Ktetaichinh’s Blog

March 21, 2009

Dự trữ ngoại hối quốc gia và cung cầu ngoại tệ của Việt Nam 2007

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 10:56 pm
Tags: ,

Theo TCKTPT

Theo dự báo, thâm hụt tài khoản vãng lai của VN trong thời gian tới dao động trong khoản 1% đến 3% GDP, đó là chưa tính đến những cú sốc do những biến động kinh tế quốc tế và trong nước làm cho thâm hụt mậu dịch có khả năng trở nên nặng nề hơn.

Những nghiên cứu của IMF cho thấy rằng có một mối tương quan rất cao giữa cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối trên nợ ngắn hạn. Bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu ở 20 quốc gia cho thấy hệ số tương quan giữa hai đại lượng này là 0,85. Điều này có nghĩa là cán cân thanh toán càng biến động, dự trữ ngoại hối nói chung và dự trữ ngoại hối trên nợ ngắn hạn phải càng cao. Theo dự báo, thâm hụt tài khoản vãng lai của VN trong thời gian tới dao động trong khoản 1% đến 3% GDP, đó là chưa tính đến những cú sốc do những biến động kinh tế quốc tế và trong nước làm cho thâm hụt mậu dịch có khả năng trở nên nặng nề hơn. Trong bối cảnh đó, hoặc là chúng ta phải tính đến các giải pháp để tăng thêm dự trữ ngoại hối – trong đó có giải pháp mở rộng biên độ tỷ giá để tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu – hoặc là tiến hành kiểm soát vốn chặt chẽ các giao dịch ngoại hối ngắn hạn, hoặc là tiến hành đồng thời cả hai giải pháp trên. Giải pháp hai ngã có thể là hữu ích cho chúng ta trong giai đoạn hội nhập. Không chỉ là các biện pháp kiểm soát vốn trên các giao dịch ngắn hạn mà chúng ta còn phải tính đến mở rộng biên độ tỷ giá.

Những nghiên cứu trên cho thấy chế độ tỷ giá cố định cần một dự trữ ngoại hối cao hơn so với chế độ tỷ giá thả nổi hoặc thả nổi có quản lý. Đây chính là một thách thức cho chúng ta trong việc chuyển sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn để giảm bớt sức ép lên dự trữ ngoại hối. Mặc dù vậy, theo kinh nghiệm ở các nước đang phát triển, nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp về kiểm soát vốn nước ngoài ngắn hạn và điều hành tỷ giá linh hoạt thì những thách thức từ chế độ tỷ giá linh hoạt là không đáng ngại.

Cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế

Thị trường ngoại tệ VN trong thời gian qua luôn tồn tại song song hai thị trường: thị trường chính thức, bao gồm hoạt động giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và hoạt động mua bán giữa hệ thống ngân hàng với các khách hàng và thị trường chợ đen. Sự tồn tại của thị trường chợ đen đã có những tác động tiêu cực tới cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế.

Trong những năm gần đây, thâm hụt cán cân vãng lai đã được thu hẹp đáng kể bởi có sự gia tăng trong hạng mục chuyển giao đơn phương mà chủ yếu là lượng kiều hối chuyển về nước ngày càng tăng. Mặt khác dòng vốn đầu tư chảy vào VN ngày càng tăng từ nhiều kênh khác nhau đã phần nào tài trợ cho thâm hụt cán cân thương mại và do vậy dự trữ ngoại hối tăng lên. Trong nhiều năm qua, diễn biến trên đây phần nào cho thấy có khả năng lượng cung lớn hơn cầu ngoại tệ. Đáng lý ra khi cung lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá VND/USD sẽ có xu hướng giảm xuống, nghĩa là VND tăng giá. Tuy nhiên trên thực tế, liên tục trong nhiều thời điểm, VND phải chịu áp lực giảm giá. Nghịch lý này phản ảnh một tình trạng “dư cầu” trong nền kinh tế.

Chúng tôi gọi các tình trạng dư cầu này là: dư cầu thực, dư cầu ảo và dư cầu cấu trúc. Tình trạng dư cầu thực thể hiện VND được định giá cao hơn giá trị thật của chúng do tỷ giá USD/VND chưa phản ảnh đúng các quan hệ mua bán ngoại tệ diễn ra trên cơ sở cạnh tranh bình thường, nhưng nguyên nhân sâu xa và quan trọng nhất là do chính sách tỷ giá và trong một chừng mực nào đó là lãi suất của VND và USD trong nhiều năm qua chưa phản ảnh đúng những diễn biến của thị trường. Dư cầu cấu trúc là do những thâm hụt trên cán cân tài khoản vãng lai đã tạo sức ép lên các nhu cầu tài trợ cho các hoạt động nhập khẩu. Dư cầu ảo là do tình trạng cung ứng ngoại tệ bị bóp méo, nói cách khác tình trạng dư cầu ảo xảy ra là do cơ chế quản lý ngoại tệ của VN hiện nay là có vấn đề. Trong ba xu hướng trên thì xu hướng thứ ba tức dư cầu ảo là đáng ngại hơn cả. Chúng ta hãy tiếp tục xem xét tại sao lại có ba tình trạng dư cầu như thế ở VN.

Quản lý và phân bổ ngoại tệ giữa các khu vực của nền kinh tế

Về phương diện pháp lý, tất cả nguồn thu chi ngoại tệ của các khu vực nền kinh tế đều phải bắt buộc luân chuyển thông qua hệ thống ngân hàng, khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ của các khu vực trong nền kinh tế thì lượng ngoại tệ của ngân hàng sẽ tăng lên.

Số liệu thực tế trong những năm qua luôn cho thấy tài sản có nước ngoài (chủ yếu là tiền gởi ngoại tệ ở nước ngoài) của hệ thống ngân hàng đã tăng mạnh. Và hết sức nghịch lý khi hệ thống ngân hàng VN nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ, khoảng 9 tỷ USD ở nước ngoài, thì nền kinh tế VN lại thu hút một lượng vốn lớn nước ngoài khiến gánh nặng nợ nước ngoài của VN ngày càng tăng lên.

Những diễn biến trên cho thấy, trong khi hệ thống ngân hàng của chúng ta hiện đang nắm giữ một số lượng khoảng 9 tỷ USD ngoại tệ, thì sự kiện Chính phủ lại phát hành 750 triệu USD trái phiếu quốc tế với lãi suất khá cao lại đặt nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời, mặc dù chính phủ có giải thích rằng việc phát hành trái phiếu quốc tế lần này chỉ là bước thăm dò sự hội nhập của VN vào thị trường vốn quốc tế. Điều này cho thấy cơ chế quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia hiện nay nói riêng và điều hành kinh tế vĩ mô vẫn còn khá nhiều bất cập.

Cung cầu ngoại tệ từ các NHTM

Hệ thống NHTM hiện vẫn đang nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ thặng dư của nền kinh tế. Trong một số thời điểm, hệ thống các NHTM đã gửi một lượng lớn ngoại tệ ra nước ngoài mà không bán ngoại tệ cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Việc các hệ thống NHTM nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ ở nước ngoài mà không bán cho NHNN suy cho cùng là do chính sách tiền tệ vẫn chưa hoạt động hữu hiệu.

Cung cầu ngoại tệ bị bóp méo do có sự tham gia  từ Chính phủ

Những diễn biến trong thời gian qua cho thấy mặc dù lượng tiền gởi ngoại tệ của NHNN tại nước ngoài tăng nhưng mức dự trữ quốc tế không tăng mạnh bằng mức tăng tiền gởi. Nguyên nhân là do trong số ngoại tệ NHNN gởi ở nước ngoài có một phần không nhỏ là lượng ngoại tệ của Chính phủ và của các NHTM gởi tại NHNN. Nguồn ngoại tệ mà Bộ tài chính có được phần lớn có được là từ các khoản thu xuất khẩu dầu thô, nguồn thu này đáng lý ra Bộ tài chính phải bán hết trở lại ngay tức thời cho NHNN.

Trên thực tế, trong nhiều thời điểm số dư tiền gởi ngoại tệ của NSNN gởi tại NHNN rất lớn. Số dư của hai quỹ, quỹ ngoại tệ tập trung và quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài lên đến 1,5 tuần nhập khẩu, trong khi dự trữ ngoại hối chỉ tương đương với khoảng 10 tuần nhập khẩu.

Cung cầu ngoại tệ từ khu vực dân cư

Nguồn cung ngoại tệ của khu vực này chủ yếu là chuyển tiền kiều hối, lượng ngoại tệ thặng dư của các cá nhân hàng năm còn lớn hơn cả lượng vốn ròng vào VN. Số ngoại tệ thặng dư này được người dân nắm giữ dưới hai hình thức (gởi tại hệ thống ngân hàng và nắm giữ bằng tiền mặt). Việc người dân gởi tiền vào ngân hàng dưới dạng tiết kiệm bằng ngoại tệ đã hạn chế khả năng của các NHTM trong việc bán chúng ra trên thị trường ngoại hối hoặc bán cho NHNN. Như vậy chính sách quản lý ngoại hối của NHNN trong giai đoạn hội nhập cần phải được xem xét theo hướng làm thế nào để cho người dân gởi toàn bộ số ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng và khuyến khích người dân bán ngoại tệ hẳn cho hệ thống ngân hàng để đáp ứng cho nhu cầu ngoại tệ của các khu vực khác trong nền kinh tế.

Hiện nay người dân vẫn lưu hành ngoại tệ tiền mặt trong lưu thông và sử dụng cho các giao dịch trong nước. Chỉ khi người dân không thể sử dụng ngoại tệ để thanh toán cho các giao dịch thường ngày thì họ có thể gửi toàn bộ số ngoại tệ của họ vào hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, chính sách tiền tệ và tỷ giá phải thực hiện theo hướng ngang bằng lãi suất giữa việc nắm giữ USD và VND thì mới có thể khuyến khích người dân bán thẳng ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng.

Advertisements

Nguyễn Thanh Nam, TGD Cty Kiểm toán độc lập quốc gia VN (VNFC)- “Kiểm toán đang “cựa” trong chiếc áo chật “

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:48 pm

TCKT cập nhật: 13/03/2007

Nguyễn Thanh Nam, Tổng Giám đốc Cty Kiểm toán độc lập quốc gia VN (VNFC)Cuối năm 2006, 32 tuổi Nguyễn Thanh Nam, Tổng Giám đốc Cty Kiểm toán độc lập quốc gia VN (VNFC) nhận bằng tiến sĩ kinh tế của một trường đại học danh tiếng ở Mỹ đồng thời cũng vừa được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện nghiên cứu, Đào tạo Kinh tế – Tài chính. Tôi đến gặp anh với ý định viết chân dung về một trong những Viện trưởng trẻ nhất VN nhưng anh bảo: Trao đổi chuyên môn thì được, “ăn cơm mới nói chuyện cũ” về mình làm gì! Vậy là câu chuyện của chúng tôi chuyển sang vấn đề đúng với chuyên môn của anh và cũng đang được nhiều người quan tâm: Thị trường tài chính – Chứng khoán.

– Trong bối cảnh hàng loạt Cty đang đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá, kiểm toán tốt sẽ giúp phát hiện sớm các lỗi và có thể làm giảm những tác động xấu đến thị trường chứng khoán và nền kinh tế, là người trong cuộc anh nhận định thế nào về hoạt động kiểm toán tại VN hiện nay?

Thị trường tài chính – chứng khoán ở VN trong thời gian qua đã có những bước phát triển nhanh chóng, tạo cơ hội rất tốt cho các Cty kiểm toán hoạt động. Tuy nhiên, hiện tại hành lang pháp lý về kiểm toán vừa chưa chặt chẽ, vừa không theo kịp tốc độ phát triển. Nó giống như “một chiếc áo còn chật”. Ví dụ một số Cty cổ phần vẫn chưa bắt buộc phải kiểm toán. Các khách hàng chưa chú trọng đến chất lượng kiểm toán mà vẫn nặng về phí kiểm toán bởi hiểu biết về kiểm toán phần lớn là chưa đầy đủ. Những quy định về trách nhiệm của kiểm toán viên khi xảy ra rủi ro gây thiệt hại đối với khách hàng chưa rõ ràng (bồi thường không quá 10 lần phí kiểm toán) nên chưa gắn trách nhiệm vào kết quả công việc dẫn đến tình trạng đóng dấu ăn tiền, ảnh hưởng tới nền tài chính quốc gia.

Về phía các Cty kiểm toán hiện nay có khá nhiều bức xúc với cung cách quản lý của nhà nước, của Bộ Tài chính. Thứ nhất là Luật DN quy định các bộ, ngành không được ban hành các văn bản mang tính chất hạn chế phạm vi hoạt động cũng như năng lực hoạt động của các Cty kiểm toán. Trong khi đó Bộ Tài chính vẫn có những văn bản mang tính duy ý chí. Chẳng hạn Thông tư 60/2006/TT-BTC quy định giám đốc Cty kiểm toán phải có 3 năm kinh nghiệm trở lên sau khi được cấp chứng chỉ kiểm toán viên. Và những DN nào không đủ điều kiện thì phải điều chỉnh. Với quy định như vậy sẽ rất khó cho các DN đã thành lập từ trước, nếu DN nào không đủ điều kiện sẽ phải thay giám đốc hoặc phá sản. Mặc dù ai cũng biết chưa hẳn có thâm niên mà quản lý giỏi. Thứ hai, theo quy định về kiểm toán, không có bất cứ tổ chức nào được phép can thiệp vào ký kết hợp đồng kiểm toán, nhưng ở VN hiện vẫn tồn tại thực trạng một tổ chức tín dụng phải xin ý kiến Ngân hàng nhà nước, chẳng hạn như các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó còn có quy định điều kiện vốn điều lệ và phải có 5 năm kinh nghiệm đối với Cty kiểm toán khi tham gia kiểm toán các tổ chức tín dụng. Trong khi đó trí tuệ, trình độ của kiểm toán viên là yếu tố quyết định chất lượng kiểm toán (chứ không phải là vốn). Thứ ba hạn chế một số Cty kiểm toán niêm yết chứng khoán theo quy định của UB Chứng khoán nhà nước với các tiêu thức không rõ ràng và không có cơ sở khoa học. Và hàng loạt quy định bất cập khác… tạo đặc quyền đặc lợi cho các Cty thành lập trước.

– Trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính của châu Á cuối thập niên 90 thế kỷ trước, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế là do các Cty kiểm toán không cung cấp thông tin về khó khăn mà thân chủ gặp phải. VN đang trong giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hoá. Vậy đâu là điều các DN và nhà đầu tư cần quan tâm?

Việc kiểm toán chẩn đoán rủi ro chưa phổ biến ở VN bởi thông thường phí rất cao và các DN chưa thực sự quan tâm. Trong một môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt, tư duy này cần được thay đổi. Với con mắt của một nhà kiểm toán, tôi khẳng định thị trường chứng khoán không phản ánh đúng giá trị của các DN đã niêm yết. Hiện nay đang có sự đánh bóng các DN. Thị trường chứng khoán của VN không hoạt động theo đúng bản chất bởi nếu tính tỷ suất cổ tức trên vốn mà nhà đầu tư nhận được còn thấp hơn cả lãi suất gửi tiết kiệm. Lợi nhuận có được chủ yếu vẫn là mua đi bán lại kiếm lời. Nhà đầu tư muốn quan tâm đến tình hình tài chính của DN sẽ đầu tư nên tìm hiểu thông tin qua nhiều kênh khác nhau. Tuy nhiên một yếu tố không thể tính toán được đó là yếu tố tâm lý.

– Việc áp dụng các nguyên tắc kế toán theo chuẩn mực quốc tế ở VN hiện nay như thế nào?

Chuẩn mực kế toán quốc tế thường xuyên thay đổi và các chuẩn kế toán, kiểm toán của VN cũng phải thay đổi theo khi hội nhập. Hiện nay chúng ta đã theo chuẩn mực quốc tế khoảng trên 90%, nhưng không phải không còn những hạn chế. Chẳng hạn VN ban hành riêng chế độ kế toán DNNVV là vấn đề bất cập trong quản lý. Hôm nay DN ở quy mô nhỏ nhưng hôm sau là DN quy mô lớn thì lại phải thay đổi chế độ kế toán. Và thế nào là nhỏ? Thế nào là lớn? Cũng vẫn là cả một vấn đề. Nên có một chế độ kế toán chung sẽ đảm bảo tính minh bạch, công bằng. Nếu DN lớn thì áp dụng toàn bộ, còn DN nhỏ thì áp dụng từng phần.

– Khả năng cạnh tranh của các Cty kiểm toán VN với các tập đoàn nước ngoài, trong đó có VNFC trong thời gian tới?

Hiện tại DN kiểm toán ở VN được chia làm 3 loại: DN có vốn đầu tư nước ngoài; DN được Bộ Tài chính thành lập trước đây; DN mới thành lập. Sẽ không có thêm nhiều Cty kiểm toán nước ngoài vào VN trong thời gian tới, bởi các Cty có ý định đầu tư thì đã vào rồi. Bây giờ đang trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt để khẳng định vị trí. Đối với VNFC, chúng tôi phải nỗ lực hoàn thiện mình thông qua công việc cụ thể. Hiện nay Cty đã có trên 80 kiểm toán viên hoạt động chuyên nghiệp và có trình độ cao. Xu thế là mạnh thắng yếu và sáp nhập, liên kết chứ không phải tăng theo số lượng. DN nào yếu sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.

– Thị trường chứng khoán thời gian vừa qua rất sôi động. Là một chuyên gia tài chính, anh có tham gia đầu tư?

Đương nhiên là không, biết quá nên không đầu tư. Ở VN có phong trào lên rất nhanh và xuống cũng rất nhanh.

Về kinh nghiệm phát triển: Đọc Rodrik và Chang, hai kẻ nghi ngờ 2009- Trần Hữu Dũng

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 9:14 pm
Tags: ,

Không thể phủ nhận rằng phần lớn nhân loại (nhất là châu Á) đã có nhiều thành tích phát triển kinh tế đáng kể trong vài thập kỷ vừa qua.  Những nguyên tố của sự thành công này đã được vô số sách báo nói đến: thương mại và đầu tư quốc tế, tiết kiệm cao, dân chúng cần cù làm ăn, chính sách thích hợp, v.v..  Cụ thể hơn, đa số các nhà kinh tế (nhất là ở phương Tây) cho rằng “phương thuốc” mầu nhiệm là cái gọi là “sự đồng thuận Washington”:  tự do hóa thương mại, giải tỏa điều tiết (deregulation), tư nhân hóa, cải cách thuế má, giảm chi tiêu nhà nước, và thả nổi lãi suất, v.v…   Những “bài học” này được các tổ chức quốc tế (như Quỹ Tiền tệ Quốc Tế, Ngân Hàng Thế Giới…), các nước Tây phương đi rao giảng khắp nơi, nhất là ở các nước cần vay tiền nước ngoài.

Tuy nhiên, vài năm gần đây, nhiều người trong giới kinh tế đã đặt hai nghi vấn: (1) Có thật “đồng thuận Washington” (nói chung là kinh tế học thị trường) là phương án duy nhất để thoát cảnh chậm tiến? (2) Có thật là các nước tiên tiến đã “thành đạt” nhờ những chính sách mà họ hiện rao giảng, “cố vấn” cho các nước hậu tiến phải noi theo?  Người có nhiều suy nghĩ về câu hỏi thứ nhất là Dani Rodrik, gốc Thổ Nhĩ Kỳ, hiện là giáo sư kinh tế đại học Harvard (Mỹ).  Người trả lời thẳng thừng nhất cho câu hỏi thứ hai là Ha-Joon Chang, gốc Hàn Quốc, hiện tùng sự ở đại học Cambridge (Anh).

Trước hết, Rodrik.  Ông nhìn nhận, như mọi nhà kinh tế khác, rằng có những việc mà quốc gia nào muốn phát triển đều phải làm, đó là: (1) ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô, (2) hội nhập vào kinh tế thế giới, (3) cho các nhà đầu tư niềm tin rằng quyền sở hữu sẽ được bảo đảm và các khế ước sẽ được bắt buộc thực thi, (4) giữ một chừng mức nào đó sự cố kết (cohesion) và tình đoàn kết trong xã hội. Rodrik cũng nhìn nhận phải cho những đơn vị kinh tế các khích động (“incentives”) dựa vào thị trường, nhà nước ít nợ, và có một chính sách tiền tệ khôn ngoan…

Như vậy, Rodrik hoàn toàn đồng ý về những nguyên tố “chung chung” để phát triển.  Nhưng ông đi xa hơn và vạch ra một sự thật: “liều lượng” của những biện pháp này, và tỷ lệ giữa chúng với nhau, có vô vàn cách biến thiên: biện pháp nào mạnh, yếu, trình tự áp dụng ra sao, thì muôn hình vạn trạng!  Chính vì thế mà chưa nghiên cứu thực nghiệm nào chứng minh được liên kết chặt chẽ, phổ quát, giữa những điểm trong “đồng thuận Washington” và tăng trưởng kinh tế!

Rodrik nhắc lại hai điều mà ai có học kinh tế bài bản đều biết:

Một là, kinh tế học tân cổ điển là rất “linh động”: nó có thể được dùng để biện hộ hầu như cho bất cứ chính sách nào!  Thực vậy, một nhà kinh tế “khôn lanh” có thể biện minh cho bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước vào thị trường bằng cách đem vào mô hình phân tích những hiện tượng ngoại ứng (externalities), hoặc hiện tượng thị trường không hoàn hảo (imperfect markets), hoặc tính tiết kiệm nhờ quy mô (economies of scale), v.v., đừng nói chi đến tình trạng thiếu thông tin mà không xã hội nào tránh khỏi.  Nói khác đi, bảo là kinh tế (tân cổ điển) bao giờ cũng bắt buộc hoàn toàn buông lỏng thị trường, tự do hóa thương mại… là không biết kinh tế học.

Hai là, đa số các nước đã phát triển thành công đều theo những chiến lược khác nhau: Đài Loan thì tài trợ xuất khẩu.  Singapore thì ưu đãi vốn nước ngoài.  Ở Bostwana thì nhà nước tiêu tiền rất nhiều, còn Chi-lê thì quốc hữu hóa công nghiệp chủ chốt của họ (là công nghiệp đồng) … Ngược lại, một quốc gia như Haiti, cắt thuế quan sát ván và bỏ quota nhập khẩu từ những năm 1990 (theo bài học “đồng thuận Washington”) thì vẫn nghèo mạt, trong lúc Việt Nam (Rodrik nêu đích danh Việt Nam!) tiếp tục thuế quan cao, kìm chế nhập khẩu, và nhà nước can thiệp rất sâu vào kinh tế lại phát triển nhanh chóng, thu hút đầu tư “như điên” (“like crazy”, chữ của Rodrik!).  Từ những kinh nghiệm ấy, Rodrik nhận xét, không nên mong chờ một “viên đạn thần” mà chỉ cần linh hoạt áp dụng một số nguyên tắc kinh tế vào hoàn cảnh đặc thù của mỗi quốc gia.

Nếu không thể dựa vào “đồng thuận Washington” để lập một gói chính sách cụ thể thì phải làm gì?  Rodrik cho rằng phát triển kinh tế thật ra là không khó, lý thuyết “chuẩn” trong kinh tế học hiện đại khá “linh động” để giúp tìm giải pháp.  Điều hệ trọng, và mới thật sự là khó, là làm sao để duy trì sự tăng trường ấy cho lâu dài và không gián đoạn.  Nói gọn, cốt yếu là làm sao để tăng trưởng được bền vững. Theo Rodrik, muốn tăng trưởng như thế đòi hỏi “cải cách thể chế cho thật đàng hoàng” (sound institutional reform).  Theo cách dùng của Rodrik (cũng như đa số các chuyên gia về kinh tế phát triển hiện nay), cụm từ này bao gồm sự giám sát tài chính (financial supervision), quản lý xí nghiệp (corporate governance), chuẩn lao động, quan hệ giữa nhà nước và kinh doanh, ít tham nhũng, an sinh xã hội, và tất nhiên cũng gồm quản lý khôn ngoan các chính sách thuế má, công phí, và tiền tệ…

Rodrik cho rằng chẩn đoán việc cần làm thì không khó. Sai lầm thường thấy là những người làm chính sách (và nhất là các cố vấn nước ngoài) thiếu linh động trong việc áp dụng những “liệu pháp” ấy.  Rodrik lấy Hàn Quốc làm ví dụ: khi IMF đặt điều kiện để “giải cứu” nước này khỏi khủng hoảng tài chính năm 1997 thì những điều kiện họ đặt là hoàn toàn phản ánh “đồng thuận Washington”, đúng như ước muốn của giới tư bản Mỹ.  Ngay đến việc “cải cách thể chế” (mà bây giờ ai cũng đồng ý là quan trọng) thì cũng phải thích ứng với hoàn cảnh địa phương: chính sự thiếu linh động thích ứng ấy đã khiến các cải cách này không đem lại kết quả như mong ước ở nhiều nước.  Chẳng hạn như các tổ chức tài chính quốc tế, khi họ khuyến cáo cải tổ thể chế, thì họ cứ ngầm cho rằng thể chế lý tưởng là thị trường kiểu Mỹ.  Qua nhiều ví dụ, Rodrik cho rằng cải cách thể chế phải là thế nào thì tùy ở địa lý và lịch sử của một quốc gia, nhất là khi quốc gia ấy đã qua một thời kỳ thuộc địa.

Có thể nói rằng Rodrik là tiêu biểu của một thế hệ kinh tế gia mới.  Theo họ, đã qua rồi thời cãi nhau là nên “mở cửa” hoặc “đóng cửa”, nhà nước “can thiệp” hoặc “không can thiệp”. “Đóng” hay “mở” không còn là một lựa chọn, cũng như không quốc gia nào có thể hoàn toàn thả lỏng nền kinh tế của mình.  Như Rodrik nói, chúng ta phải tiếp cận vấn đề với một tinh thần “cởi mở” (không theo một trường phái này, hoặc trường phái kia), thực tiễn: cố tìm ra lý do đã kìm hãm sự phát triển của một quốc gia: Có phải vì hạ tầng hụt hẫng? Vì giáo dục yếu kém? Vì quá nhiều quy định, điều tiết? – rồi tìm kiếm những đối sách thích hợp. Ông gọi tiếp cận này là “phép chẩn đoán tăng trưởng” (growth diagnostics)

Trong khi Dani Rodrik công kích toa thuốc “đồng thuận Washington” vì những áp dụng cứng nhắc của nó thì Ha-Joon Chang chỉ trích toa thuốc này từ hai hướng khác: hoặc là nó phản ảnh cái “đạo đức giả” của các nước tư bản phương Tây, hoặc là những cố vấn phương Tây (những người biện hộ nó) “cố ý” quên, hoặc thật tình không biết gì về lịch sử. (Một nhận xét nhỏ của người viết: Tuy là người gốc Hàn nhưng sở dĩ Chang có ảnh hưởng khá lớn trong giới kinh tế gia Tây phương hiện nay vì, ngoài kiến thức sâu rộng và lý giải chặt chẽ của ông, Chang sử dụng tiếng Anh tuyệt vời!)

“Đạo đức giả” bởi vì, theo Chang, thâm tâm các chính phủ Tây phương không muốn các nước khác phát triển, và họ đề nghị những chính sách loại “đồng thuận Washington” chỉ vì lợi ích của họ.  Song, phải nói, Chang không hề cáo buộc cá nhân các “cố vấn” kinh tế phương Tây có “ác ý” đối với các nước kém phát triển; ông nhìn nhận hầu hết những người này quả có hảo tâm giúp đỡ người khác (samaritans), chỉ có điều họ là những nhà hảo tâm … “tồi” (“bad samaritans” – tựa một cuốn sách của ông).  Họ giúp đỡ, nhưng họ cũng rào đón, hạn chế những chính sách mà quốc gia đang phát triển được phép theo đuổi.  Những hạn chế đó là: “giới hạn khả năng của các nước này để kiểm soát đầu tư từ ngoài vào, một sự ám ảnh quá đáng đối với tư hữu hóa, giới hạn sử dụng sở hữu trí tuệ, “phóng đại” tầm quan trọng của ổn định tài chính, quá chú ý đến tham nhũng và sự thiếu dân chủ và, cuối cùng nhưng không phải là kém quan trọng nhất, quá nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa.”

Mô hình phát triển mà Chang nghiên cứu rất kỹ là mô hình đưa đến sự “cất cánh” của Hàn Quốc từ những năm 1960 đến những năm 1980.  Theo Chang, sự thành công này diễn ra trong khi Hàn Quốc hoàn toàn không theo những nguyên tắc thị trường tự do…  Hàn Quốc đã tích cực bảo hộ các công nghiệp non trẻ của họ bằng hàng rào thuế quan, và tài trợ những công nghiệp có triển vọng phát triển.

Theo Chang, có một “bí mật” mà ít người dám nói: hầu như mọi quốc gia phương Tây mà bây giờ đã phát triển (ngay cả Anh và Mỹ) cũng theo con đường (bảo hộ công nghiệp) như Hàn Quốc!  Lấy trường hợp nước Anh chẳng hạn, bây giờ thì những người sùng bái tự do mậu dịch thường đan cử nước này như là tiên phong rộng mở thị trường (và nhờ thế mà phát triển như ngày nay), nhưng nhìn kỹ lại (và Chang, một chuyên gia về sử kinh tế, quả đã nghiên cứu rất kỹ!) thì Anh quốc chỉ cắt giảm thuế quan sau giữa thế kỷ 19, nghĩa là sau khi công nghiệp của họ đã vững vàng, các đối thủ cạnh tranh đã bị đánh gục!  Tương tự, trong suốt thời kỳ nước Mỹ công nghiệp hoá thì thuế quan của Mỹ là khá cao.  Thế thì, Chang hỏi, tại sao các nước đã phát triển này lại buộc các nước nghèo ngày nay chọn một con đường khác để phát triển?  Nói cách ấn tượng, Chang ví những nước tiền tiến ngày nay như những kẻ sau khi dùng cái “thang bảo hộ” để trèo lên cao thì “đá” cái thang này đi để những nước khác không trèo theo họ được!

Phải nhìn nhận rằng có lẽ Chang đã đi quá trớn khi có ý cho rằng các nước chậm tiến cần có chính sách trái ngược những khuyến nghị của IMF, WB, WTO.  Đặc biệt là cách ông chỉ trích sự nhấn mạnh đến việc bài trừ tham nhũng.  Tuy nhiên, khuyến nghị của Ha-Joon Chang là rất đúng:  Các tổ chức quốc tế không nên bó buộc chặt chẽ các nước đang phát triển phải theo một con đường nhất định nào đó.  Các nước này sẽ có nhiều vấp váp, lỗi lầm, đành thế, nhưng há đó chẳng là cái “giá” của sự độc lập mà mọi người đều phải tôn trọng đó sao?

Như vậy, Rodrik và Chang, tiêu biểu cho một nhóm không ít kinh tế gia kinh điển hiện nay, nhấn mạnh đến sự đặc thù của từng quốc gia: không nước nào giống nước nào, do đó không một “liều thuốc” độc nhất nào là thích hợp cho mọi trường hợp.  Đối với Rodrik, điều này chứng tỏ những phương thuốc trong “đồng thuận Washington” không phải là bao giờ cũng đáng nghe theo, và làm sao phát triển bền vững mới là quan trọng.  Còn đối với Chang thì toa thuốc đó cũng không đáng nghe theo vì lý do khác: nó là phản ảnh thái độ đạo đức giả của các nước tiền tiến, hoặc là nó chứng tỏ các “cố vấn” mà các tổ chức quốc tế, các nước tiền tiến phái sang các nước chậm tiến là không biết gì về lịch sử, dù cho những người này có “thiện chí giúp đỡ” đến cỡ nào.

Trần Hữu Dũng
Dayton
12 tháng 12, 2008

Sách điểm trong bài này:

(1) Dani Rodrik, 1997, Has globalization gone too far?, Washington DC: Institute of International Economics.

(2) Dani Rodrik, 2007, One economics, many recipes: Globalization,institutions and economic growth, Princeton: Princeton University Press

(3) Ha-Joon Chang, 2003, Kicking away the ladder – Development in historical perspective, London: Anthem Press.

(4) Ha-Joon Chang, 2003, Globalisation, economic development and the role of the state, Penang: Zen Books.

(5) Ha-Joon Chang, 2008, Bad samaritans – The myth of free trade and the secret history of capitalism, New York: Bloomsbury Press

Vì sao tăng giá lại là… kích cầu? 032109

Filed under: chính sách,kinh tế — ktetaichinh @ 8:46 pm
Tags: ,
Bộ trưởng Võ Hồng Phúc trả lời chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 20/3 – Ảnh: TP.

function ShowImageByPath(imgpath,text){var img = document.getElementById(‘imgTinChiTiet’);img.src = imgpath;var divDesc = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_TinChiTiet1_SlideShow1_divImg’);if (divDesc) {divDesc.style.display = “”;divDesc.innerHTML = text;}}function ShowHideDiv(value){var divAnh = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_TinChiTiet1_SlideShow1_divAnh’);var divVideo = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_TinChiTiet1_SlideShow1_divVideo’);if(value == ‘true’){divAnh.style.display =””;divVideo.style.display =”none”;}else{divAnh.style.display =”none”;divVideo.style.display =””;}}function InitMediaLienQuan(){var divMediaLienQuanChiTiet = document.getElementById(‘divMediaLienQuanChiTiet’);if(divMediaLienQuanChiTiet!=null) divMediaLienQuanChiTiet.style.display = “”;var divVachNganTrang = document.getElementById(‘VachNganTrang’);if(divVachNganTrang!=null) divVachNganTrang.style.display = “”;var hdLoadDiv = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_TinChiTiet1_SlideShow1_hdLoadDiv’);ShowHideDiv(hdLoadDiv.value);}InitMediaLienQuan()Trả lời chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 20/3, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc nhìn nhận tình hình kinh tế trong quý 1 là tương đối khả quan.

Ông cho biết theo số liệu mới thống kê sáng 20/3, kinh tế quý 1 tăng trưởng 3,1%, chỉ số lạm phát tháng 3 là 1,47% so với tháng 12/2008.

Trong khi đó, kết quả thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, Việt Nam là 1 trong số 12 nước có số tăng trưởng dương.

Gần hết thời gian trả lời chất vấn, sau nhiều băn khoăn lo lắng của các vị đại biểu Quốc hội về tác dụng của gói kích cầu của Chính phủ, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã công bố những “tín hiệu đáng mừng” của nền kinh tế quý 1.

Ông cũng khẳng định, Chính phủ kích cả cung lẫn cầu, tuy nhiên tác dụng cụ thể của gói kích cầu như thế nào thì cần một thời gian nữa mới có thể đánh giá được, vì chương trình chỉ vừa mới được triển khai.

Ngắn gọn, rõ ràng, Bộ trưởng Phúc trả lời nhanh chóng tất cả các chất vấn và không ngại tranh luận đến cùng những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, một số vị đại biểu vẫn “bắt lỗi” vị bộ trưởng này.

Nóng chuyện kích cầu

Kích cầu là vấn đề được các đại biểu “xoay” Bộ trưởng Phúc nhiều nhất. Trong 24 trang của văn bản chuẩn bị sẵn, Bộ trưởng cũng dành tới một nửa nói về các giải pháp kích cầu nền kinh tế, trong đó có gần nửa trang nói về kích cầu tiêu dùng.

Theo đó, các cơ quan liên quan đã trình Thủ tướng phương án điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường đối với một số mặt hàng quan trọng: tăng giá điện, dự kiến giá bán than cho các hộ sản xuất xi măng, giấy, phân bón sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường từ quý 2/2009…

Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết ngạc nhiên: “Đề nghị Bộ trưởng giải thích, chứ các giải pháp kích cầu tiêu dùng phần lớn là tăng giá, tăng giá điện, tiến tới tăng giá than, tại sao tăng giá mà lại là kích cầu tiêu dùng? Tôi chưa  hiểu và chắc là nhân dân không thích kiểu kích cầu này”.

Bộ trưởng xin đính chính lại: “Tôi chưa kịp sửa, trong báo cáo dòng đó có ghi: các giải pháp kích cầu tiêu dùng, quản lý thị trường và giá cả, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chủ chốt. Câu đó thiếu một vế. Trong báo cáo của các đồng chí thì như thế, còn trong báo cáo của tôi có sửa lại rồi. Khi kích cầu tiêu dùng giải pháp luôn luôn đi kèm là phải đảm bảo quản lý thị trường và giá cả, đồng thời phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chủ chốt”.

“Có đại biểu chất vấn về vấn đề tăng giá điện, tăng giá than, tăng giá xi măng là như thế nào? Tôi có trả lời là trong kích cầu chung một số doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chủ đạo của Nhà nước chúng ta phải có biện pháp hỗ trợ họ đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, biện pháp đó nằm trong gói đó”, ông Phúc giải thích  thêm.

Kích cả cung lẫn cầu

Cũng trong “mạch” chuyện về tăng giá, đại biểu Vũ Quang Hải (Hưng Yên) cho rằng đang kích cầu mà tăng giá điện là rất nhạy cảm, có vẻ như Chính phủ đang kích cung nhiều hơn khi hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp chứ không phải là kích cầu.

Bộ trưởng Phúc trả lời, phương án kích cầu đã được bàn rất kỹ và thấy rằng khó nhất là vấn đề doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm như thế nào, nên Chính phủ mới quyết định hỗ trợ vốn lưu động đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và cũng chỉ hỗ trợ lãi suất 1 năm thôi. Không phải chỉ có kích cung mà thực tế là cân bằng vì kích cầu đã thực hiện trước đó nhiều rồi.

“Chính phủ  vừa kích cầu, vừa kích cung chứ không chỉ kích cung”, vị bộ trưởng này khẳng định.

Công khai minh bạch nguồn vốn thế nào, có diễn ra chuyện đảo nợ không, hàng hóa sản xuất ra thị trường có tiêu thụ được không, có giảm lãi suất cho nông dân hay không?… Dồn dập các câu trả lời được đặt ra xung quanh chuyện kích cầu.

Đại biểu Vũ Quang Hải (Hưng Yên) nêu thực tế tại địa phương, trong số 4.000 doanh nghiệp và đơn vị sản xuất kinh doanh, chỉ có duy nhất 1 hợp tác xã đã tiếp cận được vốn hỗ trợ.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách  Phùng Quốc Hiển cho rằng dư luận quan tâm đến khả năng hấp thụ và khả năng giải ngân vì có biểu hiện chậm. Với 17 nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất, muốn giải ngân được thì phải cho vay được 600 nghìn tỷ đồng, đến nay mới được hơn 150 nghìn tỷ nên vấn đề giải ngân là khó khăn.

Bộ trưởng Phúc lạc quan: mới thực hiện được hơn 1 tháng mà đã được hơn 150 nghìn tỷ đồng, so sánh với dự kiến thì đảm bảo thực hiện được kế hoạch.

Trả lời chất vấn của đại biểu Ngô Văn Minh (Quảng Nam)về việc xin ý kiến Quốc hội về gói kích cầu, ông Phúc cho rằng  trong các biện pháp xử lý thì phải có những xử lý thích ứng đối với điều kiện cụ thể. Đây là giải pháp đột xuất thì phải xử lý trong tình cảnh đột xuất.

“Nếu chủ trương 17.000 tỷ này chúng ta đợi đến kỳ họp ngày 20/5 mới trình thì làm gì còn tính chất nhạy bén của chương trình chính sách, lúc đó doanh nghiệp “chết hết” rồi, tình hình kinh tế đã khác rồi chứ không phải như bây giờ”, ông nói.

Mặc dù thời gian chất vấn Bộ trưởng Phúc đã hết, song Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đại biểu Nguyễn Văn Thuận vẫn đứng lên tranh luận: “Bộ trưởng giải thích thế là không được. Ở đây rõ ràng có trách nhiệm, lỗi của chúng ta, kể cả của Chính phủ và Quốc hội. Khi phiên họp cuối năm vừa rồi nếu chúng ta lường trước sự việc như thế này thì chắc chắn trong nghị quyết thường niên chúng ta phải có một câu “giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ phối hợp với nhau để giải quyết những vấn đề khắc phục tình trạng lạm phát và chống giảm phát của chúng ta”, như thế thì tốt hơn. Cho nên vấn đề này chúng ta phải rút kinh nghiệm”.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Phúc cho rằng, tiền này  là tiền trong dự trữ ngoại hối, không phải nằm trong ngân sách, đấy là trong kết quả hoạt động ngân hàng, thì Chính phủ cần có quyền để chủ động nhưng quyền này phải được sự giám sát của Quốc hội. Cho nên, Chính phủ sẽ báo cáo với Quốc hội trong kỳ họp gần đây nhất

Rẻ và đắt 011709

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 8:13 pm
Tags:

(TBKTSG) – Trên thị trường, có rất nhiều cổ phiếu đang rẻ đi. Thế mà nhà đầu tư vẫn chưa trở lại thị trường, vẫn làm ngơ, đứng bên lề.

Nhiều người nói chứng khoán đang rẻ, quá rẻ

Trên sàn giá cổ phiếu SSI đang giao dịch quanh mức 30.000 đồng/cổ phiếu, đúng bằng giá trị sổ sách. SSI, sau khi trích dự phòng giảm giá cho danh mục đầu tư, tổng tài sản còn hơn 4.000 tỉ đồng. Là công ty chứng khoán tư nhân đầu tiên, sau tám năm trời “vật lộn” trên thị trường, nay với giá cổ phiếu như vậy, SSI đang quay trở về vạch xuất phát.

Nhà đầu tư mua cổ phiếu SSI bây giờ, đồng nghĩa với việc góp vốn gầy dựng công ty bằng mệnh giá từ đầu, trong khi SSI đã có thương hiệu, có thị phần môi giới lớn nhất.

Hay cổ phiếu SAM, đang được mua bán với giá 15.000 đồng/cổ phiếu, tính ra giá trị vốn hóa của doanh nghiệp chỉ nhỉnh hơn chút ít lượng tiền mặt 700 tỉ đồng mà công ty đang có. Trong khi đó, SAM có không ít nhà máy, cơ sở sản xuất, trụ sở ở TPHCM và Đồng Nai, trị giá hàng trăm tỉ đồng. Cứ tính theo giá cổ phiếu, giá trị tài sản nhà xưởng của SAM có lẽ bằng… zero

Hoặc cổ phiếu Ngân hàng SaigonBank (Sài Gòn Công thương) đang giao dịch trên thị trường OTC quanh mệnh giá 10.000 đồng. Giá trị sổ sách của SaigonBank là 25.000 đồng/cổ phiếu. Ngân hàng này có tài sản là bất động sản nhiều nhất nhì trong khối ngân hàng ở TPHCM, trong đó có khách sạn Riverside nằm trên đường Tôn Đức Thắng cổ nhất Sài Gòn (cổ hơn cả khách sạn Continental). Khách sạn này được mua nhiều năm trước với giá 36 tỉ đồng, giờ chắc khấu hao gần hết. Nhìn vào khối tài sản, thì cổ phiếu SaigonBank thuộc loại chứng khoán rẻ nhất thị trường.

Trên thị trường, còn nhiều, rất nhiều những cổ phiếu rẻ khác…

Thế mà nhà đầu tư vẫn chưa trở lại thị trường, vẫn làm ngơ, đứng bên lề. Nhiều người đến sàn chứng khoán chỉ quan sát và quan sát. Các tổ chức vẫn chờ đợi.

Một số tổ chức nước ngoài phân tích cổ phiếu đã rẻ, nhưng chưa quá rẻ để mua vào. Một nhà đầu tư người Nga quyết định bán hết cổ phiếu ở Việt Nam mang tiền về nước, bảo “ở thị trường chúng tôi hiện nay, P/E các công ty niêm yết khổng lồ ngành năng lượng, khai khoáng chỉ còn 1-2 lần. Không đầu tư vào đó thì vào đâu?”.

Những nhà đầu tư bên lề có lý của họ. Mua cổ phiếu phải tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhìn thấy mức sinh lời của chứng khoán trong tương lai. Tiền mặt nhiều, giá trị tài sản lớn, nhưng chiến lược kinh doanh của công ty không tốt, thì tài sản không phát huy tác dụng, tiền mặt không sinh lời, thậm chí có thể mất đi. Lúc đó giá cổ phiếu liệu có tăng? Và nếu tăng, tốc độ tăng có ngang bằng những cổ phiếu khác? Tăng trong bao lâu? Sự tăng đó, tốc độ tăng đó mới là thước đo để cân nhắc mua cổ phiếu hay không.

Thế mới có chuyện cổ phiếu giá rẻ vẫn ế! Nhưng không có nghĩa cổ phiếu đắt được tìm mua! Câu chuyện mua hay bán cổ phiếu bây giờ là thời điểm. Trong thị trường ảm đạm luôn có cơ hội. Cơ hội thể hiện ở chỗ khả năng xuống thêm nữa của VN-Index thấp hơn khả năng tăng lên.

Tuy nhiên, không ai đo được chính xác cái khả năng xuống thêm nữa ấy dài rộng thế nào và khi không đo được, họ đâm ra e ngại. Điều này làm cho “khẩu vị” thị trường thay đổi và khác đi. Nhiều người tìm mua cổ phiếu “phòng vệ” như dược, thủy điện, đồ ăn thức uống… thay vì cổ phiếu bất động sản, dịch vụ tài chính – ngân hàng. “Khẩu vị” thị trường cũng làm thay đổi vị trí các chủ thể tham gia thị trường.

Bây giờ là thời của nhà đầu tư, những người có tiền mặt, họ là người ra điều kiện, chọn lựa điều kiện. Cổ phiếu phải thế nào họ mới mua, họ không mua lấy được như trước. Cái thời tổ chức phát hành ra điều kiện đã qua rồi. Ấn định giá phát hành không phù hợp, cách thức phát hành không đúng là cổ phiếu bị nhà đầu tư “tẩy chay” liền. Có công ty không phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, lại chào bán cho 100 cổ đông bên ngoài với giá bằng 60% giá bình quân 5 phiên giao dịch gần nhất. Nhà đầu tư phản đối bằng cách bán ra liên tục, giá cổ phiếu tụt dốc không phanh. Cuối cùng công ty phải hủy kế hoạch phát hành.

Cho nên sự đắt – rẻ của cổ phiếu trở thành áng chừng, mông lung. Trong bối cảnh đó nhà đầu tư đang cần những sản phẩm tài chính an toàn. Điều này chưa thấy công ty tài chính, chứng khoán nào để ý và tung ra thị trường. Sự non trẻ của thị trường tài chính Việt Nam có lẽ nằm ở đây chăng?

Lập quỹ để đảm bảo trả nợ nước ngoài 032109

Filed under: chính sách,ngân hàng — ktetaichinh @ 7:46 pm
Tags: ,
Theo quy định, mức dự trữ tối thiểu của quỹ được tính bằng 50% tổng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm của các khoản Chính phủ vay về cho vay lại

Bộ Tài chính vừa có hướng dẫn về việc thành lập Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài. Theo quy định, mức dự trữ tối thiểu của quỹ được tính bằng 50% tổng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm của các khoản Chính phủ vay về cho vay lại.

Đây là quỹ được thành lập để tập trung các khoản thu hồi vốn cho vay lại từ nguồn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ và các khoản thu phí bảo lãnh của Chính phủ để bảo đảm việc trả nợ nước ngoài các khoản vay của Chính phủ, cũng như dự phòng bù đắp các rủi ro về tỷ giá, tín dụng, lãi suất… và xử lý các rủi ro có thể xảy ra khi Chính phủ bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay nước ngoài.

Các khoản thu của quỹ bao gồm gốc, lãi cho vay lại từ nguồn vốn ODA và các khoản vay nước ngoài khác, phí vay phải trả nước ngoài, các khoản thu phí bảo lãnh và các khoản thu hồi nợ, lãi tiền gửi và các khoản thu khác từ sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ.

Theo hướng dẫn, phần chênh lệch giữa thu và chi là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, sẽ được sử dụng để tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước; cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay có kỳ hạn tối đa không quá 3 năm; dùng cấu lại nợ, hỗ trợ các dự án cho vay lại hoặc vay có bảo lãnh chính phủ gặp khó khăn.

Ngoài ra, số tiền nhàn rỗi có thể  được gửi có kỳ hạn tại các Ngân hàng Thương mại… để đảm bảo hiệu quả và thanh khoản

Khó hoàn tất cải cách hành chính vào 2010 022509

Filed under: chính sách — ktetaichinh @ 7:44 pm
Tags:

(TBKTSG Online) – Câu chuyện Thủ tướng Việt Nam phê bình chủ tịch một tỉnh vì thực hiện chậm trễ cải cách thủ tục hành chính được nêu ra trong buổi trao đổi với Phòng Thương mại châu Âu (EuroCham) ngày 25-2 như quyết tâm của chính phủ hoàn tất cải cách thủ tục hành chính năm 2010.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã kể lại câu chuyện trên với các thành viên EuroCham.

Ông Alain Cany, Chủ tịch EuroCham tại Việt Nam – đơn vị tổ chức cuộc đối thoại hôm 25-2 tại Hà Nội, đã chọn chủ đề về cải cách thủ tục hành chính để tạo môi trường thu hút đầu tư. Ông cho rằng cột mốc năm 2010 mà Chính phủ Việt Nam đề ra trong việc hoàn tất cải cách thủ tục hành chính, là một thách thức về thời gian.

Ông Cany nêu ra nhận định trên vì hiện tại, nhiều nhà đầu tư nước ngoài thuộc EuroCham và Phòng thương mại Mỹ (AmCham) tại Việt Nam đang phải đối diện với những sự diễn dịch khác nhau về các luật giữa cơ quan trung ương và địa phương, hay nói đơn giản hơn là cách hiểu khác nhau về các văn bản luật dẫn đến các ứng xử khác nhau giữa trung ương và địa phương là một rào cản rất lớn. Điều này đã gây ảnh hưởng đến nhà đầu tư và làm chậm việc thực hiện nhiều dự án.

Ông còn tiếp tục than phiền là nhiều văn bản của EuroCham gửi cho các cơ quan chức năng ở bộ và địa phương nhưng sau 3 đến 5 tháng cũng chẳng nhận được hồi đáp. Ông đặt câu hỏi với ông Phúc rằng liệu Chính phủ có nên thành lập một ủy ban với chức năng làm cầu nối giải quyết những vấn đề giữa các nhà đầu tư với các cơ quan chức năng, thay vì “mọi đường bóng đều chuyền đến chân” Chính phủ, mà chủ yếu lại là các sự vụ hàng ngày?

Cũng chung một mối quan tâm tương tự, một đại diện của Indochina Capital nêu ra một ví dụ về việc cải cách thủ tục hành chính đang được triển khai qua dự án 30 (dự án về cải cách hành chính) của Chính phủ trên thực tế lại có dấu hiệu cải…lùi. Vị này nêu dẫn chứng rằng cách đây 2-3 năm, việc thay đổi tổng giám đốc của một công ty có vốn đầu tư nước ngoài chỉ diễn ra trong vòng 1 tuần, kể từ khi công ty đó gửi văn bản tới thông báo với sở kế hoạch-đầu tư và nhận được sự hồi đáp xác nhận. Nay phải gửi văn bản xin phép và phải thay cả giấy chứng nhận đầu tư thì thời gian bị kéo dài và quá rườm rà

Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam Peter Lysholt Hasen cho rằng Việt Nam đề ra cột mốc hoàn thành việc cải cách thủ tục hành chính giữa năm 2010 thể hiện một tham vọng và quyết tâm rất lớn đối với môi trường đầu tư nói chung. Tuy nhiên, vị đại sứ này e ngại phần cải cách ở các bộ và các địa phương, đặc biệt là nhân lực thực hiện có thể không theo kịp mong muốn và yêu cầu của Chính phủ.

Trả lời về các vấn đề nói trên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc kể câu chuyện ngay khi ông đến dự cuộc họp, cũng đã nghe phàn nàn của Chủ tịch tập đoàn Total (Mỹ) về những văn bản gửi đến các cơ quan chức năng 5 tháng nay chưa nhận được hồi âm.

Ông Phúc nói thêm rằng, về phía Chính phủ, gần đây nhất một chủ tịch tỉnh đã nhận được văn bản của Thủ tướng phê bình về việc chậm trễ thực hiện giai đoạn 1 của dự án 30. Ông khẳng định rằng còn rất nhiều việc phải làm nhưng Chính phủ quyết tâm thực hiện dự án này để xóa bỏ những bất hợp lý và tạo sự minh bạch tốt nhất cho môi trường đầu tư ở Việt Nam. Điều này là một cam kết rõ ràng.

Hiện tại, dự án 30 về cải cách thủ tục hành chính đang thực hiện những bước đầu tiên trong ba giai đoạn. Từ nay đến giữa năm 2009 phải hoàn tất việc thống kê, rà soát 6.500 văn bản các loại. Giai đoạn thứ hai từ năm 2009 đến giữa năm 2010 là rà soát theo tiêu chí các thủ tục, phân loại các thủ tục cần và không cần trong mối quan hệ với các thủ tục liên quan để thống nhất về việc giữ lại hay bãi bỏ. Từ giữa năm 2010 trở đi Việt Nam sẽ công bố danh mục các thủ tục hành chính với cam kết công khai, minh bạch và đơn giản hóa.

Ông Phúc nhấn mạnh đây là một trong năm việc lớn mà Chính phủ đề ra trong năm 2009 và năm tiếp theo. Để thể hiện quyết tâm trên, Chính phủ đã thành lập 84 tổ công tác điều phối dự án này tại các bộ, địa phương, nghĩa là sẽ có cán bộ chuyên trách, thay vì kiêm nhiệm như trước kia để tiến độ dự án được đảm bảo một cách hiệu quả.

Bộ trưởng cũng cam kết với các nhà đầu tư về việc không có chuyện Chính phủ muốn nhanh mà bộ và địa phương lại có thể chậm trễ việc này. “Muốn không để lộ trình cải cách bị phá vỡ, chũng tôi luôn mong muốn sự hợp tác của các tổ chức quốc tế và tư nhân vì đây là lộ trình, cụ thể hóa bằng nghị định nên không thể để sự chậm trễ làm cản quá trình cải cách”, ông nói.

Doanh nghiệp mong Chính phủ đẩy mạnh cải cách hành chính  032009

(TBKTSG Online) – Đại diện các doanh nghiệp, hiệp hội nước ngoài kêu gọi Chính phủ cần phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để duy trì lợi thế cạnh tranh và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư đến làm ăn tại đây.

>> Khó hoàn thành cải cách hành chính vào năm 2010

Họ đã đưa ra lời kêu gọi trên tại buổi đối thoại giữa ông Nguyễn Xuân Phúc -Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, với cộng đồng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trưa 20-3 tại TPHCM.

Trao đổi với một số phóng viên tại buổi đối thoại này, ông Phúc nói Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) và các doanh nghiệp lớn tại TPHCM và phía Nam đã nêu ra những vấn đề rất bức xúc trong cải cách hành chính, và họ cũng kiến nghị những giải pháp để làm sao thực hiện đề án 30 được hiệu quả.

Đại diện cho tiếng nói của các doanh nghiệp đến từ châu Âu, ông Cany nói rằng dù khó khăn nhưng Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính để tạo niền tin cho nhà đầu tư nước ngoài, vì nhiều nhà đầu tư vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn, nhiêu khê mỗi khi “đụng” đến vấn đề này

Ông chỉ ra rằng Việt Nam đã cải thiện luật và đang thực thi cam kết đối với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhưng các nhà đầu tư vẫn khó khăn khi thực hiện các dự án đầu tư và tham gia vào các hoạt động kinh doanh tại thị trường này, vì mỗi địa phương hiểu và thực thi luật khác nhau.

“Ví dụ cũng cùng việc xuất, nhập khẩu hàng hóa bằng container nhưng thời gian thông quan tại các cảng cũng khác nhau, có cảng mất khoảng 2 ngày nhưng có chỗ phải mất đến cả tuần vì thủ tục thiếu minh bạch,” ông dẫn chứng, và minh họa thêm rằng việc thông quan ở Singapore chỉ mất khoảng 10 phút.

Còn ông David Morton, Phó tổng giám đốc của Ngân hàng HSBC Việt Nam, nói điều cần thiết là luật phải minh bạch, rõ ràng và việc thực thi luật phải đồng nhất tại Việt Nam. Điều đó sẽ giúp thị trường này thu hút được nhiều nhà đầu tư đến để xây dựng nhà máy, tạo công ăn việc làm và giúp sản xuất những sản phẩm có giá trị hơn

Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ đang quyết liệt trong việc đôn đốc các địa phương hoàn thành mục tiêu đề ra trong các năm tới, theo ông Phúc – đồng thời cũng là Tổ trưởng tổ công tác này kiêm Chủ tịch Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính.

Ông Phúc nói rằng đến thời điểm hiện tại, các bộ, ngành và địa phương đều đang nghiêm túc thực hiện đề án 30 (đề án về cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ). Tuy nhiên, tổ công tác sẽ phải quyết tâm và nỗ lực hơn trong việc đôn đốc các địa phương đẩy mạnh cải cách hành chính

TQ mời Chủ tịch Triết sang thăm 031909

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 7:38 pm
Tags:
Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và ông Đới Bỉnh Quốc

Ông Đới đã tiếp xúc với các cấp cao nhất của Việt Nam

Trung Quốc tìm cách tác động đến lãnh đạo Việt Nam bằng các chuyến thăm cao cấp trong lúc không khí về vấn đề biển đảo ở Việt Nam đã chuyển hướng.

Đến Việt Nam tuần này, ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc gửi lời của ông Hồ Cẩm Đào mời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết “sang thăm Trung Quốc vào thời gian thích hợp”.

Ông đã hội kiến với các cấp cao nhất của lãnh đạo Việt Nam, cho dù về mặt cấp bậc ông thuộc hàm bộ trưởng và mới một năm trước còn là thứ trưởng ngoại giao.

Cũng chỉ cách đây mấy ngày, Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị có chuyến thăm sang Bắc Kinh và hội đàm với các lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc.

Các chuyến thăm cao cấp dồn dập diễn ra vào lúc căng thẳng ngoài Biển Đông gia tăng.

Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, sau vụ va chạm tàu hôm 08/03 ở điểm cách đảo Hải Nam 200 km về phía Nam và cũng không xa bờ biển Việt Nam đều tuyên bố sẽ bảo vệ “quyền lợi của mình”.

Trong cuộc gặp ở Bắc Kinh hôm 16/03 với ông Phạm Quang Nghị, nhân vật cao cấp nhất của Việt Nam sang thăm Trung Quốc sau vụ 08/03, lãnh đạo nước chủ nhà, ông Giả Khánh Lâm chỉ nhắc đến chuyến thăm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang Trung Quốc hồi tháng 6/2008 như một nền tảng của quan hệ hai bên.

Nhưng lần này, ông Đới Bỉnh Quốc đưa ra thông điệp từ cấp cao nhất là Chủ tịch đảng, chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào “mong muốn Chủ tịch nước Việt Nam thu xếp thời gian sang thăm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong thời gian thích hợp.”

Cũng vẫn theo nguồn tin từ trang web chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tiếp ông Đới Bỉnh Quốc.

Các nguồn chính thống của hai nước không nói vị khách Trung Quốc có nêu vấn đề Biển Đông hay không mà chỉ nói đến các đề tài “khu vực và quốc tế”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng được trích lời nói với ông Đới Bỉnh Quốc rằng Việt Nam và Trung Quốc “đang cùng nhau nỗ lực giải quyết những vấn đề tồn tại cùng quan tâm.”

Chính giới và dư luận

Một nhà quan sát tình hình Trung Quốc tại London nói với BBC Tiếng Việt rằng vụ tàu Imppeccable hôm 08/03 đương đầu với các tàu Trung Quốc là một tín hiệu Hoa Kỳ muốn nói với các nước trong vùng rằng về quyết tâm của Mỹ muốn duy trì Biển Đông là vùng biển mở.

Tuy vậy, sự quan tâm tăng lên của Trung Quốc đối với Biển Đông còn có nguyên nhân từ quan hệ với Đài Loan.

Theo bài của Ellis Joffe trên tạp chí Far Eastern Economic Review 18/03, vì giao lưu qua eo biển Đài Loan cải thiện nhiều từ khi Tổng thống Mã Anh Cửu lên cầm quyền ở đảo quốc, “sự chú ý của Trung Quốc về mặt quân sự chuyển khỏi Đài Loan”.

Sẽ không là chuyện ngạc nhiên nếu Trung Quốc muốn duy trì tình trạng hiện hữu, ít ra là về ngắn hạn.

Từ trước tới nay, vẫn theo Ellis Joffe, chính căng thẳng với Đài Loan là lý do phe quân đội Trung Quốc tăng cường vũ trang.

Chính sách quân sự mới buộc Trung Quốc “phải liên tục báo động chống lại điều họ cho là thách thức và chiến thuật nắn gân của Hoa Kỳ như trong vụ tàu do thám Mỹ vừa qua”.

Tuy vậy, các nhà quan sát cũng đồng ý rằng Trung Quốc phải cân bằng hai xu thế.

Một là duy trì đà tăng cường vũ trang vốn đã khởi động từ vài năm trước, đi cùng với tâm lý dân tộc chủ nghĩa dâng cao.

Mặt khác, Trung Quốc cũng biết năng lực quốc phòng, nhất là hải quân còn xa mới đương đầu được với Hoa Kỳ trên đại dương.

Chính sách “bảo vệ Đài Loan” cũng chỉ chuẩn bị cho khả năng ngăn cản không cho Hải quân Hoa Kỳ vào bảo vệ đảo quốc một khi Bắc Kinh muốn tiến chiếm.

Bởi thế, sẽ không là chuyện ngạc nhiên nếu Trung Quốc muốn duy trì tình trạng hiện hữu, ít ra là về ngắn hạn.

Status quo

Một khi tất cả các nước trong vùng, nhất là Việt Nam, công nhận quyền lưu thông tự do tại Biển Đông, được hiểu là cho mọi nước, trong đó Hoa Kỳ là vị khách mạnh nhất, thì chiến lược “ngăn ngừa xâm phạm” của Trung Quốc sẽ sụp đổ.

Như thế, rất có thể vì sau khi Philippines tăng cường sức ép lên Trung Quốc, kêu gọi Hoa Kỳ vào cuộc thì Trung Quốc đã ngưng các chuyến thăm cao cấp sang Philippines nên cần phải chú ý hơn đến Việt Nam nhằm không để Việt Nam đi theo con đường của Philippines.

Nhưng có vẻ như tác động ngoại giao của Trung Quốc hơi muộn sau khi hội thảo tuần này do Học viện Quan hệ Quốc tế tại Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức đã nói Biển Đông phải đặt trong tổng thể chính sách đối ngoại toàn diện, bao gồm cả an ninh, phát triển và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam.

Kiến nghị nói cần xây dựng được hồ sơ pháp lý đầy đủ về vấn đề này dùng để đấu tranh chính trị, tuyên truyền, đàm phán và lúc cần cho việc phân xử tại tòa án quốc tế.

Đặc biệt, kiến nghị yêu cầu Quốc hội Việt Nam cần thông qua luật về chủ quyền đối với Hoàng Sa – Trường Sa và chính phủ cần có chiến lược biển toàn diện và đồng bộ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong đó chú ý đến việc hiện đại hóa quân đội nhằm tăng cường sức mạnh răn đe.

Có vẻ như chính giới Việt Nam đã tự tin hơn sau khi hoàn tất công cuộc đàm phán biên giới trên bộ với Trung Quốc nên có thể xoay sang tập trung vào chủ đề lãnh hải.

Mặt khác, sự tự tin cũng đến từ chỗ các giới quyết định chính sách trong nước có thể dựa được vào dư luận trong nước và khu vực vốn e ngại bấy lâu nay sự vươn ra đại dương của Trung Quốc về quân sự.

Việt Tân điều trần trước quốc hội Úc 032109

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 7:30 pm
Tags: ,

Đại diện của Việt Tân điều trần trước Quốc hội Úc ngày 19.3

Ban lãnh đạo đảng Việt Tân vừa xuất hiện trong cuộc điều trần của quốc hội Úc thảo luận các biện pháp tăng cường nhân quyền cho vùng Á châu Thái Bình Dương.

Trong phòng họp của Tiểu ban Nhân quyền người ta thấy ông Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch Đảng, bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong, Ủy viên ban Chấp hành của Việt Tân. Và ông Trương Đức, đại diện cho đảng Việt Tân tại Úc.

Cuộc điều trần do Ủy ban Phối hợp Ngoại giao, Quốc phòng và Mậu dịch của Quốc hội liên bang Úc điều phối.

Ủy ban này đề nghị tiểu ban Nhân quyền tổ chức ba buổi điều trần để thảo luận và lắng nghe đề nghị của các tổ chức hoạt động nhân quyền tại Úc.

Ủy ban hy vọng các ý kiến đóng góp này sẽ xuất hiện trong bản thẩm định chung gửi lên Bộ Ngoại giao nhằm cập nhật cách nhìn và đường hướng giải quyết nhân quyền của Úc.

Úc có chính phủ mới từ tháng 11 năm ngoái. Cuộc điều trần là sáng kiến của ngoại trưởng Úc, ông Stephen Smith, trong chính phủ Lao Động, nhằm tìm ra cách tiếp cận tốt nhất về nhân quyền trong vùng Á châu.

Theo bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong, cuộc điều trần sẽ giúp bộ Ngoại giao Úc nghiên cứu cách bảo vệ nhân quyền tại Á châu Thái bình Dương, hy vọng qua đó sẽ có những đối sách thích đáng để cải thiện tình trạng trong vùng.

Đối thoại Úc Việt

Giữa Úc và Việt Nam, hàng năm vẫn có đối thoại về nhân quyền, tổ chức luân phiên tại thủ đô hai nước.

Úc muốn dùng cơ chế này để tác động đến nhận thức và hành động trong chính giới Việt Nam để đưa sự hiểu biết và tôn trọng nhân quyền với mặt bằng chung trên thế giới.

Ông Phong cho rằng đây là cơ cấu người Việt hải ngoại nên khai thác, và tiếp tục đưa kiến nghị để chính phủ Úc thúc ép Việt Nam thay đổi nhận thức về nhân quyền ở trong nước.

Ngoài Việt Nam, Úc còn quan tâm đến nhân quyền vùng Á châu Thái Bình Dương. Nhiều người nói Úc là quốc gia Tây phương đi đầu trong việc phối hợp tìm ra cơ cấu hữu hiệu hơn nhằm giảm bớt các vụ đàn áp về nhân quyền trong vùng.

Dù Úc không nằm trong khối Asean, nhưng lại liên hệ chặt chẽ với các nước thành viên của Asean, ông Phong và đảng Việt Tân đề nghị Úc nên gắn bó với quá trình thành lập Ủy hội Nhân quyền Asean để chia sẻ kinh nghiệm và tăng thêm tính hiệu quả của tổ chức.

Ngày hôm nay Việt Nam vẫn là quốc gia đàn áp nhân quyền gần như là tệ nhất trên thế giới.

Nguyễn Đỗ Thanh Phong

“Mục đích cao nhất của Úc là đưa ra thêm nhiều đóng góp vào việc cải thiện nhân quyền trong vùng,” ông Phong nói.

Sau buổi điều trần ban điều hành đảng Việt Tân có cuộc gặp với Bộ Ngoại giao Úc. Theo chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm, đoàn Việt Tân được thông báo về hoạt động của Bộ Ngoại giao Úc tại Việt Nam thời gian qua, và một số dự định của Úc trong tương lai.

Ông Phong thừa nhận Úc có đóng góp đối với nhân quyền Việt Nam trong quá khứ. Cuộc gặp, theo ông, là cơ hội kêu gọi Úc làm nhiều hơn.

“Những đóng góp đó vẫn chưa đủ. Ngày hôm nay Việt Nam vẫn là quốc gia đàn áp nhân quyền gần như là tệ nhất trên thế giới.”

“Cho nên nước Úc, một quốc gia lớn trong vùng, cần gia tăng áp lực, hoặc đưa ra chương trình cụ thể để ép buộc Cộng sản Việt Nam chấp nhận thay đổi trong nhu cầu hội nhập thế giới.”

Việt Tân được nhiều người đánh giá là tổ chức chính trị có thế lực và quy củ hàng đầu trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Tuy vậy, những liên hệ với người sáng lập, Hoàng Cơ Minh (qua đời năm 1987), là yếu tố gây tranh cãi, ngay cả trong người Việt ở Mỹ.

Chính phủ Việt Nam gọi Việt Tân là tổ chức “khủng bố”, trong khi đảng này nói chủ trương của họ là “tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện để xây dựng dân chủ và canh tân Việt Nam”.

Asia money rates, bond risk drop as US FED may ease credit crunch 032109

VNBusinessNews – Asia-Pacific money market rates fell and the cost of protecting bonds from default dropped on optimism the Federal Reserve’s plan to buy more than US$1 trillion of bonds will ease a global credit crunch

Australian interbank lending rates fell 3 basis points to a record 3.01%. Japanese companies with the strongest credit ratings paid the least to borrow since May 2006 and traders reversed bets for the London interbank offered rate to rise after the US Federal Reserve decision. The implied yield on eurodollar futures expiring in June is 1.20%, from 1.38% on March 17. Libor yesterday was at 1.29%.

‘The US Federal Reserve decision has had a big effect on risk sentiment,’ said Imre Speiser, a market strategist in Wellington at Westpac Banking Corp ‘The move has engendered greater confidence into funding markets and Libor should trend lower towards 1.15% over the next week.’

The US Federal Reserve’s decision comes after central banks in the UK, Switzerland and Japan accelerated bond purchase to revive credit markets that remain dislocated after the September collapse of Lehman Brothers Holdings Inc. The US central bank said yesterday it will spend US$300 billion buying Treasury notes and as much as US$750 billion more on mortgage securities.

The US Federal Reserve has now committed to buy or loan against everything from corporate bonds and consumer credits to government debt, after cutting its benchmark interest rate to as low as zero failed to end the credit crunch.

Japan, Australia

The Bank of Japan yesterday raised monthly purchases of government bonds from banks to 1.8 trillion yen (US$18.3 billion), a day after saying it would make subordinated loans to help banks replenish capital. Australia’s central bank today reiterated that it has scope to add to a record 4%age points of interest-rate cuts since September.

Japanese three-month commercial paper yields for A1+-rated corporations slid two basis points to 0.275% at 1 p.m. in Tokyo, according to brokerage Tokyo Tanshi Co The Tokyo interbank offered rate for three-month yen loans declined for a seventh day, to 0.68%, the lowest since June 2007.

The three-month Hong Kong interbank rate in local dollars dropped for the first time in three days, sliding three basis points to 0.90. Singapore’s similar rate for US currency credits fell six basis points to 1.24%.

The rate on South Korean 91-day certificates of deposit, a key money market yield, fell to a record 2.43% yesterday, according to a data compiled by Bloomberg. Today’s rate was not available yet.

Korean Injections

‘There is a surplus of funds in short-term money markets in Korea after the central bank’s aggressive injection,’ said Cho Jae Young, an official at Shinhan Bank’s money market team in Seoul. ‘What is problematic is that money in short-term market hasn’t been lent to the private sector due to rising credit risk.’

South Korea’s authorities injected US$39 billion into the financial system to thaw credit markets and set up a 20 trillion won (US$14 billion) fund to replenish bank capital as bad loans increase. The Bank of Korea kept its benchmark interest rate unchanged at a record-low 2% on March 12.

The cost of protecting Asia-Pacific bonds from default extended declines from record-highs on speculation investors’ appetite for high-yielding assets will revive.

The Markit iTraxx Japan index of credit-default swaps fell 10 basis points to 4.75%age points at 9:55 a.m. in Tokyo, Barclays Capital prices show. The Japanese benchmark has fallen from a record 565 basis points on March 12, according to CMA DataVision. The Markit iTraxx Australia fell 15 basis points to 3.75%age point, Citigroup Inc. data show.

‘Eat Risk’

‘The message embedded in this latest extreme policy move, aka the Quantitative Easing Diet: Eat risk! It’s good for you whether you like it or not,’ Brett Williams, BNP Paribas SA’s Hong Kong-based head of Asia credit research, wrote in a note to clients today.

The Markit iTraxx Asia index of 50 investment-grade borrowers outside Japan fell 7.5 basis points to 385 as of 9 a.m. in Hong Kong, according to ICAP Plc.

Contracts on BHP Billiton Ltd fell 7.5 basis points to 242.5, according to Citigroup. BHP, the world’s largest mining company, plans to sell US$3 billion of five-and 10-year notes in its first bond sale since 2007, according to a person familiar with the transaction.

Nissan Bonds

The cost to protect Nissan Motor Co.’s debt from default for five years was unchanged at 700 basis points, Barclays prices show. Nissan is selling a US$1.3 billion package of securities backed by auto loans in the first offering eligible for a US Federal Reserve programme to unfreeze consumer lending, a person familiar with the transaction said.

Credit-default swaps on the Markit CDX North America Investment-Grade index of 125 companies in the US and Canada fell 7.5 basis point to 228.75 yesterday, according to Barclays. In London, the Markit iTraxx Europe index of 125 companies with investment-grade ratings rose 3 basis points to 192, JPMorgan Chase & Co prices show.

Credit-default swap indexes are benchmarks for protecting bonds against default, and traders use them to speculate on changes in credit quality. An increase in the price suggests deteriorating investor perceptions of credit quality and a decrease indicates improvement.

The contracts pay the buyer face value in exchange for the underlying securities if a borrower fails to adhere to its debt agreements. A basis point, or 0.01%age point, is worth US$1,000 on a swap that protects US$10 million of debt. (Bloomberg

Next Page »

Blog at WordPress.com.