Ktetaichinh’s Blog

March 18, 2009

Banks can’t skirt forex band with derivatives: SBV 031709

VNBusinessNews – Vietnam’s central bank said on Wednesday commercial banks could not use derivatives to trade dollar/dong on the spot interbank market in order to skirt the currency’s official trading band
The State Bank of Vietnam several months ago banned the use of third currencies to circumvent the band, which stands at +/- 3% around a midpoint set each day by the central bank. It said on Wednesday it planned to step up monitoring.

Bankers say that in practice some traders have been using currency options and other methods to trade dollar/dong outside the band, at a rate that many see as more market-oriented. (Reuters)

Advertisements

Đã qua rồi một thời đổi mới 031609

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:50 pm
Tags: ,

Điểm qua kinh nghiệm Mỹ và Nhật, tôi thấy Việt Nam bây giờ giống như Nhật hồi giữa thập niên 1950.Ở thời điểm đó nếu có tư duy mới, đồng thuận xã hội mới, chính sách, chiến lược mới thì sẽ bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đưa kinh tế đến một thứ nguyên cao.

Một nền kinh tế hay một xã hội chuyển mình từ một giai đoạn phát triển thấp lên một giai đoạn phát triển cao thường kéo theo những thay đổi về chất, những chuyển dịch về cơ cấu, về cơ chế, hoặc về tổ chức. Những thay đổi về chất, những chuyển dịch về cơ cấu đó có khi do những đòi hỏi tất yếu từ những điều kiện mới về công nghệ, về kỹ thuật, về bối cảnh kinh tế thế giới, nhưng cũng có khi do con người chủ động thay đổi cơ chế, tư duy cũ để nắm bắt cơ hội mới làm cho kinh tế phát triển vượt bậc.

Trường hợp thứ nhất có thể thấy qua kinh nghiệm của kinh tế Mỹ vào cuối thế kỷ 19, trong khi kinh nghiệm Nhật Bản vào nửa sau thập niên 1950 cho ta một bài học thú vị về trường hợp thứ hai.

Còn Việt Nam hiện nay sẽ nằm trong trường hợp nào?

Mỹ: Phát triển từ giai đoạn thấp đến cao

Nhà máy sản xuất ô tô hàng loạt của Henry Ford ở Mỹ (Ảnh: BBC.co.uk)

Vào những thập niên cuối của thế kỷ 19, kinh tế Mỹ bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn sản xuất hàng loạt (mass production). Với sự ra đời của đường sắt và điện tín, hai công nghệ làm giảm phí tổn chuyên chở và mang lại khả năng truyền đạt thông tin giữa những vùng xa xôi, do đó các vùng trong lục địa rộng lớn được nối kết thành một thị trường lớn.

Các sản phẩm chủ yếu như dệt vải, may mặc, các loại thực phẩm, thép, ciment, xe hơi có điều kiện sản xuất hàng loạt, do đó giá thành giảm nhanh nhờ hiệu quả qui mô kinh tế. Hàng hóa cung cấp dồi dào với giá rẻ kích thích tiêu thụ và thị trường lại tiếp tục mở rộng.

Công nghệ cơ khí và luyện kim cũng phát triển trong thời kỳ này đưa đến việc chế tạo các loại máy móc, thiết bị tinh xảo làm cho công suất họat động ở nhà máy và năng suất sản xuất nói chung tăng nhanh.

Các loại công nghệ xuất hiện đã tạo ra một vòng tuần hoàn thuận lợi giữa sản xuất và thị trường, giữa cung và cầu đã đưa đến một thời kỳ phát triển hoàng kim của kinh tế Mỹ.

Chuyển biến về công nghệ, về sản xuất và thị trường kéo theo những thay đổi về phương pháp quản lý, tổ chức, về nhu cầu ra đời các cơ chế, chính sách để thích ứng với hoàn cảnh mới.

Hình thái doanh nghiệp thời sản xuất nhỏ không thích hợp nữa, doanh nghiệp phải được tổ chức qui mô lớn, phải có nhà máy lớn. Doanh nghiệp có tính cách gia đình, huy động vốn từ các nguồn phi chính thức được dần dần thay thế bằng doanh nghiệp được tổ chức hiện đại, thúc đẩy sự phân ly giữa chủ tư bản và nhà kinh doanh; và hệ thống tiền tệ tín dụng hiện đại hình thành.

Về mặt nhà nước, chính sách trong giai đoạn trước là phó mặc cho thị trường (laissez-faire), chính phủ chỉ lo an ninh và cung ứng một số dịch vụ công cộng. Nhưng vào cuối thế kỷ 19, do ảnh hưởng của dòng thác mới về công nghệ, kinh doanh và thị trường đã được đề cập, nhiều luật lệ, cơ chế mới ra đời để tránh độc quyền, để bảo vệ các nhà sản xuất nhỏ, để đáp ứng yêu cầu của nghiệp đoàn lao động.

Nhật: Phát triển nhờ thay đổi cơ chế, tư duy để nắm bắt cái mới

Thị trường chứng khoán Nhật năm 1973 (Ảnh: .japansociety.org)

Trong trường hợp của Nhật vào nửa sau thập niên 1950, thay đổi về tư duy, chiến lược của lãnh đạo, của trí thức, được sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội đã làm bắt đầu một giai đoạn phát triển mà về sau này các nhà phân tích gọi là thời đại phát triển thần kỳ.

Nhật bị Chiến tranh Thế giới thứ hai tàn phá nặng nề nhưng với nỗ lực phi thường và với nhu cầu đặc biệt tạo ra từ Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), chỉ 10 năm, kinh tế Nhật hồi phục được mức sản xuất cao nhất thời tiền chiến. Từ đó về sau kinh tế Nhật sẽ ra sao? Bây giờ nhìn lại nếu lúc đó không có một trào lưu tư duy mới, không có cơ chế, chiến lược chính sách mới có lẽ kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn sau đó đã phát triển chậm hơn nhiều.

Thời đó trí thức đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra ý tưởng hình thành sự đồng thuận mới trong xã hội, và trực tiếp giúp chính phủ vạch ra đường lối phát triển. Cơ chế nhà nước cũng rất nhu nhuyến, lúc cần thiết mời các nhà kinh tế, các học giả làm chuyên trách có thời hạn hoặc bán chuyên trách trong các viện nghiên cứu hoặc các cơ quan vạch ra chính sách.

Sách trắng kinh tế là bản báo cáo hằng năm của Tổng cục kế hoạch kinh tế, phân tích hiện trạng kinh tế và đề xuất tư duy, ý tưởng chính sách mới. Trong khỏang 20 năm đầu sau thế chiến thứ hai, đây là bản báo cáo kinh tế hằng năm nổi tiếng, có vai trò dẫn dắt dư luận.

Sách trắng kinh tế năm 1956 đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử hậu chiến Nhật Bản. Không còn thời hậu chiến nữa , tiêu đề phụ của bản báo cáo năm đó, đã trở thành bất hủ vì nó đi ngay vào lòng người, được cảm nhận rộng rãi giữa các nhà lãnh đạo chính trị, quan chức, doanh nghiệp, trí thức và cả đến nhiều người lao động.

Câu này hàm ý là những yếu tố giúp ta phục hưng hậu chiến không còn nữa, bây giờ là lúc chúng ta phải có tư duy mới, cơ chế mới, tìm ra các yếu tố mới để đưa đất nước đến chân trời mới. Sau đó nhà kinh tế hàng đầu Nakayama Ichiro đưa ra ý tuởng nên đặt mục tiêu phát triển kinh tế là bội tăng tiền lương người lao động trong 10 năm.

Nhà chính trị Ikeda Hayato
(Ảnh: cdnetworks.net)
Ý tưởng này được các cố vấn của nhà chính trị Ikeda Hayato vận dụng vào Kế hoạch bội tăng lợi tức quốc gia, khẩu hiệu của Ikeda trong cuộc vận động tranh cử vào chức đảng trưởng Đảng Tự do Dân chủ. Ông đã đắc cử và trở thành Thủ tướng từ năm 1960, năm khởi đầu thực hiện kế hoạch bội tăng lợi tức quốc gia cho thập niên tới.

Chỉ trong 4-5 năm, một luồng gió mới thổi vào xã hội Nhật, cơ quan nghiên cứu, học giả và chính trị gia dẫn đầu trong việc tìm kiếm và đưa ra tư duy mới, sau đó các cơ chế, chính sách cụ thể (chẳng hạn các cơ quan nhà nước phụ trách xúc tiến mậu dịch, yểm trợ vốn đầu tư, yểm trợ khai thác tài nguyên hải ngoại, v.v.. ) được thành lập.

Trong không khí phấn chấn về một tương lai tươi sáng, doanh nghiệp đã tích cực du nhập công nghệ, nguyên liệu, xây dựng nhà máy mới hoặc đầu tư thay thế nhà máy cũ. Trong thập niên 1960, 3 loại công nghệ được du nhập hầu như đồng thời.

Một là những ngành Nhật đã phát triển từ cuối thế kỷ 19 (như thép, đóng tầu,..) nhưng suốt hai thế chiến họ không được biết đến những thành tựu công nghệ mới ở Âu Mỹ.

Loại thứ hai là những công nghệ mới, những ngành mới đã ra đời ở Âu Mỹ nhưng Nhật bị gián đoạn thông tin (vì chiến tranh) bây giờ mới có thể du nhập (điển hình là các ngành điện gia dụng như tủ lạnh, máy giặt, và các loại hóa chất mới như tơ sợi tổng hợp).

Thứ ba là các ngành mới bắt đầu phát triển ở Âu Mỹ (như TV, computer,..).

Cả ba loại công nghệ du nhập đồng thời, tạo ra hiệu ứng dây chuyền, hiệu ứng lan tỏa, làm cho họat động đầu tư nhộn nhịp. Hiện tượng này được Sách trắng kinh tế công bố giữa thập niên 1960 gọi là đầu tư kêu gọi đầu tư.

Do công nghệ mới du nhập nhiều và đầu tư triển khai sâu rộng, năng suất lao động tăng nhanh, xuất khẩu tăng, sản xuất lại tăng và tiền lương lao động tăng theo kéo theo sự bùng nổ tiêu thụ. Sự tuần hoàn thuận lợi này đưa Nhật vào thời đại phát triển thần kỳ. Nhật hoàn thành kế hoạch bội tăng lợi tức quốc gia chỉ trong 7 năm thay vì 10 năm.

Việt Nam sẽ phát triển theo hướng nào?

Sau 20 năm đổi mới, VN cần thay đổi tư duy mới… (Ảnh: tgvn.com.vn)

Điểm qua kinh nghiệm Mỹ và Nhật, tôi thấy Việt Nam bây giờ giống như Nhật hồi giữa thập niên 1950. Giống ở chỗ đối diện với thời điểm chuyển tiếp giữa hai giai đoạn phát triển. Ở thời điểm đó nếu có tư duy mới, đồng thuận xã hội mới, chính sách, chiến lược mới thì sẽ bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đưa kinh tế đến một thứ nguyên cao.

Còn ở thời điểm đó nếu vẫn giữ tư duy cũ, cơ chế cũ, chính sách cũ thì hiệu quả chỉ là kéo dài giai đoạn cũ, xã hội có thể trì trệ, phát triển với tốc độ thấp hoặc phát triển nhưng phải hy sinh môi trường và bất ổn xã hội.

Qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển. Thu nhập đầu người tăng, mức sống người dân được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, vị trí của VN trên vũ đài quốc tế được nâng cao.

Nhưng ta cũng thấy ngay những mất cân đối trầm trọng giữa phát triển và môi trường, giữa nông thôn và thành thị, giữa người dân lao động và các thành phần khác. Ngoài ra có hai điểm rất quan trọng cần nhấn mạnh.

Một là, nhiều cơ chế, chính sách hình thành và tác dụng sâu đậm trong quá trình đổi mới nếu không thay đổi và tiếp tục áp dụng sẽ không đem lại sự phát triển bền vững cho VN. Chẳng hạn việc tuyển chọn quan chức ra làm việc nước.

Sau 1975, rất nhiều người thiếu tiêu chuẩn về năng lực quản lý vẫn được bổ nhiệm vào các cương vị quan trọng, sau đó mới cho đi học tại chức để tiêu chuẩn hóa cán bộ. Cách làm này lẽ ra chỉ nên áp dụng trong thời gian ngắn, độ 9-10 năm, nhưng hiện nay vẫn tồn tại và chưa có chiều hướng chấm dứt. Chính sách này cũng đã làm cho hệ thống giáo dục đại học xuống cấp, nhiều đại học sống dựa vào học sinh tại chức, đạo đức học đường, quan hệ thầy trò bị đảo lộn.

Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho giai đoạn tới gặp khó khăn. . Một ví dụ khác nổi lên trong quá trình đổi mới là chính sách đối với doanh nghiệp, tập đòan kinh tế nhà nước. Trong một thời kỳ nhất định, sự hiện diện của các hình thái kinh tế này có thể được chấp nhận nhưng rõ ràng nếu từ nay hình thái này vẫn tiếp tục kéo dài thì thị trường không phát triển lành mạnh, đặc quyền đặc lợi phát sinh, sự bất công giữa các thành phần kinh tế trầm trọng hơn nữa.

Hai là, đổi mới trong hơn 20 năm qua là một quá trình mò mẫm rất mất thời gian, tuy là ở giai đoạn đó chuyện mò mẫm là không tránh được. Chính thức đổi mới bắt đầu từ năm 1986 nhưng nhiều vấn đề được dò dẫm từ nhiều năm trước mà khoán trong nông nghiệp là trường hợp điển hình. Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh nghiệp, và nhiều đạo luật khác hầu như năm nào cũng có sửa đổi.

Điều đó cho thấy không có sự mạnh dạn trong cải cách. Do đó quá trình đổi mới của Việt Nam cho đến nay mất gần 30 năm (kể cả thời gian dò dẫm trước khi công bố chính sách vào năm 1986). Ta có thể kéo dài lối tư duy tiệm tiến, thận trọng, mất nhiều thời gian như trong thời kỳ đổi mới không? Vào lúc mới bắt đầu đặt ra kế hoạch phát triển, Hàn Quốc là một trong những nước có thu nhập đầu người thấp nhất thế giới mà chỉ sau có 35 năm họ đã trở thành thành viên khối OECD, là tổ chức của những nước tiên tiến.

Đã qua rồi một thời đổi mới

Việt Nam chống nguy cơ bất ổn kinh tế (Ảnh nguồn: NYT)

Ta đã qua gần 35 năm sau khi hòa bình lập lại và sự nghiệp thống nhất được thực hiện, và đã gần một phần tư thế kỷ từ lúc khởi động chính sách đổi mới, nhưng ta vẫn còn đứng trước ngưỡng cửa 1.000 USD (GDP đầu người) với những mất cân đối trầm trọng như đã nói.

Như vậy, vấn đề của chúng ta hiện nay là gì thì đã quá rõ. Ta không thể kéo dài tư duy của thời đổi mới, không thể tiếp tục các chính sách hình thành và triển khai trong thời kỳ đổi mới. Chúng ta không đoạn tuyệt với quá khứ nhưng phải mạnh dạn dứt bỏ những chính sách, cơ chế không thích hợp và tìm một tư duy, một sự đồng thuận mới cho giai đoạn phát triển mới của VN.

Tôi đề khởi ý tưởng là mọi người nên bắt đầu bằng một suy nghĩ, một nhận định tóm tắt bằng cụm từ Đã qua rồi một thời đổi mới. Bây giờ là lúc ta cần bàn đến tư duy chiến lược mới, cơ chế mới và sự đồng thuận mới của xã hội để đưa đất nước tiến vào một giai đoạn mới, giai đoạn giàu mạnh và bền vững.

Đã qua rồi một thời đổi mới!

Theo Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo (Thời báo kinh tế Sài Gòn)

An toàn lao động trong xây dựng: Lại “sống chết mặc bay”? 031809

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:39 pm
Tags:

(SGGP-12G).- 3 tháng đầu năm 2009, số vụ tai nạn lao động (TNLĐ) gây chết người xảy ra trên địa bàn TPHCM tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng trong nửa đầu tháng 3 – thời kỳ cao điểm thực hiện tuần lễ an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ – số vụ TNLĐ không những không giảm mà còn tăng gấp đôi so số lượng xảy ra trong 2 tháng đầu năm 2008.

Những cái chết trẻ

Sáng 9-2, tại công trình ép cọc bê tông (lô R6, cư xá Văn Thánh Bắc, quận Bình Thạnh) đã xảy ra vụ TNLĐ vô cùng thương tâm làm chết anh M.V.H. (SN 1983) công nhân (CN) của Công ty TNHH Xây dựng và DV-TM Trung Trực. Anh H. được phân công điều chỉnh cọc ép và phát tín hiệu cho người vận hành máy ép. Khi đang ép đến đoạn cọc thứ 3 thì mọi người nghe tiếng kêu thất thanh của H. Anh bị chèn chết trong tư thế ngồi. Đầu nạn nhân bị kẹt trong khe hở giữa giàn khung cố định và ngoàm trượt của Ti-ben.

Vụ sập giàn giáo công trình cao ốc tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Q7, TPHCM vào rạng sáng 30-12-2008, làm 2 người chết, 14 người bị thương. Ảnh: Việt Dũng

Vào khoảng 14g ngày 8-3-2009, tại trạm trộn bê tông của Công ty Lê Phan (quận 12), sau khi bơm bê tông xong, nhóm CN móc ngoàm của máy bơm bê tông vào ngoàm xe tải và móc dây xích cột máy bơm vào xe. Tuy nhiên, ngoàm móc không đúng vị trí nên trong quá trình vận chuyển, ngoàm nối và dây xích đã bật ra ép anh N.V.V. vào xe tải khiến anh V. tử vong. Ngày 13-2, em H.T.D., mới 17 tuổi, là CN thi công tại công trình xây dựng Trạm Kiểm dịch động vật Hóc Môn bị điện giật chết tại chỗ khi đang khiêng 1 thanh sắt dài gần nguồn điện.

Mới đây nhất, ngày 9-3, tại công trình thi công tuyến ống cấp nước ở Thủ Đức đã xảy ra vụ tai nạn lao động điện giật làm chết công nhân H.V.P. (SN 1986). Trong lúc làm vệ sinh đáy giếng, các CN sử dụng 1 bơm nước (loại bơm hỏa tiễn) để bơm nước từ đáy giếng lên. Vì nước ở đáy giếng không còn nhiều nên anh P. được phân công đứng cầm bơm để bơm không bị đổ. Khi đồng nghiệp cắm điện vào máy bơm, máy bơm bị rò điện giật chết anh P.

Trước đó, vào cuối tháng 2, khi đang bơm nước tại công trình xây dựng cao ốc văn phòng tại quận Bình Thạnh, anh T.V.P. bị điện giật ngã xuống hầm nước thải. Dù đã được hô hấp nhân tạo và chuyển ngay đến bệnh viện cấp cứu nhưng hiện anh P. vẫn đang còn trong tình trạng nguy kịch.

Danh sách những CN bị chết do TNLĐ trong thời gian gần đây cho thấy có đến trên 80% trong độ tuổi từ 17 – 30, đa phần là người lao động nghèo và hầu hết không được ký hợp đồng lao động. Một số trường hợp là CN thử việc và không được phổ biến những kiến thức về an toàn lao động, bảo hộ lao động.

Công nhân đang làm “xiếc”, quên tính mạng của chính mình Ảnh: HỒ VIỆT

Bao nhiêu năm nay, tình trạng TNLĐ sở dĩ vẫn không chấm dứt là do 2 nguyên nhân chính dẫn đến TNLĐ vẫn không được khắc phục: ý thức của người sử dụng lao động và nhận thức của CN. Nhiều trường hợp, do thiếu kiến thức tối thiểu về an toàn nên nhiều CN đã chết oan uổng.

Tại công trình đào đường góc ngã tư đường Lý Chính Thắng – Bà Huyện Thanh Quan, mặc dù làm việc ở độ sâu gần 4m, 2 bên đường xe cộ chạy vùn vụt nhưng 2 công nhân mặc áo đồng phục màu xanh vẫn không đội nón bảo hộ. Công trình thi công không đóng cừ chống sạt lở đường theo quy định, dãy tôn rào chắn dựng xiêu vẹo trên những chân đế bằng xi măng không đảm bảo an toàn…

Làm việc ở độ cao 30m trên chiếc thang tre mỏng manh và không có dây đeo an toàn! Ảnh: Thái Bằng

Chưa hết, một số công trình đang thi công trên đường Lê Hồng Phong, Cao Thắng, Lạc Long Quân việc che chắn hết sức sơ sài, thậm chí chỉ chăng mấy sợi dây ni lông phản quang để cảnh báo!

Đã có không ít vụ tai nạn xuất phát từ sự chủ quan, cẩu thả kiểu như vậy. Điển hình như vụ tai nạn xảy ra tại Doanh nghiệp tư nhân Thương mại- Sản xuất Hoa Tân (quận 8). Anh T.V.H. đi vào khu vực máy nghiền giấy để làm vệ sinh trong khi cả khu vực trên đều ẩm ướt, đầy bùn sình ngập ướt lên cả mô tơ máy hút bột mà không mang giày. Khi có người cắm điện vận hành máy, T.V.H. bị điện giật chết ngay tại chỗ.

Vụ tai nạn xảy ra tại Công ty TNHH Điện lạnh Hoàng Phát (quận Bình Tân) cũng có nguyên nhân từ sự bất cẩn của CN. Anh H.V.T. là CN học việc, chưa được huấn luyện nghề hàn đã dùng mỏ hàn cắt vỏ máy nén máy lạnh nhưng không xả gas còn lại trong máy nén lạnh khiến máy nổ gây tai nạn. Anh H. được đưa đi cấp cứu nhưng đã chết tại bệnh viện.

Theo quy định, hội đồng bảo hộ lao động tại các đơn vị có chức năng huấn luyện an toàn lao động cho người lao động. Tuy nhiên, do lượng lao động thường xuyên biến động, lại không được ký kết hợp đồng lao động nên chủ sử dụng lao động không quan tâm đến vấn đề này.

Kiểm tra, xử lý: Nhiều bất cập

Mạng điện không đảm bảo an toàn xuất hiện nhiều trong các khu sản xuất

Lý giải nguyên nhân khiến các vụ TNLĐ gia tăng, thanh tra Sở LĐ-TBXH cho rằng, lực lượng thanh tra quá mỏng không thể thanh tra hết ATLĐ trên địa bàn. Thanh tra Sở LĐ-TBXH còn cho rằng, hiện chưa có cơ chế phối hợp kiểm tra đối với công trường xây dựng nên để kiểm tra toàn diện về an toàn lao động phải lập đoàn kiểm tra liên ngành.

Về công tác xử lý TNLĐ, phải chờ cơ quan công an chuyển hồ sơ nhưng đề xuất thì nhiều mà phản hồi thì ít! Đây cũng là một rào cản rất lớn cho việc tuyên truyền nhằm răn đe các doanh nghiệp không vi phạm.

Hiện thành phố có gần 50% số doanh nghiệp có quy mô từ 50 lao động trở lên không có hội đồng BHLĐ. Phần lớn cán bộ hội đồng đều kiêm nhiệm nên việc kiểm tra công tác an toàn lao động tại các doanh nghiệp được giao cho các quản đốc, tổ trưởng và bộ phận này thường kiểm tra theo đợt.

Hiện trường vụ gãy dầm cầu Chợ Đệm (H.Bình Chánh, TPHCM) ngày 10-3-2009 làm 1 công nhân chết và 1 người khác bị thương. Ảnh: SONG PHA

Bên cạnh đó vai trò của chính quyền cơ sở chưa thực sự được phát huy. Nếu phát huy tốt trách nhiệm của chính quyền cơ sở, chắc chắn sẽ là biện pháp hữu hiệu giải quyết tận gốc vấn đề về vệ sinh ATLĐ. Bởi lẽ, dù có tăng biên chế số lượng thanh tra viên ATLĐ lên gấp 10 lần như hiện nay mà chính quyền cơ sở bàng quan, thờ ơ với những vi phạm của doanh nghiệp và người lao động ngay trên địa bàn do mình quản lý thì vẫn không thể cải thiện tình hình…

Mặt khác, tình trạng “khoán trắng” cho các tổ thầu tư nhân khá phổ biến. Điều này dễ làm nảy sinh tình trạng thuê mướn lao động thời vụ nên người lao động không được tập huấn, không được trang bị đầy đủ phương tiện BHLĐ…

Bất cập khác nữa là mức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực ATLĐ quá nhẹ. Theo Nghị định 113/2004/NĐ-CP, vi phạm về vệ sinh ATLĐ bị xử phạt hành chính từ 200.000đ đến 20 triệu đồng. Với mức phạt này, không ít chủ doanh nghiệp “thà nộp phạt còn hơn phải đầu tư hàng trăm triệu đồng để bảo đảm vệ sinh ATLĐ theo đúng quy chuẩn”. Rõ ràng, TNLĐ “nóng” vì khâu kiểm soát hiện nay quá lỏng lẻo nên TNLĐ thường xuyên xảy ra là điều tất yếu.

Theo số liệu của Bộ LĐ-TBXH, năm 2008 cả nước xảy ra 5.836 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 6.047 người bị nạn, có 508 vụ TNLĐ chết người làm 573 người chết, 1.262 người bị thương nặng, trong đó có 129 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên. Trong đó, TPHCM luôn đứng đầu danh sách về số người chết do TNLĐ chết người trong những năm gần đây.

Cụ thể, trong năm 2008 có 87 vụ làm chết 88 người. Đầu năm 2009 đến nay số vụ TNLĐ chết người trên địa bàn TP đã tăng 300% so với cùng kỳ năm 2008. Cụ thể đã xảy ra 20 trường hợp TNLĐ chết người, trong đó riêng mười ngày đầu tháng 3 là 12 vụ.

HỒ VIỆT- MAI HƯƠNG

Kinh tế nông thôn và sứ mệnh giải cứu 031809

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:38 pm
Tags:

(TuanVietNam) – Trong các giai đoạn kinh tế khó khăn, nếu chính sách thích hợp được ban hành, đầu tư tăng thì đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp cho tăng trưởng GDP thường tăng lên, bù đắp đáng kể duy trì tăng trưởng kinh tế. Đây được xem là gợi ý quan trọng để Nhà nước ban hành các chính sách tái cấu trúc kinh tế trong hoàn cảnh suy thoái.
Giới học giả khuyến cáo, trong những thời điểm đất nước trải qua các tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế, nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển luôn là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế, xã hội nước nhà.

Tuần Việt Nam xin lược đăng Bản kiến nghị chính sách số 1 của Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (IPSARD)

Phần 1: Sứ mệnh giải cứu kinh tế của lĩnh vực nông nghiệp

Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là giải pháp tốt để duy trì ổn định xã hội và phát triển kinh tế chung trong các giai đoạn suy thoái. Trong những thời điểm đất nước trải qua các tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế như khi phe XHCN sụp đổ cuối thập kỷ 80, cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á cuối thập kỷ 90 và cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển luôn là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế, xã hội nước nhà.

Dẫn chứng là năm 1989, khi công nghiệp tăng trưởng âm, chính sách đổi mới của chỉ thị 100 của Bộ Chính trị (Khóa 6) tạo đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp đã lần đầu tiên giúp đất nước đủ gạo ăn và chuyển sang xuất khẩu.

Tiếp đó, năm 1999, chính sách mới của nghị quyết 6 Bộ Chính trị (Khóa 8) và vốn đầu tư cho nông nghiệp tăng cao tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho lao động gặp khó khăn của khủng hoảng kinh tế châu Á.

Và trong thời điểm hiện nay, rất có thể các chính sách mới của Nghị quyết TW 7 (Khóa 10) sẽ đem lại sức bật mới cho nông nghiệp Việt Nam vượt qua thách thức của suy thoái kinh tế thế giới.

Có thể khẳng định, vào những giai đoạn kinh tế khó khăn, nếu chính sách thích hợp được ban hành, đầu tư tăng thì đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp cho tăng trưởng GDP thường tăng lên, bù đắp đáng kể duy trì tăng trưởng kinh tế. Đây được xem là gợi ý quan trọng để Nhà nước ban hành các chính sách tái cấu trúc kinh tế trong hoàn cảnh suy thoái.

ICOR thấp nhưng không thu hút được đầu tư xã hội

Do tốc độ đầu tư suy giảm, kết cấu đầu tư thay đổi nhanh chóng, trở nên mất cân đối so với đóng góp quan trọng của lĩnh vực nông, lâm, thủy sản (NLTS) cho nền kinh tế. Đầu tư xã hội năm 2007 cho NLTS cũng chỉ chiếm 6,7% so với tổng đầu tư cho các ngành kinh tế và chỉ bằng 1/3 so với tỷ trọng GDP do ngành này tạo ra.

Vậy đầu tư vào lĩnh vực NLTS có hiệu quả không?

Để trả lời câu hỏi này, hệ số ICOR giữa các ngành kinh tế đã được xem xét. Hệ số ICOR đo lượng vốn cần thêm để tăng thêm 1 đơn vị giá trị sản lượng. Một cách ước tính nhanh ICOR là lấy tỷ lệ đầu tư/GDP trung bình chia cho tốc độ tăng trưởng GDP trung bình.

Giai đoạn 1996-2007, hệ số ICOR của toàn nền kinh tế Việt Nam ở mức 6,8[1]. Đây là tỷ lệ khá cao so với mức trung bình của các nước đang phát triển là 3. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam đang phải đổ quá nhiều vốn cho tăng trưởng.

Trong khi các ngành như CN-XD và dịch vụ đang bị chỉ trích có tỷ lệ ICOR cao thì ngành NLTS đang duy trì hệ số ICOR tương đối thấp.

Như vậy, xét về góc độ sử dụng vốn, đầu tư vào lĩnh vực NLTS so với các lĩnh vực khác đem lại hiệu quả cao. Vậy tại sao lĩnh vực này không thu hút được đầu tư xã hội?

Nguồn : Niên giám thống kê các năm, TCTK 2008.

Chi 1 đồng cho NCKH nông nghiệp sẽ thu được 11 đồng từ sản xuất

Vấn đề là, mặc dù hiệu quả đồng vốn tương đối khá trong lĩnh vực này nhưng không đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vượt qua những khó khăn to lớn về kết cấu hạ tầng yếu kém, dịch vụ kém phát triển, thiếu lao động tay nghề cao và các thủ tục phức tạp trong cấp đất, đăng ký và quản lý doanh nghiệp hoạt động…

Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy đầu tư công vào giáo dục có tác động rõ rệt thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, các đầu tư công khác như thuỷ lợi, đường nông thôn, và nghiên cứu nông nghiệp cũng đóng góp vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, xét về vai trò tạo việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, đầu tư công vào giáo dục, đường giao thông và sử dụng điện thoại và điện đều có tác dụng tốt. Về hiệu quả đầu tư, hoạt động nghiên cứu nông nghiệp đem lợi ích lớn nhất, cứ mỗi một đồng chi tiêu thì sẽ tạo ra được khoảng 11 đồng giá trị sản lượng nông nghiệp.

Một đồng đầu tư vào điện thoại và giáo dục cũng đem lại lợi ích 5-7 đồng giá trị sản lượng nông nghiệp. Đường giao thông và điện có tỷ lệ lợi ích/chi phí là 2 – 3,5, cao hơn tỷ lệ với thủy lợi. Về tác động xóa đói giảm nghèo, khi Chính phủ đầu tư 1 tỷ đồng nghiên cứu nông nghiệp có 246 người thoát khỏi nghèo đói, mỗi tỉ đồng chi tiêu vào đường sá sẽ có 207 người thoát nghèo. Đầu tư vào giáo dục, điện thoại và điện cũng mang lại lợi ích lớn cho việc giảm nghèo. [2]

Nghiên cứu của Viện Chính sách Chiến lược Nông nghiệp Phát triển Nông thôn (IPSARD) 2008 cũng chỉ ra rằng, các dự án mở rộng thủy lợi và kiên cố hóa kênh mương có tác động tốt đến hiệu quả kinh tế và tăng trưởng của các doanh nghiệp NLTS. Đối với các hộ NLTS chỉ có các dự án kiên cố hóa kênh mương đem lại tác động tích cực. Khối doanh nghiệp nhà nước đóng góp cho giá trị sản xuất NLTS còn ít. [3]

Hiện nay, trong khi đầu tư công tạo ra những tác động tích cực cho sản xuất nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo thì hiệu quả còn thấp và chưa đồng đều trên nhiều lĩnh vực quan trọng, chưa tạo ra đột phá về thu nhập của cư dân nông thôn và phát triển kinh tế nông thôn. Do đó, một mặt cần tăng tổng đầu tư cho NLTS, mặt khác cần điều chỉnh hợp lý tỷ trọng đầu tư từ thủy lợi sang nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp. Tăng tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ, giáo dục, cho thông tin liên lạc và giao thông nông thôn…

“Ma trận hạch toán xã hội” và liên kết kinh tế

Có thể sử dụng “Ma trận hạch toán xã hội” (Social Accounting Matrix – SAM) 2005 của Tổng cục Thống kê xây dựng năm 2007 theo giá sản xuất 2005, để tìm hiểu khả năng lan tỏa kết quả khi đầu tư tập trung cho NLTS.

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế và giữa các nhóm tác nhân tham gia vào hoạt động kinh tế của toàn xã hội bao gồm quan hệ chi tiêu – thu nhập, quan hệ sử dụng – cung cấp. Tác động liên kết giữa các ngành thể hiện dưới dạng liên kết ngược và liên kết xuôi.

Chỉ số liên kết ngành của các khu vực

Ngành

Liên kết ngược

Liên kết xuôi

Số nhân (Hệ số biên tiêu dùng cuối cùng)

Nông nghiệp

1,08

1,26

2,35

Công nghiệp – XD

0,92

0,83

2,00

CN Chế biến TP

1,28

0,93

2,77

Dịch vụ

1,02

0,82

2,22

Nguồn: Tính toán dựa trên SAM 2005

Kết quả phân tích cho thấy: khu vực nông nghiệp có mức liên kết ngược rất khá. Mặc dù không sử dụng nhiều đầu vào từ các ngành khác, nhưng trên tổng thể, tăng trưởng của nông nghiệp ảnh hưởng rất mạnh đến tòan kinh tế thông qua tăng thu nhập và chi tiêu gia đình. Trong khu vực công nghiệp thì ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có liên kết ngược khá mạnh đối với nền kinh tế. Đây là ngành có triển vọng lớn có thể giúp tăng mạnh giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Tuy nhiên, ở Việt Nam ngành này chưa phát triển đáng kể.

Đối với liên kết xuôi, khu vực nông nghiệp cũng có tác động liên kết trên mức trung bình chung. Do phần lớn sản phẩm trồng trọt được xuất khẩu trực tiếp không qua chế biến nên ngành trồng trọt ngoài lúa có chỉ số liên kết xuôi chỉ là 0.9. Ngành sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu… cung cấp sản phẩm cho khu vực nông nghiệp nên có mức liên kết xuôi lớn hơn 1. Phát triển các ngành này sẽ thúc đẩy mạnh khu vực nông nghiệp tăng trưởng và thông qua đó kích thích nền kinh tế phát triển. Đáng tiếc là các lĩnh vực này ở nước ta hiện nay còn rất yếu kém.

Bảng 3 trình bày “số nhân” của các ngành sản xuất tính từ bảng SAM 2005. Chỉ số này cho thấy tác động tổng hợp của việc tăng cầu của một ngành tác động tới tổng sản lượng của các ngành khác. Vì các ngành có mức độ liên kết khác nhau nên tác động của từng ngành lên các ngành khác cũng khác nhau. Kết quả phân tích số nhân tổng hợp cho thấy: các ngành sản xuất thuộc khu vực nông nghiệp có số nhân khá lớn, kế đến là các ngành thuộc khu vực dịch vụ. Trong khi đó, trong lĩnh vực công nghiệp chỉ có ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là có số nhân tương đối lớn.

Do vậy, tăng cầu sản phẩm các ngành khu vực nông nghiệp và công nghiệp chế biết thực phẩm sẽ tạo nên tác động mạnh mẽ, kích thích tăng sản lượng toàn nền kinh tế. Nếu xét theo ngành chi tiết, thì xếp hạng số nhân từ cao xuống thấp cho thấy ba ngành quan trọng nhất là chế biến thực phẩm, sản xuất lúa, và chăn nuôi, và nếu tính năm ngành hàng đầu thì thêm dịch vụ nông nghiệp và khoa học kỹ thuật.

Số nhân liên kết của các ngành chính

STT

Ngành

Số nhân

Xếp hạng

I

Khu vực nông nghiệp

2,35

1

Lúa

2,72

2

2

Trồng trọt khác

2,25

6

3

Chăn nuôi

2,60

3

4

Dịch vụ NN

2,40

4

5

Lâm nghiệp

1,95

10

6

Ngư nghiệp

2,16

7

II

Khu vực công nghiệp

2,00

7

Khai thác mỏ

1,71

14

8

CN Chế biến TP

2,77

1

9

Phân bón,…

1,91

13

10

Vật liệu xây dựng

2,16

8

11

Sắt thép

1,61

15

12

CN chế biến khác

1,91

12

13

Điện nước-Xây dựng

1,93

11

III

Khu vực dịch vụ

2,22

14

Khoa học công nghệ

2,35

5

15

Dịch vụ khác

2,09

9

Nguồn: Tính toán dựa trên SAM 2005

* TS Đặng Kim Sơn (Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (IPSARD)

[1] Đây là tỷ lệ khá cao so với các nước đang phát triển và có thể gây nhiều tranh cãi. IPSARD ước lượng chỉ số ICOR của Việt Nam dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê và có so sánh với ước lượng của các nhóm tác giả khác. Theo Bùi Bá Cường, Vụ trưởng Vụ Thống kê tài khoản Quốc gia thì chỉ số ICOR năm 2008 phải trên 7. Một số nguồn khác cho rằng ICOR xoay quanh 6,9. Điều đó chứng tỏ các kết quả ước lượng đều thống nhất ICOR Việt Nam cao và có xu hướng ngày càng tăng lên (Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam 1/2009).

[2] Shenggen Fan, Phạm Lan Hương và Trịnh Quang Long (2003)

[3] Để so sánh, số liệu được IMF (2006) cập nhật nhất đến năm 2004 cho thấy kinh tế nhà nước chỉ đóng góp dưới 4% vào tổng giá trị sản xuất của NLTS

“Cuộc chiến” không cân sức giữa giới học giả VN và TQ 031609

Filed under: chính sách,chính trị,thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:35 pm
Tags: ,

(TuanVietNam) – Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam.

>> Bài liên quan:
Vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa: cần một nỗ lực tổng hợp
Thận trọng khi biên soạn sách về Hoàng Sa – Trường Sa

Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.

Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa – Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Hiện tại, Việt Nam chỉ có ba cơ quan nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thức về lãnh hải và luật biển (Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo). Đếm số lượng các nhà nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa – Trường Sa, tính cả người đã mất, thì “vét” trong cả nước được gần một chục người.

Còn Trung Quốc đã có hàng chục cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tranh chấp lãnh hải và HS-TS từ hơn nửa thế kỷ qua. Ít nhất, có thể kể tới trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường đại học Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn, hoặc trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, v.v…

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc “chiếm sóng”

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Foreign Policy – tạp chí uy tín về quan hệ quốc tế. (Nguồn ảnh: wordpress.com)

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.

Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.
Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển – tạp chí của Thừa Thiên – Huế) . Số lượng bản in hạn chế – 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.

Việt Nam… yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành – Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý – lịch sử – chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)…

Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Danh mục một số cuốn sách của các học giả Trung Quốc và thế giới viết về quan hệ quốc tế, tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. (Ảnh: Mai Thi)

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.

Với kênh thứ ba – thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. – thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.

Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè “Vấn đề tranh chấp Biển Đông” (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.

Trung Quốc coi gần như toàn bộ Biển Đông là thuộc lãnh thổ của mình. Trên bản đồ, phần màu xanh lơ là vùng tranh chấp. (Nguồn ảnh: image.google.com)

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: “So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội”.

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.

Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v… Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu “nhạy cảm” là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

Bìa lót của cuốn sách nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp, của tác giả Chi-kin Lo (Hong Kong), xuất bản tại London năm 1989. (Ảnh: Mai Thi)

Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: “Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả”.

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là “nhạy cảm”, “mật”, và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để “xin” được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.

Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu – thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: “Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài”.

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” – như khẳng định của Bộ Ngoại giao.

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện “công ích” như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.

Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước “xã hội hóa” công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ…) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí “luật hóa”, để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế…Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách “ngoại giao nhân dân”, tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài

Trung – Mỹ đụng độ trên biển Đông: Chỉ là khởi đầu 071309
(TuanVietNam) – Vụ đụng độ trên biển Đông giữa các tàu của Trung Quốc và Mỹ gần đây đang dấy lên nhiều lo ngại về an ninh trên biển cũng như tham vọng của các nước đối với các tiềm năng của biển. Tuần Việt Nam giới thiệu phân tích của tác giả Mark J. Valencia* đăng trên Tạp chí kinh tế Viễn Đông ngày 11/3.

Về đụng độ Trung – Mỹ trên Biển Đông:
Đụng độ Mỹ – Trung và lựa chọn ứng xử cho ASEAN
Ba góc nhìn về xung đột Mỹ – Trung
Đụng độ Mỹ – Trung và ý nghĩa với tranh chấp biển ĐNA

Sự “quấy rối” đối với tàu đo đạc Impeccable của hải quân Mỹ đang hoạt động tại Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Sự khác biệt giữa Mỹ và Trung Quốc về luật biển là rất lớn. Thực tế, sự việc như thế này không phải là lần đầu tiên, và nếu không có sự đàm phán để đi đến thỏa hiệp, thì đây chắc chắn không phải là lần cuối cùng.

Một Công ước, mỗi bên một lý lẽ

Theo Công ước luật biển năm 1982 của LHQ, việc nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước chỉ có thể được tiến hành khi có sự đồng ý của nước có bờ biển liên quan. Đó là do những nghiên cứu và hoạt động như vậy có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý đối với các tài nguyên sinh vật và vô sinh của quốc gia có bờ biển liên quan. Việc nghiên cứu cũng chỉ được phép tiến hành vì mục đích hòa bình.

Trung Quốc đã phê chuẩn Công ước này. Mỹ chưa phê chuẩn, nhưng xác nhận rằng Công ước này phù hợp với thông lệ.

Vụ đụng độ giữa các tàu Trung – Mỹ trên Biển Đông ngày 8/3 là vụ đụng độ tồi tệ nhất trong vòng 8 năm qua. Ảnh: Reuters

Trung Quốc khăng khăng rằng những gì Mỹ đang làm nằm trong khuôn khổ điều chỉnh của các điều khoản về khoa học biển trong Công ước và không đồng ý theo yêu cầu của Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ lại phân biệt rạch ròi giữa việc nghiên cứu khoa học biển cần có sự đồng ý với việc đo đạc thủy văn học và quân sự được quy định riêng rẽ trong Công ước này.

Mỹ khăng khăng rằng việc đo đạc không cần đến sự đồng ý và đó là thực thi quyền tự do hàng hải và “các công dụng khác của biển phù hợp với luật pháp quốc tế” được Công ước này bảo vệ.

Những phản biện đối với quan điểm này chỉ ra rằng việc thu thập số liệu cho dù chỉ là vì mục đích quân sự cũng có thể vô tình hay hữu ý tác động đến các tài nguyên trong khu vực. Họ cũng phản biện rằng một quốc gia chưa phê chuẩn Công ước nói trên thì không có đủ tư cách để áp dụng Công ước đó làm lợi thế cho mình.

Nhiệm vụ của tàu Impeccable là sử dụng các tia mặt trời tần số thấp cả chủ động và thụ động cho việc dò tìm và theo dõi các nguy cơ dưới biển. Trung Quốc phản đối rằng việc thu thập những số liệu đó là việc “chuẩn bị chiến trường” và vì thế là một nguy cơ sử dụng vũ lực – vi phạm Hiến chương LHQ và rõ ràng không phải là việc sử dụng biển một cách hòa bình như Công ước yêu cầu.

Phía Mỹ thì lý luận rằng việc thu thập số liệu của họ hoàn toàn vì mục đích phòng thủ và dĩ nhiên không phải là nguy cơ sử dụng vũ lực.

Liên quan đến sự đụng độ gần đây, Trung Quốc nói rằng các tàu của họ không hề quấy rối tàu Impeccable, mà chỉ cố gắng ngăn cản tàu này vi phạm những gì mà Trung Quốc gọi là luật quốc tế và luật Trung Quốc, và khiến tàu này rời khỏi khu vực.

Mỹ thì cho rằng theo Công ước, Trung Quốc phải có sự “tôn trọng thích đáng” đối với các quyền hoạt động hàng hải của Mỹ và “việc quấy rối” tàu của Mỹ – đặc biệt là một tàu hải quân có quyền miễn trừ tối cao – là một hành động vi phạm nguyên tắc tôn trọng thích đáng trên.

Sự phân biệt này đối với các hạng mục khác nhau về đo đạc và nghiên cứu khoa học biển không chỉ đơn giản xoay quanh ý định và mục đích thu thập số liệu. Giá trị và ích lợi kinh tế tiềm năng của các số liệu đó đối với quốc gia có bờ biển liên quan cũng cần được xem xét, và rất khó để nói rằng những số liệu thủy văn học hay quân sự được thu thập hôm nay sẽ không có giá trị nào đó trong tương lai.

Nếu có tiêu chuẩn cho sự đồng ý thì đó sẽ là sự công nhận với cả mục đích của hành động và sự liên quan đối với các tài nguyên của các số liệu thu được.

Viễn cảnh đáng lo ngại

Tuy nhiên vấn đề thực sự lại là hải quân nước xanh đang mở rộng của Trung Quốc và căn cứ tàu ngầm lớn của nước này ở đảo Hải Nam. Hiển nhiên là Trung Quốc muốn bảo vệ “bí mật” của mình trong khu vực, bao gồm cả bí mật về hoạt động và năng lực của các tàu ngầm, cũng như bí mật về hình thái học của đáy biển.

Và cũng tất nhiên là Mỹ muốn biết càng nhiều càng tốt về năng lực tàu ngầm của Trung Quốc và khu vực mà có thể một ngày nào đó họ sẽ phải đến chiến đấu. Vì vậy, những sự vụ như thế này sẽ còn lặp lại và ngày càng nguy hiểm hơn, và đó cũng không chỉ là việc riêng giữa Trung Quốc và Mỹ.

Quan hệ Trung – Mỹ vẫn đang chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn.
Ảnh: chinadigitaltimes.net

Thực tế, các hoạt động thu thập thông tin tình báo và quân sự ở các vùng đặc quyền kinh tế kinh tế trên thế giới sẽ còn gây tranh cãi và nguy hiểm hơn nữa. Ở châu Á, viễn cảnh đáng lo ngại này phản ánh nhu cầu ngày càng tăng và đang thay đổi đối với thông tin tình báo kỹ thuật; các chương trình phát triển vũ khí lớn của của nước có bờ biển liên quan, đặc biệt là những tiềm năng chiến tranh điện tử ngày càng tăng và sự phát triển rộng rãi của các tiềm năng chiến tranh thông tin.

Hơn thế nữa, quy mô và phạm vi của các hoạt động thu thập thông tin tình báo của hải quân và không quân Mỹ sẽ còn mở rộng nhanh chóng trong một thập kỷ tới, cả về mức độ và hình thức hoạt động chưa từng thấy trong thời bình.

Chúng sẽ không chỉ trở nên tập trung hơn; mà nói chung sẽ còn mang tính xâm nhập cao hơn. Chúng sẽ gây ra những căng thẳng và các cuộc khủng hoảng thường xuyên hơn; chúng sẽ tạo ra các phản ứng phòng thủ và những động lực ngày càng leo thang; và chúng sẽ dẫn đến ngày càng nhiều bất ổn ở hầu hết các khu vực liên quan, đặc biệt là ở châu Á.

Do Mỹ chưa phê chuẩn Công ước nói trên nên vấn đề này không thể giải quyết thông qua Tòa án quốc tế về luật biển. Vì thế những chuyện đụng độ này sẽ trở thành chủ đề cho những tương tác hỗn loạn và thiếu trật tự, khi các nước cùng lên tiếng đòi và bảo vệ quyền lợi của mình qua các động thái cấp nhà nước, các cuộc biểu tình ở các nước bị tổn hại, và cuối cùng là việc cho – nhận trong các cuộc thương thuyết ngoại giao.

Sớm muộn gì thì qua quá trình này cũng sẽ có một sự đồng thuận nhất định. Nhưng để đến được thời điểm đó, vẫn sẽ có nhiều thủy thủ, phi công, và ngư dân phải bỏ mạng, và quan hệ giữa một số nước sẽ trở nên căng thẳng khi đòi hỏi đơn phương của các bên dẫn đến những sự cố mang tính bạo lực giữa các nước.

Một sự lựa chọn ít mang tính đối đầu hơn chính là tăng cường đối thoại, tìm kiếm các biện pháp xây dựng lòng tin, và nỗ lực hợp tác giữa các nước liên quan cũng như cố gắng để có sự thỏa hiệp và đồng thuận chung. Các cuộc đối thoại này nên đặt mục tiêu là phát triển những quy định chung mang tính tự nguyện về các hoạt động thu thập thông tin tình báo và quân sự tại các vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới.

* Mark J. Valencia là nghiên cứu sinh thỉnh giảng tại Viện hải dương học Malaysia (MIMA).

Chung Hoàng dịch

Thế giới đang chuyển sang “tả”- Nguyễn Trung- Hanoi – March 2009

Filed under: khủng hoảng,thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:24 pm
Tags: ,

Tham luận tại hội thảo “Positions of the Europpean and German LEFTs to global and local problems – and the challenge to unite”
Thưa Chủ tịch đoàn,

Thưa toàn thể các thành viên tham gia hội thảo,

Trước hết cho phép tôi với tư cách là một công dân Việt Nam ngưỡng mộ Rosa Luxemburg chân thành cảm ơn Ban Tổ chức về lời mời tham gia Hội thảo này. Cũng xin cho phép tôi với tư cách là công dân nước chủ nhà nhiệt liệt chào mừng các vị khách quý đến từ Đức và Thụy Điển có mặt trong buổi hội thảo hôm nay. Xin nói ngay, đấy cũng là hai quốc gia rất gắn bó với cá nhân tôi. Nước Đức là nơi tôi đã học tập thời sinh viên và làm việc ở đấy một thời gian khá dài. Thụy Điển là quốc gia đầu tiên tôi tìm hiểu mô hình phát triển với khát vọng rút tỉa được điều gì đó để đóng góp cho nước mình. Tôi nghĩ rằng những mối liên hệ như vậy và cuộc hội thảo hôm nay sẽ tiếp sức cho tất cả chúng ta trước thách thức phải đoàn kết lại!

Đúng, tất cả những gì đang diễn ra trên trái đất này đặt chúng ta trước thách thức phải đòan kết lại – như đã thể hiện trong tiêu đề của Hội thảo này.

Thưa các bạn,

Cách đây không lâu, cho đến tận giữa hay gần cuối năm 2008, có lẽ ít ai ngờ rằng khủng hoảng kinh tế thế giới lại diễn ra sâu rộng, trầm trọng như chúng ta đang chứng kiến – giống như các đợt sóng thần lũ lượt theo nhau ập đến hầu hết mọi nền kinh tế trên trái đất này. Từng đợt, từng đợt, mở đầu là sự rối loạn của thị trường tiền tệ, rồi lan sâu vào mọi lĩnh vực kinh tế khác, mọi quốc gia, và hiện nay đang tác động quyết liệt tới từng gia đình. Các cơn sóng thần ấy vẫn đang hoành hành, bất chấp mọi giải pháp ứng cứu và phối hợp hành động chưa hề có cho đến nay trên hành tinh này giữa các quốc gia. Các tổ chức quốc tế quan trọng như UNO, WTO, WB, IMF… cũng không làm được gì nhiều. Các đánh giá lạc quan hay bi quan về triển vọng cuộc khủng hoảng toàn cầu này hình như không thay đổi được thực tế là: hậu quả lớn nhất của cuộc khủng hoảng này và những hệ lụy của nó hình như vẫn còn đang ở phía trước và chưa lường hết được.

Có nhiều lý do để đánh giá cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra không phải là một cuộc khủng hoảng chu kỳ, mà đấy là cuộc khủng hoảng kết thúc một giai đoạn phát triển của kinh tế thế giới, kết thúc một xu hướng phát triển kinh tế được ca ngợi trong “thế giới phẳng” (Thomas L. Friedman, 2007) của quá trình toàn cầu hóa ở nấc thang hiện tại. Cuộc khủng hoảng này còn là là kết cục tất yếu của những học thuyết, những quan điểm kinh tế mang các tên gọi và sắc thái khác nhau, nhưng cùng chung một khuynh hướng và nguồn gốc: sự tôn sùng thái quá bàn tay vô hình của thị trường. Về nhiều mặt, cuộc khủng hoảng này có thể được xem xét là sự cáo chung giai đoạn cực thịnh của mọi học thuyết kinh tế nằm trong trường phái tân cổ điển.

Nhìn lại nửa sau thế kỷ 20, nhất là những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, sự tiến bộ vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, quá trình lan tỏa và công phá của các làn sóng toàn cầu hóa kinh tế thế giới đã gây nên những biến động lớn lao trên thế giới. Nét nổi bật của quá trình này là chủ nghĩa tân cô điển ngày càng chiếm ưu thế, tạo ra những tác động không nhỏ góp phần vào việc làm sụp đổ hệ thống kinh tế và chính trị của các nước Liên Xô – Đông Âu cũ, dẫn tới kết thúc chiến tranh lạnh. Tiếp theo là thời kỳ hoàng kim của chủ nghĩa tân cổ điển và người chị em sinh đôi của nó là chủ nghĩa tân tự do, với tham vọng về một “trật tự thế giới mới” (Robert Kagan, 2003), đạt tới đỉnh cao và cũng là sự kết thúc trong cuộc chiến tranh Iraq không có lối ra và trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra hôm nay.

Nhìn nhận thuần túy dưới góc độ kinh tế, khuynh hướng mê muội hay sùng bái quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới trong thời gian qua, nhất là từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, đã làm cho tầm mắt của nhiều quốc gia – nhất là của những người làm chính sách – bị mù quáng nhất định, hoặc thậm chí có người nhắm mắt làm ngơ trước sự tàn phá kèm theo của quá trình toàn cầu hóa. Sự tàn phá này diễn ra song hành, là mặt trái, là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế thế giới – gần như theo định luật bảo tồn năng lượng trong vật lý! Sự tàn phá này đang ngày càng quyết liệt, quyết liệt hơn so với chúng ta nhận thức được.

Thật vậy, sự phát triển bứt phá của công nghệ tin học và sức lan tỏa của toàn cầu hóa đã làm cho thị trường tài chính tiền tệ thế giới vốn là con ngựa bất kham càng trở nên bất kham hơn. Thị trường tài chính phái sinh trong bối cảnh này trên thực tế đã củng cố, từ nhiều thập kỷ nay đã phát triển một nền kinh tế ảo gần như bất khả kháng về nhiều mặt, tạo ra một động lực đầy sức quyến rũ và mang theo một khả năng tàn phá, đủ sức làm thiên lệch mọi xu hướng phát triển tự nhiên của nền kinh tế thật. Có số liệu nói tổng giá trị vốn danh nghĩa trên thị trường tài chính phái sinh của Mỹ năm 2008 ước khoảng 70 nghìn tỷ USD, nghĩa là gấp 5 lần GPD nước này. Đấy là các con số phác họa phần nào nền kinh tế ảo. Bức tranh chung hiện nay là trên thế giới đang tồn tại một nền kinh tế quá sức chịu đựng của trái đất này, loài người nói chung đang sống quá mức nó làm ra, với khoảng cách phân biệt giàu nghèo ngày càng xoạc rộng, và chứa đựng bất công không thể nào chấp nhận được. Người ta đã ước lượng, ví dụ để gìn giữ được sự cân bằng sinh thái như đã có ở thế kỷ 19, loài người ngày nay – với tất cả sự giác ngộ cần thiết phải có về bảo vệ môi trường – ít nhất cũng cần phải có 5 hay 6 trái đất!

Vâng, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chúng ta đang chứng kiến không phải là một cuộc khủng hoảng chu kỳ. Cuộc khủng hoảng này đặt ra đòi hỏi cả thế giới phải chuyển sang một nền kinh tế khác: (1)sử dụng năng lượng và tài nguyên không tái tạo được ít hơn, (2)bảo vệ môi trường sinh thái tốt hơn, (3)có sự điều tiết tốt hơn của trí tuệ và khả năng quản lý của con người để duy trì sự phát triển cân bằng – bao hàm cả ý nghĩa không được sống quá mức mình làm ra, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Với những đòi hỏi như vậy, cuộc khủng hoảng này đặt ra những nhiệm vụ mới bức xúc hơn bao giờ hết về phát triển con người và về năng lực quản lý của nhà nước cần thiết cho nền kinh tế mới này! Nói một cách hình ảnh: Thế giới đang đứng trước yêu cầu phải chuyển sang phát triển theo hướng “tả”, trong đó trí tuệ và dân chủ phải là những yếu tố chi phối quyết định.

Bước ngoặt mới này của kinh tế thế giới chính là sự thách thức trực tiếp đối với tất cả những ai trên trái đất này coi mình là “cánh tả”: Làm gì để thúc đẩy mọi nơi, mọi người, mọi quốc gia đáp ứng tốt nhất 3 đòi hỏi mới nêu trên của thế giới? Làm gì để cho trí tuệ và dân chủ có tiếng nói quyết định! Tinh thần Rosa Luxemburg là như vậy!

Gánh nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang diễn ra trước hết đổ dồn vào những nước nghèo, những nước đang phát triển. Đó là những quốc gia không có, hoặc có rất ít trong tay khả năng đương đầu với chính cuộc khủng hoảng này. Hơn nữa, những quốc gia này còn phải đương đầu với những những hệ quả của cuộc khủng hoảng này được dồn tới từ các nước phát triển. Hãy lấy Việt Nam làm ví dụ: Trước khủng hoảng Việt Nam xuất khẩu dầu với giá 140 USD/thùng, nay chỉ còn lại khoảng 40 USD/thùng, xuất khẩu gạo với giá 1100 USD/tấn, nay chỉ còn lại khoảng 550 USD/tấn, nhiều mặt hàng khác không bán được đối với một quốc gia xuất khẩu tới 60% GDP, xu thế bảo hộ mậu dịch tại các nước phát triển đang gia tăng, sự di chuyển khó kiểm soát của các dòng vốn nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền mạnh liên quan đến nền kinh tế Việt Nam, v… v…; trong khi đó riêng năm 2009 Việt Nam sẽ có khoảng 400.000 người mất việc làm và khoảng 1,7 triệu người đến tuổi lao động cần việc làm rất khó đáp ứng trong tình hình hiện nay… Phải nói đấy là những thách thức rất lớn đối với Việt Nam, mặc dù đấy là một nước đã có được một quá trình phát triển năng động trong suốt hai mươi nhăm năm qua!

Như nhiều nước đang phát triển khác, ngày nay Việt Nam không còn phải đương đầu với chủ nghĩa thực dân, kể cả chủ nghĩa thực dân mới. Thời đại này đi vào quá khứ rồi. Thế nhưng, trong bước ngặt mới này của kinh tế thế giới, Việt Nam đang phải đương đầu với (1)nguy cơ bị biến thành bãi thải công nghiệp, (2)sức ép mọi mặt của các thế lực lớn từ bên ngoài, (3)sự xâm lăng về văn hóa từ bên ngoài vào, và (4)sự tàn phá do môi trường tự nhiên bị hủy hoại. Cả 4 “kẻ thù” mới này hợp lực với nhau có thể đẩy Việt Nam vào sự nô dịch mới, sự nô dịch của nghèo hèn và lệ thuộc, sự nô dịch không cần chủ nghĩa thực dân!

Không thể nào khác, câu trả lời của Việt Nam trước bước ngoặt chung của thế giới, và cũng là bước ngoặt phát triển của chính quốc gia mình[i], chỉ có thể là: Trí tuệ và dân chủ! Nếu không, Việt Nam sẽ không có gì – ngoài cái nghèo và cái hèn lớn hơn!

Thưa các bạn,

Cách đây 90 năm Rosa Luxemburg bị sát hại. Nhưng tư tưởng của Rosa Luxemburg sẽ còn sống mãi: “Không có dân chủ, không có chủ nghĩa xã hội!”

Vâng, cuộc sống ngày nay khắp nơi trên thế giới khẳng định: Không có dân chủ, không có phát triển, không có giải phóng và quyền con người, không có phát huy con người, không có bất kỳ tiến bộ xã hội nào! Cuộc sống ngày nay khắp nơi trên thế giới cũng đang khẳng định: Còn rất nhiều việc đòi hỏi phải cống hiến trí tuệ, nghị lực và trái tim mình để thực hiện dân chủ, chứ không phải để cầu xin.

Thưa các bạn, trong di sản tinh thần, Rosa còn để lại cho chúng ta khoảng 900 bức thư yêu – giữa Rosa và những người Rosa yêu mến, nhất là các thư gửi Leo Jogisches. Tôi chia sẻ một nhận xét rất có ý nghĩa đối với tôi của một số người đã đọc những bức thư tình này: Đọc các thư, sẽ thấy ngay không phải là các dòng chữ Rosa viết, mà là Rosa đang nói, với tất cả giọng điệu và âm hưởng của mình, với tất cả nhiệt huyết của một trái tim đang yêu rực cháy! Đấy chính là Rosa!.. Ôi, tôi thầm mong cuộc sống của chúng ta trên trái đất này lúc nào đó sẽ vợi bớt đi những căng thẳng xé tim, nhức đầu, sẽ dành lại cho chúng ta chút síu thời gian nào đó, để có thể gặp nhau như hội thảo hôm nay, song không phải để bàn về “positions”, về “leftist and leftism…”, mà là để chiêm nghiệm Rosa của tình yêu, để chúng ta được sống người hơn nữa!

Chân thành cảm ơn sự chú ý của các bạn./.

Hà Nội, ngày 05-03-2009

Phe ta hại phe mình- thanh long Việt Nam tìm được đường vào thị trường Mỹ- 031209

Filed under: thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 1:55 am

(TBKTSG Online) – Nông dân trồng thanh long ở Bình Thuận, Long An hay Tiền Giang cũng như những ai quan tâm tới thanh long, gần như chưa kịp mừng trước thông tin trái thanh long Việt Nam rộng đường sang thị trường Mỹ vào tháng 11 năm ngoái thì nay tình hình đã đảo ngược hoàn toàn, khi nó gần như đã “tắc đường”.

Phải nói rằng việc trái thanh long Việt Nam tìm được đường vào thị trường Mỹ là nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, tới doanh nghiệp lẫn các chủ trang trại thanh long, khi họ phải mất thời gian nhiều năm, lẫn cả tiền của để cơ quan chức năng của Mỹ kiểm tra và cho phép xuất khẩu vào thị trường rộng lớn này.

Khi những container trái thanh long, một đặc sản của Việt Nam, có mặt ở cảng của Mỹ, báo chí trong nước không tiếc lời ca tụng, vì với hy vọng, sau thanh long, còn nhiều mặt hàng trái cây đặc sản khác của Việt Nam nối gót theo sau.

Thế nhưng, cũng chỉ vài container của một vài công ty đủ điều kiện xuất khẩu, lấy nguồn từ các trang trại đã được phía Mỹ kiểm tra và công nhận, thì gần như 2 tháng qua, việc xuất khẩu thanh long bị bế tắc. Và cũng trong hơn 2 tháng qua, báo chí trong nước, cũng như lúc đầu, lại ra sức phân tích tại sao trái thanh long lại bị “tắc đường”.

Tựu trung lại thì nguyên nhân khiến trái thanh long không còn đi vào thị trường Mỹ (hoặc nếu có thì khá hiếm hoi) lại thuộc về các doanh nghiệp Việt Nam. Khi thì doanh nghiệp xuất khẩu thanh long cùng nông dân đổ lỗi cho việc độc quyền trong chiếu xạ hoặc phí chiếu xạ quá cao. Xuất khẩu thanh long vào Mỹ phải qua chiếu xạ theo tiêu chuẩn của nước này và hiện Việt Nam mới chỉ có 1 cơ sở chiếu xạ được Mỹ công nhận.

Khổ nỗi cơ sở chiếu xạ này cũng đồng thời là nhà xuất khẩu thanh long, nên dĩ nhiên, những người kinh doanh thanh long khác có quyền suy nghĩ, suy đoán theo kiểu “ông làm của ông xong rồi mới làm dịch vụ cho tui”, hay “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

Lúc thì các doanh nghiệp đổ lỗi cho nhau, nhà xuất khẩu thì bảo có thanh long, có hợp đồng nhưng không chiếu xạ được vì cơ sở chiếu xạ bị “trục trặc kỹ thuật”. Trên báo chí, thấy ai nói cũng có lý nhưng bản chất của vấn đề, theo nhiều doanh nghiệp kinh doanh thanh long, lại không phải như những hiện tượng mà người ta tranh cãi trên công luận.

Bản chất của nó chính là “phe ta hại phe mình”, hay nói khác hơn chính là tâm lý, là thói quen “ăn xổi ở thì” trong kinh doanh xuất khẩu mà doanh nghiệp Việt Nam hay vướng phải chứ không riêng gì chỉ có trái thanh long. Khi những lô hàng thanh long đầu tiên của Việt Nam xuất đi Mỹ, chính các doanh nghiệp xuất khẩu đã phấn khởi cho biết giá thanh long xuất khẩu khá tốt, 3 – 4 đô la Mỹ/kg, trong khi thanh long nguyên liệu mua của nông dân chỉ xấp xỉ 1 đô la Mỹ/kg.

Nhưng rồi, theo lời một doanh nghiệp thanh long kể lại, trong đoàn doanh nghiệp sang Mỹ gần đây, có khá nhiều doanh nghiệp kinh doanh thanh long và không hiểu sao họ chào bán chỉ có trên dưới 2 đô la Mỹ/kg, tức sau khi trừ đi chi phí vận chuyển thì nhà xuất khẩu chỉ còn dưới 1 đô la Mỹ, và nếu trừ tiếp chi phí chiếu xạ thì phần còn lại càng thấp hơn.

Tất nhiên, các khách hàng Mỹ chấp nhận mua giá thấp và từ chối nhận hàng các hợp đồng đã ký giá cao trước đó, doanh nghiệp đã ký giá cao trước đó thì mất uy tín với khách hàng. Đến lúc này thì đùng một cái, cơ sở chiếu xạ thanh long bị trục trặc kỹ thuật mà thông tin về trục trặc của nó khá tù mù. Đến đây thì ai cũng có thể hiểu được tại sao chỉ việc chiếu xạ và xuất thanh long từ các cơ sở đã được phía Mỹ công nhận mà lắm người lên báo chí tranh cãi sôi nổi như thế.

Rồi đây cơ sở chiếu xạ sẽ hoạt động trở lại nhưng liệu doanh nghiệp còn có lãi khi xuất thanh long vào Mỹ với giá thấp không thể thấp hơn? Đó là chưa kể trong con mắt khách hàng Mỹ, các doanh nghiệp xuất khẩu thanh long Việt Nam đang cấu xé lẫn nhau.

Vietnam fund managers keep one eye on US health 031209

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:52 am
Tags:

VNBusinessNews – The US economy’s health is a key factor in considering investment in the Vietnamese stock market, fund managers have said
Pham Do Chi, deputy general director of VinaCapital Group, the nation’s largest investment firm, said the US economic situation influences the Vietnamese market since a slump in exports to the world’s largest economy means many listed firms would be hit.

His firm is cautious about investment here as the US economy is still in recession, he said.

“Some optimistic analysts think the US economy will recover by the end of this year,” said Chi. “I once thought the same. But now I have changed my mind. I think it will recover by mid-2010 at the soonest.”

He said though Vietnamese shares follow US trends, it does not mean that the market always tracks overnight gains or falls on Wall Street.

Nguyen The Lu, general director of Saigon Asset Management (SAM), said if the local market drops further, SAM would trim its holding in export companies, financial firms and banks since they are likely to struggle this year.

According to fund manager Dragon Capital, Vietnam remains at the mercy of international trends, and rallies will need to get confirmation from offshore.

The VN-Index, Vietnam’s major stock index, slumped 66 percent last year and was Asia’s worst performer as the economy grew at its slowest pace since 1999, hurt by slumping demand for the country’s exports.

Emerging-market equity investors withdrew a record US$48.3 billion from their funds in 2008, said US-based EPFR Global, which provides investment flow data globally.

Speaking about real estate investment
, Chi said fund managers are now investing in medium-priced buildings and three- and four-star hotels instead of high-end office buildings and five-star hotels unlike earlier.

Lu said 40 percent of his company’s real estate fund is now in cash, explaining it is being very careful for fear that real estate prices could decrease further.

Dominic Scriven, managing director of Dragon Capital, said since Vietnam has some advantages like high domestic consumption, what has happened in the country is not as bad as in the US.

Lu said: “At 10:00 p.m., I can see Lotte Mart supermarket in Ho Chi Minh City’s District 7 still crowded. Restaurants in the city are still busy. It is very different to what is happening in the US.”

Giá thật nhà chung cư ? 031309

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:46 am
Tags:

Giá thành thực tế của mặt bằng xây dựng một căn nhà chung cư là không cao, khoảng 4 triệu/m2, người lao động có thể mua được nhà. Nhưng khi đến tay người tiêu dùng lại gấp 3, gấp 4 giá gốc. Vì sao?

Kinh tế khủng hoảng, thị trường nhà đất chững lại và đang đi xuống. Nhiều nhà đầu tư giảm giá căn hộ. Người mua đang tự hỏi giá nhà chung cư đã xuống đáy chưa? Cơ sở nào để xác lập giá nhà chung cư? Đây đang là cơ hội để người dân có nhu cầu mua nhà chung cư đánh giá lại giá trị thực của chung cư cao tầng thời gian qua?

Giá “trên trời”

Theo một số quảng cáo trên các phụ trương báo chí, phóng viên đã tiến hành đến một số khu đô thị mới xây để tìm hiểu thực tế. Chị Lan, chủ một căn hộ tại khu nhà CT5 – Sông Đà Mỹ Đình cho biết, do nhà có người làm ở Tổng Cty Sông Đà nên được mua nhà với giá gốc. Nay không có nhu cầu sử dụng nên chị muốn bán nhà. Mức giá của chị đưa ra khiến những người làm công ăn lương như chúng tôi không khỏi giật mình: 19 triệu đồng/m2. Vị chi, để có được căn hộ 120m2 của chị, người mua phải bỏ ra hơn 2 tỷ đồng. Thấy cao quá, chúng tôi xin khất giao dịch để đi tìm hiểu.

Đi qua hàng loạt Cty kinh doanh, môi giới bất động sản như HT, PT, NC… ở các khu đô thị lớn, hầu hết các Cty này đều nằm trong tình trạng, hàng bán thì nhiều, người mua quá ít.

Anh Dương Quang Phong, Giám đốc Cty môi giới bất động sản QP thường xuyên hỗ trợ, môi giới khách hàng mua bán nhà đất ở khu vực các quận Thanh Xuân, Hà Đông hay huyện Hoài Đức cho biết. Mấy tháng nay, Cty chẳng bán được căn nhà nào cho khách hàng. Anh Phong nhìn nhận, người đi mua chủ yếu có mức sống trung bình. Số khác có tiền thì chỉ dùng vốn mua rồi bán ăn chênh lệch. Cũng theo anh Phong, giá nhà tại các khu vực chung cư ở Thanh Xuân hay Mỹ Đình chỉ nên vào khoảng từ 8 – 9 triệu đồng/m2 thì thị trường mới náo nhiệt, chứ cứ “hét” như hiện nay thì rất ít giao dịch thành công.

Rảo bước tiếp qua các khu đô thị khác như Linh Đàm, Định Công, Pháp Vân, tình trạng giao dịch ở đây cũng ảm đạm như các nơi khác. Người bán nhiều hơn người mua. Tìm hiểu tiếp về những người mua này, phần đa đều là những người “kiếm chác” được các xuất mua ưu đãi từ Cty, người thân (không có tiền góp vốn ban đầu)… sau đó, có được giấy tờ đầy đủ là tung ra bán kiếm lời. Bởi thế mới xảy ra tình trạng người cần, rất cần, người thừa càng thừa.

Chị Lê Thị Minh, một “đầu nậu” kiểu này kể: Lúc đỉnh điểm, toàn bộ vốn liếng của nhà, chị tung vào đặt cọc cho mỗi phần góp ban đầu, sau đó xong thủ tục là bán. Tuy nhiên, hơn 1 năm nay, chị phải “giải nghệ” vì lãi suất ngân hàng “chập chờn”, mua bán không thuận. Đến nay chị vẫn còn 2 căn hộ đang chờ xây xong mà chưa bán được cho ai. Chị Minh cũng tiết lộ, dân buôn bán bất động sản, căn hộ phất được chủ yếu nhờ… trốn thuế. Theo chị Minh, một căn hộ mua giá gốc khoảng 6 – 7 triệu đồng, bán ra khoảng 15 triệu đồng/m2. Vô hình chung, người bán lãi gấp đôi giá gốc.

Không mua được theo giá thật

Theo Quyết định số 40/2008 của UBND TP Hà Nội ban hành thì quy định giá nhà chung cư chỉ rơi vào khoảng 4 triệu đồng/m2. Vậy tại sao người có nhu cầu thật sự lại không bao giờ mua được giá đó, hay chỉ là ăn phải “quả chát”.

Kỹ sư Nguyễn Đăng Tâm, công tác tại Tổng Cty Xây dựng Dầu khí cho biết: Giá thành thực tế của mặt bằng xây dựng là không cao, với giá khoảng 4 triệu/m2, người lao động có thể mua được nhà. Nhưng khi đến tay người tiêu dùng lại gấp 3 – 4 lần giá gốc. Kỹ sư Tâm cũng cho biết: Thực tế, phần đa các công trình xây nhà cao tầng ở Việt Nam đều na ná như nhau. Nhãn mác xây dựng, sắt thép, bê tông chẳng khác nhau là bao thì giá cũng đâu cần khác nhau. Khác chăng là khu vực nào hạ tầng đồng bộ hơn, vị trí gần trung tâm hơn thì giá có thể cao hơn 10 – 20% so với mặt bằng chung. Người mua nhà không thể có chuyên môn xác định những điều này. Thêm nữa, đánh vào tâm lý thích “cao cấp” của một số người nên khi xây dựng các khu chung cư, đơn vị nào cũng thêm tiếng Anh, tính từ cao cấp vào khiến người mua an tâm và tin tưởng những dòng chữ đó thì ăn giá đắt cũng là bình thường. Kỹ sư Tâm cũng khẳng định, căn nhà cao cấp nhiều khi chưa ở đã phải gọi thợ sửa chữa.

Khi được hỏi về vấn đề “lệch pha” này, một số giám đốc doanh nghiệp bất động sản (xin giấu tên) cho biết: Thực tế, số kinh phí để bỏ ra “vận động” hành lang phải mất khá khá (có đến hơn 30% chi phí) nên khi có giấy tờ, mặt bằng rồi, các doanh nghiệp lại thi nhau “chặt chém” người mua. Ai mua thì mua nên mới có sự bất nhất đến vậy.

FastMoney.VN

Software Outsourcing in Vietnam – Cheapest in Asia 031509

Filed under: thông tin,thị trường (market),Uncategorized — ktetaichinh @ 1:42 am

VNBusinessNews – Viet Nam is ranked in the top ten of software outsourcing in Asia and has the lowest price of outsourcing. Gartner – a market research company – has publicised the top ten of offshore service providers
in the Asia – Pacific, including Viet Nam
Gartner’s report does not rank nations but provides evaluation under 10 criteria related to software outsourcing, i.e. foreign language skill, Government’s support, human resource, infrastructure, educational system, cost, economic and political stability, cultural similarity, globalisation ability, and security and privacy protection.

These criteria are rated as poor, fair, good, very good, and excellent. Accordingly, Vietnam is seen as the country with the cheapest software outsourcing among 10 nations. However, other criteria of Vietnam are rated poor and fair, four of which are assessed poor, including foreign language skill, Government’s support, infrastructure, and security and privacy protection. The other five are only at the fair level.

Overall, Vietnam is ranked at the bottom, even behind such weaker competitors as the Philippines, Thailand, and Pakistan. In particular, Vietnam is only ranked higher than Thailand in terms of cost, the same poor position in security and privacy protection, and lower in other criteria. In comparison with the Philippines, Vietnam just stays at a higher position in outsourcing cost while being much far behind in other criteria from foreign language skill, Government’s support, human resource, infrastructure, educational system, cultural similarity, to globalisation ability.

In its report, Gartner states that India is the leading Asian country in software outsourcing. However, China and the Philippines are becoming challengers for this first rank. India’s sale of software outsourcing is still increasing but its global share is decreasing. Meanwhile, India is facing many problems that affect software outsourcing like employment cost, high rate of changing jobs, political issues (most typical is the terrorism in Mumbai and recently is the financial scandal at Satyam Group).

Based on overall criteria and market size, Gartner believes that India and China have the most advantages in software outsourcing in Asia. Australia, New Zealand, and Singapore will have the best infrastructure and educational system suitable for high-valued offshore services.

Regarding cost, the picture is completely different. Vietnam is ranked the first while China, India, Pakistan, the Philippines, and Thailand stay behind. The economic and political environment is an important issue for companies when they outsource. Still, Vietnam, Pakistan, the Philippines, and Thailand are rated low.

The top ten software outsourcing nations in the Asia-Pacific in alphabetical order includes: Australia, China, India, Malaysia, New Zealand, Pakistan, the Philippines, Singapore, Thailand, and Vietnam. (VCCI)

Software outsourcing: low cost not an advantage 031609

VNBusinessNews – According to recent surveys, Viet Nam is one of the top countries for software outsourcing and for the cheapest software outsourcing costs. However, its IT competitiveness has not improved
Is the software outsourcing industry reiterating the mistake of the garment industry when it sees “low cost” as an advantage, while the quality and economic value is low?

Listening and thinking

Viet Nam has been familiar with evaluation and ratings, such as Vietnam’s young population, abundant labor force, Vietnamese laborers being hard-working and Vietnam’s low labor costs.

However, these things are correct for only 50% because Vietnam’s labor force is young and abundant, but only have strength and lack skills and knowledge. They are hard working but they lack creativeness.

After becoming one of the most attractive destinations for software outsourcing, Vietnam is listed among the top ten Asian – Pacific countries that have cheap labor costs for software outsourcing by Gartner.

Experts said that the local software outsourcing industry should see these advantages as potential values because low costs cannot become high economic values without effectiveness and quality.

According to Gartner, a reputed market research firm, among criteria like language skills, the government’s assistance, human resources, infrastructure facilities, educational systems, and cost, Vietnam has only one advantage: low cost. It is average for the other criteria and poor for the four norms: language skills, the government assistance, infrastructure, security and protection of personal rights.

Gartner’s survey is similar to the Business Software Alliance (BSA) and The Brown-Wilson Group’s judgments that Viet Nam is too weak in research and development, human resource training, security and intellectual property in software outsourcing.

Development strategy needs to be reviewed

Last year, the country’s software industry earned a growth rate of around 20% and a total revenue of more than $500 million, according to the Vietnam Software Association (Vinasa).

The figure is reduced by nearly half in comparison to 2007, and lowers than the yearly plan (growth rate of 25%). Moreover, it is much lower than the target (35-40%) set in the government-approved software industry development program to 2010.

Why? Vietnam has not had breakthrough improvement in human resources development for the IT industry. According to BSA, out of every 10 IT students, there is only one who meet employers’ requirement. This problem sources from the educational system. Even those who have good IT qualifications are poor at foreign languages and presentation skills.

BSA also pointed out that Vietnam is very weak at research and development activities. Vietnam has not had any patent in this field for many years.

The software industry needs to review its development strategy to avoid the mistake of the garment industry. (LD)

Next Page »

Blog at WordPress.com.