Ktetaichinh’s Blog

March 19, 2009

Central bank weakens dong to drive exports, economy 012909

The central bank Thursday fixed the dong’s rate 3 percent down against the dollar to boost exports, as the country’s economy expanded at its slowest pace in nine years and the trade deficit widened.

The State Bank of Vietnam fixed the daily reference rate at 16,989 dong to the dollar from 16,494 Wednesday.

Policy makers have retained the currency trading band at 3 percent a day, said Nguyen Quang Huy, head of the bank’s foreign-exchange department.

Gross domestic product grew 6.2 percent in 2008, after expanding by a record 8.5 percent last year, the government said in a statement Wednesday.

Export growth slowed in the last three months as stagnating global economies cut back on the import of Vietnamese garments and coffee as currencies in neighboring markets weakened.

Vietnam’s currency has fallen 5.5 percent this year against the dollar compared with an 18 percent slide in the Indian rupee, 14 percent decline for the Indonesian rupiah and a 13 percent slump in the Philippine peso.

The move is necessary since the government is trying to boost exports, said Do Ngoc Quynh, chairman of the Vietnam Bond Forum in Hanoi and head of currency and debt trading at the Bank for Investment and Development of Vietnam, the nation’s second-biggest lender by assets.

“Other currencies in the region have declined considerably against the dollar, but the dong hasn’t dropped that much.”

The currency has tumbled 35 percent since the end of 1994.

“The State Bank of Vietnam will take necessary action to maintain the dong at this rate,” the bank said in a statement on its website.

Following the central bank’s decision, local banks started adjusting their foreign exchange rates.

The dong was quoted at 17,260/17,400 per dollar on Vietcombank’s website Thursday afternoon, up from 16,985/16,989 Wednesday.

The dong traded at 17,200 to 17,300 a dollar at Vietinbank, or Vietnam Bank for Industry and Trade.

Free-market rate

At moneychangers’ in Hanoi, or the so-called black market, the currency traded at between 17,230 and 17,520, local newswire VnExpress reported.

Commercial banks said their dollar supply has fallen since moneychangers offer higher rates for the greenback.

Nguyen Phuoc Thanh, general director of Vietcombank, the country’s largest lender, said dollar banks’ inflows have tumbled since export earnings are down as are remittances, foreign portfolio investment and tourism arrivals.

He admitted that the dollar is being traded at much higher prices on the black market than at banks, who are unable to attract sellers despite fixing the buying price at the allowed ceiling rate.

Meanwhile, the plunge in global prices has boosted imports, according to Thanh.

Nguyen Duc Vinh, chief executive officer of the Hanoi-based Technological and Commercial Joint Stock Bank, or Techcombank, said after the banks’ recent cuts in lending rates and extension of loans, more import contracts are being signed, keeping demand for the dollar high.

A HCMC-based footwear company said it had failed to buy US$50,000 to pay for imported consignments despite continuously contacting banks for the past week.

While commercial banks do not have enough dollars for selling to businesses, they have a surplus of dollars set aside for lending after some of their customers failed to prove they could raise dollars for repayment.

Bui Thi Mai, general director of the Hanoi Building Bank, or Habubank, said, as a result, though banks are unable to find customers for dollar loans, they remain cautious.

“If there is an assurance that the exchange will be stable at a certain level, businesses and banks can calculate their risks and the dollar supply will increase since speculation will reduce,” she explained.

Trade deficit widens, inflation slows

Vietnam’s trade deficit widened to a record $17 billion in 2008, from $14.1 billion last year, according to preliminary figures provided by the government Thursday.

The current account deficit may grow to $12.1 billion, or 12.3 percent of GDP, next year from an estimated 11.7 percent this year, according to a Credit Suisse Group research report dated December 17.

“The dong is facing downward pressure due to the current-account deficit,” said Yuichi Izumi, an economist at Nomura Securities Co. in Tokyo. “The State Bank wants to guide the dong lower to support exports.”

A slowdown in the rise of consumer prices may have provided more room for the central bank to weaken the dong.

Consumer prices are estimated to fall 0.68 percent this month from November, only the third decline since March 2007, on the back of lower food and fuel prices, according to figures released by the General Statistics Office Thursday.

Consumer prices rose 19.9 percent in December from a year earlier. The annual inflation rate was 24.2 percent in November after reaching 28.3 percent in August, the highest since at least 1992.

Overall, food and beverage prices, which account for nearly 43 percent of the goods basket used to calculate the consumer price index, fell 0.13 percent in December, with grain prices declining 2.36 percent.

Prices in the category including transportation fell 6.77 percent from November, according to the statistics office report.

Plummeting world oil prices have led to a sharp cut in retail prices for gasoline.

The government has cut petrol prices twice this month, adding to a series of reductions since August that have left the most commonly used grade of gasoline 42 percent cheaper from its peak last July.

Prices in the category including construction materials declined 2.36 percent month-on-month, the office said.

Domestic steel companies are facing difficulties due to slowing demand, with the government using higher import tariffs to allow producers to clear stockpiles, the Vietnam Steel Association said last week.

Property projects are short on working capital, economist Scott Robertson of the HCMC-based Dragon Capital wrote in a note last week.

Slowing inflation has allowed the central bank to cut its benchmark interest rate by 5.5 percent since October to 8.5 percent now.

“The government’s cooling measures were perhaps too successful,” Joseph Lau, a Hong Kong -based economist at Credit Suisse Group AG, wrote in a note dated December 17. “Domestic demand is reportedly waning.”

But consumer prices are expected to increase in January, when demand surges during the Lunar New Year festival (Tet) late next month, economist Le Dang Doanh told Thanh Nien Daily Thursday.

The consumer price index (CPI) is estimated to have risen 22.97 percent this year, down from the government’s initial forecast of 24 percent.

“Decelerating inflation is a good sign, but the economy still shows worrying signs, as the trade deficit is high and government revenues are down due to decreasing prices of some major export items like rice, rubber and crude oil,” he said.

The government may keep the inflation rate down to a single-digit level in 2009, but it has to assign top priority to combating an economic slowdown, Doanh said.

“With commodity prices falling, headline inflation is expected to drop to single digits by end-2009, although core inflation (excluding raw food and energy) could fall more gradually,” Ben Bingham, Senior Resident Representative of the International Monetary Fund, said in a statement December 18.

Reported by Thanh Nien staff (With inputs from Bloomberg)

2,4 triệu người nghèo hưởng lợi 011609

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:00 pm
Tags: ,
Người dân tộc ở Tây Bắc sẽ được hưởng lợi từ chương trình dành cho người nghèo. Ảnh: Minh Tâm – TTXVN
Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội cho biết, 2,4 triệu người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được hưởng lợi thông qua nhận hỗ trợ trực tiếp.

Tại lễ Công bố chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, ngày 15/1, lãnh đạo Bộ cho biết, gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng được hưởng 200.000 đồng/ha/năm.

Hộ nghèo được giao rừng sản xuất được hưởng toàn bộ sản phẩm trên diện tích được giao; được hỗ trợ lần đầu giống cây lâm nghiệp theo quy trình trồng rừng sản xuất từ hai đến năm triệu đồng/ha.

Chính phủ sẽ tổ chức hội nghị riêng cho 61 huyện nghèo để triển khai kế hoạch hành động cụ thể -Ông Bùi Hồng Lĩnh – Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH

Hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng được trợ cấp thêm 15 kg gạo/khẩu/tháng trong thời gian chưa tự túc được lương thực và được hỗ trợ 5 triệu đồng/ha/hộ.

Đối với hộ nghèo, ngoài được hưởng theo quy định còn được hỗ trợ phát triển chăn nuôi, nuôi trồng và phát triển nghề; được vay tối đa năm triệu đồng/hộ với lãi suất 0% trong hai năm để mua giống gia súc hoặc gia cầm. Được hỗ trợ một triệu đồng/hộ để làm chuồng trại chăn nuôi hoặc tạo diện tích nuôi trồng thủy sản với mức hai triệu đồng/ha cỏ.

Riêng với hộ nghèo ở thôn, bản vùng giáp biên giới trong thời gian chưa tự túc được lương thực thì được hỗ trợ 15 kg gạo/khẩu/tháng.

Ngoài ra, người nghèo tại 61 huyện nghèo còn được hỗ trợ sản xuất nông-lâm nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương.

Vì chương trình xuất phát từ nhiệm vụ phải đảm bảo đời sống cho người nghèo, hỗ trợ sản xuất và đào tạo nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện tốt nhất từ huyện đến xã nên các chế độ chính sách sẽ được phân cấp mạnh cho các huyệ – Ông Ngô Trường Thi – Chánh văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo

Các huyện nghèo được xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phù hợp đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng.

Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đặt mục tiêu đến năm 2010, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%; cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; hoàn thành giao đất giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân nơi không có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để đảm bảo đời sống.

Đến năm 2015, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống bằng mức trung bình của tỉnh; tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư.

Đến năm 2020, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống bằng mức trung bình của khu vực; giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất, việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống người dân ở các huyện nghèo gấp năm đến sáu lần so với hiện nay.

Theo thống kê, cả nước hiện có 61 huyện (797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%.

Các huyện này đều ở vùng núi, địa hình chia cắt; diện tích tự nhiên rộng nhưng diện tích canh tác ít; thời tiết không thuận lợi, thường xảy ra lũ quét, lũ ống, dân số 2,4 triệu người, trong đó đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, sống phân tán, thu nhập thấp.

Giảm tiền thưởng, chi tiêu 2008

Filed under: khủng hoảng,Uncategorized — ktetaichinh @ 8:59 pm
Các công ty và người dân tại nhiều nước châu Á đang phải thắt lưng buộc bụng dịp Tết Kỷ Sửu năm nay thay vì vung tiền hoành tráng như mọi năm.

Hãng tin Reuters cho biết ở một số nước và lãnh thổ Đông Á, các công ty đã buộc phải bỏ những bữa tiệc tất niên xa xỉ và cắt giảm đáng kể tiền thưởng tết cho nhân viên. “Sẽ rất khó khăn về mặt tâm lý – ông Hsieh Chua-chih, tổng thư ký Công đoàn Đài Loan, thừa nhận – Các nhân viên sẽ cảm thấy rất khó chấp nhận bởi đây là dịp lễ quan trọng và họ muốn mang tiền về cho gia đình”.

Giảm tiền thưởng, chi tiêu

Trước đây vào dịp tết, các công ty Đài Loan thường tổ chức tiệc tùng tiêu tốn hàng triệu USD và thưởng cho nhân viên những phong bì tiền dày cộp, cộng với những thiết bị điện tử đắt tiền như tivi, dàn loa nghe nhạc… Tuy nhiên, năm nay xuất khẩu Đài Loan sụt tới 42%, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao nhất trong vòng năm năm qua, sẽ không còn những thú vui xa xỉ đó nữa. Hon Hai, một công ty công nghệ cao, tuyên bố sẽ chỉ mở một bữa tiệc nhỏ thay vì đại tiệc trị giá 6 triệu USD như năm ngoái. Các công ty khác cũng có biện pháp tương tự.

Reuters cho biết tại Hàn Quốc, Hãng Korean Airlines và nhiều ngân hàng hàng đầu tuyên bố sẽ cắt tiền thưởng tết cho nhân viên, trong khi Tập đoàn viễn thông KT Corp thì đóng băng luôn cả quỹ tiền lương. Tập đoàn khổng lồ Samsung cũng công bố kế hoạch giảm tiền thưởng tết cho nhân viên do lợi nhuận sụt xuống mức kỷ lục.

Ở Trung Quốc, nhiều công ty đã xóa bỏ tháng lương thứ 13 truyền thống hằng năm. Ngân sách cho tiệc tùng dịp tết giảm trung bình 20-30%. Ở Đài Loan, khoảng 20% công ty cắt hoàn toàn tiền thưởng tết. “Bỏ tiền thưởng tết sẽ cứu được nhiều công ty khỏi cảnh khốn đốn về tài chính” – ông Daniel Soh, nhà kinh tế Hãng Forecast Ltd ở Singapore, nhận định.

Chính quyền các nước kêu gọi các cơ quan công quyền thực hành tiết kiệm tối đa. Ở Trung Quốc, nơi các cơ quan nhà nước thường tổ chức tiệc tùng linh đình và vung vãi quà cáp, cũng có yêu cầu quan chức nhà nước tránh tiêu thụ quá mức trong dịp tết. Tân Hoa xã dẫn tuyên bố của Ủy ban giám sát kỷ luật trung ương cảnh báo ai sử dụng tiền công quỹ để tổ chức yến tiệc, du lịch và mua quà cáp sẽ bị trừng phạt thích đáng.

Theo Asiaonline, tại Singapore, chính quyền cho biết ngân sách tổ chức lễ mừng Tết Kỷ Sửu sẽ bị cắt giảm 20% (tương đương 285.000 USD), xuống còn 1,1 triệu USD do rất nhiều nhà tài trợ đã giảm đóng góp hoặc không tham gia. Như vậy, màn bắn pháo hoa năm phút hoành tráng mọi năm của Singapore sẽ giảm chỉ còn ba phút.

Người dân tiết kiệm

Trước tình cảnh đó, người dân cũng cắt giảm đáng kể chi tiêu cho dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm. Đối với nhiều người, trước tình cảnh kinh tế ảm đạm, chỉ cần giữ được việc làm đã là món quà lớn nhất cho dịp Tết Kỷ Sửu. “Tất cả mọi người đều biết rằng ưu tiên hàng đầu hiện nay là giữ được công việc chứ không phải là những mơ ước viển vông” – Reuters dẫn lời anh Gao, một nhân viên website ở Bắc Kinh, tâm sự. Tết năm nay, tiền làm thêm ngoài giờ của anh sẽ không còn. “Tôi từng nghĩ đến chuyện kiếm việc làm tốt hơn, nhưng giờ tôi hạnh phúc vì có người trả lương cho tôi”.

Tiền ít nên nhiều người dân châu Á đã loại bỏ kế hoạch đi du lịch dịp tết hay ngừng vung tiền mua những đồ đạc đắt giá như hàng điện tử. “Trong dịp lễ hội mùa xuân, chúng tôi sẽ đến một nơi nào giá rẻ một chút – và chỉ ở đó ít ngày thôi – anh Yan Jen-liang, một công nhân thép ở Đài Loan bị mất tiền thưởng tết, cho biết – Có lẽ gia đình tôi chỉ về vùng nông thôn dạo chơi”.

Chủ dự án căn hộ cao cấp tung chiêu hút khách 011609

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:58 pm
Giữa lúc địa ốc trầm lắng, đại gia bất động sản vẫn đeo bám thị trường để bán hàng. Các dự án Riverside Residence Phú Mỹ Hưng, Ehome Nam Long giai đoạn 2 và Saigon Pear đều có doanh số bán hàng đạt 60% trở lên.

Trong lúc nhiều doanh nghiệp địa ốc đang gặp khó khăn vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm, mãi lực hầu như gần bằng 0 thì một số tên tuổi “nặng ký” trong ngành vẫn vượt khó thành công. Điểm chung của các dự án trên là thương hiệu mạnh, có giá cả ổn định trên thị trường, tiến độ xây dựng được đảm bảo, chủ đầu tư biết thuyết phục khách hàng tiềm năng bằng chiến lược kinh doanh hiệu quả.

Ngày 10/1, Phú Mỹ Hưng công bố dự án Riverside Residence và chỉ trong một ngày đã bán hết 133 căn hộ đầu tiên, tức 100% số căn hộ trong giai đoạn 1. Căn hộ cao cấp này được chủ đầu tư công bố giá bán 35 triệu đồng mỗi m2, đặt cọc trước 100 triệu đồng. Để kéo khách trong thời điểm tình hình tài chính khó khăn, doanh nghiệp này đã chia tiến độ thanh toán thành nhiều đợt với sự hỗ trợ của 12 ngân hàng, thời hạn vay tối đa 20 năm, lãi suất dao động từ 11,4 đến 12,75% một năm.

Quang cảnh khách hàng làm thủ tục đặt cọc căn hộ Riverside Residence của Phú Mỹ Hưng ngày 10/1.

Nhanh chân hơn, ngày 20/12, Nam Long công bố 80 sản phẩm trong dự án Ehome giai đoạn 2 và tiêu thụ trên 60% căn hộ trong 2 tuần. Trước đó, hồi tháng 6/2008, Nam Long đã chào hàng căn hộ Ehome giai đoạn 1 và bán hết 100% số căn hộ sau 1,5 tháng công bố. Dòng sản phẩm này đang chiếm lĩnh thị trường nhà cho người có thu nhập trung bình và ổn định trong năm 2008, dự báo sẽ tiếp tục được tiêu thụ mạnh trong năm 2009. Mỗi căn hộ Ehome có diện tích 50-60 m2, trị giá 500-600 triệu đồng.

Lãnh đạo tập đoàn Nam Long Group cũng khẳng định, sẽ dành ưu đãi đặc biệt cho các tập thể doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu mua Ehome vì đây là đối tượng tiềm năng của phân khúc này.

Hồi cuối tháng 12, Saigon Pearl cũng vừa hoàn tất buổi lấy ý kiến 500 khách hàng để chuẩn bị cho đợt bàn giao căn hộ Ruby trong tháng 1. Theo thống kê của Phòng kinh doanh Saigon Pearl, doanh nghiệp đã bán 90% số lượng căn hộ, trong đó khách nước ngoài chiếm 3%. Hiện nay chủ đầu tư chỉ hỗ trợ khách hàng chuyển nhượng, sang tên nếu có nhu cầu và hoàn thiện các dịch vụ, tiện ích cũng như tìm đơn vị quản lý chuyên nghiệp phục vụ cộng đồng sinh sống trong tòa nhà.

Nhận xét về hiện tượng này, chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển cho rằng, tuy một số dự án được khách hàng hưởng ứng mạnh mẽ nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt, hoàn toàn không phải là tín hiệu lạc quan cho cả thị trường địa ốc.

Theo ông Hiển, căn hộ Phú Mỹ Hưng thuộc dòng sản phẩm cao cấp, có giá ổn định trên thị trường nhưng chỉ tung ra số lượng ít (hơn 130 căn) nên mức tiêu thụ 100% là hoàn toàn hợp lý. Thói quen của giới nhà giàu tại Việt Nam tính từ tầng lớp trung lưu đến thượng lưu vẫn ưa chuộng đầu tư vào bất động sản cao cấp.

Tương tự đối với căn hộ Ehome, theo chuyên gia này, chiến lược bán hàng chia thành nhiều đợt nhỏ với số lượng có hạn là một cách thăm dò thị trường hiệu quả cộng thêm sản phẩm vừa túi tiền nên mãi lực chiếm 60-80% là bình thường. Nguyên nhân sâu xa do dòng sản phẩm nhà giá trung bình còn hạn chế trên thị trường.

Quan điểm của ông Hiển, thương hiệu mạnh như Phú Mỹ Hưng hay Saigon Pearl chỉ ảnh hưởng đến tâm lý đại đa số khách hàng thuộc giới nhà giàu thích đổ tiền vào địa ốc. Riêng những người có thu nhập dưới 15 triệu đồng mỗi tháng vẫn không kén cá chọn canh khi mua nhà, miễn là giá cả hợp lý.

Nhiều chuyên gia bất động sản dự báo, năm 2009 là thời cơ cho các doanh nghiệp địa ốc có tầm nhìn trung và dài hạn đẩy mạnh triển khai dự án khả thi, tung sản phẩm. Đây là lúc giới kinh doanh bất động sản cần xây dựng, củng cố niềm tin vững chắc cho khách hàng và nhà đầu tư bằng khung giá nhà đất mới ổn định, uyển chuyển hơn, đủ sức thuyết phục khách hàng rót tiền đầu tư lâu dài.

Tìm địa chỉ sinh lời cho đồng tiền 122408

Filed under: kinh tế,Uncategorized,đầu tư — ktetaichinh @ 8:58 pm

Tìm địa chỉ sinh lời cho đồng tiền trong kinh tế thị trường là rất quan trọng. Trong điều kiện có sự biến động rất nhanh, phức tạp và khó lường như hiện nay, việc tìm đúng địa chỉ cho đồng tiền sinh lời lại càng có ý nghĩa.

Trước hết hãy xem sự biến động giá trên một số thị trường trong 3 tháng qua (xem biểu đồ). Như vậy, trong 6 kênh đầu tư (có chuyên gia gọi là 6 “ông hàng xóm”) trên thì 4 kênh bị lỗ, trong đó kênh chứng khoán bị lỗ nặng nhất, tiếp đến là kênh bất động sản, kênh đầu tư vào vàng và kênh giá tiêu dùng cũng bị lỗ.

Chỉ còn có 2 kênh là có lãi, trong đó kênh tiết kiệm là có lãi hơn cả với mức tăng 2,5%.

Đầu tư vào USD có là tối ưu?

Tuy nhiên, điều quan trọng khi chọn kênh đầu tư để đồng vốn sinh lời là dự đoán được sự biến động trong thời gian tới. Kênh hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng khả năng tháng 1, tháng 2 sẽ tăng bởi có hai Tết Dương lịch và Tết Âm lịch, nhưng sẽ tăng thấp, thậm chí còn tăng thấp hơn cả tốc độ tăng cùng kỳ của năm 2001 (năm 2001 tháng 1 tăng 0,3%, tháng 2 tăng 0,4%, bình quân 1 tháng chỉ tăng 0,35%).

Từ tháng 3 trở đi, nhu cầu tiêu dùng sẽ còn thấp hơn 2 tháng Tết, cộng với xuất khẩu có thể còn gặp khó khăn hơn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Do vậy, giá tiêu dùng sẽ tăng thấp hơn và giảm.

Đầu tư vào vàng tới đây phụ thuộc vào hai yếu tố: giá vàng thế giới và tỷ giá VND/USD ở trong nước. Giá vàng thế giới tính bằng USD có thể sẽ tăng lên, nếu USD bị giảm giá so với các đồng tiền mạnh trên thế giới.

Nhưng do tăng trưởng kinh tế của Anh, EU, Nhật Bản cũng bị suy thoái và lãi suất tại đây cũng giảm mạnh so với trước đây (EU, Anh còn 2- 2,5%, Nhật Bản còn 0,1%), nên việc lên, xuống cũng khá dích dắc và chịu tác động của việc mua ở đáy, bán ở đỉnh của các nhà đầu tư, đầu cơ trên thị trường thế giới.

Đầu tư vào USD sắp tới phụ thuộc vào diễn biến giá USD trên thị trường thế giới và chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Với việc hạ lãi suất chủ đạo xuống gần như bằng 0 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) – tức là gần như hết chỗ để hạ – về lý thuyết, lạm phát ở Mỹ sẽ tăng, đồng USD sẽ giảm giá; nhưng trên thực tế, các nước lại đua nhau mua trái phiếu kho bạc của Mỹ, lại làm cho đồng USD lên giá, Mỹ lại “xuất khẩu” lạm phát sang các nước.

Song do kinh tế Mỹ suy thoái, nên đồng USD nhìn chung vẫn trong xu thế giảm.

Ở trong nước, để khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, do cung ngoại tệ sẽ không còn tăng với nhịp độ như trước, thậm chí có thể còn giảm, nên tỷ giá sẽ có xu hướng đứng (nếu giá USD trên thế giới giảm) hoặc có tăng cũng chỉ tăng nhẹ.

Hơn nữa, “cú” tăng cao lên đến 19.500 VND/USD trên thị trường tự do sau đó lại giảm còn khoảng 17.000 VND/USD hồi nào vẫn còn ám ảnh nhiều người.

Chọn bất động sản hay chứng khoán?

Đầu tư vào bất động sản hiện có xu hướng “ra” nhiều hơn “vào”, vì hai lẽ: thị trường đã lạnh lâu và mặt bằng giá tiếp tục giảm; người đầu cơ không dám đầu tư thêm, trong khi lượng vốn vay có lãi suất cao đã đến kỳ đáo hạn đang tìm cách rút ra, còn người có nhu cầu sử dụng thực tế thì có tâm lý chờ giảm xuống nữa mới mua.

Chỉ số chứng khoán sau khi xuyên thủng hết đáy này đến đáy khác và đã có xu hướng nhích lên trong mấy phiên gần đây.

Nhiều nhà đầu tư dự đoán, giá chứng khoán sẽ khó giảm xuống dưới đáy. Nhưng cũng không thể tăng mạnh như đã từng tăng vào cuối năm như 3 năm trước, có xu hướng “đi ngang” và vẫn diễn biến theo hình răng cưa, do tác động của các chỉ số chứng khoán thế giới, do cung hàng tăng (như việc IPO, lên sàn, phát hành bổ sung), do hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết thấp…

Gửi tiết kiệm nếu tính chung những tháng gần đây đã có lãi kép (vừa có lãi danh nghĩa, vừa có lãi thực do cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng – tức là có lãi suất thực dương). Tuy lãi suất tiết kiệm hiện chỉ còn bằng một nửa cách đây gần một năm và có thể còn giảm xuống nữa, nhưng vẫn còn cao hơn tốc độ tăng giá, lại có thể tính toán được ngay khi gửi, nên dù có thấp nhưng vẫn “chắc ăn”, ít bị đau đầu.

Từ bỏ tư duy “đuổi kịp” 010309

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 8:57 pm

(TBKTSG) – Một khung (box) trong báo cáo “Huy động và sử dụng vốn” của Ngân hàng Thế giới vào đầu tháng 12-2008 đặt vấn đề “Mất bao nhiêu năm để đuổi kịp”.
Mặc dù các tác giả đã nhấn mạnh đây chỉ là giả thuyết, rằng dự báo xu hướng tăng trưởng lâu dài là chuyện khó đối với các nhà kinh tế, rằng việc dự báo xem Việt Nam sẽ mất bao nhiêu năm để đuổi kịp các nước láng giềng là một công việc mạo hiểm, hầu như người ta chỉ chú ý đến các số năm dài dằng dặc mà báo cáo đưa ra: mất 51 năm để theo kịp Indonesia, 95 năm để theo kịp Thái Lan, và 158 năm đối với Singapore.
Mặc dù cảnh báo khoảng cách tụt hậu của Việt Nam so với các nước láng giềng có tác dụng tích cực, nhất là để phòng ngừa sự lạc quan quá đáng ở những nhà lãnh đạo cứ luôn nhấn mạnh con số tăng trưởng GDP của Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới, lối tư duy đuổi kịp này có nhiều điều bất cập cần phân tích.
Thứ nhất, ngay chính báo cáo nói trên cũng nhận định khoảng cách hàng chục hay hàng trăm năm đó là khi dùng giá cố định của từng nước để tính toán. Còn nếu chuyển sang tính tốc độ tăng trưởng thu nhập đầu người bằng đô la thì số năm để Việt Nam bắt kịp ba nước Indonesia, Thái Lan và Singapore lần lượt rút ngắn còn 15, 22 và 63 năm.
TS. Vũ Quang Việt, nguyên là chuyên gia cao cấp của Liên hiệp quốc về thống kê, từng viết khá kỹ về vấn đề này: “Vì hiểu GDP một cách đơn giản, đã có nhiều người lập luận rằng vào năm 2003 GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính bằng đô la trên thị trường chỉ là 471 đô la, tức là chưa bằng một phần năm Thái Lan.”
“Như vậy, dù đạt tốc độ phát triển kinh tế 8%/năm thì 20 năm nữa Việt Nam cũng chỉ bằng Thái Lan hiện nay. Trong thời gian đó, tất nhiên Thái Lan không đứng yên một chỗ, họ sẽ cắm cổ chạy khỏi nơi hiện tại. Như vậy có hy vọng gì mà đuổi kịp Thái Lan?
Tình hình “bấn” như vậy thì người ta mách là Nhà nước hiện nay phải bằng mọi cách tăng tốc độ tăng GDP trên 10%/ năm, đồng thời thầm ước là Thái Lan chỉ đạt 5%/năm. Song như thế thì cũng 33 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Thái Lan, lúc đó mỗi nước sẽ có GDP đầu người là 12.000 đô la tính theo giá hiện nay. Suy nghĩ kiểu số học này hoàn toàn là sai lầm”.
Ông giải thích: “Thứ nhất là giá trị tiền Việt Nam so với đô la không cố định ở thời điểm 2003. Khi nền kinh tế ở mức thu nhập đầu người thấp, đồng nội địa tính bằng đô la theo hối suất thị trường không phản ánh sức mua. Do đó dựa trên hối suất thị trường GDP bình quân đầu người của Việt Nam rất thấp, chẳng hạn như năm 2003, chỉ là 471 đô la. Số tiền này chỉ cho phép sống dù cùng khổ cũng không quá một tháng ở Mỹ.
Nếu tính bằng sức mua, 471 đô la có giá trị tương đương gấp 5,2 lần, tức là bằng khoảng 2.500 đô la. Thứ hai, giá trị của đồng nội địa theo đô la sẽ tăng khi nền kinh tế tăng trưởng, và do đó về dài lâu dù kinh tế theo giá cố định không tăng nhanh, và dù lạm phát không tăng, GDP bằng đồng đô la sẽ tăng nhanh hơn tốc độ phát triển”.
TS. Vũ Quang Việt kết luận: “Điều này cho thấy là khi nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng, đồng nội địa được thị trường đánh giá cao so với đồng đô la, khoảng cách thu nhập tính bằng đô la sẽ giảm nhanh chóng. Cuộc chạy đua chỉ nhằm đạt tốc độ phát triển cao không thể là chỉ tiêu duy nhất một nền kinh tế cần đạt được”.
Theo chúng tôi, tư duy đuổi kịp sẽ khiến mọi người quá chú trọng đến tốc độ tăng trưởng, cứ chăm bẳm đầu tư để GDP năm sau tăng cao hơn năm trước mà không đếm xỉa gì đến các vấn đề khác như hiệu quả, chất lượng tăng trưởng, chất lượng cuộc sống và nhất là các vấn đề môi trường, cách sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
GDP có thể duy trì ở mức cao nhưng đi kèm cũng có thể là những mầm mống gây bất ổn sau thời gian tăng trưởng như thâm hụt ngân sách cao, đầu tư bất kể hiệu quả, nợ nước ngoài cao, mất cân đối cán cân thanh toán, lạm phát…
Bài học tăng trưởng nóng của năm 2007 vẫn đang còn in hằn trong tâm trí nhiều người. Tư duy đuổi kịp cũng gắn với suy nghĩ ganh đua bằng mọi giá trong khi thế giới ngày nay là một thế giới liên lập. Chúng ta không thể trông mong láng giềng tăng trưởng chậm để chúng ta đuổi kịp mà ngược lại, còn muốn họ tăng trưởng mạnh lên mới có nhu cầu mua hàng hóa hay dịch vụ của chúng ta.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay không được ai xem là cơ hội để nước họ vượt lên phía trước mà tất cả đều phải chung tay giải quyết bởi GDP của Trung Quốc giảm chẳng hạn sẽ kéo theo nhiều khó khăn cho các nước phụ thuộc vào xuất khẩu sang Trung Quốc như Úc hay Hàn Quốc.
Thay cho tư duy đuổi kịp, điều quan trọng là xem chúng ta có tiến đối với chính chúng ta hay không. Nếu GDP tăng mạnh nhưng chất lượng cuộc sống giảm sút vì ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước, tức chúng ta đã tụt hậu so với chính mình. Nếu khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan rút còn 10 năm, chẳng hạn, nhưng khoảng cách giàu nghèo ở nước ta càng lớn, giáo dục càng mất phương hướng, tham nhũng càng tràn lan, môi trường bị hủy hoại, sẽ không ai muốn đuổi kịp theo con đường đó cả.

Vo Van Kiet

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:56 pm
Tags: ,

Viet Cong veteran who became prime minister of Vietnam and promoted the free market
12 Jun 2008

Kiet: his open style contrasted with that of his predecessors Photo: REUTERS
Vo Van Kiet, the former Vietnamese prime minister who died on June 11, fought as a Viet Cong Communist guerrilla against the American-backed government of South Vietnam in the Vietnam War, but retained a pragmatic belief in the free market.
After the war, in which he lost his first wife and two children to American bombing (their bodies have never been found), he became party secretary of Saigon (Ho Chi Minh City) where, in the years immediately after the Communist victory of 1975, he quietly defied hard-line official policy by resisting efforts to bring private enterprise under state control and working with officials and businesses associated with the defeated regime.
His senior colleagues in Hanoi, meanwhile, were hell-bent on imposing a Marxist-Leninist system on the country. It did not work. Collectivisation turned the country from a food exporter to an importer; by 1986 inflation was at 600 per cent and Vietnam had become one of the IMF’s casualty patients.
Kiet’s experiments with encouraging private enterprise in Saigon eventually persuaded the Communist Party at a national level to adopt market reforms – the doi moi (“renewal”) reforms – for the whole country in 1986.
They took time to work through, but in 1991 the country won praise from the IMF for its “exemplary adjustments”.
As prime minister from 1991 to 1997 Kiet presided over a period of rapid growth and foreign investment, and strove to normalise relations with the rest of the world.
In 1994 the United States, under President Clinton, lifted its trade embargo against Vietnam and the following year restored diplomatic ties.
In 1995 Vietnam joined the Association of South-East Asian Nations, which had been set up in the late 1960s partly to oppose Communism’s advance in Asia.
Kiet, originally named Phan Van Hoa, was born into a peasant family at Trung Hep village in the Mekong Delta, then part of French Indochina, on November 23 1922.
He joined the anti-French Viet Minh guerrillas aged 18 when he fled into the jungle after an abortive local uprising. Later, under the nom de guerre Sau Dan, Kiet emerged as a key player in the Viet Cong insurgency in South Vietnam.
After serving as party secretary in Saigon from 1976, in 1982 he joined the Politburo and became vice-chairman of the council of ministers in Hanoi, but lost the job to the more hard-line Do Muoi three months later.
In 1987 he was appointed first deputy prime minister of Vietnam and became acting prime minister in 1988 after the sudden death of Pham Hung.
As prime minister, Kiet travelled widely to drum up investment and forge new diplomatic and trade ties, his open, accessible style providing a refreshing contrast with the stony-faced apparatchiks who preceded him.
He negotiated closer ties with other Asian countries, developing a personal rapport with the former Singaporean leader Lee Kuan Yew, who visited Vietnam several times to offer advice.
He promoted seminars by outside experts for people’s committees in different industries to learn about capitalism and fought an uphill battle against corruption and smuggling; a series of high-ranking officials, including a former energy minister, were sacked or jailed for corruption.
Kiet stepped down as prime minister in 1997 to be replaced by his former deputy, Phan Van Khai, but he remained an outspoken reformist, arguing for a free press and dialogue with dissidents.
A keen tennis player and passionate football fan, he was said to have been responsible in the last year of his premiership for persuading the English footballer, Colin Murphy, to coach the national team.
He married, secondly, Phan Luong Cam, a scientist who described her husband in an interview as a forgetful romantic with a passion for a particularly pungent type of dried fish.

10 dự án FDI lớn nhất năm 2008 012509

Lượng vốn đăng ký cho 10 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất năm 2008 đạt 44,2 tỷ USD, chiếm 69% tổng vốn vào Việt Nam. Cơ cấu của các dự án trong Top 10 cũng cho thấy bức tranh chung về vốn FDI cấp mới trong cả năm.
> Việt Nam từ chối dự án thép gần 8 tỷ USD

Dù vốn đăng ký vượt 44 tỷ USD, song tổng vốn điều lệ mà các chủ đầu tư của top 10 dự án nắm giữ thực tế vào khoảng 8 tỷ USD. Nguồn vốn còn lại cho các dự án sẽ được huy động trong quá trình thực hiện. Ngoài một liên doanh thuộc lĩnh vực viễn thông, các dự án còn lại đều nằm trong các nhóm lọc hóa dầu, thép và bất động sản – du lịch.

Dưới đây là 10 dự án đăng ký lớn nhất năm, theo tổng hợp của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Khu vực sẽ xây dựng khu du lịch Hồ Tràm tại Bà Rịa Vũng Tàu.
Ảnh: Viettransfer

1. Dự án thép của Lion và Vinashin: 9,8 tỷ USD

Dự án lớn nhất năm được cấp phép vào tháng 9, cho liên doanh giữa Tập đoàn Lion của Malaysia và Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) với tổng vốn đầu tư 9,79 tỷ USD, trong đó Việt Nam góp 26% vốn. Khu liên hợp có tên Cà Ná, đặt tại Cụm công nghiệp Dốc Hầm, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận, gồm nhà máy sản xuất thép nóng, thép nguội, nhà máy oxy, cảng biển và nhà máy nhiệt điện.

Khu liên hợp thép của Lion và Vinashin được thực hiện trong 4 giai đoạn, bắt đầu ngay từ năm 2008 và hoàn thành vào năm 2025. Công suất của nhà máy thép có vốn đầu tư 2,7 tỷ USD trong giai đoạn một từ nay đến năm 2010, và đạt tổng công suất 14,42 triệu tấn khi hoàn thành.

2. Dự án thép của Formosa: 7,8 tỷ USD

Tập đoàn Hưng Nghiệp (Formosa) của Đài Loan đầu tư 7,8 tỷ USD vào khu công nghiệp Vũng Áng, Hà Tĩnh để sản xuất thép và kinh doanh cảng biển. Khi được cấp phép vào tháng 6, dự án này thu hút rất nhiều sự chú ý, bởi vượt xa số vốn kỷ lục 5 tỷ USD của chuỗi dự án Foxconn năm 2007.

Khu liên hợp thép của Formosa sẽ hoạt động trong 70 năm, và chia làm 2 giai đoạn. Trong giai đoạn một, nhà máy thép có công suất 7,5 triệu tấn gang thép mỗi năm. Giai đoạn 2 của dự án có công suất 15 triệu tấn. Các sản phẩm chính của nhà máy sẽ là phôi thép, thép cuộn và thép thành phẩm. Ngoài luyện kim, sản xuất thép, dự án của Formosa cũng đầu tư vào kinh doanh cảng biển tại khu công nghiệp Vũng Áng.

3. Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn: 6,2 tỷ USD

Đây là nhà máy lọc dầu thứ hai của Việt Nam, sau Dung Quất, do liên doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Dầu khí quốc tế Kuwait (KPI), công ty Idemitsu Kosan (IKC) và công ty Hóa chất Mitsui (MCI) của Nhật thực hiện.

Vị trí nhà máy lọc dầu Nghi Sơn. Nguồn: PVN

Nhà máy này đặt tại khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa và khi hoàn thành vào năm 2013, sẽ có công suất 200.000 thùng dầu mỗi ngày, tương đương 10 triệu tấn mỗi năm. Phía Việt Nam sẽ góp 25,1% vốn trong dự án, KPI và IKC cùng góp 35,1%, và MCI 4,7%. Phía Kuwait cung cấp toàn bộ nhu cầu dầu thô của nhà máy, vào khoảng 10 triệu tấn mỗi năm cho giai đoạn đầu và tăng lên 20 triệu tấn khi mở rộng dự án.

Việc PVN tham gia liên doanh với các doanh nghiệp FDI tại nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn nằm trong chiến lược phát triển khâu sau dầu khí của tập đoàn này, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển công nghiệp hóa dầu cũng như công nghiệp phụ trợ.

4. Dự án bất động sản New City: 4,3 tỷ USD

Dự án này do một nhà đầu tư từ Brunei, công ty New City Properties, thực hiện với số vốn 4,34 tỷ USD tại tỉnh Phú Yên. Chủ đầu tư dự án sẽ kinh doanh bất động sản, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng. Cùng với đó là các dịch vụ văn phòng, nhà ở, biệt thự cho thuê.

5. Khu du lịch Hồ Tràm: 4,2 tỷ USD

Khu du lịch của Tập đoàn Asian Coast Development Ltd (Canada) được cấp phép vào tháng 5, nằm tại xã Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, với tiêu chuẩn 5 sao, rộng 169 ha.

Điểm được nhiều người quan tâm ở khu du lịch này là nó sẽ bao gồm một sòng bạc phong cách Las Vegas đầu tiên tại Việt Nam, với hơn 500 máy đánh bạc và khoảng 90 bàn chơi bài. Cùng với đó là khu điều dưỡng, vui chơi giải trí phức hợp, trung tâm hội nghị triển lãm quốc tế và 2 khách sạn cao cấp. Giai đoạn một sẽ hoàn thành cuối năm 2010. Giai đoạn hai sẽ xây dựng thêm một khu resort nữa, với 1.300 phòng, 10 nhà hàng, câu lạc bộ đêm, dự kiến mở cửa vào năm 2011. Toàn bộ dự án hoàn thiện sau 10 năm.

6. Tổ hợp hóa dầu Long Sơn: 3,7 tỷ USD

PVN, Tổng công ty Hóa chất (Vinachem) và 2 doanh nghiệp Thái Lan đã thành lập liên doanh để xây dựng tổ hợp hóa dầu thứ ba tại Việt Nam, sau các nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn, với tổng vốn trên 3,77 tỷ USD. Dự án này được cấp phép vào tháng 7, thực hiện tại Khu công nghiệp dầu khí Long Sơn, TP Vũng Tàu.

Tổ hợp sẽ sản suất và tiêu thụ các hóa chất cơ bản, khí công nghiệp, nguyên liệu nhựa, các sản phẩm từ dầu khí và các sản phẩm hóa dầu khác. Dự án cũng bao gồm cảng, cầu cảng chuyên dùng và các kho bãi phục vụ tổ hợp. PVN và Vinachem lần lượt góp 18% và 11% trong vốn điều lệ của dự án. Hai doanh nghiệp Thái Lan là Công ty TNHH Vina SCG và Công ty TNHH nhựa và hóa chất Thái Lan góp 53% và 18%. Dự án thực hiện từ quý III năm nay, đến cuối năm 2016 sẽ hoàn tất, trong đó dự kiến hạ tầng cơ sở chung hoàn thành vào năm 2011.

7. Đô thị đại học quốc tế Berjaya: 3,5 tỷ USD

Dự án này do công ty Berjaya Leisure (Malaysia) thực hiện tại TP HCM. Tổng vốn đăng ký của dự án là 3,5 tỷ USD, vốn điều lệ là 750 triệu USD. Chủ đầu tư dự kiến xây dựng một đô thị đại học quốc tế, gồm các khu dân cư, thương mại, giải trí và y tế.

8. Liên doanh Gtel Mobile: 1,8 tỷ USD

Công ty Viễn thông di động toàn cầu Gtel Mobile là liên doanh giữa Tổng công ty Viễn thông toàn cầu GTel (Bộ Công an) và tập đoàn Vimpel – Com của Nga, với tổng vốn 1,8 tỷ USD. Trong đó, GTel nắm giữ 60% cổ phần, Vimpel – Com 40%. Đối tác của Gtel, Vimpel – Com là tập đoàn dịch vụ di động lớn thứ hai của Nga, chuyên đầu tư và khai thác dịch vụ viễn thông tại nước này và nhiều quốc gia SNG.

9. Tổ hợp nghỉ dưỡng Starbay: 1,6 tỷ USD

Công ty Starbay thuộc British Virgin Islands, một quần đảo tại vùng Caribê thuộc Vương quốc Anh, là chủ đầu tư dự án này. Tổ hợp đặt tại tỉnh Kiên Giang, gồm khu nghỉ dưỡng phức hợp, sân golf và căn hộ cho thuê.

10. Khu khách sạn, giải trí Good Choice: 1,3 tỷ USD

Dự án này gồm khách sạn 5 sao, vui chơi giải trí, các khu dịch vụ hội nghị, ẩm thực, triển lãm và y tế tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Chủ đầu tư là tập đoàn Good Choice của Mỹ, với vốn đăng ký cho dự án 1,299 tỷ USD.

Dự báo xu hướng phát triển của hệ thống phân phối hàng hóa trên địa bàn thành phố 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:55 pm
Tags: ,

.1.1.1. Dự báo xu hướng phát triển của hệ thống phân phối hàng hóa trên địa bàn thành phố:
Với những dữ liệu thu thập được, có thể dự báo hệ thống phân phối hàng hóa trên địa bàn TP.HCM sẽ phát triển theo những hướng sau:
– Thứ nhất, khi Việt Nam thực thi cam kết mở cửa dịch vụ phân phối hàng hóa và tiến hành những cải cách làm thông thoáng môi trường đầu tư, sẽ có nhiều doanh nghiệp phân phối hàng đầu thế giới thâm nhập vào thị trường thành phố, rất có thể những thương hiệu lớn như Wal-Mart (Mỹ), Carrefour (Pháp), Tesco (Anh), Circle K (Canada)… sẽ xuất hiện tạo nên một bức tranh đa dạng về hệ thống phân phối. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng các doanh nghiệp liên doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hóa cũng sẽ tìm cách chuyển sang loại hình doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để chủ động hơn trong kinh doanh. Đến lúc đó, hệ thống phân phối không còn là mảnh đất đặc quyền của doanh nghiệp trong nước và theo kinh nghiệm của các nước đi trước như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, các nhà phân phối nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng mạnh và giàu kinh nghiệm điều hành sẽ giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh với hầu hết các doanh nghiệp phân phối trong nước. Kết quả là họ sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh hệ thống phân phối hiện đại (trong đó có hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại), dẫn đến sự phá sản của hàng loạt doanh nghiệp phân phối trong nước có quy mô nhỏ và vừa. Chỉ những doanh nghiệp phân phối có chiến lược kinh doanh vững chắc và phân khúc thị trường khác biệt mới có thể tồn tại bên cạnh các tập đoàn phân phối quốc tế.
– Thứ hai, quá trình tích tụ và liên doanh, liên kết sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước để tạo thành những chuỗi liên kết có đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài. Song song đó, mối liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp phân phối và các nhà sản xuất trong nước cũng sẽ được củng cố nhằm bảo vệ lợi ích giữa các bên trước sức ép của doanh nghiệp phân phối nước ngoài. Điều đó sẽ giúp hệ thống phân phối hàng hoá trên địa bàn thành phố ngày càng lớn mạnh và liên thông hơn.
– Thứ ba, phương thức phân phối truyền thống, mua đứt bán đoạn dưới dạng chợ truyền thống, tiệm tạp hóa… vẫn tồn tại song song với các hình thức phân phối hiện đại nhưng sẽ thu hẹp dần, các nhà phân phối trong nước sẽ trưởng thành và học hỏi được nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý và hiện đại hóa hệ thống của các nhà phân phối nước ngoài để tự củng cố hệ thống của mình. Người tiêu dùng chính là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ những cải cách này. Trước mắt, các tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tập trung mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng sau đó họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua catalogue, điện thoại, internet …
– Thứ tư, về tổng thể, hệ thống phân phối hàng hoá sẽ tiếp tục phát triển theo hướng văn minh, hiện đại. Trong những năm qua, hệ thống phân phối hàng hoá của Việt Nam nói chung và của TP.HCM nói riêng phát triển một cách tự phát, thành phố tuy có xây dựng quy hoạch nhưng rất nhiều chợ, siêu thị, trung tâm thương mại xuất hiện không theo quy hoạch mà theo kế hoạch kinh doanh độc lập của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, với chủ trương, định hướng rõ ràng của Chính phủ về phát triển các trung tâm thương mại và siêu thị lớn, các chợ đầu mối, sàn giao dịch hàng hoá, kể cả sàn giao dịch điện tử… sẽ làm cho hệ thống phân phối hàng hoá của Việt Nam và của TP.HCM tiếp tục phát triển theo hướng văn minh, hiện đại.
3.1.2. Thực lực và tiềm năng của doanh nghiệp phân phối Việt Nam hoạt động trên địa bàn TP.HCM: Vốn:
Việc xác định nguồn vốn đầu tư vào hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn:
– Thứ nhất, ngoại trừ một vài doanh nghiệp chuyên doanh trong lĩnh vực phân phối, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam còn lại đều kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, do đó khó xác định đầy đủ, chính xác mức vốn đầu tư vào việc kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại.
– Thứ hai, việc kinh doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hóa cho phép doanh nghiệp phân phối có thể huy động vốn (dưới dạng hàng hóa) của các đơn vị sản xuất, cung ứng hàng hóa cho siêu thị, trung tâm thương mại; và mức huy động này tùy theo mối quan hệ giữa doanh nghiệp phân phối với các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nếu so sánh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài, nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam hết sức nhỏ bé. Ví dụ: số liệu khảo sát cho thấy, cùng đầu tư cho 01 siêu thị nhưng mức vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam bình quân là 9,5 tỷ đồng, trong khi đó các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đầu tư bình quân 130 tỷ đồng, gấp 14 lần mức đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, nguồn vốn là một trong những điểm yếu của doanh nghiệp phân phối Việt Nam khi cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia. Nhân lực:
Đội ngũ lao động làm việc trong doanh nghiệp phân phối được chia thành 02 nhóm: cán bộ quản lý điều hành và nhân viên kinh doanh, trong đó nhóm cán bộ quản lý điều hành giữ vai trò quyết định đối với quá trình cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài.
– Hiện nay, nguồn nhân lực quản lý của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam có những thế mạnh và nhược điểm sau:
+ Ưu điểm: một số cán bộ quản lý có khả năng điều hành tốt hệ thống phân phối, đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng vì:
• Có điều kiện thấu hiểu văn hóa mua sắm của người dân thành phố;
• Do quá trình chuyển dịch nguồn nhân lực giữa các doanh nghiệp phân phối nên có nhiều nhân sự quản lý cấp cao của các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp phân phối trong nước, đem theo toàn bộ kiến thức và kinh nghiệm làm việc có được;
+ Hạn chế:
• Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng còn khá khiêm tốn, ở mức 19,3%; trong khi đó tại các siêu thị, trung tâm thương mại của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ đại học, cao đẳng chiếm đến 70,8%.
• Ít kinh nghiệm chuyên môn, phần lớn tự học qua thực tiễn nên khả năng xây dựng, triển khai các chương trình chiến lược phát triển dài hạn có phần bị hạn chế.
– Đội ngũ nhân viên kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam cũng chưa được đào tạo thường xuyên về nghiệp vụ mua hàng, trưng bày và bán hàng nên chưa giúp cho hoạt động kinh doanh của siêu thị, trung tâm thương mại đạt được kết quả cao nhất. Phương thức kinh doanh:
Trong quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thì phương thức kinh doanh có thể là một ưu thế của doanh nghiệp phân phối trong nước bởi những lý do sau:
– Một là, phương thức kinh doanh mà các doanh nghiệp phân phối Việt Nam đang áp dụng có nguồn gốc từ phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối nước ngoài. Phương thức này được du nhập nhờ những thương nhân nước ngoài tham gia quản lý, điều hành hệ thống phân phối trên địa bàn thành phố hoặc nhờ những cán bộ quản lý được đào tạo ở nước ngoài. Do đó xét về nền tảng, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp phân phối Việt Nam và doanh nghiệp phân phối nước ngoài là một.
– Hai là, qua quá trình áp dụng tại nước ta, phương thức kinh doanh đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn, ví dụ: cách đặt hàng, thanh toán tiền đối với các nhà sản suất Việt Nam phải khác so với đặt hàng của các nhà sản xuất ở các nước phát triển vì nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế có quy nhỏ, các nhà sản xuất Việt Nam không đủ sức cung ứng hàng hóa với số lượng lớn trong thời gian ngắn nên rất có thể phải kéo dài thời hạn giao hàng hoặc đặt hàng ở nhiều nhà sản xuất, thậm chí phải ứng vốn để các nhà sản xuất mua nguyên vật liệu… Đó là những khó khăn mà các doanh nghiệp phân phối nước ngoài phải hết quan tâm khi thâm nhập vào hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn TP.HCM.
Tuy nhiên, phương thức kinh doanh hiện nay của các doanh nghiệp phân phối trong nước cũng có một số hạn chế:
– Thứ nhất, doanh nghiệp phân phối Việt Nam chỉ mới quen với việc quản lý một vài cơ sở bán lẻ, chưa có kinh nghiệm trong việc tổ chức các chuỗi cơ sở bán lẻ với quy mô lớn như các doanh nghiệp phân phối nước ngoài.
– Thứ hai, doanh nghiệp phân phối trong nước chưa quan tâm nhiều đến việc tổ chức hệ thống hậu cần (logistics) phục vụ cho hoạt động của các điểm bán lẻ, phần lớn vẫn dựa vào khả năng giao hàng của các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa. Hệ thống kho bảo quản, xe tải chuyên dùng chưa đồng bộ; việc cung ứng hàng hoá chủ yếu có gì bán nấy, chưa xây dựng được vùng cung cấp nguồn hàng ổn định. Tính chủ động trong hợp tác liên kết, liên doanh thu mua, tiêu thụ hàng hoá còn rời rạc. Vì vậy, khá nhiều doanh nghiệp phân phối trong nước chưa tạo được nguồn cung ứng, dữ trữ hàng hóa ổn định cho hoạt động bán buôn, bán lẻ của mình.
Từ những phân tích về thực lực của các donah nghiệp phân phối Việt Nam đang hoạt động trên địa bàn TP.HCM, có thể thấy nguy cơ thâm nhập, chiếm lĩnh thị phần bán lẻ, bán buôn của các “đại gia” phân phối nước ngoài là một viễn cảnh có thể xảy ra. Vấn đề là các doanh nghiệp trong nước phải biết phát huy ưu điểm, xác định đúng phân khúc thị trường phù hợp để đầu tư khai thác thì mới có thể tồn tại và phát triển.

Bài thảo luận chính sách số 4 011609

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 8:54 pm
Tags: ,
Dự Trần — 16 tháng 01, 2009

(Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, Vũ Thành Tự Anh, David Dapice, Jonathan Pincus và Ben Wilkinson)

  1. Cuộc suy thoái toàn cầu hiện nay có thể là cuộc suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ những năm 1930. Sản lượng của một số nền kinh tế lớn nhấtt thế giới sẽ suy giảm trong năm 2009, kéo theo đáuy giảm của kinh tế toàn cầu. Kim ngạch thương mại quốc tế, các dòng vốn và đầu tư sẽ thu hẹp. Hộ gia đình sẽ cắt giảm tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ cắt giảm đầu tư khi ngân hàng không muốn cho vay do đang thua lỗ lớn. Các biện pháp hạ lãi suất, khôi phục thanh khoản và đẩy mạnh chi tiêu ngân sách ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản sẽ giúp hạn chế nhưng không thể đảo ngược được đà đi xuống của năm 2009. Tốc độ tăng trưởng của các nước đang phát triển trong năm 2009 có thể chỉ nằm trong khoảng từ một nửa đến hai phần ba mức tăng trưởng của năm 2007.
  2. Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam tiếp tục giảm là một tín hiệu tích cực, chủ yếu là thành quả của nỗ lực giảm tăng trưởng tín dụng và giãn đầu tư công của chính phủ trong sáu tháng cuối năm 2008. Mặc dù một số tập đoàn và tổng công ty tự cho là mình có công trong việc chống lạm phát, chúng tôi cho rằng nỗ lực kiểm soát lạm phát bằng những biện pháp hành chính của họ không có hiệu lực, thậm chí trong một số trường hợp còn phản tác dụng. Bài học quan trọng từ kinh nghiệm này là mối quan hệ chặt chẽ giữa cung tiền và lạm phát, cũng như những rủi ro lạm phát do tăng trưởng tín dụng quá cao.
  3. Là một nền kinh tế nhỏ với tỉ giá hối đoái cố định và thâm hụt ngân sách lớn, những lựa chọn chính sách của VN bị hạn chế hơn rất nhiều so với các nền kinh tế lớn như Trung Quốc. Với Trung Quốc, việc thực hiện gói kích thích lớn là hợp lý vì họ có xuất phát điểm mạnh hơn VN rất nhiều. TQ có thặng dư thương mại khổng lồ trong khi VN đang thâm hụt thương mại nặng nề. TQ có 1500 USD dự trữ ngoại hối trên đầu người trong khi con số này của VN chỉ là 250 USD. Chỉ số lạm phát của TQ cũng thấp hơn của VN rất nhiều. Gói kích thích của TQ sẽ chủ yếu đi vào nền kinh tế nội địa vì tỉ lệ nhập khẩu trên GDP của họ nhỏ hơn rất nhiều so với VN. Những biện pháp kích thích tiền tệ và ngân sách của VN rất có thể sẽ gia tăng lạm phát và nới rộng thâm hụt thương mại. VN cũng sẽ khó có thể tài trợ cho thâm hụt thương mại lớn trong năm 2009 vì sự suy giảm của xuất khẩu và dòng vốn FDI.
  4. Đòn bẩy chính sách chủ yếu của chính phủ trong giai đoạn này là tỉ giá và cơ cấu đầu tư công. Đồng VND phải được phép từng bước giảm giá và chương trình đầu tư công phải hoãn tiến độ các dự án thâm dụng vốn và nhập khẩu nhiều, đồng thời đẩy mạnh các dự án thâm dụng lao động và không phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Để đẩy mạnh tiến độ của những dự án đầu tư công có hiệu quả, thay bằng việc chỉ định thầu như đề xuất của một số tập đoàn nhà nước, chúng tôi đề nghị thành lập một tổ công tác chịu trách nhiệm đơn giản hóa thủ tục xét duyệt đầu tư nhưng vẫn đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
  5. Ngay từ bây giờ, VN cần chuẩn bị cho sự phục hồi tăng trưởng có thể diễn ra vào cuối năm 2009 hay đầu năm 2010. Đầu tư công phải tập trung vào việc khắc phục những “nút thắt cổ chai” trong cơ sở hạ tầng chứ không nên lãng phí vào những dự án hoành tráng và các ngành công nghiệp đòi hỏi nhà nước phải trợ cấp nặng nề. Chính phủ cũng cần củng cố khu vực ngân hàng để giảm rủi ro hệ thống.

Đọc toàn văn tại: http://www.minhbien.org/wp-content/uploads/2009/01/thaoluanchinhsachs4.pdf

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.