Ktetaichinh’s Blog

March 17, 2009

Quay lại thị trường nội địa: Khó mà dễ 031009

(TBKTSG Online) – Một trong những phương cách mà các doanh nghiệp gỗ hiện nay đang thực hiện để vượt qua khó khăn là quay trở lại thâm nhập thị trường nội địa. Kinh nghiệm của Công ty TNHH gỗ Mỹ Tài sau hơn 3 năm “bám trụ” thị trường trong nước song hành với xuất khẩu, có thể tạm đúc kết trong ba chữ: “khó mà dễ”.

Có thể nói Mỹ Tài không phải là doanh nghiệp gỗ lớn, chỉ vào bậc trung khi thành lập cách nay chục năm tại Bình Định. Giờ đây, nhà máy sản xuất của công ty rộng 6 héc ta, có 850 công nhân với công suất chế biến khoảng 60 container sản phẩm gỗ mỗi tháng, doanh thu 10 -15 triệu đô la Mỹ mỗi năm.

Thế nhưng từ hơn 3 năm trước, khi các doanh nghiệp gỗ liên tục ký các hợp đồng lớn đi Mỹ, EU… kim ngạch xuất khẩu mỗi doanh nghiệp đều tăng cao thì Mỹ Tài âm thầm bắt tay vào việc thâm nhập thị trường nội địa, vốn không phải “miếng xương dễ gặm”, nói theo kiểu của các doanh nghiệp gỗ
Khó trăm bề

Cái khó đầu tiên, theo lời ông Lê Duy Linh, Tổng giám đốc công ty, đó là tư tưởng… thích xuất khẩu. Ai cũng biết việc làm hàng gỗ xuất khẩu khá “khỏe” cho giám đốc doanh nghiệp. Có đơn hàng của khách, cùng mẫu mã khách hàng giao, cứ việc vay ngân hàng mua nguyên vật liệu và sản xuất hàng loạt, giao hàng hàng loạt và thu tiền một lần khỏe re.

Do vậy từ một doanh nghiệp xuất khẩu gỗ, khi thêm mảng phân phối thị trường trong nước thì từ giám đốc tới nhân viên đều phải thay đổi cách tiếp cận khách hàng, tiếp cận thị trường.

Phải tuyển dụng nhân viên thiết kế mẫu mã, tiếp thị, rồi bộ phận lắp ráp, lo bảo hành sản phẩm, công trình. Trong khi trước đây, nếu chỉ xuất khẩu đơn thuần, không cần nhiều nhân viên lo khâu bán hàng như vậy
“Làm hàng xuất khẩu giống như bán sỉ, dễ bán, quay vòng vốn nhanh, không cần hậu mãi vì nhà nhập khẩu đã lo hết, còn bán trong nước, như bán lẻ, vừa quay đồng vốn chậm, vừa phải lo dịch vụ hậu mãi, không khác gì lượm bạc cắc”, ông Linh phân tích.

Chính vì vậy, nên khi xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường trong nước cách nay ba năm, ông Linh đặt ra mục tiêu… chịu lỗ mảng trong nước tới ba năm, lấy lợi nhuận của mảng xuất khẩu choàng qua.

Trong thời gian Mỹ Tài thâm nhập thị trường trong nước thì cũng có một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ lớn khác cũng làm tương tự, nhưng khá ầm ĩ theo kiểu “trống giong cờ mở” khi khai trương siêu thị, cửa hàng giới thiệu sản phẩm nhưng rồi cuối cùng im hơi lặng tiếng mà trong giới kinh doanh gỗ đánh giá là thất bại.

Ông Linh cho biết mình cũng rút ra kinh nghiệm từ các doanh nghiệp bạn, rằng việc thâm nhập thị trường trong nước phải kiên trì, lâu dài chứ không thể một, hai năm mà đòi hỏi có lời ngay như xuất khẩu. Một số doanh nghiệp gỗ, dù giám đốc kiên trì nhưng cấp dưới nôn nóng, thấy lỗ lâu quá, rồi các bộ phận khác như xuất khẩu chẳng hạn, “xúc xiểm” bộ phận thị trường nội địa, thế là thu hẹp dần.

“Tôi nói với anh em trong công ty là chấp nhận lỗ và một khi mà thị trường nội địa có lời là một năm có thể bù đắp được hai, ba năm lỗ”, ông nói và cho biết công ty mình may mắn khi xông vào thị trường nội địa, lại chọn đúng phân khúc phù hợp, nên từ hòa vốn tới lãi chứ chưa bị lỗ.

Chọn đúng khách hàng

Xưởng chế biến sản phẩm gỗ của Công ty TNHH Mỹ Tài. Ảnh: Hồng Văn

Gần như lâu nay Mỹ Tài xuất khẩu chủ yếu là đỗ gỗ sân vườn, đồ gỗ ngoài trời (gọi chung là hàng outdoor), nên khi thâm nhập thị trường nội địa, ông Linh, thay vì chọn hàng nội thất trong nhà (indoor) như các doanh nghiệp khác, lại chọn hàng outdoor thế mạnh của mình.

Sản phẩm là vậy còn phân khúc thị trường nội địa ông nhắm vào mảng khách sạn, khu du lịch, quán cà phê, nhà hàng, tức là khách hàng cao cấp.

“Một khi khách hàng bỏ ra 1 triệu đô la Mỹ để xây dựng nhà hàng, quán cà phê, hàng chục triệu để làm một khách sạn hay khu du lịch thì đồ gỗ dành cho khách hàng không còn đơn thuần là chất lượng sản phẩm, mà còn là dịch vụ, hậu mãi, thiết kế”, kinh nghiệm của ông Linh.

Hai mảng chính của phân khúc thị trường nội địa mà Mỹ Tài đang nhắm tới là biệt thự cao cấp và khách sạn 5 sao, các khu du lịch. Nhiều khách sạn lớn ở TPHCM hiện có đổ gỗ outdoor gắn thương hiệu Mỹ Tài, như New World, Majestic, Palace, hay sân gôn Thủ Đức…

Ông Tài tự hào nói, 50% khách sạn 5 sao ở TPHCM hiện nay ít nhiều có sử dụng hàng gỗ của Mỹ Tài và từ những khách sạn này, như “hữu xạ tự nhiên hương”, các khách sạn 4 sao cũng tìm tới công ty. Một số sân gôn sau khi dùng hàng gỗ outdoor của công ty tiến tới giao cho công ty đảm nhận trang trí nội thất các biệt thự, căn hộ trong sân gôn.

Cái “dễ” của thị trường nội địa, theo như ông Linh, là một khi “đã đi vào quỹ đạo thì tăng trưởng rất nhanh, khách hàng tự tìm đến mình chứ không như khó khăn ban đầu”.

Bây giờ, sau hơn 3 năm bán hàng nội địa song hành xuất khẩu, năm ngoái doanh số bán nội địa của Mỹ Tài hơn 3 triệu đô la Mỹ, chiếm hơn 20% tổng doanh thu của công ty. Dù xuất khẩu của công ty năm ngoái hơn 10 triệu đô la Mỹ, tăng trưởng tới 40% nhưng năm nay, do tình hình kinh tế thế giới, ông Linh chỉ khiêm tốn tăng xuất khẩu 10%, dù rằng đơn hàng xuất khẩu hiện đã ký đủ làm cho tới giữa năm nay.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online từ ngày 24-2 đã mở diễn đàn “Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) làm gì để vượt qua suy thoái?” ghi nhận ý kiến, suy nghĩ của các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế cũng như các bài viết của phóng viên phản ánh tình hình khó khăn của doanh nghiệp và những đề xuất, kiến nghị có thể giúp doanh nghiệp trụ vững trong “cơn lốc” suy giảm kinh tế.

Bài vở, ý kiến tham gia diễn đàn “Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) làm gì để vượt qua suy thoái?” xin gửi về tòa soạn theo email: online@thesaigontimes.vn
“Năm nay chúng tôi đặt nhiều kỳ vọng vào tăng trưởng của phân khúc thị trường nội địa”, ông nói và cho biết showroom giới thiệu đồ gỗ của công ty rộng hơn 1.000 mét vuông ở gần cầu Rạch Chiếc, TPHCM đã được đầu tư bài bản, công phu, như một chiếc cầu nối vào thị trường nội địa.

Từ cuối năm ngoái, công ty đã thuê một nhà tư vấn xây dựng thương hiệu của châu Âu để xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu và hoàn tất vào hôm 10-3, mà cả quá trình thay đổi này, ông Linh cho biết phải đầu tư hơn 100.000 đô la Mỹ và còn phải tiếp tục. Tất nhiên, hệ thống nhận diện thương hiệu của công ty, dù cho cả hai lĩnh vực bán trong nước và xuất khẩu nhưng ông nói: “bán trong nước mà không có thương hiệu, hoặc khách hàng không nhận diện được thương hiệu của mình thì thua”.

Rồi hai dự án xây dựng hai siêu thị đồ gỗ, một cũng ở gần cầu Rạch Chiếc rộng 6.000 mét vuông được xây dựng theo mô hình siêu thị gỗ nước ngoài, một ở thành phố Quy Nhơn để bán hàng cho các tỉnh miền Trung.

Cả hai dự án nói trên của Mỹ Tài không chỉ đơn thuần còn là phân phối đồ gỗ outdoor như lâu nay, mà tiến dần sang phân phối cả hàng đồ gỗ nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, theo kiểu cung cấp trọn gói cho các công trình khách sạn, khu du lịch từ trang trí trong phòng ngủ cho tới sân vườn trước mặt khách sạn.

“Ước mơ của tôi là vài năm nữa, bán trong nước chiếm tới 40% doanh thu, lúc đó có thể xem đi vững cả “hai chân” mà không hề lo lắng khi thị trường thế giới biến động”, ông cho hay.

Dắt tay nhau bước qua khó khăn 030309- kinh te sai gon

(TBKTSG Online) – Buổi họp báo giới thiệu hội chợ đồ gỗ Vifa 2009 do Hội thủ công mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa) tổ chức sáng 3-3 trở thành câu chuyện xoay quanh việc vượt qua khó khăn trong tình hình hiện nay của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.

Ngay từ cuối năm ngoái, theo ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch Hawa kiêm Tổng giám đốc Công ty gỗ Sadaco, nhiều khách hàng nước ngoài đã thông báo hàng đồ gỗ tồn kho của họ cuối năm khá lớn, tăng đột biến so với mọi năm trong tình hình khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu.

Khó khăn trong đầu ra bắt đầu ập đến các nhà chế biến gỗ Việt Nam, buộc họ phải giảm giá bán, giảm đơn hàng hoặc kết hợp cả hai. Rồi đến các nhà cung cấp nguyên phụ liệu, mọi khi thì giao hàng trước trả tiền sau, bán nợ thì nay họ cũng gặp khó khăn nên đòi các nhà máy chế biến gỗ phải trả tiền ngay. Áp lực trong sản xuất, xuất khẩu là vậy nhưng ông Mạnh cho rằng, ngay khi có đơn hàng xuất khẩu, việc xuất hàng vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro.
“Ngay cả khi khách hàng mở tín dụng thư (L/C) thanh toán tiền cũng chưa chắc ăn, vì ngân hàng mà khách hàng mở L/C ở Mỹ cũng có thể gặp trục trặc trong thanh toán như phá sản chẳng hạn”, ông Mạnh cho hay.

Chia sẻ đơn hàng

Phần lớn các doanh nghiệp đồ gỗ hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khó khăn chính vẫn là thiếu đơn hàng, có đơn hàng thì mới tổ chức sản xuất, mới vay vốn ngân hàng, mới có tiền trả lương cho công nhân. “Có đơn hàng là giải quyết gần như mọi khó khăn hiện nay của doanh nghiệp”, ông Đặng Quốc Hùng, Giám đốc Công ty TNHH Thủ công mỹ nghệ Kim Bôi, nói và cho biết đơn hàng thủ công mỹ nghệ đi vào thị trường Mỹ hiện nay giảm tới 60% so với mọi khi.

Cách mà Hawa làm hiện nay là vận động các doanh nghiệp hội viên liên kết, bắt tay nhau để chia sẻ khó khăn như có đơn hàng thì chia sẻ cho nhau, thậm chí chia sẻ cho nhau từng công đoạn sản xuất các sản phẩm như ai có thế mạnh ở khau nào thì làm khâu nấy
Giúp nhau trong cả việc vay vốn ngân hàng, hỗ trợ nhau tiền để giải quyết khó khăn tài chính của các doanh nghiệp chưa có điều kiện tiếp cận vốn vay, hỗ trợ nhau cả nguyên liệu như cho mượn gỗ chưa cần dùng, cho mượn phụ liệu đinh, ốc vít…

Trường hợp Scancia Pacific, một doanh nghiệp gỗ lớn ở TPHCM vừa ký được hợp đồng xuất mấy trăm container đồ gỗ thì liền sau đó chia sẻ với các doanh nghiệp trong hội để cùng nhau có việc làm.

Ông Lê Trí Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Đức Lợi, một doanh nghiệp không hề gặp khó khăn về đơn hàng, thậm chí đơn hàng xuất đồ gỗ đi thị trường Mỹ, Anh của công ty còn tăng 50% so với năm ngoái, khẳng định: “Chưa lúc nào vai trò của hội lại thể hiện đậm nét, thấy rõ như lúc khó khăn này, như vận động chúng tôi liên kết với nhau vượt qua khó khăn”.

Còn phía hội, ông Trần Quốc Mạnh cho biết Đức Lợi là doanh nghiệp đi đầu trong việc chia sẻ khó khăn với các doanh nghiệp bạn trong hội.

Giữ thị trường cũ, tìm thị trường mới

Khách hàng tham quan hội chợ đồ gỗ Vifa 2008 – Ảnh: Hồng Văn

Giữ thị trường cũ, thị trường truyền thống, tìm thị trường mới, thậm chí “làm mới” lại thị trường truyền thống là phương châm mà Hawa đưa ra hiện nay.

Thị trường truyền thống của đồ gỗ Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật. Riêng Nhật, dù được xem là thị trường quá quen thuộc với các doanh nghiệp gỗ nhiều năm qua tuy nhiên, giờ đây cần phải “làm mới lại”.

Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản được ký vào cuối tháng 12 năm ngoái, theo ông Trần Quốc Mạnh, như một lợi thế cho đồ gỗ Việt Nam thâm nhập thị trường vốn khó tính nhưng quy mô lớn này trong bối cảnh xuất khẩu gỗ đang gặp khó hiện nay.

Theo hiệp định thì trong vòng 10 năm tới, Nhật sẽ miễn thuế 95% các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có gỗ, thủ công mỹ nghệ. Như vậy, có khả năng đến 2010, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường này có thể hơn 700 triệu đô la Mỹ. Trong khi vào năm 2005, Việt Nam chỉ “dám” đặt ra mục tiêu khiêm tốn là xuất khẩu đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ vào Nhật 300-400 triệu đô la Mỹ vào năm 2010.

“Cố gắng làm sao duy trì các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, và ‘làm mới’ lại thị trường Nhật, tìm các thị trường ‘ngách’, sản phẩm khác biệt và tìm kiếm các thị trường mới”, ông Mạnh cho hay.

Cho tới nay, với người tiêu dùng thế giới thì hàng Việt Nam vẫn đi vào phân khúc thị trường giá trung bình và đây là lợi thế của Việt Nam là phù hợp túi tiền của người tiêu dùng thế giới vốn đang dè sẻn trong chi tiêu do khó khăn. Thường thì các nước Âu, Mỹ, hàng đồ gỗ dùng theo mùa và cao lắm là 1-2 năm là người tiêu dùng thay mẫu mã mới, nay khó khăn kinh tế, nên thời gian dùng đồ gỗ kéo dài hơn. Các nhà sản xuất đồ gỗ Việt Nam đang nghĩ cách sản xuất sao cho sử dụng lâu hơn nhưng giá thành, chất lượng vẫn giữ nguyên.

Tiếp đó sẽ tính tới các sản phẩm khác biệt như làm hàng đồ gỗ kết hợp với kim loại để phong phú mẫu mã, kết hợp mây tre lá vốn là thế mạnh của thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Những sản phẩm loại này, theo ông Mạnh, vừa độc đáo, vừa có tính cạnh tranh cao và dễ đi vào thị trường “ngách”.

Đề cập đến thị trường mới, theo ông Nguyễn Bá Tuấn, Giám đốc Công ty cổ phần Liên Minh, một doanh nghiệp do Hawa thành lập, cho biết trong 600 đoàn khách quốc tế đăng ký tham quan hội chợ Vifa 2009 (từ ngày 11-14 tháng 3) tới đây đến từ 57 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều khách hàng khá mới, khi họ tới từ vùng Trung Đông, Châu Phi, Liên Bang Nga, Ucraina… những nơi được xem là quá mới mẻ với đồ gỗ Việt Nam.

Quay lại thị trường nội địa

Đồ gỗ sản xuất trong nước trưng bày tại hệ thống siêu thị Nhà Xinh, rấc tiếc hiện tại Việt Nam còn có quá ít các siêu thị, cửa hàng đồ gỗ có uy tín, có thương hiệu-Ảnh: Hồng Văn
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Giám đốc Công ty gỗ Minh Phương, cho rằng hướng vào thị trường nội địa với hơn 80 triệu dân, sức mua ngày một tăng cao cũng là hướng đi hiện nay của các doanh nghiệp đồ gỗ. “Chúng tôi ao ước làm sao chiếm lĩnh được thị trường nội địa đầy tiềm năng nhưng không thể muốn là được ngay, cần phải có bước đi cụ thể và tính chuyện lâu dài”, ông Hạnh phân tích.

Hiện tại trên thị trường nội địa, gần như chưa có một doanh nghiệp gỗ nào đủ mạnh để xây dựng hệ thống phân phối đồ gỗ hiện đại trong phạm vi cả nước mà chỉ là những doanh nghiệp đơn lẻ như Công ty AA thì có hệ thống siêu thị nội thất Nhà Xinh ở TPHCM và một vài địa phương khác. Sau Nhà Xinh còn có hệ thống cửa hàng nội thất Phố Xinh, Nhà Đẹp… nhưng cũng chỉ là một vài cửa hàng, siêu thị ở vài đô thị lớn.

“Hawa khuyến khích doanh nghiệp hội viên mở hệ thống phân phối trong nội địa, thậm chí tính tới khả năng mở siêu thị đồ gỗ đúng nghĩa, có quy mô lớn như ở nước ngoài”, ông Trần Quốc Mạnh cho hay.

Tuy nhiên, trong khi chờ các doanh nghiệp đủ mạnh để chiếm lĩnh thị trường nội địa thì tại Vifa 2009 này, ban tổ chức đã cho người phát tờ rơi tới hầu hết các khu buôn bán đồ gỗ nội thất ở TPHCM, như một cách quảng bán đổ gỗ của doanh nghiệp tới các cửa hàng bán lẻ trong nước.

Về lâu dài, ông Lê Trí Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Đức Lợi, cho biết sẽ cùng một số doanh nghiệp hội viên cùng chí hướng tìm diện tích đất đủ lớn để vừa làm nơi tập trung bán sỉ đồ gỗ cho các doanh nghiệp hội viên của Hawa, vừa làm nơi trưng bày, giới thiệu đồ gỗ cho các nhà nhập khẩu nước ngoài.

Tuy nhiên, hình như các doanh nghiệp gỗ hiện nay đang chuộng vị trí ở Bình Dương hơn là TPHCM, vì đây là nơi chiếm tới 60% năng lực sản xuất đồ gỗ của Việt Nam, lại có thể tìm vị trí đất dễ hơn TPHCM

Quay về thị trường trong nước: Chậm còn hơn không 031209

(TBKTSG) Trong cuộc trao đổi với TBKTSG về các giải pháp thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng hàng hóa trong nước, nguyên Bộ trưởng Thương mại TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN thừa nhận việc các doanh nghiệp phải “quay về” với thị trường nội địa trong tình hình xuất khẩu khó khăn hiện nay là muộn nhưng cần thiết.

TBKTSG: Việc quay về với thị trường nội địa không xuất phát từ nhu cầu nội tại của doanh nghiệp, mà do sức ép của suy thoái kinh tế, thưa ông?

– Ông TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN: Đúng là trước tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, (theo dự báo của IMF thương mại thế giới năm 2009 giảm 2,8%), thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, cùng với việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm, các doanh nghiệp phải quay về với thị trường nội địa, và trong nhiều trường hợp thị trường này trở thành “cứu tinh” cho doanh nghiệp. Sự “trở về” như vậy là muộn.

TBKTSG: Cách đây 13 năm, Nghị quyết 12 đặt vấn đề tập trung cho thị trường trong nước. Sự chậm trễ nói trên phải chăng là do nhận thức chưa đúng và chúng ta quá ưu tiên cho xuất khẩu?
– Tiếc rằng, do nhận thức chưa đầy đủ vai trò của thị trường nội địa đối với nền thương mại nước nhà và với từng doanh nghiệp nên chúng ta (gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp) đã không quan tâm phát triển khu vực thị trường này.

Mặt khác, cũng cần thấy rằng với áp lực phải tạo ra nhiều ngoại tệ để bảo đảm nhập khẩu phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chính sách của chúng ta thường hướng về khuyến khích xuất khẩu, làm cho hoạt động của các doanh nghiệp thiếu sự “cân bằng” cần thiết.

Chính vì vậy, không ít doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp lớn đã không xác lập được chỗ đứng trên thị trường trong nước, để cho hàng ngoại xâm nhập.

TBKTSG: Vậy theo ông, hệ quả của chính sách tăng trưởng dựa vào xuất khẩu như thế nào khi xảy ra khủng hoảng?
– Các nước phụ thuộc vào xuất khẩu sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Hơn nữa, việc quá phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu cũng làm giảm tính bền vững của nền kinh tế.

Cần nhận thức rằng, việc quan tâm phát triển thị trường nội địa không phải chỉ vì yêu cầu trước mắt khi kinh tế thế giới suy giảm, mà còn là chiến lược lâu dài, nhất là với một nước có quy mô dân số trên 86 triệu người như nước ta, với doanh thu bán lẻ hàng hóa và tiêu dùng dịch vụ năm 2008 đã ở mức 986.000 tỉ đồng (khoảng 58 tỉ đô la Mỹ) và tốc độ tăng luôn cao hơn tốc độ tăng GDP.

TBKTSG: Ông đánh giá thế nào về chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu 13% mà Quốc hội đề ra cho năm nay?

– Đây là một chỉ tiêu rất cao trong bối cảnh những thị trường xuất khẩu chính của chúng ta (Mỹ, EU, Nhật Bản) đều rơi vào suy thoái nặng nề. Trong khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-1999, xuất khẩu của nước ta năm 1998 chỉ tăng 0,4% và năm 1999 là 11,6%. Nhưng khủng hoảng lúc đó không nghiêm trọng như lần này, kinh tế nước ta cũng chưa hội nhập sâu rộng như bây giờ.

Xuất khẩu hai tháng đầu năm nay ước đạt chỉ 8 tỉ đô la Mỹ, xấp xỉ 95% so với cùng kỳ. Như vậy, để đạt chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu 13% không phải dễ và phải phấn đấu rất quyết liệt. Tuy nhiên, xuất khẩu khó khăn nhưng nhập khẩu cũng giảm và tỷ lệ nhập siêu sẽ không cao như năm2008.

TBKTSG: Thưa ông, có thể coi bối cảnh hiện nay là một cơ hội để sàng lọc và thử thách doanh nghiệp không?

– Không ai muốn một sự sàng lọc kiểu này cả. Đây là hậu quả của sự buông lỏng quản lý của chính phủ những nước vốn theo quan điểm thị trường tự điều tiết, trước hết là Mỹ; lòng tham của các tổ chức tài chính; và những bấp cập trong các định chế quản lý và giám sát thị trường.

Chúng ta muốn có một cuộc sàng lọc văn minh và lành mạnh hơn, là đặt toàn bộ nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Nếu có sự hủy diệt mang tính sáng tạo thì cũng phải là sự hủy diệt trong cơ chế đó.

TBKTSG: Nhưng nó cũng giúp doanh nghiệp nhận thức đúng về giá trị của một thị trường 86 triệu dân với dân số đa phần là trẻ?

– Đúng. Chúng ta muốn các doanh nghiệp nhận thức rằng thị trường trong nước là cơ sở. Muốn cạnh tranh được trên thị trường nước ngoài trước hết phải cạnh tranh được ở thị trường trong nước và các doanh nghiệp cần có chiến lược phát triển cân bằng hơn, nhất là ở một nước có thị trường nội địa nhiều tiềm năng như nước ta, nơi các nhà phân phối nước ngoài đang sẵn sàng “đổ bộ”.

TBKTSG: Đây là cuộc cạnh tranh bất lợi cho các nhà sản xuất, phân phối của Việt Nam. Theo ông đâu là “vũ khí” mà họ cần tận dụng?

– Khi đàm phán gia nhập WTO, Mỹ và các nước yêu cầu Việt Nam mở cửa nhanh hơn và sâu rộng hơn những cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ nhưng chúng ta không chấp nhận. Như vậy, nếu các doanh nghiệp nhận thức được sức ép cạnh tranh, có kế hoạch chiếm lĩnh thị trường nội địa sớm hơn thì tình hình đã khác. Saigon Co.op là một ví dụ tốt về ý thức phát triển thị trường nội địa. Rất tiếc là có quá ít doanh nghiệp làm được như Saigon Co.op. Nhưng chậm còn hơn không.

Doanh nghiệp nước ta cũng có những ưu thế mà doanh nghiệp nước ngoài không có hoặc chưa có. Đó là sự hiểu biết văn hóa tiêu dùng của người dân và có nhiều phương thức tổ chức thị trường phù hợp với nhiều đối tượng dân cư có mức thu nhập khác nhau để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa. Việc thiết lập các mối liên kết giữa người sản xuất với nhà phân phối và giữa các nhà phân phối với nhau cũng dễ dàng hơn, miễn là các bên tôn trọng lợi ích của nhau.

TBKTSG: Có nhiều nghịch lý đang tồn tại. Chẳng hạn người tiêu dùng phải ăn hoa quả Trung Quốc, siêu thị thì đầy đồ uống Thái Lan, còn các hộ chăn nuôi phải mua thức ăn gia súc nhập khẩu…

– Nhiều mặt hàng có thể tiêu thụ tốt trong nước như quần áo, gốm sứ, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, hoa quả, đồ uống, thiết bị điện và điện tử… Nhu cầu thị trường trong nước ngày càng lớn nhưng các nhà sản xuất Việt Nam lại ít quan tâm khai thác và đang bị hàng nhập khẩu lấn át.

Thật là nghịch lý, ở một nước nông nghiệp có bờ biển dài trên 3.000 ki lô mét rất có điều kiện để phát triển ngành sản xuất thức ăn gia súc và cho nuôi trồng thủy sản, nhưng mỗi năm ta phải nhập khẩu hơn 2 tỉ đô la thức ăn gia súc và thủy sản, và không có nhiều nhà sản xuất trong nước đầu tư vào các lĩnh vực này. Tôi nghĩ trước tiên phải quan tâm mới có cách làm tốt nhất để từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước.

TBKTSG: Theo ông, các nhà sản xuất nên làm gì để tăng giá trị gia tăng cho hàng hóa của Việt Nam, đồng thời giảm dần công đoạn lắp ráp và xuất khẩu thô?

– Đúng là ta còn xuất khẩu nhiều sản phẩm ở dạng thô như dầu mỏ, quặng sắt, ti tan… Vấn đề đối với nhiều sản phẩm chế biến của ta hiện nay chủ yếu là gia công, tức là làm theo mẫu mã, thậm chí cả nguyên liệu của nước ngoài và như vậy không có thương hiệu của riêng mình. Điều này chẳng những khiến ta phụ thuộc rất nhiều vào bên đặt gia công mà giá trị gia tăng (GTGT) cũng rất thấp.

Trong chuỗi giá trị của sản phẩm, GTGT giảm dần từ nghiên cứu triển khai – thiết kế và tạo mẫu – sản xuất, chế tạo linh kiện và cuối cùng là lắp ráp. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện đang lắp ráp cho các doanh nghiệp nước ngoài, còn khâu phân phối ở thị trường do nước ngoài thực hiện.

Vì thế, phải quay về thị trường nội địa, tổ chức các mạng phân phối không chỉ để chiếm lĩnh thị trường trong nước, mà còn góp phần làm tăng GTGT cho doanh nghiệp, làm cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp, một yếu tố quan trọng làm nên thương hiệu.

THÀNH TRUNG thực hiện

Mở ổ khóa đang bị kẹt

Bộ Công Thương vừa trình Thủ tướng Chính phủ đề án kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước nhằm tiếp tục mở rộng và khai thác tốt hơn nữa thị trường nội địa. Đề án này dự kiến sẽ được triển khai ngay trong quí 1 nhằm thực hiện Nghị quyết 30 của Chính phủ và Quyết định 20 của Thủ tướng Chính phủ.

Ông Hoàng Thọ Xuân, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương, cho biết hiện tại tốc độ tăng trưởng của hầu hết các ngành hàng và nhóm hàng tiêu dùng phổ thông đều chững lại. Sức tiêu thụ và quy mô tiêu dùng trong nước hai tháng đầu năm nay sụt giảm so với cùng kỳ, ước tháng 1-2009 giảm 0,3% so với tháng 12-2008, tháng 2 quy mô bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 10% so với tháng 1. Đó là điều đáng suy nghĩ trong khi CPI tăng 1,17%.

Theo ông Xuân, thị trường trong nước hiện nay có vai trò rất quan trọng. Sản xuất là chiếc ổ khóa đang bị kẹt buộc chúng ta phải tra chiếc chìa khóa lưu thông – tiêu dùng vào đúng cách để mở khóa một cách trôi chảy. Nếu nhìn vào chu trình tái sản xuất xã hội trong nền kinh tế thị trường thì thị trường phân phối, lưu thông, tiêu dùng đang là chìa khóa, mắt xích của dây chuyền sản xuất, nó làm cho toàn bộ chu trình đó trở nên trôi chảy và hoạt động bình thường.

Ông Xuân cho biết, Bộ Công Thương đã kiến nghị một hệ thống các giải pháp, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp. Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư để hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở, đường sá, đặc biệt là ở nông thôn. Điều này có lợi rất lớn, trực tiếp vì nó kích thích tiêu thụ các loại vật tư nguyên liệu như xi măng, sắt thép. Thứ hai, nó tạo thêm việc làm và góp phần cải thiện cuộc sống cho một bộ phận lao động trong xã hội. Thứ ba, quan trọng hơn là nó tạo ra những tiền đề, những cơ sở kinh tế quan trọng để khởi động, duy trì và phục hồi sản xuất, đặc biệt đối với lưu thông hàng hóa ở nông thôn.

Còn về lâu dài, đề án nhắm đến việc phát triển các hệ thống phân phối mạnh, cả bán buôn lẫn bán lẻ trên cả nước để bảo đảm cho thị trường trong nước phát triển ổn định, bền vững tránh bị tổn thương, đảm bảo các ngành sản xuất liên tục phát triển.

Ông Xuân cũng khuyên các doanh nghiệp nên thực hiện hai chiến lược để phát triển thị trường nội địa. Đầu tiên là phải làm tốt phân khúc thị trường nhưng không dàn trải mà phải xác định rõ thị trường nào, đối tượng tiêu dùng cụ thể nào phù hợp với công ty để xây dựng hệ thống mẫu mã, giá cả, cơ cấu… Tiếp đến là xây dựng mạng lưới phân phối và dịch vụ bán hàng. Đây là điều doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn còn yếu so với doanh nghiệp nước ngoài.

Advertisements

Vietnam selling weighs on robusta coffee 031609

VNBusinessNews – Sugar futures edged higher on Monday, rebounding from early losses, buoyed by a weaker dollar and underpinned by constructive fundamentals.
Cocoa futures on ICE were also higher, building on last week’s gains, while coffee showed mixed trends with Vietnamese selling weighing on robustas
“The fundamentals for sugar remain constructive,” James Kirkup, senior sugar broker with Fortis Commodity Derivatives, said.

May raws on ICE rose 0.09 cent to 12.97 cents a lb by 1735 GMT, well above the day’s low of 12.76 cents.

An average raw sugar price of 13-14 cents per lb looks justifiable in 2009 given the tight supply and assuming no big shifts in the exchange rate between Brazil’s real and the dollar, a senior analyst at Rabobank said.

Raw sugar prices have risen from a low of 12.42 cents a week ago on the May contract, with the advance driven partly by reduced production prospects in top consumer India.
India is expected to produce 15.7 million tonnes of sugar in the year to September as cane shortages mount, and stocks will shrink to 2 million tonnes on Oct. 1 when the new season begins, a trade official said on Monday.

“Most mills have closed and some are on the verge of closure and my latest estimate is of 15.7 million tonnes,” Shanti Lal Jain, director general of the Indian Sugar Mills Association, told Reuters at the Reuters Food and Agriculture Summit.

The deteriorating outlook for economic growth and demand means the overall mood in commodity markets is sombre but sugar is an exception because supply is a problem, a fund manager told Reuters on Monday.

White sugar futures in London ended slightly higher with May up $1.30 at $396.50 a tonne.

LOWER GRINDINGS

Cocoa futures on ICE were higher although the strength of sterling against the dollar helped to keep a lid on prices in London, dealers said.

Dealers said the market was building on last week’s gains which were largely driven by technical rather than fundamental influences.

May futures on ICE settled $47 higher at $2,428 a tonne. The contract traded as low as $2,220 a week ago.

“It is looking positive for both markets (London and New York) after last week’s movement higher. The currency seems to be helping New York,” one cocoa dealer said.
May cocoa in London ended unchanged at 1,861 pounds a tonne.

Dealers said there was still concern the economic downturn could curtail demand for cocoa with first-quarter grind data, to be issued in early April.

“The expectation at the moment is that grindings in the first quarter will be much lower, particularly in the United States,” one dealer said.

Dealers said any fall was likely to reflect a reduction in stocks as well as any fall in demand.

“The credit crunch has encouraged people to reduce inventories to free cash. I’m not sure demand is much softer. People are working much more on a hand-to-mouth basis,” a dealer said.

Cocoa arrivals at ports in top grower Ivory Coast reached 885,000 tonnes by March 15, exporters estimated on Monday, compared with 1,033,544 tonnes in the same period of the previous season.

Robusta coffee futures in London were slightly down, weakened by Vietnamese producer selling while arabica futures on ICE edged up, boosted by a weaker dollar.
May robustas settled $19 lower at $1,530 a tonne while May arabicas rose 0.70 cent to $1.1085 per lb. (Reuters)

Asian Coffee Prices Up Slightly 031509
VNBusinessNews – Coffee prices in Asia were a tad higher Friday, compared with a week earlier, thanks to Thursday’s rally in London futures, with the cash discounts little changed in illiquid markets, traders said Friday
The benchmark March robusta contract on the Euronext.liffe settled at $1,528 a metric ton Thursday, up from $1,516/ton a week earlier, and 7.5% higher from Wednesday.

In Vietnam, the world’s largest exporter of robusta coffee, cash discounts remained little changed from around $100/ton a week earlier.

“Thursday’s rally of futures isn’t prompting farmers to sell more. Instead, now they’re thinking their waiting is worthwhile, and probably further gains are ahead,” said a trader in Vietnam.

Farmers in Vietnam have been holding on to their stocks, looking for higher prices, as they aren’t short of cash, thanks to the government’s funding.

“Exporters are now keen to buy, especially after yesterday’s rally, thinking if they don’t get the beans, they’ll probably have to pay more later on,” he said.

Meanwhile, a new harvest in Indonesia, the second largest robusta producer in the region, has begun to come to the market, selling at a discount of $30-$40/ton, traders said.

In India, coffee prices were steady, compared with a week earlier.

Arabica plantation grade A prices are quoted around $3,200/ton, up slightly from $3,150/ton last week.

Robusta cherry AB crop prices at $1,600-$1,625/ton, little changed from last week.

“After yesterday’s sharp gains (of futures), buyers today are waiting for the market to stabilize first. After all, domestic prices have already increased sharply in the past few weeks,” said a trader in India.

He added that trading of robusta continued to be active, while that of arabica remains thin because of the sharply lower output this year. (Dow Jones)

Vietcombank issues certificates of deposit 031609

VNBusinessNews – The Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank) has issued certificates of deposit
in 2009 with a minimum face value of VND 1 million, the bank has announced.
The issuance will last till May 8.

Holders of the certificates will enjoy interest rates of between 7.42-7.45%/year for a term of three months and 7.62-7.76%/year for a term of six months, depending on the total value of the certificates of deposit that one has bought.

The certificates of deposit can also be used as mortgages to borrow money from the bank.

Vietnam may have ended rate-cutting cycle, fund says 031609

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 11:21 pm
Tags:

Vietnam’s central bank may have ended a cycle of interest-rate reductions, according to Dragon Capital, after cutting borrowing costs in half since October to buoy economic growth.

The State Bank of Vietnam’s last rate cut was announced in January, when the benchmark was lowered to 7% from as high as 14% in October. Even as the central bank made a further policy move last month in reducing reserve ratios, the key lending rate was left unchanged.

While credit growth has been “minimal” as businesses cut back on investment or finance expansion through retained earnings, Viet Nam is still posting strong retail sales figures, Ho Chi Minh City-based fund managers Dragon Capital said in a monthly note. Concern that the currency will weaken may also prevent authorities from cutting rates.

Vietnam’s capital markets expect an “end to monetary easing,” Dragon Capital said in the note. “Recent comments from the State Bank of Vietnam on foreign-exchange stability suggest contentment with current interest-rate levels.”

The gap between the so-called official exchange rate of the Vietnamese dong and unofficial rates for the currency widened to more than 1% by the end of February from a “minimal” level at the beginning of the month, UK-listed Indochina Capital Vietnam Holdings Ltd. told investors in a note this week.

The exchange-rate disparity “indicates increasing pressure on the Vietnamese dong for potential depreciation,” Indochina Capital Vietnam said.

Loan subsidies

Vietnam’s central bank is steering new credit through an interest-rate subsidy program, Dragon Capital said. The government introduced the subsidy program in January in a bid to spur bank lending after economic growth slowed last year to 6.2%, the lowest since 1999.

The reluctance by banks to lend is rooted in a “finance sector that is expected to face increased pressure in the form of narrowing net interest margins and higher non-performing loans,” UK-listed fund Vietnam Holding Ltd. said in a note sent this week.

Vietnamese authorities are also targeting fiscal stimulus plans to boost the economy, and are looking at the domestic sale of up to US$1 billion in dollar-denominated debt to finance such plans, Dragon Capital said in a separate note. Recent auctions to sell dong-denominated debt have failed, as investors demand higher yields than those on offer.

“The great advantage of the US dollar bonds is cheaper finance for the government as it works to fund a growing fiscal deficit,” Dragon Capital said. “The risks of US dollar bonds are higher debt service if the currency depreciates, and strains from issuing dollar debt in an already heavily-dollarized economy.” (Bloomberg)

Vay vốn hỗ trợ lãi suất: Đảo nợ, nên hay không? 031709

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 11:11 pm
Tags: , ,

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định, đối với khoản vốn cho vay hỗ trợ lãi suất, DN không được vay để trả nợ cũ. Điều này đã gây ra khó khăn cho DN khi tiếp cận vốn vì rất nhiều DN hiện có khoản vay cũ lãi suất cao chưa thể trả được thì khó vay vốn mới. Ngược lại, ngân hàng cũng có cái khó vì tình trạng đảo nợ vẫn có thể xảy ra mà việc kiểm soát hết là không dễ.

Đảo nợ, thực tế có hay không?

Chưa có bất cứ một thừa nhận chính thức nào về việc đảo nợ. Các ngân hàng hiện cũng rất ngại khi nói về điều này, bởi đây là chuyện cấm không chỉ đối với chính sách vay vốn hỗ trợ lãi mà ngay cả trong cho vay thông thường cũng rất hạn chế.

Vì thế, chuyện đảo nợ đã được nói nhiều nhưng chỉ đến khi ông Trương Đình Tuyển, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, phát biểu tại buổi gặp DN xuất khẩu gần đây, thì mới phần nào được nói đến công khai.

Đảo nợ – có nhiều cách mà ngân hàng có thể không nắm được?

Theo ông Tuyển, yêu cầu đảo nợ là một thực tế vì ông cũng đã nghe một số DN tại Hà Nội phản ánh về vấn đề này. Trên thực tế, hoạt động này cũng đang âm thầm diễn ra bằng nhiều kiểu, nhiều cách.

Do vậy, ông Tuyển đặt vấn đề có nên cho DN vay món tiền mới trả nợ tiền cũ để tiếp tục hay không? Và nếu được thì nên công khai việc này để tránh phát sinh tiêu cực. “Sẽ kiến nghị Thủ tướng về tình hình nhiều doanh nghiệp muốn hưởng bù lãi suất cho vay để giải quyết nợ cũ”, ông Tuyển nói.

Thực tế, dù không được vay để đảo nợ nhưng chuyện các DN tìm mọi cách để trả nợ sớm rồi vay các khoản nợ mới theo hỗ trợ lãi suất cũng đã diễn ra. Ngân hàng ACB cho biết, các DN đã được vay vốn hỗ trợ lãi suất để kinh doanh và tái mở rộng sau khi tìm cách trả nợ cũ cho NH. Ngân hàng này cũng không thu phí phạt đối với các DN tất toán trước hạn.

Giám đốc một DN thừa nhận, trong những tháng giữa năm 2008, dù lãi suất ngân hàng tăng cao, nhưng để đáp ứng được vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, DN vẫn phải tìm đến với lãi suất cao, có khi đến 21%. Đây đa số là các hợp đồng ngắn hạn nên thời gian còn lại không nhiều.

Trong khi đó, lãi suất vay hiện cao nhất 10,5%/năm nhưng với chính sách ưu đãi, lãi suất sau hỗ trợ áp dụng cho DN xuất khẩu mức thấp nhất còn 0,5-1%/năm thì đúng là nợ vẫn là một gánh nặng cho DN trong tình hình hiện nay.

Chính vì thế, tâm lý chung của DN là không thể không tìm cơ hội để tất toán nợ cũ cho ngân hàng (NH) để vay lại vốn mới hưởng lãi suất rẻ hơn. Về nguyên tắc, nếu có nợ cũ vẫn có thể vay nếu có tài sản thế chấp và bảo lãnh.

Tuy nhiên, đa số các DN khó khăn nên tài sản thường dồn hết cho các hợp đồng vay cũ nên không có tài sản thế chấp, còn bảo lãnh thì điều kiện quá khó nên vay vốn mới là chuyện khó cho nhiều DN. Cách duy nhất là tìm mọi biện pháp để trả nợ cũ trước hạn để vay nợ mới.

Giám đốc một ngân hàng thương mại cũng cho biết, chắc chắn không có một ngân hàng nào chấp nhận cho DN vay để đảo nợ. Tuy nhiên, DN sẽ bằng nhiều cách để trả nợ cũ, thậm chí có thể dùng chính khoản vay của các ngân hàng thông qua nhiều cách để trả nợ cũ, rút tài sản đang thế chấp sang vay khoản mới.

Đấy là điều các ngân hàng không thể kiểm soát được, còn DN để đáp ứng đủ các yêu cầu vay vốn hỗ trợ lãi suất cũng tốn kém thêm nhiều khoản vì phải chi phí lòng vòng để trả nợ sớm. Không loại trừ việc vay tín dụng “đen” hay qua nhiều công đoạn khác để giải ngân vốn được vay mới nhằm lấy tiền trả nợ trước thời hạn.

Vị giám đốc ngân hàng này nói thêm, cho vay lãi suất cao hiện không còn nhiều, hợp đồng còn lại thời gian cũng ngắn nên tâm lý chung của các ngân hàng cũng không ngại các DN thanh toán sớm. Vì DN nào thanh toán được sớm chứng tỏ vẫn còn khả năng xoay xở làm ăn, NH dù có mất tý lãi nhưng lại bớt một nỗi lo nợ xấu và được tiếng với bạn hàng. Nguyên tắc là không đảo nợ và ngân hàng cũng không quan tâm đến chuyện DN lấy vốn đâu để trả mà chỉ cần trả được nợ và vay vốn mới đúng quy trình.

Còn phải chờ…

Trả lời về thắc mắc của những DN, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước vẫn cho rằng, cho vay bù lãi suất không đồng nghĩa với nới rộng điều kiện cho vay. Vì nếu nới lỏng lãi suất khoản vay sẽ không hiệu quả, sản phẩm không ra được thị trường, đồng thời đẩy áp lực lạm phát tăng lên. Khi xét duyệt, ngân hàng vẫn xét duyệt và thực hiện như cơ chế thông thường, chỉ khác doanh nghiệp được bù 4%/năm lãi suất. Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định không có chuyện ngân hàng và doanh nghiệp dựa trên quan hệ quen biết tiêu cực và chuyện đảo nợ là không thể có.

Tuy nhiên, trong một lần tiếp xúc với giới doanh nhân mới đây, một đại diện từ phía Bộ Kế hoạch – Đầu tư, nơi đầu mối nắm giữ số liệu về DNNVV lại bày tỏ quan điểm, chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất có thể nên chấp thuận cho vay đảo nợ vì thực tế là nhiều doanh nghiệp có dự án thực thi nhưng không vay được vì không trả được nợ cũ.

Vì vậy cho phép vay đảo nợ thì doanh nghiệp mới tiếp cận được vốn mới. Tuy nói dưới góc độ cá nhân nhưng chuyên gia này vẫn cho biết, đây sẽ là một đề xuất để Chính phủ xem xét.

Cần thêm nhiều phương án để đưa vốn giá rẻ đến với DN khó khăn.

Trong khi đó, rất nhiều lãnh đạo các ngân hàng thương mại cho biết, để được cho phép đảo nợ sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề về quy định tín dụng chung và chương trình hỗ trợ lãi suất nói riêng.

Đảo nợ vốn là một vấn đề được đề cập dưới góc độ không mấy thiện cảm và lành mạnh trong kinh doanh tín dụng, điều này càng nhạy cảm hơn khi nó lại rơi vào một chương trình hỗ trợ mà nguyên tắc đã được Ngân hàng Nhà nước nhắc đi nhắc lại: Cho vay thông thường, không phải là ưu đãi điều kiện cho vay mà chỉ ưu đãi lãi suất. Vì thế, sẽ còn phải tranh cãi và có thể phải chờ ý kiến từ Chính phủ mới có thể gỡ được chuyện này.

Tuy nhiên, xét từ góc độ lợi ích của chương trình là: hỗ trợ vốn giá rẻ cho DN, tạo điều kiện ngân hàng giải ngân thì việc cho phép đảo nợ cũng chấp nhận được vì cuối cùng DN vẫn được hưởng hỗ trợ.

Trong khi chờ đợi một quyết định mới, một số chuyên gia cho rằng, thời gian hưởng hỗ trợ lãi suất là rất ngắn, nên phải có những phương án khác thực tế hơn. Theo đó, căn cứ trên nhu cầu thực tế và tham khảo đề xuất của các tổ chức tín dụng, bên cạnh việc cho vay các khoản mới theo quy định thì có thể cho phép các khoản nợ cũ của các DN thuộc diện được hỗ trợ cũng được hỗ trợ lãi suất. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng cho vay đảo nợ và đỡ nảy sinh tiêu cực.

Trong khi đó, có ý kiến cho rằng, xử lý những khoản nợ cũ mà khách hàng gặp khó khăn trong trả nợ các ngân hàng đã xử lý nhiều như việc xử lý nợ cho nông dân gặp thiên tai… là kinh nghiệm có thể tham khảo.

Cần khai thông cơ chế hỗ trợ lãi suất- 031509

(TBKTSG) – Quyết định 131 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo sự phấn khởi trong giới kinh doanh vì năm 2009 được dự báo sẽ tiếp tục khó khăn, nhiều người kinh doanh sẽ lâm vào nguy kịch nếu không có sự trợ giúp kịp thời của Chính phủ.

Việt Nam không thể thực hiện chính sách lãi suất cực thấp, thậm chí 0%, như các nước phát triển, vì hệ thống ngân hàng không thể chịu đựng nổi. Vì vậy, gói hỗ trợ bù lãi suất 4% của Chính phủ là giải pháp hợp lý cho cả ngân hàng và người kinh doanh.

Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện, trong thực tiễn phát sinh nhiều vấn đề cần phải tập trung tháo gỡ để chủ trương của Chính phủ phát huy hiệu quả tối đa, tránh việc khách hàng và ngân hàng lợi dụng chủ trương này để trục lợi.

Đảo nợ sẽ là một hiện tượng tất yếu vì quy định chỉ hỗ trợ lãi suất cho khoản vay phát sinh từ 1-2-2009 trở đi. Dù không có chính sách hỗ trợ lãi suất, hiện tượng đảo nợ vẫn xảy ra vì lãi suất cơ bản giảm sâu và nhanh trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009.

Đối với người kinh doanh, trong thời buổi cực kỳ khó khăn này, tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó. Họ đã “gồng mình” gánh lãi suất cao để tồn tại, do đó khi lãi suất hạ, không có lý do gì họ không tìm mọi cách hưởng lãi suất thấp hơn để “dễ thở” hơn, để bù đắp lỗ lã. Đây là một lý do rất chính đáng
Để giải quyết hiện tượng này, có hai cách cần cân nhắc lựa chọn:

Một là, chấp nhận sự đảo nợ. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, đảo nợ sẽ không gây ảnh hưởng xấu vì sẽ biến gói kích cầu thành gói cứu trợ tài chính cho các ngân hàng thương mại (NHTM) và như vậy cũng dẫn đến tác dụng kích cầu.

Theo ông Nghĩa, khi doanh nghiệp trả được nợ cũ thì NHTM có thể cho vay mới, tài chính của NHTM sẽ lành mạnh hơn vì được khách hàng thanh toán đầy đủ. Về phía doanh nghiệp, đảo nợ để có vốn duy trì được hàng vạn công ăn việc làm thì không khác gì được cấp cứu kịp thời qua cơn nguy kịch. Nếu không cho đảo nợ thì chẳng khác nào tiếp tay cho các “dịch vụ đảo nợ” đang hoạt động lén lút (nhưng công khai) “cắt cổ” người kinh doanh với lãi suất vay nóng cực cao
Trong tình cảnh “chẳng đặng đừng” này, người kinh doanh đành chấp nhận vừa bị kẻ cho vay lãi nặng “chặt đẹp” để lấy tiền trả vào ngân hàng, vừa bị ngân hàng “tận thu” phí trả nợ trước hạn.

Rốt cuộc, phần được Chính phủ hỗ trợ còn lại không đáng kể sau khi trừ các chi phí “chẳng đặng đừng” nói trên.

Như vậy, một cơ chế đảo nợ hợp pháp để giảm bớt gánh nặng lãi suất cho người kinh doanh là một việc nên làm không những trong thời buổi hiện nay mà là một yêu cầu của thực tiễn để thị trường vốn vận hành thông suốt, giảm bớt hệ quả xấu từ mặt trái của nó.

Hai là, chấp nhận hỗ trợ lãi suất cho tất cả các khoản vay đủ điều kiện quy định nhưng phát sinh trước 1-2-2009. Chúng tôi thấy những khoản vay này không có lý do gì lại không được hỗ trợ vì nó đã và đang tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Cách này giải quyết ổn thỏa cả hai vấn đề: ngân hàng không phải đối phó với hiện tượng đảo nợ bất hợp pháp, tài chính không bị ảnh hưởng lớn vì lãi suất cho vay mới giảm thấp, hạn chế được rủi ro đạo đức do sự thông đồng giữa khách hàng và nhân viên để trục lợi…; người kinh doanh đỡ mất nhiều thời gian và chi phí tốn kém cho các dịch vụ đảo nợ và phí trả nợ trước hạn, yên tâm dành thời gian cho sản xuất-kinh doanh.

Quyết định 131 thiên về kích cầu đầu tư, bỏ qua một nhân tố tối quan trọng của thị trường, đó là cầu tiêu dùng. Trong khi cầu tiêu dùng đang ảm đạm bởi sức mua kém thì chỉ thiên về kích cầu đầu tư liệu có giúp cho tăng trưởng kinh tế?

Chính phủ các nước đang đổ nhiều tỉ đô la để kích thích tiêu dùng song song với các gói cứu trợ sản xuất. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện giải pháp kích cầu tiêu dùng song song với kích cầu đầu tư. Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình nên được loại khỏi danh mục các đối tượng không được hỗ trợ lãi suất. Như vậy, kích cầu tiêu dùng cũng chính là giúp cho người kinh doanh tiêu thụ được sản phẩm, từ đó chính sách kích cầu đầu tư mới phát huy hiệu quả.

Những vấn đề nói trên, nếu được khai thông, thì khối lượng tín dụng được hỗ trợ lãi suất 640.000 tỉ đồng mới khả thi.

Thị trường hóa quỹ đất tái định cư 031709

Filed under: Uncategorized,đầu tư — ktetaichinh @ 11:09 pm
Tags:

Không được thu hồi đất, người dân cũng không có nghĩa vụ phải giao trả mặt bằng (dù đó là cơ quan Nhà nước hay chủ đầu tư) nếu chưa có khu tái định cư.

Người thuộc diện tái định cư cũng sẽ được làm chủ quá trình tái định cư thay vì làm “nạn nhân” trong quá trình thu hồi đất. Đó là một số quan điểm mới về chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu

Đáp ứng chỉ một nửa nhu cầu

Một quan chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, bộ này đang nghiên cứu những hành lang pháp lý mới thúc đẩy tạo lập quỹ đất hỗ trợ tái định cư. Quan chức này cũng thừa nhận, hệ thống quy hoạch các cấp đóng chưa tròn vai, khi thiếu đất tái định cư, đồng nghĩa với việc thiếu nhà tái định cư là do cơ sở tạo lập quỹ đất tái định cư cho các địa phương hiện nay vẫn chạy sau tốc độ đô thị hoá.

Bài toán khó cho các đô thị hiện nay là không di dời nổi người dân ra khỏi khu vực giải phóng mặt bằng do không bố trí kịp các khu tái định cư, dẫn đến tiến độ giải phóng mặt bằng bị “ngâm” quá lâu so với tiến độ.

Theo một thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện quỹ đất tái định cư của các địa phương mới chỉ đáp ứng được trên 50% nhu cầu tái định cư của người dân. Điều đó có nghĩa là, một nửa còn lại sẽ phải tạm cư chờ bố trí tái định cư hoặc nhận thêm phần hỗ trợ để tự lo chỗ ở mới

Cũng theo tính toán của Bộ Tài nguyên và Môi trường, quỹ nhà đất tái định cư sắp tới vẫn sẽ thiếu trầm trọng. Tại Hà Nội, đến năm 2010, quỹ nhà đất tái định cư cần khoảng 25.000 lô đất căn hộ và khoảng 1.000 căn hộ chung chuyển để làm dự trữ cho nhu cầu giải phóng mặt bằng các dự án đột xuất.

Tại Tp.HCM , điểm qua vài dự án cũng đều thấy những con số phản ánh nhu cầu tái định cư khổng lồ, 150 hécta cho 15.000 hộ dân ven kênh rạch quận 8, 100 hécta đất cho khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Một phép tính tổng thể hơn, trung bình mỗi năm, một tỉnh sẽ phải thu hồi khoảng 6.000 hécta đất để giao và cho thuê. Cả nước giai đoạn 2011-2020 sẽ cần thu hồi khoảng hơn 3 triệu hécta đất, trong đó 60% diện tích thu hồi là đất nông nghiệp.

Như vậy nhu cầu sử dụng đất cho mục tiêu tái định cư về đất ở cần tới 945.000 hécta , chưa tính đến việc diện tích đất sản xuất nông nghiệp phải bố trí cho những hộ gia đình bị mất hết đất và phải di chuyển chỗ ở mới

Có nhiều nguyên nhân được các địa phương biện dẫn cho sự thiếu hụt quỹ nhà này như chậm triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chưa xác định rõ các chỉ tiêu sử dụng đất đối với các khu tái định cư dẫn đến thiếu tính pháp lý cho việc tạo quỹ đất tái định cư.

Lại có lý do xuất phát từ chính sự thiếu trách nhiệm của chính quyền địa phương khi có khu vực trước đó đã được quy hoạch thành các khu tái định cư nhưng do công tác khảo sát, điều tra ban đầu thiếu tính thực tế nên khi “có việc” đành phải di dời khu tái định cư sang vị trí khác

Xã hội hóa xây nhà tái định cư

Chủ động tạo quỹ đất tái định cư vẫn không đáp ứng kịp nhu cầu cần quỹ nhà cho các dự án trọng điểm có thu hồi đất. Thực tế nhiều địa phương đã phải xoay sở nhiều cách để tạo thêm nguồn nhà đất như thoả thuận giá với doanh nghiệp bất động sản để mua căn hộ chung cư và nền đất phục vụ tái định cư

Tp.HCM đã phải đầu tư hàng nghìn tỷ đồng xây dựng 52 dự án nhà ở tái định cư cùng với kế hoạch điều tiết quỹ nhà 15.038 căn hộ và 3.822 nền nhà dôi dư từ chương trình Nhiêu Lộc-Thị Nghè, mua lại gần 4.000 căn hộ chung cư, 3.300 nền đất của doanh nghiệp bất động sản. Tp.HCM sẽ tiếp tục mua lại 10% quỹ đất hoặc 20% quỹ nhà theo phương thức bảo toàn vốn từ các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn. Hà Nội cũng sẽ bổ sung từ 30-50% từ quỹ nhà thành phố thuộc các dự án giao đất xây các khu đô thị mới, chung cư.

Thực tế, cách làm mẫu của hai đô thị có tốc độ đô thị hoá lớn nhất nước đang được chính quyền địa phương, chủ đầu tư và người có đất bị thu hồi khá ủng hộ.

Theo quan điểm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính sách thị trường hoá quỹ đất tái định cư, nhà tái định cư sẽ đảm bảo lợi ích người thu hồi đất cao nhất. Và chính sách tái định cư sắp tới phải được xây dựng trên quan điểm, khu tái định cư phải là nơi ở mới với điều kiện sống bằng hoặc hơn nơi ở cũ. Các khu tái định cư phải được xây dựng hoàn thiện về cơ sở hạ tầng trước khi thu hồi đất, trường hợp tái định cư tại chỗ phải có quỹ nhà tạm

Theo kế hoạch đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo, dự kiến quỹ đất cho mục tiêu hỗ trợ tái định cư sẽ được khai thác tối đa từ nhiều nguồn: quỹ đất do Nhà nước trực tiếp quản lý; quỹ đất dôi dư sau khi xử lý thu hồi từ các doanh nghiệp, tổ chức; sử dụng các khu đất nhỏ lẻ trong các khu dân cư phù hợp với quy hoạch; quỹ đất hoán đổi từ các dự án xây dựng nhà ở thương mại.

Bộ này cũng cho rằng, hiện nay quỹ nhà tái định cư còn thiếu trầm trọng là do sức ép tạo nguồn cung đang đặt nặng lên vai Nhà nước. Nhiều khả năng, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tham mưu cho Chính phủ thực hiện phương thức xã hội hoá phát triển nhanh quỹ nhà tái định cư thông qua các ưu đãi về thuế đất, tiền sử dụng đất, Nhà nước giao đất cho các tổ chức.

Việc tự huy động vốn xây dựng nhà tái định cư của các tổ chức sẽ mang lại nguồn cung về nhà ở dồi dào, giảm sức ép cho Nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà nước sẽ vẫn tạo quỹ đất sạch thông qua các tổ chức phát triển quỹ đất trước khi giao cho chủ đầu tư.

Việc điều tiết lợi ích cho các đối tượng trong quá trình tạo quỹ đất và sử dụng quỹ đất sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tái định cư, mà muốn làm được điều này, theo một chuyên gia thuộc Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), phải xây dựng giá đất sát với giá thị trường để khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn giữa giá đất trước và sau quy hoạch. Đồng thời, cũng cần hình thành các tổ chức điều tra khảo sát và công bố giá đất giao dịch thành công theo khu vực và mục đích sử dụng một cách chính thống

Phố Wall mất điểm vì tin xấu từ American Express 031709

Filed under: khủng hoảng,Uncategorized — ktetaichinh @ 11:08 pm
Tags: ,

Ngày 16/3, chuỗi tăng điểm ngày thứ tư của chứng khoán Mỹ bị chặn lại bởi tin xấu phát đi từ American Express.

Chứng khoán Mỹ đã giảm điểm hôm thứ Hai sau khi American Express cho biết số lượng các chủ thẻ tín dụng vỡ nợ đang gia tăng mạnh

Chứng khoán Mỹ đã giảm điểm hôm thứ Hai sau khi American Express cho biết số lượng các chủ thẻ tín dụng vỡ nợ đang gia tăng mạnh
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ vừa đưa ra nhận định, nền kinh tế Mỹ có thể sẽ duy trì tình trạng suy thoái đến hết năm 2009 và sẽ bắt đầu phục hồi trở lại từ đầu năm 2010.

Ông cũng cho biết thêm, rủi ro lớn nhất mà Chính phủ Mỹ sẽ phải giải quyết là tạo lập sự ổn định của hệ thống tài chính.

Trong ngày 16/3, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cho hay, sản xuất công nghiệp ở nước này trong tháng 2/2009 đã giảm 1,4% so với tháng 1/2009.

Như vậy, so với cùng kỳ năm ngoái, sản xuất công nghiệp ở Mỹ đã giảm 11,2%, xuống 99,7 điểm – mức thấp nhất trong 7 năm qua.

Cùng ngày, Cục Dự trữ Liên bang tại New York đã cho biết, chỉ số về sản xuất công nghiệp ở khu vực này trong tháng 3/2009 đã giảm xuống âm 38,23 điểm – mức thấp nhất từ trước tới nay.

Chuỗi 4 phiên tăng điểm đã kết thúc

Chứng khoán Mỹ đã giảm điểm hôm thứ Hai sau khi American Express cho biết số lượng các chủ thẻ tín dụng vỡ nợ đang gia tăng mạnh, điều này đang tạo nên nguy cơ giảm lợi nhuận của các ngân hàng.

Theo American Express, tỷ lệ chủ thẻ bị vỡ nợ đã tăng lên 8,7% trong tháng 2/2009, từ mức 8,3% trong tháng 1/2009. Kết thúc phiên, cổ phiếu American Express (NYSE-AXP) đã giảm 3,3% xuống 12,66 USD/cổ phiếu.

Như vậy, với phiên giảm điểm này, chứng khoán Mỹ đã kết thúc chuỗi 4 ngày tăng điểm ấn tượng tuần trước đó, nhờ loạt tin hỗ trợ từ các ngân hàng lớn của Mỹ như Bank of America, JPMorgan Chase và Citigroup.

Cổ phiếu khối công nghệ phiên này đã giảm mạnh do hoạt động chốt lãi của giới đầu tư đã được thực hiện trên diện rộng, sau khi khối này đã có mức tăng trưởng mạnh mẽ trong tuần trước đó.

Trong đó, cổ phiếu Intel giảm 3,3% xuống 14,25 USD/cổ phiếu; cổ phiếu AMD hạ 2,48% xuống 2,48 USD/cổ phiếu; cổ phiếu Microsoft mất 2,4% xuống 16,25 USD/cổ phiếu…

Dù toàn thị trường giảm điểm nhưng cổ phiếu của không ít ngân hàng lớn vẫn tiếp tục tăng điểm với biên độ lớn, trước tin hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Barclays có bước khởi đầu năm 2009 thành công và HSBC thông báo sẽ không cần phải tăng thêm vốn hay nhận hỗ trợ từ Chính phủ Anh.

Cổ phiếu Bank of America tăng 7,29% lên 6,18 USD/cổ phiếu; cổ phiếu Citigroup tiến thêm 30,9% lên 2,33 USD/cổ phiếu;…

Biểu đồ diễn biến của ba chỉ số chứng khoán chính ở Mỹ ngày 16/3

Điểm qua kết quả giao dịch ngày 16/3: chỉ số Dow Jones giảm 7,01 điểm, tương đương -0,1%, chốt ở mức 7.216,97.

Chỉ số Nasdaq phiên này mất 27,48 điểm, tương đương -1,92%, chốt ở mức 1.404,02.

Cuối cùng, chỉ số S&P 500 hạ 2,66 điểm, tương đương -0,35%, đóng cửa ở mức 753,89.

Khối lượng giao dịch trên sàn New York đạt 1,9 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 3 cổ phiếu giảm điểm thì có 2 cổ phiếu lên điểm. Khối lượng giao dịch thành công trên sàn Nasdaq đạt 2,15 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 4 cổ phiếu mất điểm thì có 4 cổ phiếu tăng điểm.

Chứng khoán châu Âu tăng mạnh

Chứng khoán châu Âu đã tăng mạnh hôm đầu tuần nhờ thông tin hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Barclays những tháng đầu năm đã có bước khởi đầu tốt.

Các cổ phiếu khối ngân hàng đã đồng loạt lên điểm, trong đó cổ phiếu của Barclays tăng 23%, các cổ phiếu HSBC, BNP Paribas, Societe Generale, Banco Santander tăng từ 4,1 – 9,3%.

Ngoài ra, đà tăng mạnh của cổ phiếu khối dược phẩm cũng góp phần giúp thị trường khởi sắc, trong đó cổ phiếu Novartis, GlaxoSmithKline và SanofiAventis cũng tăng từ 2,6-6%.

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số FTSE 100 của Anh tăng 110,31 điểm, tương đương 2,94%, chốt ở mức 3.863,99. Khối lượng giao dịch đạt 1,9 tỷ cổ phiếu.

Chỉ số DAX của Đức tăng 2,3%, khối lượng giao dịch đạt 27 triệu cổ phiếu. Chỉ số CAC 40 của Pháp tiến thêm 3,18%, khối lượng giao dịch đạt 170 triệu cổ phiếu.

Chứng khoán châu Á tiếp tục “gặt hái” thành công

Chỉ số MSCI châu Á – Thái Bình Dương đã tăng 1,8% lên 76,03 điểm, sau khi tăng 3,9% trong tuần trước đó.

Chứng khoán Nhật tiếp tục lên điểm, đưa chỉ số Nikkei 225 lên mức cao nhất trong gần 1 tháng qua.

Cổ phiếu của Pioneer đã tăng vọt gần 13% sau khi có tin hãng đã liên kết với nhiều hãng khác để tập trung sản xuất các mặt hàng linh kiện điện tử cho các nhà sản xuất ôtô.

Trong khi đó, cổ phiếu khối ngân hàng tăng mạnh sau khi có thông tin Chính phủ Nhật đang cân nhắc kế hoạch mua lại các loại trái phiếu do ngân hàng phát hành để hỗ trợ hệ thống tài chính.

Kết thúc phiên, cổ phiếu Mitsubishi UFJ tăng 5,3%, cổ phiếu Mizuho Financial Group tiến thêm 5,6%, cổ phiếu Sumitomo Mitsui Financial Group lên 6%…

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Nikkei 225 tăng 134,87 điểm, tương đương 1,78%, chốt ở mức 7.704,15. Khối lượng giao dịch đạt 2,05 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 7 cổ phiếu lên điểm thì có 1 cổ phiếu giảm điểm.

Chuyển qua thị trường khác, ngày 16/3, Ngân hàng Trung ương Singapore vừa công bố kết quả cuộc thăm dò về triển vọng kinh tế nước này năm 2009 thông qua các đánh giá của 20 chuyên gia kinh tế độc lập.

Kết quả thu được cho thấy, nền kinh tế quốc đảo này sẽ chìm sâu vào suy thoái năm 2009 với mức tăng trưởng âm 8,5% từ mức tăng 1,1% trong năm 2008.

Các chuyên gia cũng nhận định đồng Đô la Singapore sẽ giảm xuống 1,56 “ăn” 1 USD vào cuối năm 2009, từ mức 1,44 Đô la Singapore vào cuối năm 2008.

Năm 2009, xuất khẩu không bao gồm dầu của Singapore được cho sẽ giảm 17,5%, sản xuất công nghiệp sẽ giảm 10,3%. Tỷ lệ thất nghiệp được dự báo sẽ tăng lên 4,4%, từ mức 3,4% trong năm 2008.

Trên thị trường chứng khoán, chỉ số Straits Times của Singapore giảm 1,97 điểm, tương đương 0,12%, chốt ở mức 1.579,49.

Điểm qua các thị trường khác: chỉ số Taiwan Weighted của Đài Loan tăng 1,51%. Chỉ số ASX của Australia nhích 0,08%. Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông lên 3,6%. Chỉ số BSE 30 của Ấn Độ tăng 1,62%. Chỉ số Shanghai Composite tiến thêm 1,15%. Chỉ số KOSPI giảm 0,05%.

Thị trường

Chỉ số
Phiên trước Đóng cửa Tăng / giảm (điểm) Tăng / giảm (%)
Mỹ Dow Jones 7.223,98 7.216,97 Down 7,01 Down0,10
Nasdaq 1.431,50 1.404,02 Down 27,48 Down1,92
S&P 500 756,55 753,89 Down 2,66 Down0,35
Anh FTSE 100 3.753,68 3.863,99 Up110,31 Up2,94
Đức DAX 3.953,60 4.044,54 Up 90,94 Up2,30
Pháp CAC 40 2.705,63 2.791,66 Up 86,03 Up3,18
Đài Loan Taiwan Weighted 4.897,39 4.971,32 Up 73,93 Up1,51
Nhật Nikkei 225 7.569,28 7.704,15 Up134,87 Up1,78
Hồng Kông Hang Seng 12.525,80 2.976,71 Up450,91 Up3,60
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.126,03 1.125,46 Down 0,57 Down0,05
Singapore Straits Times 1,577.52 1.579,49 Up 1,97 Up0,12
Trung Quốc Shanghai Composite 2.128,85 2.153,29 Up 24,44 Up1,15
Ấn Độ BSE 30 8,756.61 8.898,86 Up142,25 Up1,62
Australia ASX 3.294,70 3.297,30 Up 2,60 Up0,08
Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg

Xăng, dầu: Tăng chiết khấu, chưa giảm giá 031709

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:06 pm
Tags:

Theo đà giảm của giá dầu thô trên thị trường thế giới trong mười ngày qua, giá xăng A92 nhập khẩu về đến cảng TP.HCM chỉ còn 5.729 đồng/lít, dầu DO còn 5.503 đồng/lít. Với mức giá này, nếu cộng thuế, phí và chi phí khác, doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu có lãi cao. Thế nhưng người tiêu dùng chưa thấy giảm giá, còn các doanh nghiệp lại tăng chiết khấu cho đại lý.

Giá xăng dầu nhập khẩu giảm mạnh nhưng giá bán lẻ trong nước vẫn chưa giảm (ảnh chụp chiều 16-3 tại cửa hàng xăng dầu trên đường Nguyễn Văn Trỗi, Q.Phú Nhuận, TP.HCM)

Giá dầu DO nhập khẩu cộng với bảo hiểm và chi phí vận chuyển về đến cảng TP.HCM (giá CIF) hiện còn 50 USD/thùng, tương đương 5.503 đồng/lít. Với thuế nhập khẩu 25%, phí xăng dầu, chi phí từ kho đến cửa hàng bán lẻ, thuế giá trị gia tăng, tính ra mỗi lít dầu DO chỉ 9.098 đồng, chênh lệch với giá bán lẻ hiện tại đến 1.400 đồng.

Trong khi đó, giá CIF xăng A92 nhập khẩu cũng chỉ còn khoảng 52 USD/thùng, tương đương 5.729 đồng/lít. Cũng với công thức tính tương tự, giá xăng là 10.271 đồng/lít, chênh lệch với giá bán lẻ hiện nay hơn 700 đồng (giá bán lẻ 11.000 đồng/lít).

Mặc dù các công ty đầu mối nhập khẩu xăng, dầu luôn tuyên bố vận hành theo cơ chế thị trường, theo sát diễn biến giá thế giới nhưng thật ra vẫn “nhìn nhau” và chờ động thái của cơ quan quản lý nhà nước là chính. Các đợt giảm giá gần đây đều xuất phát từ “gợi ý” của Bộ Tài chính. Các doanh nghiệp cho rằng bị ép phải giảm giá nhưng khi Cục Quản lý giá ra thông báo yêu cầu “đăng ký giá mới sát với giá thế giới” thì lập tức giá bán lẻ mới giảm.

Ông Vương Thế Dũng, phó tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu VN, thừa nhận: “Đúng là giá dầu DO thời gian vừa qua đang giảm, nhưng lúc nào cũng có độ trễ nhất định khi nhập hàng về nên giá trong nước chưa thể có thay đổi”. Theo ông Dũng, “độ trễ” nhập khẩu phải từ 20-30 ngày.

Trong mấy ngày giá thị trường giảm mạnh vừa qua, khi các cơ quan quản lý nhà nước chưa lên tiếng, các doanh nghiệp thay vì đề xuất giảm giá thì quay ra tăng chiết khấu cho đại lý. Hiện nay mức chiết khấu cho đại lý của mặt hàng dầu DO đã lên đến 1.100-1.200 đồng, trong khi trước đó chỉ 700-800 đồng…

Một lý do khác được các doanh nghiệp viện dẫn cho động thái chậm giảm giá là việc bù lỗ đối với mặt hàng dầu vẫn chưa được giải quyết rốt ráo. Lãnh đạo một đầu mối nhập khẩu xăng dầu nói: “Tôi thật sự không biết mình đang lời hay lỗ đối với mặt hàng dầu nữa, vì hàng tồn kho với hàng mới lẫn lộn mà cơ chế bù lỗ vẫn không rõ ràng”. Theo ông này, một số công ty trước đây không nhập hàng về bán khi thấy giá không có lợi nên không bị lỗ. Còn một số công ty vẫn nhập hàng về bán theo đúng hạn ngạch thì bị lỗ, bù chưa xong đã bị các công ty kia nhập hàng giá thấp về cạnh tranh, đẩy chiết khấu cho đại lý lên cao.

“Cơ chế điều hành xăng, dầu hiện nay khiến có doanh nghiệp lãi to, người khác thì lỗ nặng” – lãnh đạo doanh nghiệp này nhận xét. Và dĩ nhiên trong bối cảnh đó, người tiêu dùng phải chịu thiệt.

Cơ chế tính giá dầu DO:

1. Giá nhập khẩu cộng chi phí vận chuyển và bảo hiểm (giá CIF): 50 USD/thùng (159 lít) = 5.503 đồng/lít (1 USD = 17.500 đồng).

2. Thuế nhập khẩu 25%: 1.375 đồng/lít.

3. Phí xăng dầu: 500 đồng.

4. Chi phí từ kho đến cửa hàng bán lẻ: 800 đồng.

5. Thuế giá trị gia tăng: 920 đồng.

Công thức: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 = 9.098 đồng/lít.

Giá bán lẻ hiện tại: 10.500 đồng/lít.

Cơ chế tính giá xăng A92:

1. Giá nhập khẩu cộng chi phí vận chuyển và bảo hiểm (giá CIF): 52 USD/thùng (159 lít) = 5.729 đồng/lít.

2. Thuế nhập khẩu 20%: 1.145 đồng/lít.

3. Thuế tiêu thụ đặc biệt 10%: 687 đồng/lít.

4. Phí xăng dầu: 1.000 đồng.

5. Chi phí từ kho đến cửa hàng bán lẻ: 700 đồng.

6. Thuế giá trị gia tăng: 1.030 đồng.

Công thức: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 = 10.271 đồng.

Giá bán lẻ hiện tại: 11.000 đồng/lít.

Competition Law falls on deaf ears 031609

Filed under: thông tin,thị trường (market),Uncategorized — ktetaichinh @ 11:00 pm

VNBusinessNews – A recent survey showed that people and institutions have little knowledge of competition management laws
Two weeks ago, local newspapers began publishing a series of articles on the pricing policy of Honda Vietnam, which since has become a hot topic among consumers.

The stories were published in newspapers after consumers sent letters to newspapers complaining that they had to buy Honda products at prices several million VND higher than the manufacturer’s suggested retail prices (MSRP).

The Competition Administration Department (CAD) under the Ministry of Industry and Trade then requested a working session with Honda Vietnam.

The motorbike manufacturer, after meeting with CAD on February 18, committed to ask Honda Exclusive Authorised Dealers (HEAD) to sell products at MSRP and to make public its sales plan in February.

However, no changes in the prices of Honda products have been made since the meeting. No information about the number of products to be launched onto the market has been released, while HEADs are still selling products at different prices.

CAD, as the state management agency which protects consumers’ benefits, has only given a vague recommendation that consumers should keep cautious and research products well in order to avoid purchasing at high prices.

This is just one of the examples of the effectiveness of the Competition Law, which was brought into life five years ago. Prior to that, consumers were discontented with manufacturers of the Vietnam Automobile Manufacturers’ Association (VAMA) because they joined hands to raise sales prices.

The Competition Law…?

In 2008, CAD conducted a survey on the awareness of the community about the Competition Law. The survey kicked off on November 1 and finished December 31, aiming to assess the knowledge of people, businesses, associations and state management agencies on competition-related laws.

The survey was conducted in the northern, central and southern regions.

The survey found that, in general, people’s awareness of competition laws was limited to the knowledge that a law called the Competition Law did in fact exist.

The polled subjects had basic knowledge of unhealthy competition activities. However, the number of businesses which have good knowledge of the law, like fines and procedures for initiating lawsuits, remains modest.

The fact that the Competition Law has been ignored shows the weakness of Vietnam’s business environment. Nguyen Dinh Cung, Head of the Macroeconomic Studies Division under the Central Institute of Economic Management, said that the poor enforcement of laws has been mentioned in many forums about Vietnam’s business environment, but the problems have not been settled.

Even the Enterprise Law, a basic law that regulates the operations of enterprises, is also violated regularly, while in many cases, state management agencies cannot punish the violators because of a lack of regulations. (DTCK)

Domestic investment a must amidst global crisis 031709

VNBusinessNews – As the global financial crunch is having a direct impact on export-driven economies, it is time for countries to focus on domestic investment, suggested experts at a workshop in Hanoi on March 17.

The workshop was jointly hosted by the Economic Research Institute for ASEAN and East Asia (ERIA) and the Central Institute for Economic Management (CIEM).

Difficulties lying ahead

Dr Vo Tri Thanh, a CIEM official, said that Vietnam is facing numerous difficulties in 2009, including the macro-level instability of finance and international payment
as well as declining exports. The national economy which is slowing down as a result of tight macro-economic management policy is also bearing the brunt of the global economic crisis. The economy is expected to grow just 4-5% if the Government’s stimulus measures are put in place. In addition, the inflation rate is estimated to rise to between 6-9% and the trade deficit will make up 7-10 percent of the total GDP.

“The loosening of macro-economic policy and the implementation of the stimulus package is necessary, but it has an impact on growth, employment, inflation and macro-economic stability,” said Dr Thanh.

Chinese experience

Academician Zhang Yunling, director of the international research department under the Chinese Academy of Social Sciences, shared the view that the global financial turbulence which originated from the US has made a direct and indirect impact on many countries in the world.

He affirmed that China is experiencing an economic slowdown rather than a crisis because its economy is still developing and expected to achieve a GDP growth rate of 7-8% this year. For China, he said the global crisis mostly affects its exports.

In his opinion, Vietnam, Singapore and Taiwan (China) would continue to achieve economic growth thanks to their stimulus packages and investment support policies.

There is still light at the end of the tunnel and the US remains the leading economy in the post-crisis period, said the expert.

However, he suggested that economy be restructured to reduce its reliance on external elements. According to him, the Chinese Government has changed its thinking by pouring more investment into domestic consumption rather than exports. He cited an increase in salaries and social welfare as immediate solutions.

Financial stability

Takeshi Hachimura, chief advisor to the Japan International Cooperation Agency, said that in the current context of the crisis, there is a growing trend of avoiding international transactions. Many governments have adopted measures to ride out the financial storm by stepping up the provision of capital for businesses.

He said it is necessary to stabilise the financial sector, reasoning that liquidity is very important to financial and monetary organisations as it helps build up market confidence.

He also underlined the need to keep a close watch on risk management. He said the collapse of the US financial system demonstrates that it is necessary to have risk management plans prepared by partners.

We should take precautions against cumbersome macro-economic management policies, otherwise market liquidity is not created, the Japanese expert said. (VOV)

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.