Ktetaichinh’s Blog

March 17, 2009

Quay lại thị trường nội địa: Khó mà dễ 031009

(TBKTSG Online) – Một trong những phương cách mà các doanh nghiệp gỗ hiện nay đang thực hiện để vượt qua khó khăn là quay trở lại thâm nhập thị trường nội địa. Kinh nghiệm của Công ty TNHH gỗ Mỹ Tài sau hơn 3 năm “bám trụ” thị trường trong nước song hành với xuất khẩu, có thể tạm đúc kết trong ba chữ: “khó mà dễ”.

Có thể nói Mỹ Tài không phải là doanh nghiệp gỗ lớn, chỉ vào bậc trung khi thành lập cách nay chục năm tại Bình Định. Giờ đây, nhà máy sản xuất của công ty rộng 6 héc ta, có 850 công nhân với công suất chế biến khoảng 60 container sản phẩm gỗ mỗi tháng, doanh thu 10 -15 triệu đô la Mỹ mỗi năm.

Thế nhưng từ hơn 3 năm trước, khi các doanh nghiệp gỗ liên tục ký các hợp đồng lớn đi Mỹ, EU… kim ngạch xuất khẩu mỗi doanh nghiệp đều tăng cao thì Mỹ Tài âm thầm bắt tay vào việc thâm nhập thị trường nội địa, vốn không phải “miếng xương dễ gặm”, nói theo kiểu của các doanh nghiệp gỗ
Khó trăm bề

Cái khó đầu tiên, theo lời ông Lê Duy Linh, Tổng giám đốc công ty, đó là tư tưởng… thích xuất khẩu. Ai cũng biết việc làm hàng gỗ xuất khẩu khá “khỏe” cho giám đốc doanh nghiệp. Có đơn hàng của khách, cùng mẫu mã khách hàng giao, cứ việc vay ngân hàng mua nguyên vật liệu và sản xuất hàng loạt, giao hàng hàng loạt và thu tiền một lần khỏe re.

Do vậy từ một doanh nghiệp xuất khẩu gỗ, khi thêm mảng phân phối thị trường trong nước thì từ giám đốc tới nhân viên đều phải thay đổi cách tiếp cận khách hàng, tiếp cận thị trường.

Phải tuyển dụng nhân viên thiết kế mẫu mã, tiếp thị, rồi bộ phận lắp ráp, lo bảo hành sản phẩm, công trình. Trong khi trước đây, nếu chỉ xuất khẩu đơn thuần, không cần nhiều nhân viên lo khâu bán hàng như vậy
“Làm hàng xuất khẩu giống như bán sỉ, dễ bán, quay vòng vốn nhanh, không cần hậu mãi vì nhà nhập khẩu đã lo hết, còn bán trong nước, như bán lẻ, vừa quay đồng vốn chậm, vừa phải lo dịch vụ hậu mãi, không khác gì lượm bạc cắc”, ông Linh phân tích.

Chính vì vậy, nên khi xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường trong nước cách nay ba năm, ông Linh đặt ra mục tiêu… chịu lỗ mảng trong nước tới ba năm, lấy lợi nhuận của mảng xuất khẩu choàng qua.

Trong thời gian Mỹ Tài thâm nhập thị trường trong nước thì cũng có một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ lớn khác cũng làm tương tự, nhưng khá ầm ĩ theo kiểu “trống giong cờ mở” khi khai trương siêu thị, cửa hàng giới thiệu sản phẩm nhưng rồi cuối cùng im hơi lặng tiếng mà trong giới kinh doanh gỗ đánh giá là thất bại.

Ông Linh cho biết mình cũng rút ra kinh nghiệm từ các doanh nghiệp bạn, rằng việc thâm nhập thị trường trong nước phải kiên trì, lâu dài chứ không thể một, hai năm mà đòi hỏi có lời ngay như xuất khẩu. Một số doanh nghiệp gỗ, dù giám đốc kiên trì nhưng cấp dưới nôn nóng, thấy lỗ lâu quá, rồi các bộ phận khác như xuất khẩu chẳng hạn, “xúc xiểm” bộ phận thị trường nội địa, thế là thu hẹp dần.

“Tôi nói với anh em trong công ty là chấp nhận lỗ và một khi mà thị trường nội địa có lời là một năm có thể bù đắp được hai, ba năm lỗ”, ông nói và cho biết công ty mình may mắn khi xông vào thị trường nội địa, lại chọn đúng phân khúc phù hợp, nên từ hòa vốn tới lãi chứ chưa bị lỗ.

Chọn đúng khách hàng

Xưởng chế biến sản phẩm gỗ của Công ty TNHH Mỹ Tài. Ảnh: Hồng Văn

Gần như lâu nay Mỹ Tài xuất khẩu chủ yếu là đỗ gỗ sân vườn, đồ gỗ ngoài trời (gọi chung là hàng outdoor), nên khi thâm nhập thị trường nội địa, ông Linh, thay vì chọn hàng nội thất trong nhà (indoor) như các doanh nghiệp khác, lại chọn hàng outdoor thế mạnh của mình.

Sản phẩm là vậy còn phân khúc thị trường nội địa ông nhắm vào mảng khách sạn, khu du lịch, quán cà phê, nhà hàng, tức là khách hàng cao cấp.

“Một khi khách hàng bỏ ra 1 triệu đô la Mỹ để xây dựng nhà hàng, quán cà phê, hàng chục triệu để làm một khách sạn hay khu du lịch thì đồ gỗ dành cho khách hàng không còn đơn thuần là chất lượng sản phẩm, mà còn là dịch vụ, hậu mãi, thiết kế”, kinh nghiệm của ông Linh.

Hai mảng chính của phân khúc thị trường nội địa mà Mỹ Tài đang nhắm tới là biệt thự cao cấp và khách sạn 5 sao, các khu du lịch. Nhiều khách sạn lớn ở TPHCM hiện có đổ gỗ outdoor gắn thương hiệu Mỹ Tài, như New World, Majestic, Palace, hay sân gôn Thủ Đức…

Ông Tài tự hào nói, 50% khách sạn 5 sao ở TPHCM hiện nay ít nhiều có sử dụng hàng gỗ của Mỹ Tài và từ những khách sạn này, như “hữu xạ tự nhiên hương”, các khách sạn 4 sao cũng tìm tới công ty. Một số sân gôn sau khi dùng hàng gỗ outdoor của công ty tiến tới giao cho công ty đảm nhận trang trí nội thất các biệt thự, căn hộ trong sân gôn.

Cái “dễ” của thị trường nội địa, theo như ông Linh, là một khi “đã đi vào quỹ đạo thì tăng trưởng rất nhanh, khách hàng tự tìm đến mình chứ không như khó khăn ban đầu”.

Bây giờ, sau hơn 3 năm bán hàng nội địa song hành xuất khẩu, năm ngoái doanh số bán nội địa của Mỹ Tài hơn 3 triệu đô la Mỹ, chiếm hơn 20% tổng doanh thu của công ty. Dù xuất khẩu của công ty năm ngoái hơn 10 triệu đô la Mỹ, tăng trưởng tới 40% nhưng năm nay, do tình hình kinh tế thế giới, ông Linh chỉ khiêm tốn tăng xuất khẩu 10%, dù rằng đơn hàng xuất khẩu hiện đã ký đủ làm cho tới giữa năm nay.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online từ ngày 24-2 đã mở diễn đàn “Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) làm gì để vượt qua suy thoái?” ghi nhận ý kiến, suy nghĩ của các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế cũng như các bài viết của phóng viên phản ánh tình hình khó khăn của doanh nghiệp và những đề xuất, kiến nghị có thể giúp doanh nghiệp trụ vững trong “cơn lốc” suy giảm kinh tế.

Bài vở, ý kiến tham gia diễn đàn “Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) làm gì để vượt qua suy thoái?” xin gửi về tòa soạn theo email: online@thesaigontimes.vn
“Năm nay chúng tôi đặt nhiều kỳ vọng vào tăng trưởng của phân khúc thị trường nội địa”, ông nói và cho biết showroom giới thiệu đồ gỗ của công ty rộng hơn 1.000 mét vuông ở gần cầu Rạch Chiếc, TPHCM đã được đầu tư bài bản, công phu, như một chiếc cầu nối vào thị trường nội địa.

Từ cuối năm ngoái, công ty đã thuê một nhà tư vấn xây dựng thương hiệu của châu Âu để xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu và hoàn tất vào hôm 10-3, mà cả quá trình thay đổi này, ông Linh cho biết phải đầu tư hơn 100.000 đô la Mỹ và còn phải tiếp tục. Tất nhiên, hệ thống nhận diện thương hiệu của công ty, dù cho cả hai lĩnh vực bán trong nước và xuất khẩu nhưng ông nói: “bán trong nước mà không có thương hiệu, hoặc khách hàng không nhận diện được thương hiệu của mình thì thua”.

Rồi hai dự án xây dựng hai siêu thị đồ gỗ, một cũng ở gần cầu Rạch Chiếc rộng 6.000 mét vuông được xây dựng theo mô hình siêu thị gỗ nước ngoài, một ở thành phố Quy Nhơn để bán hàng cho các tỉnh miền Trung.

Cả hai dự án nói trên của Mỹ Tài không chỉ đơn thuần còn là phân phối đồ gỗ outdoor như lâu nay, mà tiến dần sang phân phối cả hàng đồ gỗ nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, theo kiểu cung cấp trọn gói cho các công trình khách sạn, khu du lịch từ trang trí trong phòng ngủ cho tới sân vườn trước mặt khách sạn.

“Ước mơ của tôi là vài năm nữa, bán trong nước chiếm tới 40% doanh thu, lúc đó có thể xem đi vững cả “hai chân” mà không hề lo lắng khi thị trường thế giới biến động”, ông cho hay.

Dắt tay nhau bước qua khó khăn 030309- kinh te sai gon

(TBKTSG Online) – Buổi họp báo giới thiệu hội chợ đồ gỗ Vifa 2009 do Hội thủ công mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa) tổ chức sáng 3-3 trở thành câu chuyện xoay quanh việc vượt qua khó khăn trong tình hình hiện nay của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.

Ngay từ cuối năm ngoái, theo ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch Hawa kiêm Tổng giám đốc Công ty gỗ Sadaco, nhiều khách hàng nước ngoài đã thông báo hàng đồ gỗ tồn kho của họ cuối năm khá lớn, tăng đột biến so với mọi năm trong tình hình khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu.

Khó khăn trong đầu ra bắt đầu ập đến các nhà chế biến gỗ Việt Nam, buộc họ phải giảm giá bán, giảm đơn hàng hoặc kết hợp cả hai. Rồi đến các nhà cung cấp nguyên phụ liệu, mọi khi thì giao hàng trước trả tiền sau, bán nợ thì nay họ cũng gặp khó khăn nên đòi các nhà máy chế biến gỗ phải trả tiền ngay. Áp lực trong sản xuất, xuất khẩu là vậy nhưng ông Mạnh cho rằng, ngay khi có đơn hàng xuất khẩu, việc xuất hàng vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro.
“Ngay cả khi khách hàng mở tín dụng thư (L/C) thanh toán tiền cũng chưa chắc ăn, vì ngân hàng mà khách hàng mở L/C ở Mỹ cũng có thể gặp trục trặc trong thanh toán như phá sản chẳng hạn”, ông Mạnh cho hay.

Chia sẻ đơn hàng

Phần lớn các doanh nghiệp đồ gỗ hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khó khăn chính vẫn là thiếu đơn hàng, có đơn hàng thì mới tổ chức sản xuất, mới vay vốn ngân hàng, mới có tiền trả lương cho công nhân. “Có đơn hàng là giải quyết gần như mọi khó khăn hiện nay của doanh nghiệp”, ông Đặng Quốc Hùng, Giám đốc Công ty TNHH Thủ công mỹ nghệ Kim Bôi, nói và cho biết đơn hàng thủ công mỹ nghệ đi vào thị trường Mỹ hiện nay giảm tới 60% so với mọi khi.

Cách mà Hawa làm hiện nay là vận động các doanh nghiệp hội viên liên kết, bắt tay nhau để chia sẻ khó khăn như có đơn hàng thì chia sẻ cho nhau, thậm chí chia sẻ cho nhau từng công đoạn sản xuất các sản phẩm như ai có thế mạnh ở khau nào thì làm khâu nấy
Giúp nhau trong cả việc vay vốn ngân hàng, hỗ trợ nhau tiền để giải quyết khó khăn tài chính của các doanh nghiệp chưa có điều kiện tiếp cận vốn vay, hỗ trợ nhau cả nguyên liệu như cho mượn gỗ chưa cần dùng, cho mượn phụ liệu đinh, ốc vít…

Trường hợp Scancia Pacific, một doanh nghiệp gỗ lớn ở TPHCM vừa ký được hợp đồng xuất mấy trăm container đồ gỗ thì liền sau đó chia sẻ với các doanh nghiệp trong hội để cùng nhau có việc làm.

Ông Lê Trí Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Đức Lợi, một doanh nghiệp không hề gặp khó khăn về đơn hàng, thậm chí đơn hàng xuất đồ gỗ đi thị trường Mỹ, Anh của công ty còn tăng 50% so với năm ngoái, khẳng định: “Chưa lúc nào vai trò của hội lại thể hiện đậm nét, thấy rõ như lúc khó khăn này, như vận động chúng tôi liên kết với nhau vượt qua khó khăn”.

Còn phía hội, ông Trần Quốc Mạnh cho biết Đức Lợi là doanh nghiệp đi đầu trong việc chia sẻ khó khăn với các doanh nghiệp bạn trong hội.

Giữ thị trường cũ, tìm thị trường mới

Khách hàng tham quan hội chợ đồ gỗ Vifa 2008 – Ảnh: Hồng Văn

Giữ thị trường cũ, thị trường truyền thống, tìm thị trường mới, thậm chí “làm mới” lại thị trường truyền thống là phương châm mà Hawa đưa ra hiện nay.

Thị trường truyền thống của đồ gỗ Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật. Riêng Nhật, dù được xem là thị trường quá quen thuộc với các doanh nghiệp gỗ nhiều năm qua tuy nhiên, giờ đây cần phải “làm mới lại”.

Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản được ký vào cuối tháng 12 năm ngoái, theo ông Trần Quốc Mạnh, như một lợi thế cho đồ gỗ Việt Nam thâm nhập thị trường vốn khó tính nhưng quy mô lớn này trong bối cảnh xuất khẩu gỗ đang gặp khó hiện nay.

Theo hiệp định thì trong vòng 10 năm tới, Nhật sẽ miễn thuế 95% các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có gỗ, thủ công mỹ nghệ. Như vậy, có khả năng đến 2010, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường này có thể hơn 700 triệu đô la Mỹ. Trong khi vào năm 2005, Việt Nam chỉ “dám” đặt ra mục tiêu khiêm tốn là xuất khẩu đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ vào Nhật 300-400 triệu đô la Mỹ vào năm 2010.

“Cố gắng làm sao duy trì các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, và ‘làm mới’ lại thị trường Nhật, tìm các thị trường ‘ngách’, sản phẩm khác biệt và tìm kiếm các thị trường mới”, ông Mạnh cho hay.

Cho tới nay, với người tiêu dùng thế giới thì hàng Việt Nam vẫn đi vào phân khúc thị trường giá trung bình và đây là lợi thế của Việt Nam là phù hợp túi tiền của người tiêu dùng thế giới vốn đang dè sẻn trong chi tiêu do khó khăn. Thường thì các nước Âu, Mỹ, hàng đồ gỗ dùng theo mùa và cao lắm là 1-2 năm là người tiêu dùng thay mẫu mã mới, nay khó khăn kinh tế, nên thời gian dùng đồ gỗ kéo dài hơn. Các nhà sản xuất đồ gỗ Việt Nam đang nghĩ cách sản xuất sao cho sử dụng lâu hơn nhưng giá thành, chất lượng vẫn giữ nguyên.

Tiếp đó sẽ tính tới các sản phẩm khác biệt như làm hàng đồ gỗ kết hợp với kim loại để phong phú mẫu mã, kết hợp mây tre lá vốn là thế mạnh của thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Những sản phẩm loại này, theo ông Mạnh, vừa độc đáo, vừa có tính cạnh tranh cao và dễ đi vào thị trường “ngách”.

Đề cập đến thị trường mới, theo ông Nguyễn Bá Tuấn, Giám đốc Công ty cổ phần Liên Minh, một doanh nghiệp do Hawa thành lập, cho biết trong 600 đoàn khách quốc tế đăng ký tham quan hội chợ Vifa 2009 (từ ngày 11-14 tháng 3) tới đây đến từ 57 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều khách hàng khá mới, khi họ tới từ vùng Trung Đông, Châu Phi, Liên Bang Nga, Ucraina… những nơi được xem là quá mới mẻ với đồ gỗ Việt Nam.

Quay lại thị trường nội địa

Đồ gỗ sản xuất trong nước trưng bày tại hệ thống siêu thị Nhà Xinh, rấc tiếc hiện tại Việt Nam còn có quá ít các siêu thị, cửa hàng đồ gỗ có uy tín, có thương hiệu-Ảnh: Hồng Văn
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Giám đốc Công ty gỗ Minh Phương, cho rằng hướng vào thị trường nội địa với hơn 80 triệu dân, sức mua ngày một tăng cao cũng là hướng đi hiện nay của các doanh nghiệp đồ gỗ. “Chúng tôi ao ước làm sao chiếm lĩnh được thị trường nội địa đầy tiềm năng nhưng không thể muốn là được ngay, cần phải có bước đi cụ thể và tính chuyện lâu dài”, ông Hạnh phân tích.

Hiện tại trên thị trường nội địa, gần như chưa có một doanh nghiệp gỗ nào đủ mạnh để xây dựng hệ thống phân phối đồ gỗ hiện đại trong phạm vi cả nước mà chỉ là những doanh nghiệp đơn lẻ như Công ty AA thì có hệ thống siêu thị nội thất Nhà Xinh ở TPHCM và một vài địa phương khác. Sau Nhà Xinh còn có hệ thống cửa hàng nội thất Phố Xinh, Nhà Đẹp… nhưng cũng chỉ là một vài cửa hàng, siêu thị ở vài đô thị lớn.

“Hawa khuyến khích doanh nghiệp hội viên mở hệ thống phân phối trong nội địa, thậm chí tính tới khả năng mở siêu thị đồ gỗ đúng nghĩa, có quy mô lớn như ở nước ngoài”, ông Trần Quốc Mạnh cho hay.

Tuy nhiên, trong khi chờ các doanh nghiệp đủ mạnh để chiếm lĩnh thị trường nội địa thì tại Vifa 2009 này, ban tổ chức đã cho người phát tờ rơi tới hầu hết các khu buôn bán đồ gỗ nội thất ở TPHCM, như một cách quảng bán đổ gỗ của doanh nghiệp tới các cửa hàng bán lẻ trong nước.

Về lâu dài, ông Lê Trí Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Đức Lợi, cho biết sẽ cùng một số doanh nghiệp hội viên cùng chí hướng tìm diện tích đất đủ lớn để vừa làm nơi tập trung bán sỉ đồ gỗ cho các doanh nghiệp hội viên của Hawa, vừa làm nơi trưng bày, giới thiệu đồ gỗ cho các nhà nhập khẩu nước ngoài.

Tuy nhiên, hình như các doanh nghiệp gỗ hiện nay đang chuộng vị trí ở Bình Dương hơn là TPHCM, vì đây là nơi chiếm tới 60% năng lực sản xuất đồ gỗ của Việt Nam, lại có thể tìm vị trí đất dễ hơn TPHCM

Quay về thị trường trong nước: Chậm còn hơn không 031209

(TBKTSG) Trong cuộc trao đổi với TBKTSG về các giải pháp thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng hàng hóa trong nước, nguyên Bộ trưởng Thương mại TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN thừa nhận việc các doanh nghiệp phải “quay về” với thị trường nội địa trong tình hình xuất khẩu khó khăn hiện nay là muộn nhưng cần thiết.

TBKTSG: Việc quay về với thị trường nội địa không xuất phát từ nhu cầu nội tại của doanh nghiệp, mà do sức ép của suy thoái kinh tế, thưa ông?

– Ông TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN: Đúng là trước tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, (theo dự báo của IMF thương mại thế giới năm 2009 giảm 2,8%), thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, cùng với việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm, các doanh nghiệp phải quay về với thị trường nội địa, và trong nhiều trường hợp thị trường này trở thành “cứu tinh” cho doanh nghiệp. Sự “trở về” như vậy là muộn.

TBKTSG: Cách đây 13 năm, Nghị quyết 12 đặt vấn đề tập trung cho thị trường trong nước. Sự chậm trễ nói trên phải chăng là do nhận thức chưa đúng và chúng ta quá ưu tiên cho xuất khẩu?
– Tiếc rằng, do nhận thức chưa đầy đủ vai trò của thị trường nội địa đối với nền thương mại nước nhà và với từng doanh nghiệp nên chúng ta (gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp) đã không quan tâm phát triển khu vực thị trường này.

Mặt khác, cũng cần thấy rằng với áp lực phải tạo ra nhiều ngoại tệ để bảo đảm nhập khẩu phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chính sách của chúng ta thường hướng về khuyến khích xuất khẩu, làm cho hoạt động của các doanh nghiệp thiếu sự “cân bằng” cần thiết.

Chính vì vậy, không ít doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp lớn đã không xác lập được chỗ đứng trên thị trường trong nước, để cho hàng ngoại xâm nhập.

TBKTSG: Vậy theo ông, hệ quả của chính sách tăng trưởng dựa vào xuất khẩu như thế nào khi xảy ra khủng hoảng?
– Các nước phụ thuộc vào xuất khẩu sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Hơn nữa, việc quá phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu cũng làm giảm tính bền vững của nền kinh tế.

Cần nhận thức rằng, việc quan tâm phát triển thị trường nội địa không phải chỉ vì yêu cầu trước mắt khi kinh tế thế giới suy giảm, mà còn là chiến lược lâu dài, nhất là với một nước có quy mô dân số trên 86 triệu người như nước ta, với doanh thu bán lẻ hàng hóa và tiêu dùng dịch vụ năm 2008 đã ở mức 986.000 tỉ đồng (khoảng 58 tỉ đô la Mỹ) và tốc độ tăng luôn cao hơn tốc độ tăng GDP.

TBKTSG: Ông đánh giá thế nào về chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu 13% mà Quốc hội đề ra cho năm nay?

– Đây là một chỉ tiêu rất cao trong bối cảnh những thị trường xuất khẩu chính của chúng ta (Mỹ, EU, Nhật Bản) đều rơi vào suy thoái nặng nề. Trong khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-1999, xuất khẩu của nước ta năm 1998 chỉ tăng 0,4% và năm 1999 là 11,6%. Nhưng khủng hoảng lúc đó không nghiêm trọng như lần này, kinh tế nước ta cũng chưa hội nhập sâu rộng như bây giờ.

Xuất khẩu hai tháng đầu năm nay ước đạt chỉ 8 tỉ đô la Mỹ, xấp xỉ 95% so với cùng kỳ. Như vậy, để đạt chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu 13% không phải dễ và phải phấn đấu rất quyết liệt. Tuy nhiên, xuất khẩu khó khăn nhưng nhập khẩu cũng giảm và tỷ lệ nhập siêu sẽ không cao như năm2008.

TBKTSG: Thưa ông, có thể coi bối cảnh hiện nay là một cơ hội để sàng lọc và thử thách doanh nghiệp không?

– Không ai muốn một sự sàng lọc kiểu này cả. Đây là hậu quả của sự buông lỏng quản lý của chính phủ những nước vốn theo quan điểm thị trường tự điều tiết, trước hết là Mỹ; lòng tham của các tổ chức tài chính; và những bấp cập trong các định chế quản lý và giám sát thị trường.

Chúng ta muốn có một cuộc sàng lọc văn minh và lành mạnh hơn, là đặt toàn bộ nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Nếu có sự hủy diệt mang tính sáng tạo thì cũng phải là sự hủy diệt trong cơ chế đó.

TBKTSG: Nhưng nó cũng giúp doanh nghiệp nhận thức đúng về giá trị của một thị trường 86 triệu dân với dân số đa phần là trẻ?

– Đúng. Chúng ta muốn các doanh nghiệp nhận thức rằng thị trường trong nước là cơ sở. Muốn cạnh tranh được trên thị trường nước ngoài trước hết phải cạnh tranh được ở thị trường trong nước và các doanh nghiệp cần có chiến lược phát triển cân bằng hơn, nhất là ở một nước có thị trường nội địa nhiều tiềm năng như nước ta, nơi các nhà phân phối nước ngoài đang sẵn sàng “đổ bộ”.

TBKTSG: Đây là cuộc cạnh tranh bất lợi cho các nhà sản xuất, phân phối của Việt Nam. Theo ông đâu là “vũ khí” mà họ cần tận dụng?

– Khi đàm phán gia nhập WTO, Mỹ và các nước yêu cầu Việt Nam mở cửa nhanh hơn và sâu rộng hơn những cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ nhưng chúng ta không chấp nhận. Như vậy, nếu các doanh nghiệp nhận thức được sức ép cạnh tranh, có kế hoạch chiếm lĩnh thị trường nội địa sớm hơn thì tình hình đã khác. Saigon Co.op là một ví dụ tốt về ý thức phát triển thị trường nội địa. Rất tiếc là có quá ít doanh nghiệp làm được như Saigon Co.op. Nhưng chậm còn hơn không.

Doanh nghiệp nước ta cũng có những ưu thế mà doanh nghiệp nước ngoài không có hoặc chưa có. Đó là sự hiểu biết văn hóa tiêu dùng của người dân và có nhiều phương thức tổ chức thị trường phù hợp với nhiều đối tượng dân cư có mức thu nhập khác nhau để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa. Việc thiết lập các mối liên kết giữa người sản xuất với nhà phân phối và giữa các nhà phân phối với nhau cũng dễ dàng hơn, miễn là các bên tôn trọng lợi ích của nhau.

TBKTSG: Có nhiều nghịch lý đang tồn tại. Chẳng hạn người tiêu dùng phải ăn hoa quả Trung Quốc, siêu thị thì đầy đồ uống Thái Lan, còn các hộ chăn nuôi phải mua thức ăn gia súc nhập khẩu…

– Nhiều mặt hàng có thể tiêu thụ tốt trong nước như quần áo, gốm sứ, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, hoa quả, đồ uống, thiết bị điện và điện tử… Nhu cầu thị trường trong nước ngày càng lớn nhưng các nhà sản xuất Việt Nam lại ít quan tâm khai thác và đang bị hàng nhập khẩu lấn át.

Thật là nghịch lý, ở một nước nông nghiệp có bờ biển dài trên 3.000 ki lô mét rất có điều kiện để phát triển ngành sản xuất thức ăn gia súc và cho nuôi trồng thủy sản, nhưng mỗi năm ta phải nhập khẩu hơn 2 tỉ đô la thức ăn gia súc và thủy sản, và không có nhiều nhà sản xuất trong nước đầu tư vào các lĩnh vực này. Tôi nghĩ trước tiên phải quan tâm mới có cách làm tốt nhất để từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước.

TBKTSG: Theo ông, các nhà sản xuất nên làm gì để tăng giá trị gia tăng cho hàng hóa của Việt Nam, đồng thời giảm dần công đoạn lắp ráp và xuất khẩu thô?

– Đúng là ta còn xuất khẩu nhiều sản phẩm ở dạng thô như dầu mỏ, quặng sắt, ti tan… Vấn đề đối với nhiều sản phẩm chế biến của ta hiện nay chủ yếu là gia công, tức là làm theo mẫu mã, thậm chí cả nguyên liệu của nước ngoài và như vậy không có thương hiệu của riêng mình. Điều này chẳng những khiến ta phụ thuộc rất nhiều vào bên đặt gia công mà giá trị gia tăng (GTGT) cũng rất thấp.

Trong chuỗi giá trị của sản phẩm, GTGT giảm dần từ nghiên cứu triển khai – thiết kế và tạo mẫu – sản xuất, chế tạo linh kiện và cuối cùng là lắp ráp. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện đang lắp ráp cho các doanh nghiệp nước ngoài, còn khâu phân phối ở thị trường do nước ngoài thực hiện.

Vì thế, phải quay về thị trường nội địa, tổ chức các mạng phân phối không chỉ để chiếm lĩnh thị trường trong nước, mà còn góp phần làm tăng GTGT cho doanh nghiệp, làm cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp, một yếu tố quan trọng làm nên thương hiệu.

THÀNH TRUNG thực hiện

Mở ổ khóa đang bị kẹt

Bộ Công Thương vừa trình Thủ tướng Chính phủ đề án kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước nhằm tiếp tục mở rộng và khai thác tốt hơn nữa thị trường nội địa. Đề án này dự kiến sẽ được triển khai ngay trong quí 1 nhằm thực hiện Nghị quyết 30 của Chính phủ và Quyết định 20 của Thủ tướng Chính phủ.

Ông Hoàng Thọ Xuân, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương, cho biết hiện tại tốc độ tăng trưởng của hầu hết các ngành hàng và nhóm hàng tiêu dùng phổ thông đều chững lại. Sức tiêu thụ và quy mô tiêu dùng trong nước hai tháng đầu năm nay sụt giảm so với cùng kỳ, ước tháng 1-2009 giảm 0,3% so với tháng 12-2008, tháng 2 quy mô bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 10% so với tháng 1. Đó là điều đáng suy nghĩ trong khi CPI tăng 1,17%.

Theo ông Xuân, thị trường trong nước hiện nay có vai trò rất quan trọng. Sản xuất là chiếc ổ khóa đang bị kẹt buộc chúng ta phải tra chiếc chìa khóa lưu thông – tiêu dùng vào đúng cách để mở khóa một cách trôi chảy. Nếu nhìn vào chu trình tái sản xuất xã hội trong nền kinh tế thị trường thì thị trường phân phối, lưu thông, tiêu dùng đang là chìa khóa, mắt xích của dây chuyền sản xuất, nó làm cho toàn bộ chu trình đó trở nên trôi chảy và hoạt động bình thường.

Ông Xuân cho biết, Bộ Công Thương đã kiến nghị một hệ thống các giải pháp, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp. Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư để hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở, đường sá, đặc biệt là ở nông thôn. Điều này có lợi rất lớn, trực tiếp vì nó kích thích tiêu thụ các loại vật tư nguyên liệu như xi măng, sắt thép. Thứ hai, nó tạo thêm việc làm và góp phần cải thiện cuộc sống cho một bộ phận lao động trong xã hội. Thứ ba, quan trọng hơn là nó tạo ra những tiền đề, những cơ sở kinh tế quan trọng để khởi động, duy trì và phục hồi sản xuất, đặc biệt đối với lưu thông hàng hóa ở nông thôn.

Còn về lâu dài, đề án nhắm đến việc phát triển các hệ thống phân phối mạnh, cả bán buôn lẫn bán lẻ trên cả nước để bảo đảm cho thị trường trong nước phát triển ổn định, bền vững tránh bị tổn thương, đảm bảo các ngành sản xuất liên tục phát triển.

Ông Xuân cũng khuyên các doanh nghiệp nên thực hiện hai chiến lược để phát triển thị trường nội địa. Đầu tiên là phải làm tốt phân khúc thị trường nhưng không dàn trải mà phải xác định rõ thị trường nào, đối tượng tiêu dùng cụ thể nào phù hợp với công ty để xây dựng hệ thống mẫu mã, giá cả, cơ cấu… Tiếp đến là xây dựng mạng lưới phân phối và dịch vụ bán hàng. Đây là điều doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn còn yếu so với doanh nghiệp nước ngoài.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: