tiêu thụ đặc biệt có ảnh hưởng lớn nhất đến giá bán ra. Chỉ cần một điều chỉnh nhỏ, giá xe sẽ bị tác động. Và lần này phân khúc xe đa dụng 6-9 chỗ bị hạn chế đáng kể với mức tăng giá 12-23%.
Loại xe Dung tích động cơ
(cc) Thuế mới
(%) Thuế cũ
(%) Mức thay đổi giá sau thuế
Xe 5 chỗ Dưới 2.000 45 50 Giảm 3%
2.000-3.000 50 Không đổi
Trên 3.000 60 Tăng 7%
Xe 6-9 chỗ Dưới 2.000 45 30 Tăng 12%
2.000-3.000 50 Tăng 15%
Trên 3.000 60 Tăng 23%
Do đó, các “ông lớn” trong VAMA như Toyota, Ford, Vidamco, Vinastar như ngồi trên đống lửa do phần lớn doanh số và lợi nhuận đang dựa vào dòng đa dụng. Ford trong hơn 1 năm qua chủ yếu bán Everest, Vidamco có tới hai sản phẩm quan trọng bị ảnh hưởng là Captiva và Vivant. Vinastar thì đã lỡ bỏ hết dòng sedan (xe 5 chỗ) để tập trung vào loại 6-9 chỗ như Grandis và sản phẩm mới trình làng Zinger.
Toyota được đánh giá an toàn nhất trong nhóm các nhà sản xuất trên nhờ có danh mục sản phẩm đa dạng. Nhưng lợi thế của “con gà đẻ trứng vàng” Innova sẽ bị giảm đáng kể. Trang bị động cơ dung tích thực 1.998 phân khối nên Innova được xếp vào loại xe 6-9 chỗ dưới 2.000 phân khối và giá xe sẽ bị đội lên khoảng 12% khi thuế có hiệu lực.
Như vậy, khách hàng sẽ phải bỏ thêm 4.100 USD nếu muốn mua một chiếc Toyota Innova V so với 34.100 USD hiện tại. Sự thành công của Innova trên thị trường được cho là phụ thuộc phần lớn vào mức giá phải chăng. Sang 2009, ưu điểm sống còn đó không còn nữa.
Ngoài Innova, Toyota cũng đang đau đầu với kế hoạch đưa chiếc đa dụng thứ hai, Fortuner, ra thị trường đầu 2009. Có động cơ nằm trong khoảng 2.000-3.000 phân khối, giá Fortuner sẽ tăng khoảng 15% sau ngày 1/4.
Hai nhà sản xuất bình tâm nhất là Mercedes và Honda. Với chiếc sedan Civic và crossover CR-V 5 chỗ, Honda không bị điều chỉnh tăng nào về giá, thậm chí Civic còn giảm được khoảng 3%. C200K Avantgarde, C200K Elegance và E200 của Mercedes cũng được giảm 3% trong khi C230, E280 giữ nguyên.
3. Khủng hoảng từ hãng mẹ
Những tin xấu liên tiếp xuất hiện với General Motors, Ford, Toyota, Honda, Mitsubishi trên thế giới và câu hỏi được đặt ra là điều đó tác động như thế nào đến các liên doanh ở Việt Nam.
Hầu hết câu trả lời đều là “không ảnh hưởng ” bởi các liên doanh hoạt động độc lập. Theo các chuyên gia thì khó khăn thực sự xuất hiện khi bước sang 2009. Các nhà sản xuất sẽ chẳng dễ dàng xin được hãng mẹ hỗ trợ giảm giá, khuyến mãi hay tăng thời hạn bảo hành để kích cầu. Vì vậy, thị trường càng ảm đạm hơn.
Bên cạnh đó, trong thời kỳ khủng hoảng, kế hoạch đưa sản phẩm mới sẽ không còn thuận lợi. Vidamco từng rất thành công khi thuyết phục GM Daewoo cho đưa Chevrolet Captiva về Việt Nam nhưng lời hứa cho ra đời phiên bản máy đầu từ đầu năm vẫn chưa thực hiện được và có nguy cơ hoãn vô thời hạn.
4. Doanh nghiệp FDI được nhập khẩu xe nguyên chiếc
Kể từ 1/1/2009, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền nhập khẩu ôtô nguyên chiếc. Tuy nhiên, họ vẫn phải thông qua các đại lý (dealer) chứ không được bán trực tiếp cho khách hàng.
Sự mở rộng này sẽ khiến các nhà phân phối nước ngoài không phải ủy quyền nhập khẩu cho các công ty 100% vốn trong nước như trước đây. Thế nhưng, theo đánh giá thì thị trường ôtô nhập cũng không sôi động hơn bởi giá xe hiện tại đang bị áp lực lớn với mức thuế nhập khẩu hiện là 83%, chưa kể thuế tiêu thụ đặc biệt mới sắp có hiệu lực.
Nhiều công ty phân phối lớn đã nhòm ngó thị trường Việt Nam nhưng do khó khăn chung của ngành công nghiệp ôtô, mức thuế cao và cần thời gian tìm đối tác làm đại lý nên phải đến cuối 2009 hoặc đầu 2010, họ mới có thể tiếp cận đưoc

Kích cầu không chỉ bằng tiền

Filed under: chính sách,khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 12:03 am
Tags: , ,

TT – Chính phủ đã phát tín hiệu dứt khoát sẽ đưa ra kế hoạch kích cầu đầu tư và tiêu dùng trọn gói vào cuối tháng này. Con số lúc đầu là 1 tỉ USD, nhưng mới đây Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng nói tại diễn đàn đối thoại với doanh nhân ngày 14-12, con số này có thể lên đến 6 tỉ USD.
Một kế hoạch hành động cụ thể như thế là điều xã hội đang mong đợi, nhất là giới doanh nhân.
Bởi xung quanh VN, không tính đến Âu Mỹ là những nơi khủng hoảng tài chính đang hoành hành mà Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore đã và đang kịp thời vạch ra kế hoạch phòng chống. Tại những nước này, kế hoạch kích cầu trước nhất là “bơm tiền” nhà nước vào các lĩnh vực giữ vững số lượng lớn việc làm cho người dân cũng như tạo ra thương vụ cho giới kinh doanh.
Đứng hàng đầu là lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng (đường và phương tiện giao thông công cộng, cầu, cảng…). Kế đến là giáo dục và y tế – hai lĩnh vực tưởng chừng như không liên quan trực tiếp đến kinh tế nhưng thật ra vừa là thị trường đông đảo người tiêu dùng nhất, vừa là lĩnh vực duy trì niềm tin cho xã hội, đặc biệt vào thời điểm lòng người dễ thất vọng vì mất mát trong kinh tế.
Qua đấy, nhà nước không chỉ tiếp tục duy trì ngân sách cho giáo dục phổ thông mà còn tăng ngân sách cho dạy lại nghề (re-training) cho người thất nghiệp hoặc có nguy cơ mất việc. Ngoài ba lĩnh vực trên, nhà nước còn chi tiền hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực tiếp thị, nhất là những nơi đang có thế mạnh về du lịch và xuất khẩu, về R&D ( nghiên cứu tìm dư địa mới). Tùy tình hình khác biệt từng nước mà chính phủ khởi xướng việc chi tiền nhà nước vào đâu để kích cầu hiệu quả.
Dĩ nhiên, tiền nhà nước (lấy từ thuế, thu nhập từ tài nguyên, tiền vay mượn…) là lớn lao nhưng không phải là vô tận. Chính vì thế cần lưu ý việc kích cầu không chỉ bằng tiền, mà thật ra trong nhiều lĩnh vực, nhà nước chỉ cần có chính sách đột phá là có thể tạo ra và gia tăng lợi ích chung cho người dân và giới kinh doanh.
Cụ thể trong các lĩnh vực nhạy cảm như xăng dầu, tín dụng, thuế, học hành, chữa bệnh. Người dân rất cần chính phủ cam kết và có các biện pháp dự phòng để không xảy ra việc tăng giá xăng dầu đột ngột, không tăng học phí và viện phí, không để các tổ chức tín dụng phá sản, không tăng thuế hay làm việc tính thuế theo các quy định mới thêm rối rắm.
Kế đến là các lĩnh vực tạo thêm nguồn lợi cho dân, chẳng hạn việc miễn visa cho du khách của những nước có khả năng đem đến số lượng lớn người tiêu xài (chính phủ vừa miễn visa cho du khách Nga, trước đây là Nhật, nay nên mở thêm cho Âu – Mỹ).
Chính phủ cũng nên có thêm chính sách thu hút kiều hối như việc giảm thuế thu nhập – một hình thức thưởng, cho các tổ chức và cá nhân gửi hoặc nhận kiều hối ở mức độ cao.
Đối với thị trường địa ốc, chính phủ cần ban hành nhanh các văn bản thực hiện thông thoáng việc mở cửa cho Việt kiều và người nước ngoài được quyền mua nhà, mua căn hộ.
Danh sách những việc kích cầu bằng tiền và không bằng tiền chắc chắn còn dài khi chính phủ tiếp tục trưng cầu ý kiến người dân thông qua các diễn đàn đối thoại, hiệp hội, truyền thông đại chúng. Chắc chắn người dân nào cũng mong muốn kế hoạch kích cầu sẽ là “chùm khế ngọt” cho toàn xã hội. Nếu cần, chính phủ có thể chủ trương gói kích cầu đợt một, đợt hai… Không nhất thiết phải làm ngay một lần. Và vừa làm vừa lắng nghe dư luận, miễn sao chủ trương cần được bàn thảo kỹ lưỡng, nhất là khi đưa ra thực hiện thì tiếp tục tận dụng nhiều kênh trong xã hội để có phản hồi và giám sát liên tục.
PHÚC TIẾN
Thứ Tư, 17/12/2008, 08:27 (GMT+7)

“Ứng xử khi bán và trách nhiệm sau mua” là yếu tố bền vững 122308

Filed under: kinh tế,thị trường (market) — ktetaichinh @ 12:02 am
Tags: ,

“Ứng xử khi bán và trách nhiệm sau mua” là yếu tố bền vững
Chỉ còn hơn 1 tuần nữa, Việt Nam sẽ chính thức mở cửa thị trường bán lẻ, thị trường vốn được xem là đã bị “bỏ lơ” một thời gian dài. Trong lúc này, các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam cần sự khích lệ từ phía Nhà nước, ủng hộ của người tiêu dùng (NTD).
Điều quan trọng hơn là họ cần có thêm kinh nghiệm để có thể đứng vững bằng “đôi chân” của mình khi vào sâu WTO. Để làm rõ vấn đề này, phóng viên TTXVN đã có dịp trao đổi với Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học Thị trường giá cả (Bộ Tài chính)
* Thưa ông, có ý kiến cho rằng, 2009 sẽ chưa phải là năm chứng kiến những sôi động của thị trường bán lẻ vì tình hình kinh tế khó khăn chung. Ông nghĩ sao về vấn đề này?
– Ông Vũ Đình Ánh: Hiện nay, ngoài một số nhà phân phối nước ngoài đã có mặt tại Việt Nam như Big C (Pháp), Metro Cash & Carry (Đức), Lotte Mart (Hàn Quốc), Parkson (Malaysia)…, liệu doanh nghiệp nước ngoài có “ồ ạt” vào Việt Nam sau khi mở cửa thị trường bán lẻ hay không tôi cho rằng, chúng ta nên cân nhắc nhất là trong bối cảnh nền kinh tế còn khó khăn chung.
Đúng là các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam sẽ bị sức ép nếu phải “đối đầu” với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài nhưng chưa thực sự căng thẳng vì “đặt chân” vào thị trường Việt Nam thực sự không dễ. Một trong những e ngại của các nhà bán lẻ nước ngoài khi “đổ bộ” vào Việt Nam là mặt bằng kinh doanh. Thông thường hệ thống bán lẻ muốn phát triển phải có vị trí kinh doanh thuận tiện là mặt đường đồng nghĩa với việc phải có tiềm lực tài chính rất mạnh, đó là chưa kể các nhà bán lẻ nước ngoài muốn thiết lập các chuỗi siêu thị tại Việt Nam. Vấn đề này thật không đơn giản vì phân bổ đất đai cho hạ tầng thương mại của Việt Nam còn chật hẹp, giá thuê lại quá cao.
Theo tôi, sang năm tới, lạm phát sẽ không phải là nguyên nhân cơ bản cản trở sức mua của NTD nhưng cái chính là vấn đề người dân đặt niềm tin về nền kinh tế. Bên cạnh đó, hệ thống bán lẻ phân phối nếu chưa được cải thiện sẽ rất khó tăng sức mua, nhất là thu nhập của NTD còn thấp so với chuẩn của các nhà bán lẻ nước ngoài.
* Vậy theo ông, hệ thống bán lẻ của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cải thiện thế nào nhằm tăng sức cạnh tranh?
– Các nhà bán lẻ nước ngoài có rất nhiều ưu thế như tiềm lực tài chính, tính chuyên nghiệp cao. Họ thừa sức có thể cung cấp hàng hóa từ khắp nơi với mức giá hấp dẫn do không phải qua khâu trung gian. Điều quan trọng hơn là họ rất có ý thức quan tâm tới NTD. Tại nước ngoài, chất lượng hàng hóa, mức giá đồng đều nhau nếu khách hàng mua cùng một chuỗi bán lẻ trên khắp nơi. Ngoài ra, tính chuyên nghiệp còn được thể hiện ở chỗ “sau bán hàng”, đó là: Nếu khách mua muốn đổi hoặc không đồng ý đều có thể đổi và trả lại tại bất kỳ chuỗi cửa hàng, siêu thị của họ. Đây chính là trách nhiệm sau bán hàng. Khâu này Việt Nam còn yếu.
Không những thế, phong cách bán lẻ của Việt Nam cần học người Trung Quốc. Thông thường cách phục vụ bán hàng của người Việt Nam chỉ làm tốt trong 5 năm đầu, sau là con số không. Bản thân tôi đi mua hàng tại một số doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nhận thấy, nếu biết khách chỉ xem chứ không mua là thái độ bán hàng khác ngay.
Bí quyết thành công bán lẻ tại nước ngoài còn thể hiện ở chỗ Bán lẻ là trung tâm của khâu sản xuất và phân phối. Trong khi Việt Nam, sản xuất lại chi phối bán lẻ. Do vậy nếu Việt Nam hình thành Tập đoàn bán lẻ chuyên nghiệp sẽ giải quyết được vấn đề này, lúc đó sẽ thực hiện nguyên tắc: bán cái người ta cần chứ không phải bán cái mà mình có.
* Hiện có một số Tập đoàn bán lẻ của Việt Nam đang hoạt động khá tốt trong vai trò bán lẻ, phân phối hàng như: Hapro, Saigon Co.op, Nguyễn Kim, Phú Thái… Ông đánh giá thế nào về họ cũng như Nhà nước cần có chính sách tạo điều kiện ra sao để doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam ngày càng phát triển ?
– Theo tôi, đây những doanh nghiệp kinh doanh khá tốt. Tuy nhiên nếu phải “đọ ngay” với Tập đoàn Big C hay Metro thì chắc chắn sẽ thua vì Việt Nam chưa có khả năng quản lý có tầm vĩ mô như nước ngoài cũng như có nguồn hàng dồi dào để cung ứng. Tuy nhiên như tôi đã đề cập, thành công trong bán lẻ là ứng xử trong bán hàng. Tôi thấy Việt Nam có Trung tâm mua sắm Sài Gòn Nguyễn Kim là điển hình, vào đấy khách hàng có cảm giác như được “phục vụ”, mua hay không mua, khách hàng đều được kính trọng.
Mấu chốt hiện nay là làm sao để phát triển thị trường bán lẻ, làm sao để có người mua. Để làm được điều này các doanh nghiệp Việt Nam phải cố gắng giảm giá, giá là yếu tố cạnh tranh “cổ điển” nhưng có sức mạnh “kinh điển” thông qua việc giảm chi phí sản xuất. Nếu cứ giữ mức giá bán chung như hiện nay doanh nghiệp Việt Nam rất khó cạnh tranh, đơn cử Việt Nam là đất nông nghiệp nhưng giá thực phẩm của mình vẫn đắt so với Úc…
Đối với cơ quan Nhà nước, việc điều tiết thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và giá trị gia tăng có ý nghĩa quan trọng. Nếu doanh nghiệp được giảm thuế TNDN thì doanh nghiệp sẽ có cơ hội lấy tiền tái đầu tư, thay đổi công nghệ từ đó có thể mới giảm được chi phí sản xuất. Thuế giá trị gia tăng nằm trong giá bán sản phẩm, nếu giảm nó sẽ trực tiếp tác động tới giá của sản phẩm trong hệ thống bán lẻ.
Theo TTXVN
Thứ Ba, 23/12/2008, 23:43 (GMT+7)

Next Page »

Blog at WordPress.com.