Ktetaichinh’s Blog

March 25, 2009

Cấp bách kích cầu 6 tỉ USD 2008

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 11:59 pm
Tags: ,

Cấp bách kích cầu 6 tỉ USD
Dự kiến Chính phủ sẽ đưa gói kích cầu nền kinh tế lên đến 6 tỉ USD từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là kích vào đâu, cho ai và kèm theo đó là thực hiện theo cơ chế nào… Tuổi Trẻ sẽ cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau từ những người cần được “thụ hưởng” từ gói kích cầu trên.
Vốn nên “rót” vào đâu?
TT – Lãi suất, vốn vay, chính sách thuế, thị trường tiêu thụ… là những vấn đề mà doanh nghiệp (DN) đang gặp khó khăn nhất và cần được “tháo ngòi” cấp bách trong tình hình hiện nay.

Hàng loạt DN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã phải cắt giảm sản xuất, cắt giảm lao động, thậm chí đóng cửa xưởng sản xuất vì những lý do trên.
Giảm sản lượng vì sức mua yếu
Ông Cao Lương Tri, xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên (An Giang), ngồi nhìn công nhân xúc cá dưới hầm lên cân buồn rầu cho biết đợt cá này đã ký hợp đồng với một số nhà máy chế biến với giá 16.400 đồng/kg. Tuy nhiên đến kỳ thu hoạch nhưng không DN nào mua. Nay cá đã quá trọng lượng, mỗi con lên tới 2kg thì DN đề nghị do giá thị trường xuống thấp, tình hình xuất khẩu khó khăn nên mỗi bên chịu lỗ một nửa và họ đưa ra giá mua là 15.000 đồng/kg. “Với mức giá trên tính ra mỗi ký cá lỗ 2.000 đồng. Sơ sơ bán cá đợt này được khoảng 500 tấn thì tôi lỗ… 1 tỉ đồng!” – ông Tri nói với giọng đau khổ.

Ông Đỗ Đức Định (giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế – xã hội VN):
Vốn cần vào nơi đầu tư hiệu quả nhất
DN trong lúc khó khăn rất trông đợi vào điều hành vì thực tế, điều hành vĩ mô có thể giảm nhưng cũng có thể tăng những thách thức và cơ hội cho DN. Gói kích cầu 6 tỉ USD được giới doanh nhân đặt rất nhiều kỳ vọng.
Có tiền đã khó, tiêu tốt 6 tỉ USD còn khó hơn. Là giải pháp “cứu”, là gói tiền “mồi” trong lúc DN đang cực kỳ khó khăn nên nó phải đạt hơn 100% hiệu quả. Khoản tiền này vì từ ngân sách, nên nếu chi chỉ cần kẽ hở nhỏ sẽ là cơ hội cho một vài người giàu lên và chắc chắn người thật sự cần giúp đỡ lại không được. Trong lúc khó khăn, điều hành vĩ mô có thể tăng cơ hội cho diện rộng DN nhưng cũng rất dễ chỉ đem lại lợi ích cho số ít. Việc này cần hết sức tránh vì nó sẽ triệt tiêu khả năng tiếp cận thị trường, khả năng “lớn lên” của DN vừa và nhỏ. Vì vậy, vốn cần được tập trung vào khu vực có khả năng đầu tư hiệu quả nhất chứ không phải công trình lớn nhất.
C.V.Kình ghi
Theo ông Nguyễn Văn Đạo – tổng giám đốc Công ty cổ phần Gò Đàng (Tiền Giang), công ty có ba mặt hàng chính gồm: cá ba sa, nghêu và mực xuất sang châu Âu, nhưng từ tháng 10 đến nay giá trị xuất khẩu đã giảm 30-40% dẫn tới lượng hàng hóa chế biến tồn kho rất lớn, nhà máy phải giảm công suất khoảng 20%. Dù chưa đến mức cho công nhân nghỉ việc nhưng lương cứ “teo tóp” dần. “Những năm trước, tháng 11-12 là có hợp đồng mới ký đến tháng ba năm sau, nhưng năm nay hợp đồng ký trước hầu như không có” – ông Đạo lo lắng.
Tương tự, bà Cao Thị Kim Lan, giám đốc Công ty Thủy sản Bình Định – Bidifisco (một trong những công ty xuất khẩu cá ngừ lớn của VN), cho biết: giá trị xuất khẩu trong tháng 12-2008 chỉ còn 1 – 1,2 triệu USD so với khoảng 2 triệu USD các tháng trước đó do giá cả và mức tiêu thụ giảm mạnh.
Đặc biệt, nhiều khách hàng đề nghị hủy đơn hàng đã ký trước, trong đó có tới 20-30% đơn hàng xuất sang châu Âu. “Nhu cầu của khách hàng vẫn còn nhưng do biến động của kinh tế thế giới nên họ chủ động ngừng mua hàng để chờ đợi thị trường thế giới xác lập mức giá mới. Dự kiến giá xuất khẩu các mặt hàng năm 2009 có thể giảm 30-40% so với năm nay” – bà Lan cho hay.
Phải “gãi” đúng chỗ ngứa
Để đối phó với khó khăn, trước mắt nhiều DN đã thực hiện hàng loạt biện pháp tiết kiệm nhằm giảm chi phí. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Đạo cho rằng để cứu các DN trong tình hình hiện nay, vốn là một trong các giải pháp cấp thiết nhất, trong đó lãi suất ngân hàng nên giảm xuống còn khoảng 10%/năm.
Ông Phan Văn Dũng, giám đốc kinh doanh Công ty cổ phần Hữu Liên Á Châu – chuyên sản xuất thép ống, cho rằng nếu được “nằm trong diện ưu đãi kích cầu”, bản thân công ty ông cần vay khoảng 10 triệu USD để bổ sung nguồn vốn cho sản xuất vì hiện nay để tiếp cận được nguồn vốn vay từ ngân hàng không phải chuyện đơn giản. “Chúng tôi vừa có thị trường nội địa lẫn thị trường xuất khẩu nên nhu cầu về vốn rất cấp thiết. Nhưng với lãi suất như hiện tại không phải là mức lãi suất mà DN kỳ vọng” – ông Dũng nói.
Cũng trong tình cảnh khát vốn tương tự, phó giám đốc Nguyễn Văn Nhân – Công ty NTN chuyên sản xuất sản phẩm composit xuất khẩu (Đồng Nai) – nói dù lãi suất đã giảm nhưng nếu được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ gói kích cầu của Nhà nước, công ty sẽ có cơ hội phát triển hơn. “Chúng tôi đang tính xây dựng thêm một khu nhà xưởng nhưng vừa rồi gặp lạm phát, tiếp đến là những khó khăn của nền kinh tế nói chung nên đã tạm hoãn đầu tư. Nếu được Nhà nước hỗ trợ trong việc vay ưu đãi, chúng tôi sẽ làm ngay nhà xưởng mới”.
L.N.MINH – V.NGHI – T.MẠNH
Kích cầu bằng thuế
Hoàn thuế chậm, chuyện xưa như trái đất nhưng đến nay sự trì trệ của nó khiến DN nghĩ nếu cải thiện được tốc độ thì cũng coi như một biện pháp kích cầu. Ông Lê Hồng Thắng, giám đốc phụ trách khối sản xuất Công ty cổ phần chế biến gỗ Đức Thành (TP.HCM), cho rằng để giúp DN gỡ bớt một phần khó khăn trong bối cảnh hiện nay là “một chính sách hành chính nhất quán, đặc biệt là các thủ tục trong vấn đề hoàn thuế”. Theo ông Thắng, đối với những DN nghiêm túc và có thành tích trong việc đóng thuế, nên có những cách thức ưu tiên trong việc hoàn thuế. “Chẳng hạn, thay vì phải chờ thẩm tra để hoàn thuế 100% cho DN, nên chăng tự động hoàn 50% cho DN trước, sau đó tính đến chuyện kiểm tra, xác minh” – ông Thắng đề xuất.
Cũng là vấn đề thuế, ông Trần Tuấn Anh – tổng giám đốc Công ty TNHH thang máy Thái Bình – yêu cầu “làm thế nào có sự bình đẳng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh thông qua chính sách thuế, đặc biệt những công ty trong nước đang hoạt động ở một số lĩnh vực đặc biệt”. Là một trong số rất ít DN đầu tư vào ngành sản xuất thang máy của VN, nhưng ông Tuấn Anh cho rằng các DN trong nước sẽ rất khó cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu, hoặc với các DN có vốn đầu tư nước ngoài ở lĩnh vực này bởi chính sách thuế phi lý đến mức khó hiểu. “Trong khi nhập khẩu linh kiện thì thuế suất ở mức 10-25%, còn nhập thành phẩm thì thuế suất chỉ 5-10%. Chính sách thuế như vậy làm sao khuyến khích DN đầu tư sản xuất” – ông Tuấn Anh phân tích.
V.Nghi – L.N.Minh

Advertisements

Interview of Ms. Ton Nu Thi Ninh, Vice Chairwoman of the Foreign Affairs Committee

Filed under: chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 11:58 pm
Tags: ,

Question 1: Viet Nam has recently turned down US Representative Loretta Sanchez’s visa application to visit Viet Nam. Why?
Answer:
In the past years, Viet Nam – US relations have witnessed encouraging advances in many fields and through different channels, including that between the US Congress and the Vietnamese National Assembly, as demonstrated by the increasing number of US Congressmen who visit Viet Nam and vice-versa. For the sake of promoting relations of cooperation based on an equal footing, mutual benefit and mutual respect, Viet Nam’s National Assembly extends consistent support to US – Viet Nam exchanges and dialogue conducted in an open spirit and with good will. In that spirit, Viet Nam has welcomed many US Congressional and staff delegations. Regrettably however, Ms. Loretta Sanchez altogether lacks objectivity and good will toward Viet Nam. The Vietnamese National Assembly and Vietnamese public opinion share the view that a visit to Viet Nam by Ms. Loretta Sanchez would not serve Viet Nam – US relations.
Question 2: Would it not help Representative Loretta Sanchez gain a better understanding of Viet Nam and its policies if she were allowed to visit Viet Nam?
Answer:
Ms. Loretta Sanchez has already had two opportunities to visit Viet Nam in 1999 and 2000. Differences of views on specific issues are a normal thing between nations and states and we have had frank and constructive discussions with US Congressional delegations, including some who in fact disagreed with us. However, Ms. Loretta Sanchez has never shown any constructive objectivity or any real interest in moving the bilateral relations forward both during those two visits and in her subsequent deeds and statements. Regrettably, we cannot but conclude that thus far, such a visit would not serve any useful purpose either for Viet Nam or for Viet Nam – US relations.
Question 3: Are you not worried that the decision not to grant an entry visa to Representative Loretta Sanchez might send a negative message about Viet Nam’s openness?
Answer:
I believe that most Americans wish to set the past aside and to develop relations with Southeast Asian nations including Viet Nam. That a handful of people keep trying to oppose such relations cannot and should not be allowed to undermine the broad interest of strengthening the equal and mutually beneficial bilateral cooperation. I am travelling in the US in December and would be prepared to meet with Representative Loretta Sanchez if she deemed it might help narrow down differences and find common ground.
VNA’s Interview with Madame Ton Nu Thi Ninh, Vice-chair, Foreign Affairs Committee, National Assembly of Vietnam on US Congresswoman Loretta Sanchez’s remarks with the press in Hanoi (6 April, 2007)
Question: What do you have to say about Congresswoman Loretta Sanchez’s harsh criticisms about democracy and human rights in Vietnam?
Answer: First, that Ms Loretta Sanchez has never come to Vietnam with an open and objective mind, seriously looking at the whole picture. She does not come to observe and discuss but to follow a set activist agenda, dictated by an extremist minority of her constituents in California, who are mired in the past. It is regrettable that instead of responding to the forward looking but less vocal majority of her constituents, she chooses to remain hostage to the backward looking minority. Her gloomy, alarmist pronouncements on the situation in Vietnam were to be expected.
On the other hand, Congresswoman Loretta Sanchez turns a blind eye to Vietnam’s own concerns in the area of human rights. She turned down or ignored requests by the Vietnam Veterans Association and the Association of Victims of Agent Orange/dioxin to meet with her on the latter issue or to visit the Friendship Village where victims of Agent Orange are taken care of.
Moreover, while in Vietnam her misplaced behaviour amounts to blatant interference in our internal affairs under the pretext of “bringing democracy” to Vietnam from outside. She is doing a disservice to US-Vietnam relations. We believe only in homegrown democracy, and the times are long past when developing nations supposedly needed to be enlightened and saved by developed nations. It is puzzling to us that elected officials like Ms Loretta Sanchez focus so much attention and devote such energy on human rights in Vietnam, i.e. abroad. Perhaps some of that attention and energy could be more constructively and appropriately directed closer to home, for example towards Guantanamo.
Question: Is the US Congressional delegation’s visit therefore unproductive?
Answer: I don’t think so. The delegation includes three other members of Congress from the Armed Services Committee, two of whom belong to the US-Vietnam Caucus in the House of Representatives. We had constructive discussions on the many aspects of the overall bilateral relationship, including on security and MIA cooperation as well as economic and trade ties. We welcome this first delegation from the new Congress, especially because it is the first delegation from the Armed Services Committee which we consider as a practical step to implement the joint undertaking adopted a year ago by the Speakers of the two countries to foster contacts and interaction between American and Vietnamese lawmakers in the interest of the expanding and deepening US-Vietnam relationship./.

Vietnam ambivalent on Le Duan’s legacy

Filed under: chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 11:57 pm
Tags: ,

By Quynh Le
BBC Vietnamese Service

Le Duan led the Communist Party for 26 years
Le Duan, who died 20 years ago this month, was arguably the second most powerful Vietnamese leader in the 20th century, although less known to the West than Ho Chi Minh or Vo Nguyen Giap.
As general secretary of the Vietnamese Communist Party for nearly three decades, he was one of the principal architects of the communist victory in the Vietnam War.
His post-war spell in power was characterised by crisis on the economic front, a strong pro-Soviet shift in foreign policy, and diplomatic isolation following Vietnam’s occupation of Cambodia.
His death in July 1986 opened the door for the enactment of doi moi (renovation) policy, which signalled the country’s departure from the old Stalinist-Maoist model.
Twenty years on, the memory of this enigmatic figure still creates ambivalence among the wider population.
Revolutionary
Born in 1907 in Quang Tri province, Le Duan was a founding member of the Indochinese Communist Party (ICP) in 1930.
His formative years were spent in colonial jails, which served to shape him into a determined and implacable revolutionary. Released in 1945 when Vietnam regained formal independence, Le Duan quickly rose through the party ranks.
In 1960 he was elected general secretary of the Communist Party, the post he would hold until his death.
From the outset, Le Duan believed that a policy of armed struggle in the South was the only way to achieve national unification.
Initially the party leadership refused to agree a shift to a militant policy. However, the anti-communist campaign in the South intensified, bringing heavy consequences for the revolutionary movement there.
As a result, Hanoi endorsed the policy of more aggressive action, agreeing to send troops and supplies to the South.
The decision – which was passed against the wishes of many in the party who thought the move was premature – reflected the prevailing pressures of southern revolutionary leaders, including Le Duan, who felt it was their duty to defeat the US and its South Vietnamese allies.
It was Le Duan’s first major victory within the party, and it would not be his last.
Pushed aside
Within the first few years of his role as general secretary, Le Duan became the most powerful figure in Hanoi, enlisting support from many allies.

Some felt Ho Chi Minh was marginalised by Le Duan
According to the biographer William Duiker, from the late 1950s Ho Chi Minh’s role was largely ceremonial, with him increasingly delegating authority to his senior colleagues in the party and the government.
Although Ho’s international prestige and experience meant that he became Hanoi’s chief diplomat, real power at home rested with Le Duan and his trusted deputies.
Other veterans of the revolution were pushed aside as well.
Pham Van Dong, prime minister for more than 30 years, is said to have remarked that he was probably the longest-serving prime minister in the world, but also the most powerless. Vo Nguyen Giap, the architect of the Dien Bien Phu victory over the French, was also sidelined.
By the late 1960s, Le Duan and his allies were able to establish ultimate authority in the party.
Ambivalence
There are different assessments of how that power was put to use.

After Le Duan’s death, the doi moi policy brought economic growth
The official rhetoric about Le Duan as “a bright example in revolutionary virtues for everyone to follow” does not satisfy those who blamed his clique’s disastrous policies for severe post-war conditions and the flight of hundreds of thousands of “boat people”.
Even the communist leaders did not find it easy to deal with the memory of Le Duan.
In the 1990s, a memoir written by Tran Quynh, former secretary for Le Duan and later vice-prime minister, was circulated underground in Hanoi.
In it, the author said that after Le Duan’s death, “many of the country’s leaders, who had applauded the general secretary and never dared to criticise him, now turn a blind eye to the smear campaign against Le Duan”.
There is a reason for such a level of ambivalence. Le Duan’s ambitious programmes intensified divisions within the leadership and alienated segments of the population.
During his tenure, Le Duan found enemies almost everywhere and power became centred in his hands and among few of his confidants.
The general feeling was that political power should have been more evenly shared.
It is no coincidence that since 1986, the country’s top three posts have been divided among the North, Central and South regions – although last month, for the first time since unification, two southerners were chosen to lead the country.
Despite, or perhaps because of, this ambivalence, Vietnam has not seen a critical reassessment of Le Duan and of the pre-reform decades.
The state, in seeking to maintain political stability, does not encourage it. Nor does it seem that at the moment there is strong social demand to bring the past into public debate.
At school, students are not taught about some uncomfortable episodes in the country’s recent history. But sooner or later, Vietnam will have to come to terms with the past by re-examining the enduring effects of Le Duan’s regime.

Ho Chi Minh under TIME magazine

Filed under: chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 11:57 pm
Tags: ,

Ho Chi Minh under TIME magazine
Born May 19, 1890 in Nghe An province
1930 Founds the Communist Party of Vietnam
1941 Starts Viet Minh independence movement
1954 Viet Minh defeat French at Dien Bien Phu; country divided after Geneva Accords, with Ho as President of the North
1956 War with South begins; U.S. sends troops in 1965 to fight Viet Cong insurgents
1969 Dies Sept. 2 in Hanoi, six years before North wins the war

Vietnam’s independence leader was a hero to his countrymen, a wise uncle to friends and a monster to enemies
By BUI TIN

Ho Chi Minh was a friend of my father’s. They lived side-by-side in the jungle during the resistance struggle. Over the years, they exchanged poems. I recall vividly the poem Ho dedicated to my father in 1948:

The mountain birds sing at my windows

The spring flowers flutter down on my inkwell

The panting horses bring news of victories

And my thoughts go to you with this poem

Isn’t it touching that Ho should write this in the jungle in the midst of the resistance? And when my father died in April 1955, it was Ho who came to console my family. He arranged the funeral and granted my father’s wish that he be buried not in the official cemetery, as befitting a former president of the National Assembly, but in our village. That’s the way Uncle Ho was.

Communist propaganda elevates Ho to the status of sage, national hero, saint. He has become the Strategist, the Theoretician, the Thinker, the Statesman, the Man of Culture, the Diplomat, the Poet, the Philosopher. All these names are accompanied with adjectives like “legendary” and “unparalleled.” He has become Ho the Luminary, Ho the Visionary. Peasants in the South build shrines to him. In the North old women bow before his altar, asking miracles for their suffering children.

Others–boat people, anti-communist fanatics, those who suffered in the re-education camps–see him in a negative light. They label him the enemy of the nation, the traitor who sold out Vietnam, the source of all misery.

What is the truth? It is difficult to know because Ho’s life is shrouded in shadows and ambiguities. Even the date of his birth has been obscured by the authorities, who believe this uncertainty will somehow add to his mystique. The official date is May 19, 1890, but archives in Paris and Moscow show six different dates from 1890 to 1904.

Similarly, Ho’s official biography says that he left Saigon in 1911 on a French boat in order to rescue the revolutionary cause, which had stalled. But recent scholarship indicates that his motivations may have been quite different. We now discover that Ho’s father, a mandarin in Binh Dinh province, had been cashiered by the French after beating a peasant to death while drunk. Shamed, he fled to the South to eke out a miserable living practicing traditional medicine. Ho was so shocked by this that he left school early to petition, in vain, to have his father reinstated. Ultimately Ho went abroad, where he worked as a cook, a street cleaner, a photographer. And only in Europe, in 1918, did he begin his political education, when he was welcomed into French socialist circles.

There is more ambiguity–more shadows and fog–in the official biographies regarding the period from 1934 to 1938. Recently opened archives in Moscow show that Ho was subjected to Stalinist discipline there. He was required to undergo re-education for failing to display the proper class spirit and identify with the international proletariat.

Ho himself aided in the creation of his myth. A booklet written in 1948 under the name of Tran Dan Tien describes President Ho as a modest man of the people who was nonetheless the father of the nation and a hero greater than Le Loi and other luminaries of Vietnamese history. When in 1990 I pointed out that Tran Dan Tien was a pseudonym used by Ho and thus Ho was praising himself, I was called a traitor and berated for attempting to tarnish the image of Uncle Ho.

Perhaps the most serious charge facing Ho is that he was responsible for starting a brutal and fratricidal war. The truth is that he did all he could to avoid war. The responsibility for the war falls to the French and to Charles de Gaulle, who wanted to re-establish the French Empire after World War II. Even the French communists rallied to support this policy. And what about the Americans? Truman abandoned Roosevelt’s anti-colonial policy and supported French imperial aspirations. And who undermined the 1954 Geneva Accords and prevented the general elections in 1956? U.S. officials, who also ignored letters from Ho pleading for support.

The policies of the Western democracies pushed Ho and his people into the open arms of the Soviet Union and China. He took their tanks, ships, airplanes and missiles, but he refused to allow foreign combat troops on Vietnamese soil. And he declined Russian and Chinese advice on how to conduct the war. The Russians did not want him to fight for the liberation of South Vietnam because they feared an escalation of the war with the U.S. might lead to international catastrophe. And the Chinese favored a long, patient guerrilla war. But Ho and his crowd decided to follow their independent course on the war and thus bear some responsibility for it.

Ho made other mistakes. It was he who wholeheartedly adopted a Stalinist political and economic model for Vietnam. Thus, there was the development of heavy industry, hasty collectivization, the elimination of the bourgeoisie, the starting of concentration camps and the mistreatment of intellectuals. All those policies led to disaster. Ho later took responsibility for them.

Had Ho lived to see the fall of Saigon and the liberation of the South, would things have worked out differently? Would the re-education camps have been avoided? Or the exodus of the boat people? Or the occupation of Cambodia and the war with China? Would Vietnam have suffered economic isolation during the 1980s? I think Ho would have avoided these disasters. He always cautioned people not to lose their heads after a victory. Had there been proper leadership, victory could have been managed more smoothly and the country more readily accepted into the international community.

In Hanoi these days the leadership is using Ho’s name to justify its policies, as if he were still alive. What would Ho have thought of doi moi, Hanoi’s half-baked economic reform plan? Would he have seen it as a forced marriage between socialism without soul and capitalism without backbone? Perhaps. The government should not use Uncle Ho, cold in his tomb, as a defense against the opposition forming around such people as the mathematician Phan Dinh Dieu or the physicist Nguyen Thanh Giang.

In times like these I have a great desire to approach Ho–our luminous Uncle Ho–to ask him to clarify his famous slogan: “Nothing is more precious than independence and freedom.” Does this mean the collective freedom of the kind being fostered by the regime’s intellectuals at the Marx-Lenin Institute in Hanoi and not individual and civic freedoms? If so, the heroic people of Vietnam are two centuries behind the times. Poor Vietnam! Poor old Uncle Ho!

Translated by Phuong Nga and Barry Hillenbrand. Bui Tin, a refugee living in France, is a former North Vietnamese colonel and deputy chief editor of Nhan Dan, the Communist Party newspaper

Changing times for Vietnam politics

Filed under: chính trị,kinh tế — ktetaichinh @ 11:56 pm
Tags: ,

By Bill Hayton
BBC News, Vietnam

Vietnam’s National Assembly has approved an important leadership change, voting 92% in favour of new Prime Minister Nguyen Tan Dung and 94% in favour of new President Nguyen Minh Triet.

New PM Dung is considered an effective political operator
The two men’s paths to power were assured at the Communist Party Congress, held at the end of April, when they came third anf fourth in elections to the ruling Politburo.
They were beaten only by the most powerful man in the country – the Secretary General of the Communist Party, Nong Duc Manh – and the Public Security Minister Le Hong Anh.
Their success reflects a genuine popularity among the party’s activists.
Mr Triet [pronounced chee-yet] has a reputation as a strong campaigner against corruption.
While head of the Communist Party in the country’s business capital Ho Chi Minh City, he led a campaign against the gangster known as Nam Cam which also brought down many local politicians and officials.
He is also a supporter of greater economic liberalisation.
Vietnam’s economy is growing at more than 7% per year, but some analysts argue it could grow much faster if more state industries were privatised and restrictive rules and regulations were removed.
In contrast to his predecessor, Mr Triet is expected to take a more active role in politics, using the prestige of his position to win support for more business-friendly policies.

Mr Triet has a reputation as a strong anti-corruption campaigner
Mr Dung [pronounced zu-ung] is also seen as an economic reformer.
He has had a very rapid rise to power – 10 years ago he was the youngest person ever elected to the Politburo.
He worked his way up through the internal security apparatus before becoming head of the Central Bank and most recently one of three deputy prime ministers.
Mr Dung is regarded as an effective political operator, something which is vital for a prime minister in Vietnam who will have to bring different factions within the ruling party together if he is to have any success.
Challenges ahead
For the first time since the country was unified after the end of the war 30 years ago, the country’s head of state and government are both from the south.
It is a sign of two things. Firstly, that the importance of the south – both as a source of economic growth but also talent and ideas – is increasing more and more. Business people there are pushing for ever greater deregulation.
NEW FACES
Nguyen Tan Dung, 56
Groomed for top by outgoing PM Phan Van Khai
Army background suggests politically conservative
Southerner thought to favour more economic reform
Nguyen Minh Triet, 63
Party chief in Ho Chi Minh City, reputed to favour economic openness
Was in charge when underworld figure Nam Cam tried and executed

New leadership confirmed

It also suggests the Party is prepared to appoint those it considers the best people for the job – without the traditional efforts to balance appointments between the north, south and centre.
The two men are relatively young. The people they have replaced were in their late 60s and 70s.
Mr Triet is 63 and Mr Dung is only 56. They were in their 20s during the war against the United States, in their 30s under state socialism and in their 40s when Vietnam’s economic reform programme known as Doi Moi began in 1986.
In other words they were educated in very different times to today – politically and economically.
They also experienced the crisis which forced Vietnam to open up to the world and recognise that, even for a communist state, international economic integration is now the only alternative to the isolation suffered by North Korea or the underdevelopment endured by neighbouring Laos.
Politics in Vietnam is driven by consensus, and it is the Communist Party which forms that consensus and the government which implements its policies.
However, the two men will have considerable influence in how those policies are decided.
They will have to use all their political skills to overcome resistance from those in the Party who object to further privatisations and deregulation.
They are under pressure to tackle corruption and reduce inequality – two consequences of economic growth running at over 7% a year.
They will also have to respond to demands for greater accountability and openness in politics and society more widely. It will be a challenge.

Đảng CSVN và Các Nhà Dân Chủ – Ai Thích Đô-la Hơn? 12/2008

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 11:54 pm
Tags: ,

Hoàng Thị Vân
Trong một bài viết đăng trên báo Vietnamnet, một trong những cơ quan ngôn luận của nhà nước CSVN, ngày 6 tháng 12, có đoạn:
“Trong các ngày 28/7, 16/8, 7/9, trên địa bàn HN, Hải Phòng, Hải Dương đã xảy ra 3 vụ treo khẩu hiệu, rải truyền đơn có nội dung hết sức phản động, vu cáo Ðảng và nhà nước ta. Bằng biện pháp nghiệp vụ và tố giác của quần chúng nhân dân, Cơ quan an ninh đã phát hiện, bắt giữ đối tượng cầm đầu, chủ mưu và trực tiếp tham gia các vụ treo khẩu hiệu, rải truyền đơn gồm: Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính (ở Hải Phòng); Nguyễn Văn Túc (ở Thái Bình); Nguyễn Kim Nhàn, Ngô Quỳnh (Bắc Giang); Vũ Hùng (Hà Nội).”
Ðó là những lời mào đầu của bài viết trên báo Vietnamnet. Vẫn những luận điệu vu khống và bôi nhọ cũ rích, đối với những anh chị em dân chủ vừa bị bắt trong đợt đàn áp vào trung tuần tháng 9 vừa qua ở Hà Nội và Hải Phòng. Bài báo cho rằng, những nhà dân chủ đã treo biểu ngữ, rải truyền đơn chống đảng và nhà nước chỉ vì tiền, và vì sự chỉ đạo của những cá nhân và đoàn thể ở hải ngoại, như đảng Việt tân, đảng Dân chủ Nhân dân v.v… Ðồng thời bài báo cũng không quên vu cáo và mạ lị luôn cả ông Nguyễn Thanh Giang.
Bên cạnh đó, báo Công An CSVN cũng tung bài tương tự, tiếp sức Vietnamnet, đánh phá ông Nguyễn Thanh Giang và các nhà dân chủ, vu cáo và kết tội họ như đã từng vu cáo và kết tội những anh chị em dân chủ đang bị lãnh án, nhằm chuẩn bị cho phiên-tòa-đạo-diễn có thể sắp xảy ra. Ðây là đòn hèn của đảng, chỉ đạo báo chí tung tin thất thiệt, tạo dựng nên những hình ảnh xấu nhất, tồi tệ nhất để bôi bẩn những hoạt động rất can đảm của những anh chị em dân chủ, khi đã dám bày tỏ quan điểm của mình bằng cách treo biểu ngữ, rải truyền đơn kêu gọi đảng CSVN chấp nhận đa đảng, phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, chống tệ nạn tham nhũng của đảng CSVN, v.v…
Những nội dung của truyền đơn và biểu ngữ như thế không thể cáo buộc là “chống đảng và nhà nước”. Người dân lên tiếng về những vấn nạn của đất nước là vì muốn đóng góp với nhà nước những ưu tư của dân, muốn nhà nước hiểu được ý dân để hòng sửa đổi chính sách, hoặc rà soát lại cơ cấu chính quyền đang có vấn đề. Thế là để làm tốt cho Ðảng, cho nhà nước. Thế là để lo toan cho tương lai của dân tộc. Nhất định không thể nào buộc tội họ chống phá nhà nước. Chỉ qua vì đảng bị chạm nọc, bị chạm tới cái ung nhọt “tham nhũng”, bị tố giác nhu nhược với kẻ xâm lược Trung cộng, cho nên đảng giận, “giận quá mất khôn”, bèn bắt nhốt, triệt hết những tiếng nói trung thực của nhân dân.
Vì dám đứng lên đối diện với đảng, góp ý thẳng với đảng, các nhà dân chủ bị bức hại, bị đánh đập, bị cô lập kinh tế, bị đuổi việc, dẫn tới việc cả gia đình cũng bị liên can, bị trù dập. Vì thế, góp sức, yểm trợ với họ không chỉ là nhiệm vụ của những “thế lực phản động bên ngoài”, mà còn phải là trách nhiệm của nhân dân trong nước vì tương lai đất nước, vì tiền đồ của dân tộc. Chỉ được hỗ trợ những số tiền rất ít oi, vài trăm đô-la để thầy giáo Vũ Hùng có phương tiện sống vì bị đuổi việc, mà đảng đã chụp cho cái mũ là những “nhà dân chủ thích đô-la”. Ðồng bào hải ngoại thương mến nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng xa xôi, muốn gửi tiền để anh có phương tiện đi lại, nhưng anh không nhận. Vậy mà báo chí dám “ngậm máu phun người”, viết láo nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhận 1000 đô-la theo thông tin mớm của công an.
Ngày xưa ông Hồ Chí Minh đi xin Cộng Sản Quốc tế tiền để cho cán bộ, đảng viên Cộng Sản Việt Nam và ông Hồ hoạt động thì Ðảng CSVN gọi là gì? Tài liệu ở văn khố Nga hiện còn lưu trữ, xác nhận: Những biên bản của buổi họp về “Vấn đề Ðông Dương” tại Quảng Ðông trình bày một ngân sách ký tên “Lee (Nguyễn Ái Kvak)”: “ông Hồ đòi hỏi một số tiền 20,000 Hoa tệ để huấn luyện 100 cán bộ tuyên truyền và tổ chức, và 20,000 Mỹ kim nữa để yểm trợ cho 10 cán bộ toàn thời hoạt động một năm trong nước. Ông Doriot và một người tên “Voline” cũng chứng ký trên những biên bản nầy” (1) Có phải ông HCM cũng hoạt động vì thích đô-la không?
Ðem chủ nghĩa ngoại lai vào đất nước, khiến nhân dân miền Bắc phải bị thua thiệt, nghèo đói 30 năm so với miền Nam. Sau 1975, cả nước Việt Nam bị tụt hậu, thua xa cả các nước láng giềng. Ngày nay, 33 năm sau chiến tranh, Ðảng CSVN vẫn tiếp tục đi xin viện trợ, ngửa tay vay mượn. Bạc tỉ đô-la đầu tư và viện trợ hàng năm vào đất nước thì nhân dân được thừa hưởng bao nhiêu? Thống kê của UNICEF cho biết Việt Nam hiện có 7 triệu trẻ em nghèo. Báo cáo của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), bình quân lợi tức mỗi đầu người Việt Nam là 715USD. Hãy nhìn qua Ðại Hàn, sau khi thoát ra khỏi chế độ độc tài của Phác Chính Hy, Ðại Hàn đã trở thành một đất nước dân chủ, nhân dân Ðại Hàn đã ngửng mặt trên trường kinh tế thế giới, với lợi tức trung bình 23.000 USD, hơn Việt Nam gấp 30%.
Ðảng bảo các nhà dân chủ thích đô-la là đảng tự phỉ nhổ lấy đảng. Ðảng ăn hối lộ, ăn cắp, bòn rút công quỹ quốc gia hàng triệu triệu đô-la. Bùi Tiến Dũng xây nhà hàng trăm nghìn, đánh bạc hàng triệu đô-la. Huỳnh Ngọc Sỹ nhận hơn tám trăm ngàn USD từ nhà đầu tư Nhật, trong tổng số 2.6 triệu USD tiền lại quE1, tức “hối lộ” (đây chỉ là con số trên báo chí Nhật, ta biết rằng đảng không bao giờ dám công bố tư liệu thật). Vậy thì số tiền tham nhũng còn lại nằm trong tay ai? Những kẻ đó chắc chắn phải là lãnh đạo của HNS, chức năng lớn hơn HNS.
Nếu có nhận vài trăm đô của nhân dân để vận động cho dân chủ, cho nhân quyền thì quả thực các nhà dân chủ Việt Nam thật là nghèo mà đa đoan quá! Làm đảng viên đảng CSVN giàu hơn, an toàn hơn, vì có gì thì đảng bao che. Bỏ túi vài trăm nghìn đô là chuyện nhỏ, lương nhà nước không đủ để sống vương giả thì đảng có cách khác giải quyết: tạo cơ hội cho tham nhũng, bòn rút tiền nhân dân, dễ ợt! Ði du lịch quốc tế với nhãn hiệu “đi tham quan, trao đổi đối tác…” tiền đảng cho, ráng sử dụng, tiêu xài cho hết ngân khoản. Cứ ra tay đàn áp các nhà dân chủ, viết bài theo chỉ thị bôi đen dân chủ, tất cả đều có đảng chi tiền.
Nhân dân lên tiếng thì đảng cáo buộc phản động, bỏ tù không cần chứng cớ. Quốc tế lên tiếng thì đảng bựa, đòi hỏi đưa bằng chứng. Phó chủ tịch thường trực Sài Gòn Nguyễn Thành Tài lên tiếng về vụ PCI rằng: “Tôi đã trình bày quan điểm của lãnh đạo thành phố và đã được thủ tướng chấp nhận về cách giải quyết. Chỉ cần khi nào phía bạn đưa ra chứng cứ thì sẽ cho tiến hành xử lý…” Trong khi các bị cáo bên phía Nhật Bản ra tòa khai báo và xác nhận đã đưa tiền lại quả (hối lộ) nhiều lần cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, tổng số tiền hứa hối lộ lên đến 2.6 triệu Mỹ kim. Tại sao chưa thấy nhà nước có hành động nào đối với ông HNS và đồng bọn?
Cho đến lúc nhân dân Nhật thẳng thừng công bố trên diễn đàn hội nghị tại trung tâm của đảng rằng: “Chúng tôi không đủ khả năng hứa hẹn những món nợ mới cho đến khi nào hai nước hợp tác nhau chặt chẽ và hiệu quả trong việc ch ống tham nhũng” và: “Rất khó để gầy dựng lại sự hỗ trợ từ nhân dân Nhật để giúp đỡ Việt Nam, chúng tôi khó hứa hẹn những món nợ mới”.( 2) Thì các nhà lãnh đạo mới bật ngửa, còn nhân dân thì mắc cỡ, nhục nhã vì đảng tham nhũng có tiếng trên trường quốc tế rồi.
Ðảng tha hồ ngụy tạo tin tức vì đảng độc quyền thông tin, hơn 600 cơ quan truyền thông báo chí, chỉ làm nhiệm vụ “cái loa” cho đảng, múa gậy vườn hoang. Có ai dám xé rào như kiểu ký giả Nguyễn Việt Chiến thì vào tù ngay. Bị Nhật ngưng giúp đỡ vì tham nhũng bạc triệu tiền viện trợ ODA, không thấy báo chí trong nước dám phê bình, điều tra rốt ráo, truy tìm thực hư cho nhân dân biết. Trong khi đó, các nhà dân chủ nhận yểm trợ vài trăm bạc vì bị đảng CSVN bao vây kinh tế, bị đuổi việc, đảng chỉ thị tay sai, an ninh “ký giả” viết báo bôi nhọ “đấu tranh cho dân chủ vì tiền”. Dám đứng ra giúp nhận tiền để trao lại cho vợ con, anh chị em dân chủ đang bị tù tội và đàn áp như ông Nguyễn Thanh Giang thì bị vu cáo, chụp mũ “ăn chận đô-la”. Các nhà dân chủ treo biểu ngữ đòi toàn vẹn lãnh thổ, rải truyền đơn chống tham nhũng, kêu gọi nhân quyền cho nhân dân mà lại bị bôi nhọ là “các nhà dân chủ thích đô-la” thì thật là lý luận ngu ngơ, trẻ con quá. Vận động dân chủ, rải truyền đơn, treo biểu ngữ, đấu tranh cho nhân quyền, đòi chủ quyền đất nước để nhận vài trăm đô-la, rồi bị đảng CSVN trấn áp, bị vào tù, cả gia đình bị hệ lụy, có ai dám làm vì đô-la không?!
Vậy thử hỏi, các nhà dân chủ và đảng CSVN ai thích đô-la hơn?
Chớm Ðông, 2008
Hoàng Thị Vân
Womenforhumarights@yahoo.com
http://www.whrvn.org
Chú thích:
(1) Ho Chi Minh – A Life, William J. Duiker
-Trong lá thư đề ngày 19 tháng 2 ông (Hồ Chí Minh) ước lượng những công việc cần hoàn tất trong 1925 sẽ tốn khoảng 5.000 đô-la. Ông cần tiền để thiết lập cơ sở tại Quảng Châu cũng như những cơ sở thông tin tại Quảng Tây; tại vùng cực nam của Quảng Ðông; tại Bangkok (Ho Chi Minh – The Missing Years – Sophie Quinn-Judge, Dịch giả=2 0Diên Vỹ- Hoài An, x-cafevn.org)
– Vào tháng 8 năm 1925 Nông Dân Quốc Tế gửi Hồ năm nghìn rúp (rubles – khoảng 2.500 Ðôlla lúc ấy qua tài khoản của Borodin tại Ngân Hàng Viễn Ðông. Họ chỉ thị Hồ dùng số tiền này để (1) in bích chương cách mạng và tài liệu về những vấn đề nông dân; (2) gửi đại diện đến các tỉnh khác để thành lập các hội liên hiệp nông dân; (3) gửi một đồng chí đáng tin cậy người Trung Quốc đến Moscow để làm việc trong Nông Dân Quốc Tế; và (4) cung cấp đều đặn tin tức và tài liệu về phong trào nông dân Trung Quốc đến Moscow. (Ho Chi Minh – The Missing Years – Sophie Quinn-Judge, Dịch giả Diên Vỹ-Hoài An, x-cafevn.org)
– Hồ đệ trình ngân sách của năm cho QTCS với tổng số là 40.000 đồng tiền Trung Quốc. Một nửa số tiền này sẽ dùng để trang trải chi phí đi lại và đào tạo tại Quảng Châu cho 100 học viên tương lai. Ngoài ra ông còn yêu cầu 1.500 đồng cho 10 tuyên truyền viên làm việc toàn thời gian trong một năm. Chi phí xuất bản, thông tin, thành lập một cửa tiệm nhỏ để làm vỏ bọc cho việc liên lạc chiếm hết 8.500 đồng. Chi phí vận chuyển 100 học viên khác đến học tại Hoàng Phố tốn khoảng 5.000 đồng nữa. Theo giải thích của Hồ trong ghi chú đính kèm thì Hoàng Phố đã hứa đào tạo 100 người này nếu chi phí đi lại của họ được lo liệu [148]. 5.000 đồng còn lại được dự trữ cho những trường hợp bệnh tật hoặc cấp bách. (Ho Chi Minh – The Missing Years – Sophie Quinn-Judge, dịch giả Diên Vỹ-Hoài An, x-cafevn.org)
(2) “We are unable to pledge new yen loans” until both countries work out “effective and meaningful measures against corruption”… “it would be difficult to regain the support from the Japanese public for further assistance to Vietnam , and we are unable to pledge new yen loans.” (AFP)

Mánh làm giá của đại gia và công ty chứng khoán

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 11:54 pm
Tags:

Thời gian gần đây trên TTCK, cứ mỗi khi thị trường khởi sắc, người ta lại nhận thấy có dấu hiệu làm giá trên một số mã chứng khoán, với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn.
Dấu hiệu của sự làm giá dễ nhận thấy trong những phiên giao dịch khởi sắc đầu tháng 4/2008 là: Ở một số mã chứng khoán, lượng dư mua dư bán rất bất thường, dư mua rất cao và dư bán rất thấp. Các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ sẽ rất dễ bị hút theo diễn biến này của thị trường. Tuy nhiên, lệnh của các nhà đầu tư nhỏ rất ít khi được thực hiện do lượng dư mua vốn đã rất lớn trong khi lượng bán ra lại nhỏ giọt. Trong liên tiếp nhiều phiên, các mã chứng khoán đều tăng trần và càng trở nên hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư.
Điểm đáng chú ý trong tình trạng trên là việc lượng dư mua cao bất thường ở các mã chứng khoán nhỏ, ít cổ phiếu. Thậm chí giá trị mua lên tới gần trăm tỷ đồng, trong khi tổng giá trị giao dịch toàn thị trường của Vn-Index gần đây chỉ khoảng 500 tỷ và Hastc là khoảng 150 tỷ. Nhiều nhà đầu tư cho rằng có điều này các đại gia làm được điều này phải nhờ tới sự tiếp tay của công ty chứng khoán, bằng cách liên tục đưa vào hệ thống các lệnh mua “ma” với giá trần, ATO, và ATC.
Theo cán bộ kinh doanh của một công chứng khoán tại Hà Nội, phương thức làm giá như sau: Đầu tiên, trong những phiên ảm đạm của thị trường, các đại gia dùng nhiều tài khoản tại nhiều công ty chứng khoán để gom dần cổ phiếu của các công ty nhỏ, vốn ít, thanh khoản thấp. Trong những phiên hồi phục của thị trường, công ty chứng khoán tiếp tay bằng các lệnh mua “ma” được đưa vào hệ thống. Các cổ phiếu trên trở nên cực kỳ “hot” khi lượng dư mua giá trần luôn cao bất ngờ so với ngày thường, và dư bán bằng không. Ngay khi thị trường có dấu hiệu đảo chiều, các cổ phiếu này lập tức được bán ồ ạt. Người mua sau cùng sẽ “lãnh đủ” hậu quả của việc mua hớ.
Vị cán bộ kinh doanh trên cho biết, khác với phương pháp tiếp tay “cổ điển” là đặt và hủy lệnh trong cùng một phiên, hoặc rao mua và bán trong cùng một phiên vốn rất “thô” và dễ bị phát hiện, phương pháp này khó kiểm soát hơn rất nhiều. Thông thường UBCK sẽ rà soát lại các lệnh đã được khớp từ các công ty chứng khoán để kiểm tra xem có dấu hiệu vi phạm quy định về giao dịch hay không. Nhưng trên nguyên tắc Ủy ban sẽ không kiểm tra những lệnh không được khớp. Như vậy tất cả các lệnh “ảo” được đặt vào hệ thống cũng sẽ rất khó bị phát hiện.
Bằng việc gom hàng từ trước với giá thấp, và bán ra với giá cao, các đại gia sẽ luôn là người hưởng lợi đầu tiên từ chênh lệch giá.
Tiếp đến các công ty chứng khoán sẽ thu lợi từ phí giao dịch khoảng 0,25% đến 0,35% giá trị mỗi lần giao dịch. Ngoài ra họ có thể được đại gia “lại quả” khoảng 0,3% đến 0,4%. Như vậy với mỗi “vụ”, các CTCK sẽ thu được khoảng 0,5% đến 0,8% giá trị giao dịch. Một đại gia có thể giao dịch lên đến hàng chục tỉ, vì vậy nguồn lợi mà các công ty chứng khoán thu được cũng không nhỏ.
“Các nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 20% tổng vốn thị trường nhưng lượng giao dịch của họ lại chiếm tới 80% giá trị giao dịch trong một phiên”, bà Thu Hiền, giám đốc Công ty Đầu tư, phát triển và xây dựng Ba Đình nhận xét. Nếu thị trường mất tính minh bạch khiến nhóm các nhà đầu tư cá nhân rời bỏ chứng khoán, thì hậu quả rất tai hại. Người chịu thiệt khi đó không chỉ là các tổ chức phát hành, mà còn là chính các công ty chứng khoán.

Những thống kê giật mình 12/2008

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 11:53 pm
Tags:

Việt Nam đã bị bỏ lại quá xa bởi các nước khác trong khu vực, cho dù đã đạt được thành tựu tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian dài, theo tính toán của các chuyên gia quốc tế.

Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của ngân hàng Thế giới nhận xét, Việt Nam tụt hậu về kinh tế tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Các chuyên gia của ngân hàng Thế giới đưa ra bảng xếp hạng này căn cứ vào hai tiêu chí. Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người trong năm 2007 của Việt Nam là 836 USD so với 1.918 USD của Indonesia, 3.850 USD của Thái Lan, và 35.163 USD của Singapore. Thứ hai, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 ở bốn nước theo thứ tự trên là 6,5%, 4,8%, 4,8% và 4,0% một năm.

“Những tính toán này hoàn toàn là giả thuyết,… nhưng cân nhắc các tốc độ này thì thực tế Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”, các chuyên gia của ngân hàng Thế giới nhận định.

Mặc dù thừa nhận, đánh giá này có thể là “mạo hiểm” và “nhạy cảm”, nhưng đây là lần đầu tiên một đối tác phát triển của Việt Nam chính thức đưa ra tính toán này.

Đánh giá này không mới, nhưng rõ ràng nó cho thấy chặng đường phía trước dài thế nào để đất nước này vượt qua, cho dù đã đạt được những thành tựu về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo trong gần 15 năm qua.

Trong khi đó, trên bình diện quốc tế, những nỗ lực cải cách của Việt Nam nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hơn đang có xu hướng chậm lại.

Theo đánh giá của ngân hàng Thế giới, chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam là 104 năm 2007, 91 năm 2008 và 92 năm 2009 trên 178 quốc gia được đánh giá. Theo bảng xếp hạng này, Việt Nam đứng đầu nhóm các quốc gia xếp hạng thấp.

Ngoài ra, theo đánh giá của diễn đàn Kinh tế thế giới, hầu hết các tiêu chí cạnh tranh trong kinh doanh của Việt Nam đều ở dưới mức trung bình, thực không vượt quá năm điểm.

Theo đánh giá của tổ chức Minh bạch quốc tế, Việt Nam được xếp 2,6/10 điểm năm 2007 và 2,7/10 điểm năm 2008. Hai chỉ số này cho thấy, tham nhũng vẫn đang ở mức rất cao.

Ông Trần Hữu Huỳnh, trưởng ban Pháp chế của phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam nhận xét: “Rõ ràng, vị trí của Việt Nam đã không có sự thay đổi theo các đánh giá của cả ba tổ chức quốc tế trong ba năm gần đây”.

Về phương diện trong nước, nhiều thủ tục hành chính và rào cản kinh doanh đang có xu hướng tăng mạnh làm ảnh hưởng đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân – nguồn hy vọng để thu hẹp khoảng cách tụt hậu kinh tế của Việt Nam với các nước.

Theo kết quả khảo sát của VCCI, gần như không hề có cải thiện nào trong năm tiêu chí gây khó khăn nhất trong việc kinh doanh trong ba năm qua. Các tiêu chí đó bao gồm vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng.

Rõ ràng, phần lớn các khó khăn này nằm về phía trách nhiệm của Nhà nước.

Các chuyên gia kinh tế nhận định, nếu Việt Nam cải cách được các thủ tục hành chính công thành công, thì nền kinh tế có thể tiết kiệm được từ 13.000 – 30.000 tỉ đồng/năm (tương đương với 800 triệu đến 1,3 tỉ USD).

Giám đốc dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Jim Winkler nói: “Có hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đeo đuổi… thành thực mà nói, rất khó giải quyết chuyện này”.

Nhưng có mâu thuẫn không giữa môi trường kinh doanh yếu kém như vậy với con số FDI cam kết ở mức kỷ lục 61 tỉ USD năm 2008?

Ông Trần Đình Thiên, viện trưởng viện Kinh tế Việt Nam nhận xét: “Môi trường kinh doanh yếu như thế cho thấy lượng FDI kỷ lục đổ vào Việt Nam trong 2008 chưa hẳn đã thể hiện được sự tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế”.

Trong báo cáo của mình, các chuyên gia của ngân hàng Thế giới nhận xét, không ai có thể nói được liệu Việt Nam sẽ đi theo vết xe đổ của Liên Xô cũ hay thành công về phát triển kinh tế như Mauritius.

“Mặc dù khả năng sau có vẻ hợp lý hơn, song nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào các quyết sách kinh tế sẽ được đưa ra trong những năm tới”, họ kết luận.

Dân không dám tố cáo tham nhũng vì sợ bị trả thù 121308

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 11:52 pm
Tags:

http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif – Theo điều tra tại 9 tỉnh do Trung tâm Nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng (CECODES) thuộc LH các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và ĐSQ Phần Lan thực hiện, nhiều người dân nhận biết được các hành vi tham nhũng của những người có chức, có quyền nhưng hầu hết không dám tố cáo vì sợ bị trả thù hoặc không thấy “lợi lộc” gì.

Kết quả điều tra được công bố sáng 12/12 tại Hà Nội. Theo đó, hậu quả của việc người dân sợ bị trả thù là các vụ tham nhũng không bị tố cáo, có tố cáo thì chứng cứ cũng không đầy đủ.

http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200812/original/images1675119_a2.jpg

Hai lĩnh vực tham nhũng nhiều nhất là quản lý đất đai và dự án, công trình xây dựng.

Nhóm thực hiện dự án nhận định đến nay, vẫn còn thiếu chế tài bảo vệ người tố cáo tham nhũng hoặc các nhân chứng. Đa số người dân cho rằng có hiện tượng đối xử không đúng với những người chống tham nhũng, trong đó có cả “đe dọa” và “trù dập”.

Những mảnh đất màu mỡ của tham nhũng

Hai lĩnh vực bị coi có tham nhũng nhiều nhất là quản lý đất đai (85,87%) và dự án công trình xây dựng (84,81%). Điều này, theo Chủ nhiệm dự án, PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, phù hợp với kết quả một nghiên cứu khảo sát của Ban Nội chính TƯ Đảng.

Tham nhũng trong lĩnh vực thực hiện các dự án, công trình xây dựng được các địa phương cho là rất phổ biến.

Người dân cũng đánh giá thấp các hoạt động công khai của chính quyền: Báo cáo hàng năm về phòng, chống tham nhũng, quản lý sử dụng nhà ở, kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước.

http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200812/original/images1675123_a.jpg

Vẫn thiếu chế tài bảo vệ người tố cáo tham nhũng.

Ở địa phương, trong 12 hoạt động được quy định cần công khai, người dân thấy chỉ có 2 hoạt động họ có khả năng giám sát là quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cộng đồng (quy mô nhỏ) và huy động, sử dụng các khoản dân đóng góp.

Mức độ khẳng định có tham nhũng ở phạm vi tỉnh, huyện cao hơn so với xã, phường. Theo nhóm thực hiện khảo sát, điều này được lý giải bởi cấp tỉnh, huyện có nhiều “quyền lực” hơn, đặc biệt trong lĩnh vực cấp đất cho các dự án.

Tài sản kê khai phải được công khai

Trong Luật Phòng, chống tham nhũng có những nội dung quy định sự giám sát của các tổ chức xã hội dân sự và người dân trong công tác phòng chống tham nhũng, nhưng kết quả điều tra cho thấy trên thực tế sự giám sát này còn mang tính hình thức.

TIN LIÊN QUAN

Trong đó, các hội có cơ cấu rộng lớn như Phụ nữ, Nông dân, Công đoàn chưa thể hiện được vai trò trong phòng, chống tham nhũng.

TS Dinh cho biết người dân mong muốn thành lập tổ chức phòng, chống tham nhũng độc lập từ trung ương đến địa phương, mà đứng đầu không là thủ trưởng chính quyền, có thể là một lãnh đạo Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, cấp ủy Đảng, hoặc Mặt trận Tổ quốc, với những cơ chế cụ thể, có thực quyền lực.

http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200811/original/images1654372_dailodongtay.jpg

Một cán bộ BQL dự án Đại lộ Đông Tây bị nghi vấn tham nhũng. Ảnh: VNN

Bên cạnh đó, việc kiểm soát thu nhập của công chức nhà nước phải được tiến hành thường xuyên. Số liệu về xác minh tài sản, thu nhập của công chức đã kê khai khi cần thiết phục vụ phòng, chống tham nhũng cần công khai với công chúng, không nên chỉ được báo cáo lên cấp trên.

“Phải thực hiện việc kiểm soát thu nhập của công chức nhà nước thì chống tham nhũng mới thực sự có tác dụng và hiệu quả. Các quy định hiện nay dựa chủ yếu vào sự tự giác của công chức và tổ chức, vì vậy chưa thể nói là “tích cực chống tham nhũng”, kết quả điều tra dự án dẫn ý kiến đóng góp của Thanh tra tỉnh Thanh Hóa.

Tham ô và hệ lụy
Thursday, December 11, 2008

Ðỗ Thái Nhiên

Cờ bạc bịp là kỹ thuật rút tiền của nạn nhân nhưng đương sự không biết bị lường gạt, không cảm thấy tức giận. Trên bang giao Việt Trung, Trung Quốc là tay cờ bạc bịp, CSVN là “nạn nhân chịu đấm ăn xôi” của hành động bịp bợm vừa kể. Thực vậy từ 1991 cho đến nay Trung Quốc áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt đối với Việt Nam. Một mặt, Trung Quốc thường xuyên ru ngủ CSVN bằng “ngoại giao mười sáu chữ vàng” (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Mặt khác, Trung Quốc liên tục, mạnh mẽ và ngang nhiên thực hiện ý đồ đánh cướp đất và biển của Việt Nam. Mới đây nhất, ngày 24/11/2008 hãng thông tấn Bloomberg loan tin tập Ðoàn Dầu Khí Trung Quốc quyết định chi tiêu 29 tỉ Mỹ kim để khai thác dầu khí trên biển Ðông, bao trùm cả hải phận của Việt Nam.

Ngoại giao hai mặt chính là ngoại giao cờ bạc bịp. Việt Nam là quốc gia nạn nhân đầu tiên nhưng không là nạn nhân duy nhất của trận địa ngoại giao hai mặt kia. Muốn tồn tại trước những dự mưu thâm độc của thế lực “Bắc Kinh Bành Trướng”, các quốc gia Ðông Á phải kết hợp thành một khối trên ba mặt: kinh tế, chính trị và quốc phòng, có cấu trúc chặt chẽ. Ý nghĩ vừa nêu là cội nguồn của sự việc Nhật Bản và các quốc gia trong tổ chức ASEAN hội họp tại TOKYO tháng 12/2003. Sau hội nghị này Nhật Bản đẩy mạnh công tác xây dựng quan hệ ngoại giao gắn bó với ASEAN thông qua ba phương pháp:

Một là Nhật Bản ký hiệp định tự do mậu dịch với ASEAN: Free Trade Agreement, gọi tắt là FTA.

Hai là Nhật Bản trực tiếp đầu tư tai các quốc gia thành viên của ASEAN: Foreign Direct Investment, gọi tắt là FDI.

Ba là Nhật Bản viện trợ và cho vay vốn ưu đãi dành cho thành viên của ASEAN: Oversea Development Administration, gọi tắt là ODA.

Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu liên hệ ngoại giao giữa CSVN và Nhật Bản thông qua chương trình cấp viện ODA. Ngày 04/06/2004 trả lời phỏng vấn của BBC, ông Misuru Kitano, đại diện đại sứ quán Nhật tai Việt Nam cho biết: viện trợ ODA của Nhật dành cho Việt Nam được dựa vào thang điểm gồm năm yếu tố: bảo vệ môi sinh, xây dựng kinh tế thị trường, thu và chi tiền vốn hợp lý, dân chủ hóa đất nước, tôn trọng nhân quyền. Sự thể này cho thấy ODA của Nhật không là vấn đề thuần túy kinh tế. Một trong những công tác hàng đầu của ODA tại Việt Nam là công trình xây dựng xa lộ Ðông Tây Saigon. Công trình này khởi công ngày 31/01/2008 và được nhà cầm quyền CSVN ủy thác cho công ty PCI của Nhật Bản thực hiện. Hồi bấy giờ, báo chí của CSVN hân hoan cho rằng công trình Ðông Tây Saigon sẽ “chắp thêm đôi cánh” cho Saigon. Trong thực tế công trình Ðông Tây không chắp cánh cho Saigon mà lại chắp cánh cho những món tiền do Nhật viện trợ bay đi nơi khác. Thực vậy:

Tháng 06/2008, tài liệu điều tra của viện công tố Tokyo cho biết bốn thành viên ban giám đốc PCI đã đút hối lộ cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, giám đốc ban quản lý dự án Ðông Tây để được CSVN giao nhiệm vụ thi công dự án vừa kể.

Ngày 04/08/2008, biện lý cuộc Tokyo ký trát tống giam bốn bị can PCI.

Ngày 25/08/2008, cơ quan công tố Tokyo quyết định truy tố bốn bị can PCI trước tòa án hình sự về tội đã vi phạm “luật chống cạnh tranh không lành mạnh“

Ngày 12/11/2008, tại phiên thẩm vấn đầu tiên của tòa án quận hạt Tokyo, cả bốn bị can PCI đều nhận tội đã đút hối lộ cho ông Huỳnh Văn Sỹ số tiền 820,000 USD.

Ðứng trước một loạt thủ tục tố tụng hình sự của công quyền Nhật Bản nhằm vào vụ án bốn bi can PCI và Huỳnh Văn Sỹ của CSVN, chế độ Hà Nội đã phản ứng như thế nào? Câu trả lời như sau:

Ngày 16/08/2008, nhân trả lời phỏng vấn của TTXVN, ông Hồ Xuân Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao CSVN đã lên án truyền thông Nhật “có một số bài viết không khách quan và không đúng sự thật” đối với vụ PCI. Sau đó ông Sơn đề nghị truyền thông Nhật cũng như truyền thông Việt Nam không nên đưa tin PCI vào lúc này.

Ngày 13/11/2008, tại nghị trường quốc hội CSVN, ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN khi đề cập tới vu PCI Nhật Bản đã tuyên bố: cho tới nay, phía Việt Nam vẫn “chưa có đủ cơ sở pháp lý” về PCI, đồng thời ông Dũng cũng đã chỉ thị cho nội các của ông hãy giải quyết vụ PCI theo kiểu “làm rõ tới đâu, xử lý tới đó theo pháp luật Việt Nam.”

Ngày 29/11/2008, đại diện ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng đã nói với báo chí rằng: “Hiện vẫn chưa có gì cụ thể” trong vụ PCI.

Trở lại với câu nói của ông Nguyễn Tấn Dũng “Làm rõ tới đâu, xử tới đó”. Câu nói này có nghĩa rằng: bằng chứng trong vụ PCI là 10/10, tuy nhiên vì “lý do đặc biệt”, CSVN sẽ chỉ có thể “làm rõ” 2 hoặc 3/10. Nếu làm rõ 10/10 thì bộ chính tri sẽ hiện nguyên hình. Sau đây là bốn chìa khóa để “làm rõ” PCI 10/10:

1./ Ngày 12/11/2008, tin từ BBC cho biết: “Các khoản tiền hơn 2,4 triệu đô la mà PCI bị cáo buộc trao cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, phó giám đốc sở giao thông công chánh TP. HCM diễn ra trong giai đoạn 2002-2006. Ðây cũng là giai đoạn chủ tịch nước Việt Nam hiện nay Nguyễn Minh Triết giữ chức bí thư thành ủy tại TPHCM”. Vì vậy cơ quan điều tra của CSVN hãy thẩm vấn Nguyễn Minh Triết và thuộc viên của ông này những năm 2002-2006 ắt sẽ thấy thế nào là PCI 10/10.

2./ Ông Huỳnh Ngọc Sỹ là phó giám đốc Sở Giao Thông-Công Chánh kiêm giám đốc ban quản lý PMU của dự án xa lộ Ðông Tây. Sở Giao Thông Công Chánh và PMU xa lộ Ðông Tây đều thuộc thẩm quyền điều động và tổ chức của Bộ Giao Thông Công Chánh. Như vậy ông bộ trưởng Giao Thông-Công Chánh và cấp lãnh đạo của bộ này ắt phải biết thế nào là PCI 10/10.

3./ Ngày 08/08/2008, tin từ báo chí Nhật Bản cho biết: PCI đã thắng thầu vào tháng 10/2001 sau khi tham dự đấu thầu khó khăn với các công ty khác trong một dự án đường cao tốc tri giá 1,1 tỷ Yen, tiền viện trợ từ Nhật. Tháng 03 năm 2003, PCI lại trúng thầu trong bí mật một dự án khác, trị giá 2 tỷ Yen. Như vậy hội đồng đấu thầu của Huỳnh Ngọc Sỹ phải biết bằng cách nào đấu thầu công khai biến thành đấu thầu bí mật. Từ đó, hội đồng này thừa biết: thế nào là PCI 10/10.

4./ Câu chuyên tham ô xa lô Ðông Tây là một vụ án hình sự nhục nhã và ồn ào, cả thế giới đều biết, Nguyễn Tấn Dũng nhận lệnh từ đâu để ém nhẹm nội vụ hơn nửa năm qua? Không cần mất nhiều thời gian suy nghĩ, mọi người Việt Nam đều thừa biết, lệnh ém nhẹm kia phải là lệnh từ bộ chính trị. Nói cách khác bộ chính trị CSVN là bị can tối hậu của vụ án xa lộ Ðông Tây. Sau khi thẩm vấn toàn bộ thành viên của Bộ Chính Trị, cơ quan điều tra mới có đủ thông tin để chuyển đổi câu nói của Nguyễn Tấn Dũng từ “Làm rõ tới đâu, xử tới đó” thành “Làm rõ tới 10/10, xử 10/10”.

Mặc dầu vụ PCI đã bị mang ra trước ánh sáng của công lý Nhật Bản từ vài tháng qua, ngày 04/12/2008, trước toàn thể hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam ở Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng CSVN vẫn lớn tiếng và dõng dạc xác định rằng: “Việt Nam trân trọng từng đồng vốn ODA” và rằng: “Chính phủ Việt Nam sẽ nỗ lực và tập trung chỉ đạo để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn ODA.”

Thế nhưng, đáp lời ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Mitsuo Sabaka, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam đã thông báo cho toàn thể hội nghị biết: “Các khoản viện trợ ODA của Nhật sẽ tạm dừng cho tới khi nào Việt Nam có biện pháp hữu hiệu để tận diệt nạn tham nhũng trong các chương trình công cộng“

Ðại Sứ Sabaka nói thêm: “Cho tới khi ủy ban điều tra chung Việt-Nhật đưa ra được các biện pháp hữu hiệu và đứng đắn để chống tham nhũng thì rất khó có thể giành lại sự ủng hộ của công chúng Nhật trong việc tiếp tục hỗ trợ Việt Nam. Vì vậy chúng tôi không thể cam kết thêm các khoản tài trợ mới.”

Sau đó, đại sứ Nhật rời khỏi hội trường của các nhà tài trợ cho Việt Nam trước khi hội nghị này bế mạc.

Tại sao chính phủ Nhật lại quyết định làm nhục CSVN ngay tại một hội nghị quốc tế như vừa trình bày? Câu trả lời như sau:

ODA không là chương trình viện trợ thuần túy nhân đạo. Nó đích thực là một trong những tảng đá làm nền cho ngôi nhà đóng vai trò tổ chức và điều động các vấn đề kinh tế, chính tri, quốc phòng của vùng Ðông Á. Trong khi Nhật chưa hoàn tất những công tác được hoạch định từ hội nghị Nhật-ASEAN tại Tokyo tháng 12/2003 thì tại Kuala Lumpur, Mã Lai Á tháng 12/2005 lại diễn ra hội nghị toan tính hình thành Cộng Ðồng Ðông Á. Thông qua hội nghị này những tranh chấp Nhật-Hoa về vai trò dẫn đạo các quốc gia Ðông Á đã trở nên cụ thể và gay gắt. Ðây là lý do hối thúc Nhật phải tích cực hơn nữa trong chương trình nỗ lực tăng cường quan hệ ngoai giao với ASEAN.

Chính sách ngoại giao hai mặt của Bắc Kinh chỉ là một bộ phận nhỏ nằm trong âm mưu lớn của Trung Quốc. Âm mưu lớn kia là: phương pháp bành trướng căn bản của Bắc Kinh có trọng tâm tách rời bó đũa ASEAN ra và bẻ gãy từng chiếc một. Nói rõ hơn, Bắc Kinh chủ trương thương lượng riêng lẻ với từng quốc gia thành viên của ASEAN để dễ bề vừa dụ dỗ vừa gây sức ép cho đến khi quốc gia nạn nhân trở thành vệ tinh của Trung Quốc. Sau khi ASEAN rơi vào tay Trung Quốc, an ninh kinh tế và quốc phòng của Nhật Bản sẽ gặp khó khăn. Vì vậy nhằm vô hiệu hóa âm mưu bẻ gãy từng chiếc đũa ASEAN của Trung Quốc, Nhật Bản đang mẫn cán dùng một loại keo đặc biệt nhằm kết nối các quốc gia ASEAN thành một bó đũa không thể tách rời, không thể bẻ gãy. Tùy theo tình huống kinh tế, tài chánh, keo đặc biệt được mang ra sử dụng có thể là ngoại thương FTA, đầu tư FDI, phát triển OAD hoặc tổng hợp ca ba phương thức vừa kể. Vì vậy sự việc CSVN ăn trộm tiền của ODA hiển nhiên có tác dụng phá hoại công trình xây dựng bó đũa ASEAN của Nhật Bản. Ðiều này giải thích tại sao ngay giữa Hà Nội, trước mặt Nguyễn Tấn Dũng, trước mặt quan khách quốc tế của hội nghị Các Nhà Tài Trợ Cho Việt Nam, Ðại Sứ Nhật Bản đã làm nhục thủ tướng CSVN bằng một cung cách rất khinh thị nhưng rất ngoại giao. Nhật Bản căm giận bao nhiêu thì Trung Quốc vui mừng bấy nhiêu. Lý do: phá vỡ âm mưu mang bó đũa ASEAN tiến về phía Nhật là ước muốn của Trung Quốc. Như vậy, ăn trộm tiền của ODA, CSVN cùng một lúc đoạt thủ hai mục tiêu: một là làm hài lòng quan thầy Trung Quốc, hai là có thêm vài triệu Mỹ kim cất vào túi riêng.

Không cần phải lý luận dông dài, mọi người đều thừa biết: Trung Quốc là đại họa truyền kiếp đối với Việt Nam. Hiện tình thế giới cho thấy: muốn Việt Nam tránh được hiểm họa Trung Quốc, muốn cứu nước, CSVN cần liên minh với Nhật, Úc, Ấn, Hoa Kỳ… trong đó Nhật là đầu cầu tiên khởi. CSVN đã phá vỡ đầu cầu kia bằng cách ăn trộm tiền của ODA Nhật Bản. Vấn đề không là số tiền mà CSVN ăn trộm là vài trăm ngàn hay vài triệu Mỹ Kim. Vấn đề chính là vụ trộm ODA đã trở thành lời tố cáo không một chút hoài nghi rằng: các năm 1999-2000, CSVN bán nước thông qua hành động dâng đất, dâng biển cho Trung Quốc, năm 2008, CSVN lại phản quốc dưới hình thức hủy diệt con đường cứu nước, hủy diệt con đường liên minh với Nhật và các quốc gia quan yếu khác trong cộng đồng quốc tế. Trong lịch sử tội ác của loài người, đây là lần đầu tiên thế giới được biết đến một hồ sơ tội ác vô cùng kỳ lạ, vô cùng tàn độc. Ðó là hồ sơ: CSVN vừa bán nước vừa hủy diệt con đường cứu nước.

Đề nghị giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tế

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 11:45 pm
Tags: ,

Trong phiên thảo luận kinh tế – xã hội sáng nay, các đại biểu Quốc hội tập trung mổ xẻ về tình trạng các tập đoàn kinh tế nhà nước được ưu ái, nhưng đầu tư kém hiệu quả. Đây là một trong nhiều nguyên nhân gây lạm phát.
>
Quốc hội lo lắng hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước

“Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước như những chàng công tử, được cha mẹ (nhà nước) nuôi dưỡng chu đáo nên béo tốt. Nói chung là nhất về vị thế và ưu đãi, nhưng hiệu quả hoạt động lại yếu kém”, đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng ví von. Ông cũng đặt câu hỏi tại kỳ họp trước, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư hứa sẽ có nghị định về quản lý hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, vậy đến nay đã có chưa?

Dẫn ra số liệu của Ban đổi mới doanh nghiệp tổng kết 6 tháng đầu năm, 76 tập đoàn và tổng công ty được giao hơn 400.000 tỷ đồng và được vay thêm hơn 500.000 tỷ đồng, nhưng tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn rất thấp (chỉ đạt 17,4%), nhập siêu lại lớn nhất (tới 21 tỷ USD), đại biểu Đỗ Mạnh Hùng khẳng định: “Giữ nhiều tiền, nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh kém chính là một nguyên nhân dẫn đến lạm phát”.

Ông Hùng cho rằng việc các tập đoàn đầu tư ồ ạt ngoài lĩnh vực chuyên môn, như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản đã góp phần làm thiếu vốn sản xuất, tạo sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp. “Đáng ra các tập đoàn phải giúp nhà nước, nhưng vừa qua có hiện tượng gây khó khăn thêm, như cắt điện nhiều, liên tục kêu lỗ, đòi tăng giá điện. Và mới đây ngành điện lại nói có lãi, đề nghị khen thưởng hơn 1.000 tỷ đồng”, ông Hùng chỉ ra sự bất hợp lý.

Đại biểu Đỗ Mạnh Hùng: “Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ nhiều tiền, nhưng sản xuất kinh doanh kém là nguyên nhân dẫn đến lạm phát”. Ảnh: TTXVN.

Đại biểu Nguyễn Văn Nhượng bày tỏ lo lắng khi các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chiếm đến 50% tổng vốn đầu tư nhà nước, nhưng lại chiếm 70% tổng dư nợ quốc gia và 80% dư nợ tín dụng. “Người dân rất băn khoăn về khả năng trả nợ của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Nếu Chính phủ kiểm soát được vấn đề này cũng như hoạt động đầu tư của các tập đoàn thì sẽ giảm được lạm phát”, ông Nhượng nói.

Đại biểu Nguyễn Văn Nhượng và Đỗ Mạnh Hùng đề nghị Quốc hội đưa vấn đề cấp và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước vào nội dung giám sát tối cao năm 2009. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng thì kiến nghị tại các kỳ họp Quốc hội cuối năm, Chính phủ cần báo cáo hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập đoàn và tổng công ty.

Chủ trì phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên thông tin sẽ có riêng một ngày (dự kiến 5/11), Quốc hội thảo luận việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước ở các bộ, ngành, địa phương, trong đó có đề cập đến hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Nhìn nhận về những hạn chế trong việc điều hành kinh tế xã hội năm 2008, đại biểu Nguyễn Văn Nhượng cho rằng “còn quá chung chung”. “Nếu Chính phủ phân tích thiếu sót này của ngành, địa phương và cá nhân nào thì chắc chắn sẽ dễ khắc phục hơn”, ông Nhượng.

Đồng tình với ý kiến trên, đại biểu Võ Văn Liêm bổ sung: “Ở một số nước, khi tham mưu không tốt thì bộ trưởng sẵn sàng nhận trách nhiệm. Còn ta không bộ ngành nào đứng ra”. Ông Liêm lấy ví dụ vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, nhân dân xung quanh hứng chịu nhiều bệnh tật, nhưng chưa có bộ nào nhận trách nhiệm.

Để tăng tính thuyết phục, đại biểu Liêm tiếp tục dẫn chứng về giá xăng dầu. “Khi giá xăng dầu thế giới tăng, các bộ ngành đề xuất tăng giá xăng lên 4.000 đồng. Nhưng khi giá thế giới giảm thì các bộ ngành lại không chủ động đề xuất. Thực tế giá có giảm, nhưng chỉ nhỏ giọt. Rõ ràng các bộ ngành đã không tham mưu, đề xuất kịp thời”, ông Liêm nói.

Từng là Thống đốc ngân hàng nhà nước, đại biểu Cao Sỹ Kiêm bày tỏ lo lắng: “Khủng hoảng kinh tế thế giới khiến xuất khẩu và đầu tư khó khăn. Nguồn thu ngân sách giảm, vốn bên ngoài vào hẹp dần và nợ quá hạn tăng lên. Chính phủ chuyển hướng đầu tư mạnh cho nông nghiệp nông thôn nên cần đến vốn lớn, nhưng hiệu quả từ lĩnh vực lại rất chậm. Những cái đó sẽ tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế năm 2009”, ông Kiêm nói.

Từ lập luận trên, đại biểu Kiêm đề nghị Chính phủ cần tính toán ngay đến khả năng giảm phát. Cái này rất nguy hiểm, nếu xảy ra thì sản xuất sẽ bị đình trệ, sức mua giảm. “Đồng ý là trước mắt Chính phủ cần tập trung chống lạm phát, nhưng trong lãnh đạo điều hành cần chú ý vấn đề này và có phương án ngay bây giờ để xử lý kịp thời”, ông Khiêm nói.

Hồng Khánh

Next Page »

Blog at WordPress.com.