Ktetaichinh’s Blog

March 16, 2009

Về thập kỷ suy thoái kinh tế ở Nhật- Vũ Quang Việt- 2003

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 5:42 pm
Tags: ,

Thoi Dai Moi

Bài viết này dựa vào việc đọc sách Balance Sheet Recession, Japan’s Struggle With Uncharted Economics and Its Global Implications (Suy thoái bảng kết toán tài sản, việc Nhật đối phó với quan điểm kinh tế học chưa ai bước qua và ý nghĩa toàn cầu của nó) của Richard C. Koo, nhà xuất bản John Wiley & Sons, 2003.

Richard C. Koo là người Mỹ nhưng làm việc lâu năm ở Nhật, hiện nay là Kinh tế gia trưởng (Chief Economist) của Nomura Research Institute, bộ phận nghiên cứu của công ty Nomura Securities. Trước đây ông đã làm việc cho Ngân hàng Dự trữ Liên Bang ở New York. Koo là nhà kinh tế được giới truyền thông và chính trị ở Nhật để ý, đã được nhiều thủ tướng Nhật mời gặp trao đổi quan điểm. Quan điểm của Koo về vấn đề kinh tế Nhật rất khác với quan điểm kinh tế chính thống của giới lãnh đạo Nhật, và cũng rất khác các nhà kinh tế cũng như quân sư chính sách của Mỹ. Quyển sách của Richard C. Koo do đó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tìm hiểu vấn đề khó khăn hiện nay của kinh tế Nhật. Quyển sách nhằm lý giải tình hình khó khăn kinh tế của Nhật từ năm 1990 đến nay. Sách viết dễ hiểu, ít ra là cho những người đã học kinh tế và có hiểu biết cơ bản về bảng kết toán tài sản, có nhiều họa đồ thống kê về tình hình kinh tế, tài chính của nền kinh tế Nhật nhằm làm sáng tỏ các điểm lý thuyết kinh tế mà Koo muốn tập trung phân tích. Tuy vậy, quyển sách hình như là một tập hợp của những bài báo viết cho đại chúng nên lặp đi lặp lại cùng một vấn đề ở nhiều chương, đọc hơi mệt. Vả lại, đáng lẽ quyển sách cần có thêm hai chương để người đọc dễ theo dõi vấn đề: chương tóm gọn về phát triển của kinh tế Nhật và chương về ý nghĩa kinh tế của bảng kết toán tài sản. Koo cũng có viết về lịch sử phát triển của kinh tế Nhật nhưng rải rác trong nhiều chương và không đầy đủ. Sách của Koo gồm 11 chương trong đó có một chương giành cho kinh tế Mỹ và một chương giành cho kinh tế các nước Á châu khác.

Nhiều người ngạc nhiên không hiểu vì lý do gì mà tình hình kinh tế của Nhật tiếp tục khó khăn trong 13 năm qua và chưa tìm ra lối thoát. Nhiều giải pháp được áp dụng ở Nhật hoặc được các nhà kinh tế nước ngoài đề nghị tỏ ra không có hiệu quả trong việc giải quyết tình hình trì trệ kinh tế của Nhật. Quyển sách của Richard C. Koo đưa ra một cái nhìn mới. Đó là cái nhìn dựa vào phân tích bảng kết toán tài sản. Trước khi đi vào những vấn đề Koo đặt ra, tôi sẽ trình bày sơ lược về kinh tế Nhật và ý nghĩa của bảng kết toán tài sản vì đây là thiếu sót trong quyến sách.

Vài nét chính về kinh tế Nhật

Suốt hai thập kỷ từ 1970 đến 1990 kinh tế Nhật phát triển thần kỳ, đạt trung bình trên 4% mỗi năm. Những năm đầu của thập kỷ 80, kinh tế Nhật có tăng chậm đi vì ảnh hưởng của việc tăng giá dầu, nhưng trong những năm từ 87 đến 90, lại tăng tốc, đạt trên 5% một năm. Nhiều nhà kinh tế coi Nhật là số một, bài học cho Mỹ (xem, chẳng hạn, Ezra Vogel, Japan as Number One: Lessons for America, Harvard University Press, 1979). Nhưng rồi từ 1991 đến nay (2004) kinh tế Nhật đi vào khủng hoảng, chỉ đạt trung bình năm 1,3%. Số liệu về tốc độ phát triển của Nhật từ 1971 đến 2001 như sau:

Nhật Mỹ

1971-1980 4,5% 3,2% (2,9%*)

1981-1990 4,1% 3,1% (2,7%*)

1991-2001 1,3% 2,9%

*Nguồn: United Nations National Accounts Statistics: Main Aggregates and Detailed Tables 1992, 2002. Số liệu của Mỹ được điều chỉnh từ sau năm 2000. Số liệu cũ trong ngoặc. Số liệu mới có tính đến thay đổi chất lượng của dịch vụ, nhà ở và máy tính do đó tốc độ phát triển trung bình từ năm 1970 đến nay tăng cao hơn số liệu đã được xuất bản trước đó khoảng 0.3%, mức tăng thời gian gần đây cao hơn thời gian xa trong quá khứ. Sự so sánh do đó khập khễnh vì các nước khác chưa có khả năng tính lại như vậy. (Tác giả tự tính dựa vào số liệu của UN).

Sau thế chiến lần thứ hai, kinh tế Nhật đã dựa vào thương mại quốc tế để phát triển vì Nhật thiếu tài nguyên thiên nhiên. Xuất khẩu do đó là con bài chủ lực để Nhật nhập khẩu nguyên liệu nhằm phát triển trong khi bằng mọi cách bảo vệ thị trường nội địa. Hàng hoá nội địa do đó đắt so với các nước khác. Chính sách giữ đồng Yen yếu cũng là lý do bảo đảm hàng hoá Nhật xuất khẩu rẻ trên thị trường thế giới và làm cho hàng hoá nước ngoài đắt trên thị trường nội địa. Đầu những năm 70, một USD có lúc lên tới 370 Yen (năm 1975, hối suất trung bình là 305 và năm 1984 là 251 [1]). Kinh tế Nhật phát triển mạnh, dư thừa lớn trong cán cân thương mại còn kinh tế Mỹ và Âu châu suy yếu. Trước tình hình đó, Nhật bị các nước phương Tây áp lực thay đổi chính sách, đòi hỏi mở rộng thị trường nội địa đối với cả hàng hoá và tư bản tài chính.

Thoả thuận Plaza (Plaza Accord) năm 1985 là điểm mốc quan trọng, lúc đó một USD là 240 Yen. Nhóm G5 [2] áp lực Nhật chấp nhận đồng thuận trên nhằm tăng giá đồng Yen và giảm giá đồng USD. Nhật chấp nhận vì không muốn các nước G5, đặc biệt là Mỹ đưa ra các biện pháp bảo vệ thị trường, ngăn chặn hàng Nhật. Năm 1995, mười năm sau Thoả thuận Plaza, đồng Yen lên giá ở đỉnh điểm là một USD bằng 80 Yen. Với giá đồng Yen cao lên, Nhật mất dần khả năng cạnh tranh nếu chỉ sản xuất ở trong nước để xuất khẩu. Hơn nữa để đối phó với dư luận chống lại hàng nhập từ Nhật, từ năm 1985, Nhật tăng tốc đầu tư trực tiếp thị trường các nước ASEAN (lúc đầu là Malaysia, rồi sau đó là Thái Lan và Indonesia) và vào thị trường Âu Mỹ. Do lý do đó, vào năm 1990 Malaysia đã trở nên nước sản xuất VCR lớn thứ hai thế giới. Trước khủng hoảng năm 1997, vài nước ở Đông Nam Á được Ngân hàng Thế giới gọi là những con rồng, con cọp châu Á, coi phát triển thần kỳ này là do chính sách nội địa và quên mất vai trò của đồng Yen cao giá đã làm các nền kinh tế này tăng tính cạnh tranh.

Do kinh tế phát triển cao trong hai thập kỷ 1970-1980, giá tài sản Nhật lên như bong bóng, đặc biệt là từ năm 1985 trở đi, khi đồng Yen tăng giá, Nhật thừa tiền do việc dư thừa cán cân thương mại, đã ồ ạt mua tài sản nước ngoài, kể cả Trung tâm Rockefeller ở thành phố New York, một biểu tượng của tư bản Mỹ. Nhưng cũng từ đầu năm 1990 trở đi kinh tế Nhật gặp khó khăn khi tốc độ tăng giảm hẳn xuống, giá trị tài sản giảm. Vấn đề là tại sao. Có giải thích được thì mới có biện pháp đối phó.

Giảm giá tài sản và bảng tổng kết tài sản

Dư luận và các nhà kinh tế thường chỉ để ý đến tốc độ phát triển của GDP và ít để ý đến vai trò của tài sản trong nền kinh tế. Tuy nhiên, muốn hiểu rõ toàn diện tình hình kinh tế của một nước ta cần hiểu về vai trò của tài sản và ảnh hưởng của nó. Bảng tổng kết tài sản thường được làm cho từng khu vực kinh tế: khu vực doanh nghiệp tư nhân và nhà nước, khu vực nhà nước và khu vực hộ gia đình.

GDP (có thể cho cả nền kinh tế hoặc cho từng khu vực) có thể giải thích rất đơn giản là giá trị sản lượng hàng hoá làm ra trong năm trừ đi chi phí vật chất và dịch vụ dùng trong sản xuất. Trong bảng cân đối chữ T, tổng bên phải bằng tổng bên trái. Những giá trị chữ đậm có thể tính bằng cách lấy tổng của một bên trừ đi phần đã biết ở bên kia bảng.

Bảng sản xuất
Giá trị sản lượng 100
Chi phí vật chất và dich vụ trong sản xuất 50
GDP 50

GDP có thể tăng cao nếu sử dụng vật tư nhiều, do đó có thể làm giảm tài sản thiên nhiên trong tổng tích sản, hoặc làm tăng nợ nước ngoài (tiêu sản tăng). GDP và nguồn nhập trừ xuất là hàng hoá (hay nguồn thu nhập) để tiêu dùng và tích lũy. Sự khác biệt là vay mượn nước ngoài.

Bảng nguồn và sử dụng thu nhập

GDP

50

Nhập trừ xuất

-5

Tiêu dùng

30

Tích lũy

20

Vay mượn

-5

Tích lũy làm tăng tổng tài sản cố định trong bảng kết toán tài sản. Tùy theo mức tích lũy và tiêu dùng trong nước mà nợ trong bảng kết toán tài sản có thể tăng lên hay không. Tích lũy (20) làm tăng tổng tích sản. Vay mượn (5) làm tăng tiêu sản. Trong thí dụ trên, vay mượn làm tăng tiêu sản. Sự khác biệt giữa tổng tích sản và tiêu sản là vốn tự có hay của cải thuần của nền kinh tế hay của từng khu vực. Vấn đề phát triển là làm sao GDP tăng nhanh và vốn tự có tăng hay ít nhất là không giảm.

Bảng kết toán kết tài sản (1)

Tổng tích sản

700

Tiêu sản (nợ)

600

Tài sản cố định (nhà cửa, máy móc,…)

Tài sản thiên nhiên (đất, dầu mỏ, rừng, …)

Tài sản tài chính (tiền, cổ phiếu, trái phiếu, …)

Vốn tự có

100

Trường hợp của khu vực doanh nghiệp Nhật là tài sản cố định, nhất là đất đai, nhà cửa và tài sản tài chính như cổ phiếu tăng một cách vô lý, do đó vốn tự có một thời rất lớn, đẩy mạnh thêm vay mượn của doanh nghiệp. Khi bong bóng vỡ, tài sản giảm giá tiêu sản trở nên gánh nặng cho nền cho khu vực doanh nghiệp. Giả dụ tài sản giảm một nửa, bảng kết toán tài sản (1) của doanh nghiệp trên trở nên như sau:

Bảng kết toán tài sản (2)

Tổng tích sản

350

Tiêu sản (nợ)

600

Tài sản cố định (nhà cửa, máy móc,…)

Tài sản thiên nhiên (đất, dầu mỏ, rừng, …)

Tài sản tài chính (tiền, cổ phiếu, trái phiếu, …)

Vốn tự có

-250

Nếu tiêu sản là nợ vẫn không thay đổi, nhưng do tích sản giảm, vốn tự có trở nên -250. Đây là tình hình của một nền kinh tế hoặc một doanh nghiệp phá sản. Trong bảng kết toán tài sản (1), hệ số nợ (tiêu sản/vốn tự có, còn gọi bằng tiếng Mỹ là “leverage ratio”) là 6. Trong bản kết toán tài sản (2) không thể tính được hệ số này. Điều này có nghĩa là nền kinh tế nợ quá nhiều, tài sản có trong tay không đủ để thế chấp nợ. Nếu một doanh nghiệp có bảng kết toán tài sản ở trong tình trạng trên, ngân hàng khó lòng cho vay và doanh nghiệp đó sẽ phải phá sản. Nguyên tắc cho vay của ngân hàng là tiêu sản không nên cao hơn vốn tự có. Hay nói cho dễ hiểu là nếu doanh nghiệp có vốn tự có một đồng thì có thể mượn ngân hàng một đồng để làm ăn. Hệ số nợ tốt đẹp nhất là bằng 1,0. Ngân hàng theo dõi khách hàng hoặc các nhà phân tích tình trạng sức khỏe của một doanh nghiệp là theo dõi thu nhập và khả năng tăng thu nhập hệ số nợ, và sự thay đổi của chúng. Đối với việc đánh giá một nền kinh tế cũng thế, nhà kinh tế theo dõi tăng trưởng của GDP cũng như hệ số nợ. Tuy nhiên ít nhà kinh tế cũng như người làm chính sách kinh tế tính toán và theo dõi hệ số nợ của nền kinh tế. Do vậy cho đến nay chỉ khoảng 10 nước trên thế giới là có bảng kết toán tài sản.

Trong trường hợp của Nhật, hệ số nợ của doanh nghiệp năm 1976 là 6 do kinh tế phát triển cao, do Nhật nghĩ có thể tiếp tục phát triển cao mãi, và cũng do hệ thống chính trị bảo vệ ngân hàng cho nên ngân hàng tha hồ cho vay nợ, vượt ngoài thông lê. Từ năm 1985, hệ số này giảm xuống 4 nhưng lúc đầu không phải vì ngân hàng Nhật muốn giảm nợ mà vì tích sản (nhà cửa, đất đai, chứng khoán) lên giá như bong bóng. Khi tích sản giảm giá vào năm 1990 trở đi, kinh tế Nhật gặp vấn đề, nợ không còn tăng như trước, vào năm 2001, hệ số này là 3, cũng còn gấp đôi hệ số ở Mỹ. Thực tế của Nhật khác với bảng kết toán tài sản (2) vì doanh nghiệp Nhật tìm mọi cách giảm nợ kể từ năm 1990. Nợ của doanh nghiệp Nhật giảm từ cao điểm 660 ngàn tỷ Yen năm 1994 xuống 520 ngàn tỷ Yen năm 2000 (coi trang 18, Koo). Kinh tế Nhật ở trong tình trạng suy yếu khi doanh nghiệp không còn muốn vay mượn để tích lũy.

Vấn đề Koo nêu ra với kinh tế Nhật

Quyển sách của Koo lý giải nguyên nhân của tình hình suy thoái của kinh tế Nhật để từ đó nhìn ra giải pháp.

Có phải là vì khu vực hộ gia đình giảm chi tiêu không? Không phải. Số liệu Koo đưa ra cho thấy để dành của hộ gia đình có giảm từ gần 10% GDP xuống dưới 5% GDP, để tăng chi tiêu. Số liệu của Liên Hợp Quốc về Nhật cho thấy chi tiêu của hộ gia đình của Nhật tăng trung bình năm như sau: 5,2% (70-79), 3,2% (80-89), 1,9% (90-99), 1,4% (2000-2001) [3]. Như vậy hộ gia đình Nhật vẫn tăng chi tiêu và do đó không thể coi đó là yếu tố làm suy thoái kinh tế Nhật.

Giảm chi tiêu chính là từ khu vực doanh nghiệp. Trước những năm 90, khu vực này là khu vực mượn vốn từ các khu vực khác để phát triển sản xuất, từ 1990, khu vực này giảm dần việc mượn vốn và trở thành khu vực cung ứng vốn cho thị trường thế giới. Từ 1990 đến 2001, thay đổi về nhu cầu vốn của doanh nghiệp giảm, bằng 14% GDP. Nếu không có việc tăng chi của nhà nước Nhật qua thiếu hụt ngân sách, nước Nhật có thể đi vào một cuộc đại khủng hoảng như những năm 1930.

Koo phê phán các chỉ trích của IMF và chính phủ Mỹ. Theo họ chính sách thâm hụt ngân sách của Nhật nhằm tăng chi tiêu và tích lũy của nhà nước Nhật là sai lầm vì làm mất khả năng trả nợ của Nhật trong tương lai. Koo cho rằng nếu không có chính sách thâm hụt ngân sách, nước Nhật đã gặp phải đại hoạ khủng hoảng và thất nghiệp.

IMF và nhiều nhà kinh tế Mỹ cho rằng cơ cấu kinh tế Nhật lỗi thời, là một hệ thống kinh tế bè đảng (crony capitalism), và coi việc cơ cấu lại nền kinh tế là giải pháp chính nhằm vực kinh tế Nhật. Koo phản bác, cho rằng cơ cấu kinh tế Nhật (ám chỉ hệ thống kinh tế bè đảng) có vấn đề, nhưng vấn đề này đã có từ lâu và chính nó đã là động lực phát triển kinh tế Nhật. Vào năm 1997 Nhật theo đuổi chính sách cải tổ hệ thống, giảm thiểu các qui định, kiểm soát, lỗi thời để tăng cung nhưng không đưa lại kết quả. Nhu cầu về vốn giảm nhanh hơn là khả năng tăng cung. Kết quả là Ngân hàng Nhật dư thừa vốn nhưng không kiếm ra người vay (Koo, trang 146). Tình hình bi đát hơn khi Ryutaro Hashimoto thực hiện thêm chính sách cân bằng ngân sách từ cuối năm 1997 đến cuối năm 1998 do bị chỉ trích và tiếp tục cải tổ hệ thống (Koo, trang 146, 155). Tốc độ tăng GDP âm (năm 1997 và 1998). Tốc độ tăng trưởng giảm mạnh từ 4,4% xuống -1,9% làm ngân sách thâm hụt thêm vì thuế thu được ít hơn. Keizo Obuchi thay đổi chính sách, chấp nhận thiếu hụt ngân sách, kinh tế tăng trưởng trở lại vào năm 1999 (0,1%) và năm 2000 (2,8%). Junichiro Koizumi lại trở lại cho rằng cần “chính sách táo bạo nhằm cải cách cơ cấu.” Koizumi nói đến vấn đề thành lập một quĩ giải quyết mua lại nợ như Mỹ vào năm 1989 và phá sản các ngân hàng cần phá sản đã giải quyết nợ gây ra do các ngân hàng để dành và việc phá sản của quĩ bảo hiểm các ngân hàng này. Ngân sách nhà nước Mỹ phải chi đến 160 tỷ USD. Khác biệt là các tổng dư nợ của ngân hàng để dành ở Mỹ chỉ bằng 5% của hệ thống ngân hàng Mỹ và chỉ một phần của 5% này là nợ xấu. Ngược lại 95% ngân hàng Nhật có nợ xấu và tổng tích sản mất giá đến 85%, gấp 2 lần rưỡi GDP của Nhật (Koo, trang 124-125). Koo cho rằng cần áp dụng giải pháp như đã áp dụng cho các nước châu Mỹ Latin trước đây: bảo đảm sự bình ổn của hệ thống tín dụng và từ từ giải quyết nợ xấu (Koo, trang 130).

Koo phê phán giải pháp tiền tệ, nhất là các áp lực trên Ngân hàng Trung ương Nhật tạo ra lạm phát (“inflation targeting” do Paul Krugman đề nghị [4]) khi chính sách lãi suất đã trở nên vô dụng, gần bằng zero nhưng vay mượn không tăng. Nhật đã rơi vào “bẫy thanh khoản” (liquidity trap) mà Keynes đã nói tới khi bàn về khủng hoảng năm 1930. Lý luận của Krugman và các nhà kinh tế có ý tương tự là nếu kỳ vọng lạm phát tiếp tục cao lên, dân chúng hoặc doanh nghiệp sẽ sẵn sàng tăng chi tiêu vì họ sẽ chỉ phải trả nợ với một giá trị thấp hơn. Ngân hàng Nhật thực hiện giải pháp này năm 1999 nhưng kết quả chẳng hơn gì trước, doanh nghiệp có tiền thì lo tăng tốc trả nợ. Koo cho rằng nhu cầu vốn không có cho nên tăng cung chỉ làm chính sách tiền tệ trở nên vô dụng thêm. Koo điểm lại thống kê để cho thấy rằng, doanh nghiệp Nhật chỉ nhằm giảm nợ chứ không có nhu cầu đầu tư.

Koo cho rằng phải tăng chi tiêu của chính phủ vào tích lũy của nhà nước và các chính sách xã hội. Koo không bàn chi tiết về chính sách thiếu hụt ngân sách nhà nước. Tuy nhiên cũng cần thấy không nhất thiết nhà nước cần tăng đầu tư (khi mà nhiều người cho rằng đầu tư vào hạ tầng ở Nhật đã quá dư thừa không còn chỗ để đầu tư thêm) mà có thể tăng chi vào các chính sách xã hội và giảm thuế để khuyến khích dân chúng chi tiêu. Tuy vậy Koo không cho rằng chính sách thâm hụt ngân sách sẽ giải quyết được vấn đề mà chỉ nhằm cấp thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Koo cho rằng các lãnh tụ chính trị hứa hão khi áp dụng chính sách thâm hụt ngân sách do đó đã tạo ra tình trạng mất tin tưởng vào chính sách này. Đối với Koo chính sách này là đúng đắn và cần thiết. Koo không nói thẳng nhưng giải pháp cho kinh tế Nhật chính là hành động của doanh nghiệp nhằm giảm nợ. Khi nào bảng kết toán tài sản sạch sẽ trở lại thì doanh nghiệp sẽ đầu tư trở lại. Điều này đã mất 13 năm và Koo cho rằng kinh tế Nhật đã gần đi đến phục hồi chiều hướng nợ của Nhật đã trở lại thời những năm 1970. Koo có thể đã quá lạc quan. Đành rằng hệ số nợ của Nhật ngay trong quá khứ đã rất cao, cao ngay trong thời kỳ huy hoàng của Nhật vào những năm 60 và 70. Nhưng điều này xảy ra trong tình hình kinh tế Nhật đóng kín cửa với hàng nhập. Khi bị bó buộc phải mở cửa cho hàng hoá nước ngoài và dòng chảy tư bản, tình hình đã trở nên khác. Những gì có tính hiệu quả trong quá khứ không nhất thiết hiệu quả trong hiện tại. Cũng rất có thể doanh nghiệp sẽ áp dụng cách đánh giá như các nước Tây Âu khi hệ thống kinh tế đã thay đổi và không còn có thể dựa vào nhà nước như trước do đó họ cần phải đạt tới hệ số nợ khoảng gần 1 trước khi doanh nghiệp Nhật tăng tốc đầu tư. Điều này Koo lờ đi.

Vấn đề Koo nêu ra với kinh tế Đông Nam Á

Vấn đề kinh tế Đông Nam Á là hệ quả của sự khủng hoảng kinh tế Nhật được bàn đến ở chương 9. Nhật đầu tư sang các nước này từ năm 1985 vì chính sách ép buộc của Mỹ và các nước phát triển đòi hỏi Nhật mở cửa cho tư bản tài chính và hàng hoá, và vì sự tăng giá trị đồng Yen như đã nói ở đoạn trên. Hàng năm Nhật xuất khẩu tư bản (qua cho vay, đầu tư trực tiếp và mua tài sản ở nước ngoài) lên đến 2-3% GDP. Nhưng đến năm 1995 trở đi, đồng Yen bắt đầu xuống giá so với đồng USD. Một USD lúc cao điểm là 80 Yen, năm 1997 xuống tới mức 150. Các nước Đông Nam Á do gắn chặt đồng nội tệ vào đồng USD, nên đồng tiền của họ lên giá gần gấp đôi so với đồng Yen. Hàng hoá của họ mất khả năng cạnh tranh vào thị trường Nhật. Cán cân thương mại của các nước này từ chỗ dư thừa trở nên thiếu hụt lớn, có nước lên tới 6% GDP. Vốn Nhật và từ 1995 là vốn các nước Âu châu đổ vào Á châu như một cuộc chạy đua vì sợ mất chỗ đẩy giá tài sản, đặc biệt là nhà đất và cổ phiếu lên rất cao. Bong bóng vỡ năm 1997 do đồng ngoại tệ tháo chạy.

Liều thuốc mà IMF dưới áp lực của Mỹ vẫn là “đồng thuận Washington” [5] như đã áp dụng ở Nhật và các nước khác: cân bằng ngân sách, xoá bỏ bù lỗ, đổi mới cơ cấu vì họ coi nguyên nhân của khủng hoảng là chủ nghĩa tư bản bè đảng. Với liều thuốc vạn năng áp dụng cho mọi trường này, kinh tế Indonesia suy sụp và chế độ Suharto sụp đổ. Nước từ chối liều thuốc này là Malaysia vẫn đứng vững và là nước lấy lại được tình trạng phát triển nhanh chóng nhất trong các nước Đông Nam Á. Malaysia sử dụng liều thuốc ngắn hạn bằng cách tạm đình hoãn dòng chảy tư bản nhằm ngăn chặn phản ứng đàn lũ của thị trường.

Phân tích của Koo cũng ích lợi cho việc nhìn nhận tình hình Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian sắp tới khi tài sản tăng giá kiểu bong bóng, và đặc biệt ở Việt Nam thiếu hụt cán cân thương mại lên tới 15% GDP [6]. Tình hình hiện nay chưa đến mức nguy vì do hai nước đều gắn (hoặc bảo vệ) giá trị đồng tiền của mình vào đồng USD do đó mất giá so với đồng Nhật và Euro.

Vấn đề Koo nêu ra với kinh tế Mỹ

Chương 10 bàn đến kinh tế Mỹ. Kinh tế Mỹ trong hai năm qua cũng ở tình trạng như Nhật nhưng ở mức độ thấp hơn. Hệ số nợ của doanh nghiệp Mỹ lên đến 1,5 cao hơn 1 là mức bình thường trong lịch sử kinh tế Mỹ từ năm 1960 đến gần đây. Giá tài sản nhà đất và cổ phiếu lên như bong bóng. Sự suy sụp của giá cổ phiếu năm 2001 không đưa đến tình trạng suy sụp vì Greenspan ý thức khá rõ vấn đề nguy kịch của tình hình. Cầu về vốn của doanh nghiệp giảm mạnh để giảm nợ do hệ số nợ cao. Ông ta nhanh chóng giảm lãi suất, 12 lần liên tiếp trong một năm, lãi suất vay ngắn hạn Ngân hàng Dự trữ Liên bang giảm từ 6,5% xuống 1,75% trong thời gian ngắn hơn một năm để thúc đẩy nhu cầu mua nhà, do đó làm tăng giá nhà. Nhà trắng áp dụng chính sách thâm hụt ngân sách, tăng chi quốc phòng, hiện nay lên tới 3% GDP. Giá trị cổ phiếu vào lúc cao điểm giảm bằng 70% GDP, nhưng ngược lại giá nhà đất lên như bong bóng, gần đủ bù vào sự mất giá của cổ phiếu. Mức độ mất giá tài sản của Nhật cao hơn nhiều, bằng 2,7 lần GDP năm 1989 và 2,3 lần năm 2001. Koo đánh giá những phản ứng quyết liệt của Greenspan là cực kỳ thông minh. Koo cũng nhắc lại là nhân định về suy thoái (vì) bảng kết toán tài sản (balance sheet recession) là bắt nguồn từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang ở New York vào năm 1991 (trang 217). Tuy nhiên Greenspan gặp may mắn vì giá nhà đất không suy sụp khi giá cổ phiếu suy sụp.

Khả năng suy sụp giá nhà đất là có, nhất là sau khi bầu cử tổng thống Mỹ.

Kết luận

Koo đưa ra một nhận định khá mới mẻ về kinh tế Nhật, và kinh tế vùng Đông Nam Á, mặc dù không phải là người đầu tiên đưa ra. Đó là suy thoái (vì) bảng kết toán tài sản. Giải quyết suy thoái kiểu này đòi hỏi thời gian dài lâu để doanh nghiệp tự giải quyết hầu làm sạch sẽ bảng kết toán. Vai trò của nhà nước là tăng mức chi tiêu của ngân sách hầu tránh cho suy thoái loại này trở thành một cuộc đại khủng hoảng và nhằm bảo vệ việc làm và đời sống xã hội. Đồng thuận Washington là chính sách không những vô dụng trong tình hình này mà còn làm rạn vỡ xã hội và thành quả kinh tế xã hội đã đạt được. Koo chỉ chú trọng vào nguyên nhân gần là ảnh hưởng của việc giảm phát gía trị tài sản mà không đi vào lý giải tại sao tài sản tăng giá kiểu bong bóng và tại sao chúng giảm cũng như không bàn đến các biện pháp kinh tế nhằm tránh chuyện bong bóng xảy ra.

New York 21/01/2004

Vũ Quang Việt

[1] International Financial Statistical Yearbook, IMF, 2002. Hối suất nhắc tới ở dưới là lấy từ sách của R. Koo. Hối suất này không nhất thiết giống như tài liệu của IMF vì số liệu IMF là số trung bình trong năm.

[2] Nhóm G5 (gồm năm nước phát triển Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp), họp thường kỳ một năm một lần nhằm trao đổi và phối hợp chính sách kinh tế giữa các nước lớn. Nhóm G5 hiện nay đã trở thành nhóm G7, có thêm hai nước Canada và Ý. Mới đây do có sự tham gia với tư cách quan sát viên của Nga, G7 cũng được gọi là G8.

[3] National Accounts Statistics: Analysis of Main Aggregates 2001, United Nations, 2001.

[4] Xem, chẳng hạn, Paul Krugman, 1999, “Morning in Japan?”, Slate, 12 tháng 3.

[5] Đồng thuận Washington (Washington consensus) là từ do John Williamson tạo ra để nói về sự đồng thuận giữa nhà trắng, quốc hội Mỹ và các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và World Bank về chính sách “đúng đắn” đã được đúc kết từ kinh nghiệm, cần áp đặt trên các nước đang phát triển khi họ cần giúp đỡ tài chính. Chính sách này chủ yếu là nhằm cổ động tư hữu hoá, tư do dòng chảy tư bản và giảm vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Chính sách gồm mười điểm: (1) cân bằng ngân sách nhà nước, (2) chuyển hướng tài chính công, (3) cải cách thuế, (4) tự do hoá tài chính, (5) dùng một hối suất thị trường tự do, (6) tự do hoá thương mại, (7) xoá bỏ rào cản đầu tư nước ngoài, (8) tư hữu hoá doanh nghiệp nhà nước, (9) xoá bỏ các luật lệ kiểm soát thị trường, (10) bảo vệ quyền tư hữu. Coi J. Williamson (ed), Latin American Adjustment: How Much Has Happened [Washington, D.C. Institute for International Economics, 1990] hay “Democracy and the Washington Consensus”, World Development, Vol. 21, No. 8, 1993.

[6] GDP năm 2003 ước là 536.099 tỷ (Tổng cục Thống kê), tương đương 34.6 tỷ USD. Nhập siêu theo Kinh Tế Sài Gòn, số 1, 2004 là 5,2 tỷ USD.

Advertisements

Quản trị rủi ro: Bắt đầu từ đâu? 011309

Filed under: thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 5:15 pm
Tags:

Hoàng Đức Hùng- doanh nhan 360

Xét từ góc độ kinh doanh, khi đưa ra bất cứ quyết định nào, nhà quản lý tất yếu sẽ phải cân nhắc đến yếu tố rủi ro. Mức độ thành công hay thất bại của quyết định đó sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của các rủi ro liên quan và việc các rủi ro đó được kiểm soát thế nào (xem mô hình).

Càng nhiều biến động thị trường, càng nhiều yếu tố không chắc chắn thì mối đe doạ đối với DN càng lớn. Tuy nhiên, với phương châm trong kinh doanh “rủi ro cao, lợi nhuận lớn” thì đó cũng được xem là cơ hội cho những DN có khả năng nắm bắt và quản lý được các rủi ro.

Chúng ta đang ở đâu?

Trong thực trạng nền kinh tế phát triển mạnh như ở Việt Nam những năm trước, khi mà các biến động thị trường mang tính tích cực, rất nhiều cơ hội, giao dịch kinh tế được thực hiện một cách dễ dàng và có lợi cho các bên… thì phần lớn DN trong nước đều thấy mình thành công, dù ở cấp độ nhiều hay ít, mà không tính đến dài hạn hay ngắn hạn. Các rủi ro khi đó được giảm thiểu một cách khách quan từ thị trường và do đó bị xem nhẹ một cách đáng tiếc. Tuy nhiên, khi nền kinh tế có dấu hiệu chững lại và kém thuận lợi, bắt đầu từ lạm phát cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đến việc khan hiếm nguồn lực tài chính cùng áp lực lãi suất cao và gần nhất là tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, các DN sẽ phải đương đầu với mặt trái của các biến động – các rủi ro kinh doanh. Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thành công, khả năng vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay, thậm chí khả năng tồn tại của các DN trong nước chính là việc họ có hay không một cơ chế nhận diện, kiểm soát và hạn chế rủi ro. Nếu làm tốt hơn thì nhiều DN có thể biến rủi ro thành cơ hội cho mình.

Để trả lời câu hỏi chúng ta đang ở đâu trong việc quản lý rủi ro, phải xem xét đến 3 cấp độ hoặc 3 bước chính trong việc quản lý rủi ro sau:

(1) Nhận diện rủi ro. DN đã nhận diện được các rủi ro mà họ phải đối mặt hay chưa? DN đã làm gì hơn hay chỉ dừng ở việc nhận diện rủi ro? Các rủi ro đã được nhận diện một cách triệt để và theo hệ thống hay không…?

(2) Đánh giá rủi ro. Sau khi được nhận diện, các rủi ro đã được phân loại và đánh giá một cách phù hợp hay chưa? Đã có cơ chế đánh giá rủi ro hiệu quả hay chưa…?

(3) Kiểm soát rủi ro. Các rủi ro sau khi được nhận diện và đánh giá được kiểm soát thế nào? Các rủi ro và ảnh hưởng tiêu cực của nó đã được loại trừ hết chưa? Đã có cơ chế kiểm soát hiệu quả rủi ro hay chưa…?

Mặc dù rủi ro là một khái niệm mà bất kỳ DN nào cũng biết và cũng phải trải qua, DN nào cũng muốn kiểm soát và hạn chế rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh của mình, nhưng không phải tất cả đều nhận diện được các rủi ro đang tồn tại và sẽ xảy ra, cũng như không phải tất cả đều làm được hoặc làm tốt việc kiểm soát các rủi ro đó.

Dựa trên các trải nghiệm của người viết, hiện trạng công tác quản lý rủi ro của một số loại hình DN trong nước có một số nét chính tóm tắt như sau:
Các DN nhỏ và vừa. Điểm yếu của các DN này đến từ quy mô nhỏ và chưa bài bản trong công tác quản lý và quản trị DN nói chung. Các DN này thường lệ thuộc vào các cá nhân lãnh đạo, thường là chủ sở hữu, trong việc nhận diện và ứng phó với rủi ro. Vai trò của các cá nhân này rất quan trọng và phụ thuộc nhiều vào bản năng cũng như độ nhạy bén của họ trong hoạt động kinh doanh. Không hiếm DN trong nhóm này có khả năng vượt qua các giai đoạn biến động khó khăn, thậm chí trở thành DN thành công, nhưng về mặt phát triển dài hạn cũng như chiến lược kinh doanh của DN sẽ hàm chứa nguy cơ thất bại cao nếu vấn đề quản lý rủi ro không được thay đổi một cách bài bản, đặc biệt khi “giác quan” của các cá nhân “cùn” đi trong môi trường kinh doanh ngày một phức tạp hoặc khi quy mô hoạt động và các thay đổi của điều kiện thị trường vượt quá khả năng kiểm soát của họ.

Các tập đoàn tư nhân. Đây là sự phát triển thành công vượt bậc của nhiều DN nhỏ và vừa ở Việt Nam trong thời gian qua. Với sự thuận lợi về môi trường kinh doanh cũng như quy mô vốn, các tập đoàn này ngày càng phát triển và có tiềm năng trở thành các biểu tượng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, điều cần làm ở các DN này là sự thay đổi cần thiết về cơ cấu quản lý, quản trị DN cũng như quản lý rủi ro một cách tương ứng với quy mô và tầm cỡ của mình. Tương tự như DN nhỏ và vừa, các tập đoàn tư nhân mới nổi dựa vào giác quan “sắc bén” của các cá nhân lãnh đạo, thường là những thành viên trong gia đình. Các chủ sở hữu hoàn toàn có thể xây dựng quanh mình một đội ngũ nhân viên có kỹ năng xuất sắc để có được thay đổi cần thiết trong quản lý.

Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi vẫn là “niềm tin” và việc chuyển giao trọng trách cho những người ngoài gia đình cũng như các công ty tư vấn. Nếu dùng đúng người, đúng việc thì việc áp dụng các lý thuyết và công cụ quản lý, kể cả kiểm soát rủi ro, sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Thực tế cho thấy, chỉ có một số ít tập đoàn tư nhân áp dụng bài bản các bước quản lý rủi ro, phần còn lại vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi tư duy, các quyết định kinh doanh và ứng phó rủi ro vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi ý chí chủ quan của các chủ sở hữu.

Ông Hoàng Đức Hùng là Phó tổng giám đốc Ernst & Young Việt Nam, làm việc tại văn phòng Hà Nội. Ông Hùng là kiểm toán viên công chứng của Việt Nam và là thành viên của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh (ACCA), kiểm toán viên nội bộ công chứng của Học viện Kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ (IIA). Ông Hùng có 14 năm kinh nghiệm làm việc tại Ernst & Young Việt Nam và từng làm việc tại Ernst & Young San Franciso (Hoa Kỳ) và Ernst & Young Brisbane (Úc). Ông Hùng có kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực kiểm toán, kiểm toán chẩn đoán, rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ, tư vấn về quản trị DN, rà soát quy trình hợp đồng và mua sắm, đào tạo, xây dựng cẩm nang tài chính…

Các DN, tổng công ty nhà nước đã chuyển đổi hoặc cổ phần hóa. Các khái niệm về rủi ro kinh doanh và cơ chế kiểm soát là khá mới mẻ với các DN này, vì trong một thời gian dài họ hoạt động trong cơ chế bao cấp, việc hoàn thành định mức và chỉ tiêu được giao đôi khi mang tính danh nghĩa, chứ không có tính sống còn với DN. Các cơ chế này gần như không tồn tại hoặc chỉ tồn tại dưới dạng hình thức, kể cả sau khi DN được cổ phần hóa hoặc chuyển đổi. Không thể phủ nhận có một số DN với kinh nghiệm quan hệ quốc tế phong phú hoặc các tập đoàn kinh tế có tư duy cởi mở đã chủ động áp dụng các lý thuyết và mô hình quản lý rủi ro theo chuẩn quốc tế, nhưng do có sự hạn chế nhất định về các cơ chế còn tồn tại cũng như năng lực nội bộ, các áp dụng này vẫn chưa được coi là thực sự hoàn thiện. Sự tham gia điều hành một cách trực tiếp của các đối tác chiến lược nước ngoài được mong đợi sẽ góp phần tăng cường năng lực của các DN trong việc hoạch định chiến lược, nâng cao quản trị DN và tăng cường kiểm soát rủi ro.

Các DN có vốn nước ngoài. Phần lớn DN này có lợi thế trong việc có được các mô hình và cơ chế quản lý, kiểm soát rủi ro có sẵn của các công ty, tập đoàn nước ngoài. Với một số DN đầu tư độc lập thì các nhà đầu tư và nhà quản lý, dựa trên kinh nghiệm từ các thị trường tiên tiến hơn, chủ động hơn trong việc định hướng và phát triển cơ chế và các bước quản lý rủi ro bài bản hơn. Họ cũng có điều kiện để sử dụng các công cụ quản lý rủi ro một cách thuần thục và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vẫn có những mối quan tâm nhất định liên quan đến việc đảm bảo tuân thủ các quy trình và thủ tục kiểm soát rủi ro đã đề ra. Sự giám sát và cơ chế báo cáo cho tập đoàn ở nước ngoài không phải lúc nào cũng được thực hiện trên quy mô đầy đủ, trong khi các nhà quản lý DN ở trong nước, dưới áp lực đạt các chỉ tiêu ngắn hạn (như tăng trưởng doanh thu, cắt giảm chi phí…) có thể sẽ bỏ qua hoặc thiếu chú trọng vào một vài bước nào đó.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tính thực trạng, mà chỉ dừng ở mức độ điểm qua các nét chính của công tác kiểm soát rủi ro của các DN trong nước. Một số loại hình DN khác như DNNN, các DN chuyên sâu theo ngành như quỹ đầu tư, tổ chức tài chính, tín dụng… sẽ có những đặc thù riêng, nhưng vẫn có thể có những nét tương đồng theo khái quát ở trên.

Một khía cạnh không thể bỏ qua trong việc xem xét mức độ hoàn thiện của công tác kiểm soát rủi ro ở các DN trong nước chính là các quy định và cơ chế mang tính pháp lý và bắt buộc từ cơ quan quản lý. Luật Doanh nghiệp và Quyết định 12/2007/QĐ-BTC và một số văn bản pháp quy khác đã đề cập tới trách nhiệm của HĐQT và Ban giám đốc trong việc thiết lập và duy trì cơ chế quản trị DN, hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát rủi ro hiệu quả nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và cổ đông. Tuy nhiên, hướng dẫn và quy định chi tiết về việc triển khai và thực hiện các quy trình này thế nào hoặc ở cấp độ nào thì vẫn chưa đầy đủ. Tuỳ theo nhu cầu, các DN sẽ chủ động trong việc áp dụng các mô hình quản lý rủi ro tiên tiến và theo thông lệ phù hợp nhất trong công tác quản lý rủi ro.
Nguồn: Báo Đầu tư Chứng khoán

KINH TẾ VIỆT NAM NHÌN TỪ HỆ THỐNG TÀI KHOẢN QUỐC GIA “NỘI LỰC” NHÀ NƯỚC LẤN ÁT 02/2009

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 4:54 pm
Tags: ,

Sai Gon Tiep Thi- Le Hong Giang

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hàng năm tổng hợp và công bố số liệu kinh tế xã hội của các nước thành viên trong một tài liệu gọi là “Những số liệu căn bản” (Key Indicators). Nhìn vào số liệu về tài khoản quốc gia của Việt Nam và các nước trong khu vực trong bản báo cáo của ADB năm nay, có một số điểm sau cần lưu ý.

Trước hết có thể thấy GDP của Việt Nam năm 2007 được phân bổ như sau (GDP = C + G + I + NX):

– Tiêu dùng tư nhân: C = 64,9%
– Tiêu dùng chính phủ: G = 6,1%
– Đầu tư trong nước: I = 44,1%
– Xuất khẩu ròng (xuất khẩu – nhập khẩu): NX = X – N = 73,6% – 90,2% = –16,6%

Đặc điểm đầu tiên có thể dễ dàng nhận thấy là tiêu dùng tư nhân của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất trong khu vực Đông – Đông Nam Á (64,9%), cao hơn nhiều so với Trung Quốc (37,1%) và Thái Lan (53,5%). Ngược lại, tiêu dùng chính phủ của ta lại thuộc nhóm thấp nhất trong khu vực, chỉ có 6,1% so với 14,4% của Trung Quốc và 12,6% của Thái Lan. Nếu gộp hai mục này lại thì tiêu dùng nội địa của Việt Nam vẫn cao hơn Trung Quốc và Thái Lan nhưng đã bằng hoặc thấp hơn một số nước khác.

Tại sao tiêu dùng tư nhân (C) của Việt Nam lại cao như vậy? Có phải vì dân Việt Nam không có tính tiết kiệm? Chúng ta thường tự khen là người Việt Nam “cần cù tiết kiệm”, số liệu về tỷ lệ tiết kiệm nội địa cho thấy dân Trung Quốc và cả dân Thái Lan cũng hơn dân Việt Nam về mặt này. Cũng có thể tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam thấp vì đa số người dân còn nghèo nên phần lớn thu nhập phải chi cho các nhu cầu cơ bản như lương thực, y tế, giáo dục. Khi một người phải “chạy ăn từng bữa” thì không thể có tiết kiệm được. Lập luận này có vẻ hợp lý vì tiêu dùng tư nhân ở Campuchia, Indonesia và Philippines, những nước nghèo trong khu vực, cũng cao tương đương hoặc nhỉnh hơn Việt Nam. Tuy nhiên, bạn có thể đặt câu hỏi: vì nghèo nên tiết kiệm thấp hay vì không tiết kiệm nên nghèo? Hay đấy là một cái vòng luẩn quẩn?

Điều ngạc nhiên hơn là chi tiêu chính phủ (G) của Việt Nam lại thấp như vậy (6,1%). Chúng ta vẫn than phiền về bộ máy hành chính cồng kềnh và Chính phủ vẫn đang cố gắng tinh giảm biên chế để bớt gánh nặng cho ngân sách. Vậy tại sao G của Việt Nam lại chưa bằng nửa của Trung Quốc (14,4%) và Thái Lan (12,6%)? Có phải vì nguồn thu của Chính phủ thấp nên G buộc phải nhỏ? Số liệu về ngân sách cho thấy không phải vậy. Ngân sách của Việt Nam có tổng nguồn thu bằng 24,9% GDP, so với 20,6% của Trung Quốc và 17,2% của Thái Lan.

Với nguồn thu bằng 24,9% GDP năm 2007, Chính phủ đã chi tiêu tổng cộng bằng 28,1% GDP trong đó phần chi vào G chỉ có 6,1%. Như vậy 22% GDP được Chính phủ chi vào đầu tư và xây dựng cơ bản. Đây là tỷ lệ chi cho đầu tư công lớn nhất khu vực, gấp bốn lần Trung Quốc (5,5%) và hơn ba lần Thái Lan (6,6%). Có thể nói Chính phủ Việt Nam là nhà đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế. Trong số 44,7% tổng đầu tư trong nước, Nhà nước chiếm 22%, các nhà đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 9,3%, vậy là giới doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chỉ đầu tư bằng 10,4%, so với 35% của Trung Quốc và 17% của Thái Lan. Tóm lại “nội lực” của Việt Nam vẫn chủ yếu nằm trong tay Nhà nước và sự “còi cọc” của khu vực tư nhân có thể là hậu quả của hiệu ứng lấn át (là hiệu ứng nhà nước hoạt động kinh tế quá nhiều nên lấn át cơ hội sử dụng nguồn lực của tư nhân vì tổng nguồn lực của nền kinh tế là hữu hạn).

Vài năm gần đây Việt Nam cổ vũ và khuyến khích quá trình “xã hội hoá” nhiều dịch vụ công như xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, thể thao, và mới nhất là công chứng. Nếu hiểu “xã hội hoá” là dỡ bỏ các rào cản pháp lý để các thành phần kinh tế tư nhân có thể cùng Nhà nước (và cạnh tranh với Nhà nước) cung cấp các dịch vụ công này thì đây là điều đáng khuyến khích. Tuy nhiên nếu “xã hội hoá” là một hình thức Nhà nước đẩy một phần trách nhiệm cung cấp các dịch vụ công vào tay người dân thì kết quả sẽ là G giảm và C tăng. Ví dụ trước đây người dân được khám bệnh miễn phí, thực ra chi phí cho việc khám bệnh nằm trong G, nay ngành y tế được “xã hội hoá” – người bệnh phải trả một phần viện phí nên C tăng lên. Việc G của Việt Nam giảm liên tục từ 12,3% năm 1990 đến 6,1% năm 2007 có thể là một dấu hiệu đáng ngại của xu hướng “xã hội hoá” các dịch vụ công kiểu này. Trong khi đó G của Trung Quốc dao động trong khoảng 14 – 15% còn của Thái Lan tăng liên tục từ 9,4 – 12,6%.

Tương quan G/C thấp của Việt Nam còn có thể do hệ thống an sinh và bảo hiểm xã hội của Việt Nam còn quá nhỏ và yếu. Ngay cả trong trường hợp các quỹ bảo hiểm xã hội (hưu trí, thất nghiệp, y tế) được đặt ngoài ngân sách (như của Việt Nam hiện tại), Chính phủ vẫn phải thường xuyên bù lỗ cho các quỹ này, nhất là trong các giai đoạn kinh tế khó khăn. Nâng cao mức phúc lợi cho người dân từ các quỹ này, gián tiếp làm tăng G, vừa giúp giảm bớt khó khăn trong cuộc sống của người dân vừa tạo ra một cơ chế “kích thích tài khoá tự động” cho nền kinh tế.

Số liệu về tổng thu ngân sách của Việt Nam tăng liên tục từ 21,9% năm 1990 lên 28,1% năm 2007. Vậy G giảm liên tục chứng tỏ đầu tư chính phủ đã tăng không ngừng. Có thể đây là chiến lược phát triển của Việt Nam: tăng tốc đầu tư chính phủ (vào các tập đoàn nhà nước) để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng rõ ràng chiến lược này có giới hạn của nó. Giữ G thấp quá lâu sẽ làm ảnh hưởng đến vốn con người và vốn xã hội trong khi tăng đầu tư nhà nước có hiệu quả không cao vì vừa dễ bị thất thoát vừa bị hạn chế bởi năng lực và cơ chế quản lý. Một bằng chứng rất rõ là nhiều nhà kinh tế đã cảnh báo tỷ lệ đầu tư trên tăng trưởng (ICOR) của Việt Nam đang tăng liên tục và cao hơn nhiều nước trong khu vực (ICOR trung bình của Việt Nam tính theo số liệu của ADB từ năm 2001 đến 2007 là 5,5).

Bên cạnh chiến lược phát triển dựa vào đầu tư của Chính phủ, Việt Nam cũng học tập (theo lời khuyên của ngân hàng Thế giới) chiến lược phát triển hướng vào xuất khẩu của nhiều nước, lãnh thổ ở châu Á đã và đang thành công như Đài Loan, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, Malaysia và Trung Quốc. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt 167% GDP, cao hơn của Trung Quốc (72%) và Thái Lan (139%) nhưng vẫn thấp hơn Malaysia (200%), Hong Kong và Singapore (400%). Đây là một chiến lược phát triển nhiều rủi ro vì nó phụ thuộc vào cầu thế giới, một điều các nước nhỏ không thể tác động được. Điều này có thể thấy rất rõ khi các nước châu Á có độ mở tương đương với Việt Nam đều đang bị suy thoái khá nghiêm trọng do cầu thế giới sụt giảm trong nửa sau năm 2008.

Tất nhiên chấp nhận rủi ro là để được những thuận lợi khác: các nước áp dụng chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu đều đã có những giai đoạn phát triển vượt bực, là hình mẫu cho cả thế giới. Tuy nhiên khi áp dụng chiến lược này có một điểm Việt Nam không bắt chước được là luôn bị thâm hụt thương mại. Trong tất cả các nước trong khu vực có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn hơn 70% GDP, chỉ có Việt Nam và Campuchia bị thâm hụt cán cân thương mại (nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu). Trong khi Campuchia bị thâm hụt có lẽ do tiêu dùng nội địa (C+G) quá cao (84%), Việt Nam bị thâm hụt chủ yếu vì đầu tư nội địa cao (tiêu dùng nội địa của Việt Nam tương đương với các nước có thặng dư thương mại).

Tổng tiết kiệm của Việt Nam năm 2007 là 29,8% GDP, khá thấp so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên số tiết kiệm này thừa đủ cho đầu tư tư nhân trong nước (10%), cho nên Việt Nam phải nhập khẩu vốn (NX = –16,6%) hoàn toàn để tài trợ cho đầu tư nhà nước. Tóm lại, Việt Nam đã áp dụng chính sách phát triển dựa vào gia tăng đầu tư nhà nước (trong khi giảm dần G) để kích thích xuất khẩu. Nhưng vì đầu tư nhà nước có hiệu quả không cao nên tăng trưởng kinh tế không đủ bù đắp nhu cầu vốn nội tại, do vậy cán cân thương mại đã và đang thâm hụt nặng nề.

Nửa đầu năm 2008 Việt Nam đã chịu sức ép lạm phát rất lớn. Nguyên nhân trực tiếp đã được nhiều người chỉ ra là tốc độ tăng cung tiền và tín dụng quá nhanh trong năm 2007, một phần do ngân hàng Nhà nước đã không kịp thời hoặc không có khả năng trung hoà (sterilize) hoạt động mua ngoại tệ khi dòng FDI tăng vọt trong năm. Tuy nhiên nhìn từ khía cạnh tài khoản quốc gia, nguy cơ lạm phát có thể còn do tốc độ tăng trưởng của cầu nội địa (DD = C+G+I). Số liệu của ADB cho thấy năm 2007 C tăng 9,6%, G tăng 8,9% và I tăng 24,2%. Trong khi đó tăng trưởng của tổng sản lượng chỉ là 8,5%, nhỏ hơn tất cả các cấu thành của cầu nội địa.

Kết hợp với trọng số của các cấu thành nói trên có thể tính được tốc độ tăng cầu nội địa cho Việt Nam năm 2007 là 15%, gần gấp đôi so với tốc độ tăng GDP. Trong khi đó, các nước khác trong khu vực và ngay cả Việt Nam trong những năm trước đó đều có tốc độ tăng cầu nội địa tương đương với tốc độ tăng GDP, nếu có chênh lệch cũng không đến mức gấp đôi như vậy (trừ Brunei là một nước rất nhỏ và có tỷ trọng xuất khẩu dầu thô lớn). Chính sự gia tăng đột biến của cầu nội địa trong năm 2007, do FDI và đầu tư công cùng tăng, là một nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát đầu năm 2008.

Đến thời điểm này, khi nguy cơ cuộc khủng hoảng tài chính sẽ ảnh hưởng mạnh lên tăng trưởng của Việt Nam, Chính phủ đã đưa ra một gói giải pháp “kích cầu”, chủ yếu tập trung vào kích thích đầu tư. Với cơ cấu kinh tế Việt Nam như đã trình bày ở trên đã quá nghiêng về đầu tư, có lẽ các biện pháp kích cầu nên tập trung vào C và G. Đặc biệt nếu lập luận “xã hội hoá” nói trên đúng phần nào, việc tăng G thông qua “nhà nước hoá” lại một số dịch vụ công có thể là một giải pháp tốt. Nếu người dân bớt được chi phí cho giáo dục và y tế, họ sẽ có nhiều tiền hơn cho tiêu dùng. Họ cũng có thể sẽ tiết kiệm nhiều hơn và số tiền đó sẽ chủ yếu chảy vào đầu tư tư nhân, điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam.

Rất tiếc báo cáo của ADB không có số liệu chi tiết về xuất nhập khẩu, tuy nhiên nhiều nhà kinh tế cho rằng phần lớn nhập khẩu của Việt Nam là nguyên vật liệu cho các mặt hàng xuất khẩu. Do đó nếu xuất khẩu giảm sút nhập khẩu cũng sẽ giảm theo, dù chậm hơn, và ảnh hưởng cuối cùng vào GDP có thể không quá lớn. Dù sao đi nữa Chính phủ cũng nên có các biện pháp hạn chế thâm hụt thương mại. Điều này không chỉ có lợi vào thời điểm suy thoái này mà còn có lợi về lâu dài. Xét về quan điểm kinh tế vĩ mô, thâm hụt thương mại là hình thức để một nước nhập khẩu tiết kiệm của nước ngoài khi tiết kiệm trong nước không đủ cho đầu tư nội địa. Do vậy để giảm thâm hụt thương mại thì hoặc phải giảm đầu tư hoặc phải tăng tiết kiệm nội địa.

Với cơ cấu đầu tư nội địa quá thiên về đầu tư nhà nước như của Việt Nam, việc chuyển dịch dần sang đầu tư tư nhân là cần thiết, vừa để tăng hiệu quả của đồng tiền đầu tư (giảm ICOR) vừa để Chính phủ có thể dồn ngân sách sang G giảm bớt gánh nặng “xã hội hoá” cho người dân. Tiết kiệm nội địa có thể điều chỉnh được qua các chính sách thuế, ví dụ tăng thuế gián thu (VAT) đồng thời giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân. Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt vào các mặt hàng xa xỉ đang phải nhập khẩu cũng giúp tăng tiết kiệm và đồng thời giảm thâm hụt thương mại. Mạnh tay hơn với các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá đối với các ngành sản xuất phải nhập khẩu nguyên vật liệu và linh kiện từ nước ngoài cũng là cách hạn chế bớt nhập khẩu.

Điểm cuối cùng, Việt Nam đã có những sai lầm trong quá trình đổi mới và mở cửa nên nền kinh tế đã có một cấu trúc không được tối ưu. Chúng ta cần nhìn nhận những sai lầm đó và kiên quyết sửa chữa. Một điều đáng tiếc là chúng ta sẽ phải trả giá cho những sai lầm này, không sớm thì muộn. Việc dịch chuyển cơ cấu đầu tư hay tương quan G/C có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, nhất là trong giai đoạn khó khăn này. Nhưng thà chấp nhận tăng trưởng chậm lại trong vài năm để điều chỉnh còn hơn là cứ tiếp tục cơ cấu kinh tế không cân bằng hiện tại. Mỹ đang phải trả giá cho cơ cấu kinh tế lệch lạc của mình, nhưng cuộc khủng hoảng sẽ qua đi và nền kinh tế Mỹ sẽ lại phát triển. Chúng ta không nên mắc lại sai lầm của Mỹ nhắm mắt làm ngơ trước những lời cảnh báo về các mất cân đối trong nền kinh tế.

Câu chuyện siêu thị

Filed under: thông tin,thị trường (market),Uncategorized — ktetaichinh @ 4:41 pm

VN Economy- 022409

Câu chuyện tên của các siêu thị, trung tâm thương mại ở Việt Nam đang có những loại hình nào, dáng dấp nó ra sao, đang được các chuyên gia thương mại nghiên cứu, phục vụ cho việc hoạch định chính sách phát triển hệ thống phân phối hiện đại.

Co.opmart, Maximart chỉ là… cửa hàng

Trong một cuộc họp bàn về hệ thống phân phối hiện đại trên thị trường Tp.HCM, một đại diện của hệ thống siêu thị Co.opmart cho rằng, cái mà ở Việt Nam nhiều người đang gọi là siêu thị hiện nay, nếu ở Nhật hay một vài quốc gia phát triển khác, họ gọi tạm dịch ra tiếng Việt là cửa hàng bách hóa tổng hợp (general merchandise store – gọi tắt là GMS).

Sự khác biệt của GMS với các siêu thị ở Việt Nam nằm ở chỗ GMS của nước ngoài đa phần bán hàng thiết yếu hàng ngày trong gia đình như thực phẩm, hóa phẩm, hoặc có thêm quần áo hay giày dép nhưng không phải là hàng thời trang mà là quần áo, giày dép dùng trong nhà.

Còn các siêu thị của Việt Nam hiện nay, vừa bán hàng thực phẩm, phi thực phẩm, có cả khu vực bán hàng thời trang, thậm chí là hàng kim khí điện máy. Nhưng dù sao, mô hình siêu thị tổng hợp (tức không tính siêu thị chuyên doanh một mặt hàng (special store) như siêu thị điện máy, siêu thị điện thoại…) hiện tại trên thị trường có nhiều nét tương đồng với GMS hơn là siêu thị (super market) đúng nghĩa của nó.

Nhưng ngay cả nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối khi đưa loại hình đại siêu thị (hyper market) vào Việt Nam thì người tiêu dùng vẫn quen gọi chung là siêu thị.

Một chuyên gia nghiên cứu về hệ thống phân phối hiện đại cho biết điển hình của trường hợp này là Cora Đồng Nai, nay gọi là Big C Đồng Nai ở ngã ba Vũng Tàu.

Cho tới nay, mô hình đại siêu thị ở Việt Nam được ông cho là chỉ có ở Big C Đồng Nai, còn các Big C ở các nơi khác cũng chỉ là siêu thị thông thường, như là GMS đã nói ở trên.

Sở dĩ ông gọi Big C Đồng Nai là mô hình đại siêu thị của nước ngoài là dựa vào vị trí nằm ở rìa thành phố, có diện tích lớn, chủng loại hàng hóa phong phú, đặc biệt có hàng điện gia dụng, cơ khí điện máy, nông ngư cụ, quầy kệ thì lớn, cao.

Việt Nam hiện có 6 loại hình phân phối

Một nhà quản lý lâu năm trong một hệ thống siêu thị ở Tp.HCM nói, có thể tạm chia thành 6 loại hình phân phối hiện đại trên thị trường phân phối hiện nay với từng đặc điểm nhận dạng đặc trưng, bao gồm đại siêu thị, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi và các siêu thị chuyên doanh.

Đầu tiên là loại hình đại siêu thị (hyper market), hiện chỉ có, mang dáng dấp của đại siêu thị nước ngoài là Big C Đồng Nai nhưng quy mô còn nhỏ hơn nhiều so với các đại siêu thị trên thế giới; có thể nhà đầu tư đã điều chỉnh loại hình này cho phù hợp điều kiện thị trường Việt Nam.

Riêng hệ thống các trung tâm của tập đoàn Metro Cash & Carry ở Việt Nam có vẻ “lai” với đại siêu thị nhưng lại không phải, bởi khách hàng mà Metro nhắm tới là người tiêu dùng có tổ chức, mua hàng của họ để bán lẻ, còn đại siêu thị thì bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

Sau đại siêu thị là siêu thị (super market), dù nhiều chuyên gia cho rằng siêu thị của ta hiện na ná như cửa hàng bách hóa ở các nước nhưng thị trường Việt Nam vốn dĩ đã quen với khái niệm này, nên vẫn có thể xem Co.opmart, Maximart hay Big C (trừ Big C Đồng Nai) là siêu thị.

Thứ ba là các trung tâm thương mại (department store), thường bán hàng cao cấp, giá đắt; ngay cả siêu thị bên trong department store cũng có giá đắt hơn các siêu thị thông thường. Ở Tp.HCM, các department store nổi tiếng như Diamond Plaza, Parkson…

Thứ tư là trung tâm mua sắm (shopping mall), một khái niệm khá mới mẻ và ở Tp.HCM hiện nay mới chỉ có Lotte Mart được xem là na ná như shopping mall. Đặc điểm của loại hình này là rộng lớn hơn cả đại siêu thị, thậm chí ở Singapore, loại hình này bên trong nó chứa cả đại siêu thị, siêu thị, trung tâm thương mại, rạp chiếu phim, siêu thị chuyên doanh… với nhiều dãy nhà mà người tiêu dùng, nếu đi hết các khu vực bán hàng, phải mất cả ngày.

Thứ năm là cửa hàng tiện lợi, phục vụ hàng ngày cho người tiêu dùng. Ở các nước, loại hình cửa hàng tiện lợi len lỏi trong các khu dân cư, được gọi là cửa hàng bán hàng bổ sung, tức bổ sung cho việc quên mua hàng ở đại siêu thị, siêu thị, hay hết hàng trong nhà mà chưa tới thời gian đi siêu thị. G7 Mart, Shop & Go hiện nay đang đi theo mô hình cửa hàng tiện lợi.

Các cửa hàng chuyên bán thực phẩm Co.op Food của Saigon Co.op hiện nay cũng có thể xếp vào loại hình này, tức vừa nhỏ hơn siêu thị, vừa len lỏi trong khu dân cư và bán các mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu gia đình.

Tuy nhiên, Co.op Food cũng có thể xếp vào loại hình cuối cùng là cửa hàng chuyên doanh như các siêu thị điện thoại di động, trung tâm điện máy hiện nay, vì nó chuyên một nhóm hàng thực phẩm.

Lại chuyện trái phiếu 031609

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 4:24 pm
Tags: , ,

VNEconmony

Mười hai tháng trước, vào tháng 3/2008 các nhà đầu tư nước ngoài nắm trong tay khoảng 4 tỉ Đô la Mỹ trái phiếu của Việt Nam. Hiện nay lượng trái phiếu họ sở hữu giảm 10 lần, còn chừng 400 triệu Đô la Mỹ.

Không nghi ngờ, các tổ chức nước ngoài là “những tay chơi lớn” trái phiếu. Nhưng vị trí đứng đầu, tay chơi lớn nhất của thị trường trái phiếu lại không thuộc về họ, mà thuộc về một tổ chức tín dụng nội địa: Ngân hàng Á Châu.

“Tay chơi lớn” không đứng yên

Trong số 2.556 tỉ đồng lợi nhuận trước thuế năm 2008 của ACB, hơn 1.000 tỉ đồng có được từ kinh doanh trái phiếu. Một nhà nghiên cứu kinh tế và quản lý quỹ ở Úc, Tiến sĩ Lê Hồng Giang, nhận xét để có được khoản lợi nhuận ấy, ACB đã phải mua vào lượng trái phiếu tương đương 80.000 – 100.000 tỉ đồng.

So với tổng tài sản 112.000 tỉ đồng của ACB vào thời điểm giữa năm 2008, con số trái phiếu trên quả rất lớn. Ông ước đoán đến nay trái phiếu vẫn chiếm tỷ lệ chủ yếu trong 70% tổng tài sản còn lại của ACB, vì dư nợ của ngân hàng này vào cuối tháng 12/2008 chỉ có 34.000 tỉ đồng, bằng 30% tổng tài sản.

“Quyết định dồn tiền mua trái phiếu là một quyết định khôn ngoan, phù hợp với phong trào “deleveraging” (đảo ngược đòn bẩy) của các ngân hàng thế giới năm ngoái”, Tiến sĩ Giang viết. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh trong thời gian tới ACB có thể phải chịu rủi ro lãi suất khá cao vì tập trung tài sản quá nhiều vào trái phiếu.

Tiến sĩ Giang không phải không có lý. Song trên thực tế, ACB không phải là “tay chơi” nửa chừng. Thay vì để trái phiếu nằm bất động một chỗ, ACB đã liên tục đẩy nhanh vòng quay trái phiếu, mua bán – bán mua có khi trong ngày với khối lượng giao dịch hàng ngàn tỉ đồng.

ACB đã tận dụng tối đa sự chênh lệch đáng kể của lợi tức trái phiếu trong những tháng 5-8 năm 2008. Lúc bấy giờ, khi lãi suất lên đến 21%/năm, ACB là một trong hai đơn vị có thanh khoản lớn (cùng với Vietcombank) và các tổ chức cần thanh lý trái phiếu đã chào cho ngân hàng này mức lợi tức không ngờ. Mua và ngay lập tức hiện thực hóa lợi nhuận khi có điều kiện, ACB đã dồn vốn cho trái phiếu chính phủ, trái phiếu ngân hàng chính sách, trái phiếu BIDV với mức lợi tức thấp nhất 15%/năm, cao nhất 25%/năm.

“Chúng tôi biết nguồn để mua trái phiếu giá rẻ và “lướt sóng” bán sau vài ngày”, một quan chức ACB tiết lộ. ACB đã sử dụng một lượng thanh khoản lớn cho trái phiếu, và để thanh khoản đó trong vòng quay, do đó ngay cả trong những ngày cao điểm, lượng trái phiếu mà ngân hàng này nắm giữ chỉ khoảng 25.000 tỉ đồng.

Hiện giờ ACB còn bao nhiêu trái phiếu? Số dư trái phiếu trên bảng cân đối tài chính (balance sheet) mà chúng tôi có được đến ngày 7/3/2009 cho thấy ACB còn 10.129 tỉ đồng, trong đó trái phiếu kỳ hạn từ năm năm trở lên hơn 4.000 tỉ đồng.

Ngoài ra ACB hiện đang sở hữu 1.263 tỉ đồng trái phiếu của tổ chức tín dụng (loại trái phiếu này có mức chiết khấu cao hơn và kỳ hạn ngắn, phổ biến dưới ba năm – PV). Như vậy, so với tổng tài sản, trái phiếu chiếm một tỷ lệ không quá lớn. Điều đáng nói là trái phiếu giúp ACB có thanh khoản cần thiết ngay lập tức khi thị trường biến động thông qua các hoạt động thị trường mở và liên ngân hàng.

Trái phiếu ngoại tệ: lãi suất bao nhiêu?

Trái phiếu là một yếu tố tạo đột biến trong cơ cấu lợi nhuận của ACB và một số tổ chức tín dụng năm ngoái. Nhưng nó là một yếu tố không bền vững, chỉ phát huy tác dụng khi thị trường biến động.

Hiện với lợi tức 8,5-9%/năm, trái phiếu không có “sóng” cho các tổ chức “lướt”. Mối quan tâm của các “tay chơi” bây giờ là liệu Chính phủ sẽ phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước trong tháng 3/2009 như thế nào.

Từ trước đến nay, các ngân hàng Việt Nam vẫn gửi ngoại tệ ở nước ngoài. Hiện họ vẫn gửi ở những địa chỉ có độ an toàn cao với lãi suất hơn 2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Mức lãi suất đó rõ ràng không hấp dẫn.

Kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng lại càng không hấp dẫn khi theo thông báo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất vay Đô la Mỹ qua đêm là 0,54%/năm, một tuần 1,04%/năm, một tháng 1,28%/năm, ba tháng 2,02%/năm, sáu tháng 1,94%/năm.

Trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn bằng ngoại tệ đang nhanh hơn tốc độ tăng trưởng huy động tiền đồng, ngân hàng lại không thể đẩy mạnh đầu ra ngoại tệ. Doanh nghiệp ngại vay ngoại tệ vì rủi ro tỷ giá. Cho nên, lúc này huy động ngoại tệ càng nhiều, ngân hàng càng có nguy cơ lỗ.

Trong bối cảnh đó, phát hành trái phiếu ngoại tệ đồng nghĩa với việc huy động được nguồn vốn rẻ trong nước. Nếu phát hành trái phiếu quốc tế, Nhà nước phải trả một mức lãi suất cao bởi trái phiếu chính phủ Việt Nam đang được giao dịch trên thị trường thế giới với mức lợi tức khoảng 10%/năm. Những tổ chức nước ngoài nhận tiền gửi của các ngân hàng Việt Nam sẽ dùng chính nguồn tiền đó để mua trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ và họ lợi cả hai đầu.

Vấn đề còn lại, lãi suất trái phiếu ngoại tệ bao nhiêu là hợp lý? Khi lãi suất huy động Đô la Mỹ kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng hiện trên dưới 3%/năm, thì lãi suất trái phiếu chính phủ nên ở mức 3,5-4%/năm. Chính phủ đã đưa ra hạn mức phát hành 1 tỉ Đô la Mỹ trái phiếu ngoại tệ năm nay, và việc phát hành sẽ chia làm nhiều đợt. Đợt thí điểm đầu tiên, theo giới tài chính, nên ở mức 100 triệu Đô la Mỹ.

Nhìn từ góc độ Nhà nước, phát hành trái phiếu ngoại tệ không phải không có rủi ro. Trong trường hợp tỷ giá thay đổi, ngân sách sẽ phải trả thêm một khoản chênh lệch nếu tính ra tiền đồng. Nhưng nhìn xa hơn, cho dù phát hành trong hay ngoài nước, khoản chênh lệch này cũng vẫn phải trả. Chỉ có điều phát hành trong nước lợi hơn vì lãi suất trái phiếu chắc chắn thấp hơn.

Và điều quan trọng khác là nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu ngoại tệ phải được sử dụng cho những hoạt động kinh tế có nguồn thu ngoại tệ như xuất khẩu, hoặc nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu thiết yếu.

Nếu tăng cường giải ngân ngân sách (trong đó có nguồn từ trái phiếu) mà không tạo ra nguồn thu hiệu quả, không có cơ chế kiểm soát tiền ra và hút tiền về, thì sẽ phải phát hành trái phiếu tiếp, vay tiếp, trả lãi tiếp… và “vòng xoáy trái phiếu” sẽ không có điểm dừng!

TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS: Thận trọng khi bù lãi suất!

(SGGP 12G).031609 – Những chính sách kích cầu ngăn chặn suy giảm kinh tế của Chính phủ đã được triển khai đồng bộ từ cuối tháng 2. Hiện nay, Chính phủ cũng đã bước đầu nhận định, việc triển khai các giải pháp đã giúp nền kinh tế có những chuyển biến tích cực ban đầu. Tuy nhiên, hiện cũng đã có nhiều phản ánh cho thấy, giữa cơ chế và doanh nghiệp vẫn chưa gặp nhau trong vấn đề bù lãi suất 4%. TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS cho biết:
Theo tôi, nếu quá tập trung vào giải pháp này sẽ không hiệu quả. Tôi đồng ý giải pháp này sẽ giúp hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp (DN) đỡ phá sản, đỡ sa thải lao động. Nhưng theo tôi được biết, trong hơn 110.000 tỷ đồng đã cho vay bù lãi suất, số lượng đáo nợ chiếm nhiều.

Rõ ràng, hiệu quả mong đợi từ việc bù lãi suất (là tăng trưởng tín dụng) rất ít, không tăng được cầu, dẫn đến hiệu quả kích cầu là không như ý muốn. Đó là chưa kể việc bù lãi suất này nếu làm không chắc chắn sẽ rất dễ gây tiêu cực như chính Thủ tướng đã cảnh báo.Ngoài ra, theo tôi, nếu tập trung quá vào việc bù lãi suất cho DN thì sẽ “giúp” DN giấu sự yếu kém, kéo trễ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. DN có thể nhờ vào nguồn vốn lãi suất thấp này mà kéo dài sự “lay lắt” của mình, càng làm cho nền kinh tế yếu đi, mà lẽ ra phải tận dụng cơ hội này để cơ cấu lại nền kinh tế.
– PV: Vậy theo ông, nếu không nên quá tập trung vào việc bù lãi suất, thì giải pháp kích cầu của Chính phủ cần tập trung vào lĩnh vực nào?

– TS NGUYỄN QUANG A: Chính phủ cần đầu tư mạnh vào giáo dục đào tạo, hạ tầng nông thôn, duy trì việc làm cho người lao động. Theo tôi cần hỗ trợ trực tiếp cho người lao động. Tất nhiên, không thể hỗ trợ thông qua Bộ LĐ-TBXH vì chúng ta đều biết Bộ LĐ-TBXH vẫn chưa có cách để nắm chắc số lượng lao động bị mất việc. Thay vào đó, để hỗ trợ trực tiếp người lao động, Chính phủ có thể thông qua DN, qua Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi nắm số lao động bị mất việc. Điều đó có nghĩa là Chính phủ cần tiếp tục bổ sung các giải pháp kích cầu nền kinh tế.

– Thưa ông, trừ biện pháp hỗ trợ trực tiếp người lao động mất việc làm chưa triển khai do không thể nắm chắc số lượng lao động, còn tất cả những giải pháp mà ông vừa đề cập đều đang được Chính phủ triển khai?

– Tôi muốn nhấn mạnh là việc đầu tư của Chính phủ vào giáo dục – đào tạo, hạ tầng nông thôn phải làm thật ráo riết thì mới có hiệu quả. Đây là lúc Chính phủ cần đầu tư cho hệ thống đường sá, sửa cầu đường, duy tu cảng… những gì có thể làm ngay và hiệu quả thì cần ráo riết làm. Nếu chỉ làm chậm thôi thì hiệu quả đã rất khác. Đó là chưa kể có những việc chúng ta đã làm, nhưng hiệu quả không như ý muốn.

– Cụ thể là gì thưa ông?

– Tôi cho rằng, việc giãn thuế thu nhập cá nhân là không cần thiết. Bản thân tôi mỗi tháng cũng được hoãn 3-4 triệu đồng, nhưng như thế là đang kích cầu cho người giàu, trong khi đối tượng cần kích cầu nhất phải là người nghèo, người có thu nhập thấp. Tôi cũng cho rằng, Chính phủ chưa nên bàn tới việc tăng học phí trong năm nay, vì như vậy là đi ngược với mục tiêu kích cầu.

– Ông dự báo như thế nào về hiệu quả của đợt kích cầu này?

– Tôi cho rằng nếu chỉ chăm chăm vào việc bù lãi suất thì việc kích cầu sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn. Hiện nay cũng đã có động thái cho thấy, Chính phủ đã và đang chuẩn bị nguồn lực để thực hiện kích cầu đợt 2 (qua việc phát hành trái phiếu trong nước bằng ngoại tệ nhằm huy động 115.000 tỷ đồng). Khi kích cầu đợt 2, việc rót vốn vào đâu là điều mà Chính phủ phải hết sức cân nhắc.

Điều cần làm bây giờ là Chính phủ cần cập nhật thông tin giúp đánh giá sát hơn thực trạng nền kinh tế. Qua đó lường trước được những đối tượng nào dễ bị “ảnh hưởng” và đưa ra các giải pháp kịp thời. Chúng ta cần nhớ, cách đây 10 năm, Việt Nam đã thực hiện chính sách kích cầu. Việc kích cầu được kéo dài vì thế đã làm nền kinh tế tăng trưởng nóng, tạo nên những bất ổn của kinh tế vĩ mô. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng các biện pháp kích cầu.

Tiếp tục rắc rối vụ tàu Mỹ-Trung 031109

Filed under: thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 2:32 am

BBC VN
Ba ngày sau sự kiện mà Hoa Kỳ cáo buộc là tàu Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò đại dương của họ, cuộc cãi cọ Mỹ-Trung mới nhất vẫn đang có xu hướng tiếp tục.

Trung Quốc phản ứng một cách mạnh mẽ với cáo buộc ngược lại, rằng Hoa Kỳ đã “vi phạm luật lệ quốc tế và Trung Quốc khi vào Nam Hải mà không được phép của Trung Quốc”.

Trong khi đó, tòa đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh thì gửi công hàm phản đối vì cho rằng tàu thăm dò Impeccable chỉ làm công việc thường lệ “theo đúng luật lệ quốc tế”.

Các phân tích gia cho rằng các tranh cãi, thậm chí đụng độ như thế này sẽ ngày càng nhiều khi Bắc Kinh bày tỏ rõ quyết tâm củng cố hải quân và khẳng định chủ quyền đối với các vùng biển lân cận.

Sự kiện hôm Chủ nhật xảy ra tại hải phân quốc tế thuộc khu vực mà Việt Nam gọi là biển Đông, cách đảo Hải Nam 75 dặm (120 km). Hải Nam là nơi Trung Quốc đặt căn cứ hải quân.

Giới quan sát nói động thái mới nhất của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đang muốn tái khẳng định quyền phải được quyết định có cho tàu nước ngoài vào bên trong khu vực kinh tế (EEZ) 200 hải lý của mình hay không.
Khác biệt nhận thức

Theo luật quốc tế, các nước được quyền khai thác tài nguyên khoáng sản bên trong vùng EEZ của mình. Tuy nhiên, hãng Associated Press trích lời ông Shen Dingli, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bắc Mỹ thuộc đại học Fudan ở Thượng Hải nói Bắc Kinh muốn khẳng định quyền hạn không chỉ trong lĩnh vực kinh tế.

“Trung Quốc cho rằng luật pháp quốc tế chỉ cho phép tàu quân sự đi qua khu vực kinh tế của các nước khác thôi chứ không được tiến hành các hoạt động với mục ̣đích quân sự.”

Trung Quốc sẽ còn tiếp tục có hành động để thử thái độ và tìm cách ngăn Mỹ soi mói vào công việc của Trung Quốc.

Ron Huisken, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng Úc châu

Điều này trái với một trong các nguyên tắc quan trọng nhất mà Hoa Kỳ áp dụng trong hoạt động viễn dương – quyền đi lại tự do trong hải phận quốc tế chừng nào vẫn tôn trọng và không làm phương hại tới quyền lợi kinh tế của quốc gia mà họ đi qua.

Một số chuyên gia cho biết Trung Quốc đã ghi nhận ít nhất 200 trường hợp tàu Mỹ thu thập thông tin tình báo trong khu vực kinh tế của Trung Quốc, thế nhưng nói chung tránh đối đầu.

Trong trường hợp mới nhất này, tuy Impeccable không phải là tàu do thám, nhưng có khả năng đo lường đáy biển để nhận biết và theo dõi tàu ngầm các nước.

Hải Nam là nơi có nhiều cơ sở hải quân và không quân của Trung Quốc, căn cứ tàu ngầm mới nhất của nước này cũng được đặt ở đây. Trong những năm tới, Bắc Kinh có dự tính phát triển thêm nhiều tuần dương hạm, tàu ngầm và cả hàng không mẫu hạm.

Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia khác muốn tìm hiểu thêm về các chương trình này và do vậy việc giữ bí mật là điều Bắc Kinh coi trọng.

Ông Ron Huisken từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng Úc nhận định: “Trung Quốc sẽ còn tiếp tục có hành động để thử thái độ và tìm cách ngăn Mỹ soi mói vào công việc của Trung Quốc”.

Về phần mình, các quan chức Hoa Kỳ được các hãng thông tấn trích lời tuyên bố quân đội Mỹ sẽ vấn tiếp tục đi tuần trong biển Đông dù bị Trung Quốc phản đối.
Rắc rối ngoại giao

Cáo buộc gây hấn đang gây căng thẳng ngay trước chuyến thăm Mỹ của Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì.

Hai cường quốc đang phải tìm cách đối phó với khủng hoảng kinh tế thế giới và chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh G20 tại London vào tháng tới.

Hoa Kỳ cần chấp nhận sự thực, là Trung Quốc đang ngày càng hùng mạnh, và hợp tác cùng nhau vì lợi ích của cả hai bên.

Thông tấn xã Trung Quốc

Hãng thông tấn Trung Quốc trong bài xã luận ra hôm thứ Tư nói hai quốc gia Trung-Mỹ cần hợp tác để vượt qua khủng hoảng tài chính.

“Hoa Kỳ cần chấp nhận sự thực, là Trung Quốc đang ngày càng hùng mạnh, và hợp tác cùng nhau vì lợi ích của cả hai bên.”

Ông Dương cũng phải chuẩn bị cho cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Barack Obama bên lề hội nghị.

Thứ Tư này, ông sẽ hội kiến Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, người đã thăm Trung Quốc vào tháng trước, và bộ trưởng Tài chính Tim Geithner.

Với một nghị trình nặng nề như vậy, hai bên có thể sẽ nhắc tới sự kiện tại Nam Hải, nhưng giới phân tích cho rằng nó sẽ không chiếm vị trí gì quá quan trọng.

Thế nhưng nó vẫn là một ổ gà thêm vào trên con đường quan hệ Mỹ-Trung vốn đã quá gập ghềnh.

Giám đốc cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ, trung tướng Michael Maples, phát biểu trước Quốc hội rằng Trung Quốc đang tìm cách phát triển năng lực quốc phòng nhằm “thống lĩnh trong các xung đột khu vực và đối đầu với các kế hoạch quân sự của Mỹ”.

Giám đốc cơ quan Tình báo Quốc gia Dennis Blair thì nói thái độ của Trung Quốc trong việc khẳng định chủ quyền tại các vùng biển quốc tế quanh các khu vực kinh tế của nước này ở Đông Nam Á và Nam Hải trở nên “mang tính quân sự hơn, hung hăng và tiên tiến hơn” so với một vài năm trước.

Ông nói hiện chưa rõ Bắc Kinh chỉ muốn đánh động các nước xung quanh, hay sẽ dùng vũ lực một cách triệt để.

Trung Quốc xem gần như toàn bộ khu vực Nam Hải (biển Đông) là lãnh thổ của mình.
Khu vực biển Đông

̣Đường đỏ là vùng Trung Quốc tuyên bố chủ quyền; Đường xanh là các khu vực kinh tế EEZ theo Công ước LHQ về luật biển; Các đảo xám là nơi có tranh chấp.

“Hội nhậu” – một vấn đề xã hội nhức nhối 031509

Filed under: thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 2:22 am
Tags:

Những năm đầu của thế kỷ XXI, những “hội nhậu” của các tỷ phú chân đất ở khu vực quận 9, Thủ Đức thường quanh quẩn ở các quán nhậu, bia ôm ở địa phương. Còn nay, những người giàu có mới đã cảm thấy quán xá ở địa phương đã không còn đủ “đẳng cấp” cho những cuộc chơi của họ. Nơi nhậu phải là những nhà hàng sang trọng ở nội thành, nơi có tiếp viên “chân dài” và sẵn sàng phục vụ “từ A đến Z”.

Họ – một bên là tập hợp những người “nghèo rớt mồng tơi”, một bên là tỷ phú với số tài sản hàng chục tỷ đồng nhưng họ có cùng điểm chung là lập thành “hội nhậu” say sưa suốt ngày mà chẳng làm gì. Vì sao lại có chuyện lạ lùng như vậy?

Từ “hội nhậu bình dân”

Chỉ hơn 3h sáng, ông Bảy, ngụ ở ấp 5, xã Đông Thạnh (Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh) đã thức giấc. Mới bước sang tuổi 53 nhưng trông ông Bảy như một cụ già bảy mươi, người gầy guộc, lưng còng, tay chân run bần bật khi chưa uống rượu.

Theo phân công của “hội nhậu” thì sáng nay ông phải đến lò mổ heo mua ít huyết về nấu cháo lòng và cả hội sẽ nhập tiệc vào lúc 4h. Bàn tiệc được bày ra ngay phía trước nhà ông H., giữa hai ngôi mộ trong một nghĩa địa làng.

Đúng hẹn, 6 “hội viên” đã tề tựu đầy đủ, trước khi uống họ không quên đặt hai ly rượu cúng cho hai “cố hội viên” vừa mất trong năm 2008 khi chưa đến tuổi 50. Tiệc nhậu tàn khi mặt trời mới ló rạng, mạnh ai nấy loạng loạng quay về nhà ngủ và hẹn nhau đến cữ nhậu trưa…

Ngày trước, ông Bảy có gần 1ha đất trồng lúa nên mỗi sáng ông đều thức dậy để ra đồng. Còn bây giờ, thửa đất của gia đình ông đã trở thành khu “ổ chuột”, nhà cửa thấp lè tè, đường sá nắng bụi mưa lầy.

Nguyên do là trước đây vào năm 2000, khi cơn sốt đất lên đến đỉnh điểm, thấy nghề làm nông cực khổ, ông đem đất ruộng phân lô rồi bán hết với hy vọng sẽ được đổi đời từ nhiều tỷ đồng có được từ bán đất. Tự dưng có số tiền lớn trong tay, để bù lại những ngày khổ cực, ông tập tành ăn chơi, nhậu nhẹt như thể một đại gia.

Vợ ông, từ lúc có rủng rỉnh tiền cũng bắt đầu chưng diện quần nọ, áo kia dù tuổi cũng không còn trẻ nữa. Bạt mạng nhất là hai đứa con trai của ông, vòi tiền cha mẹ để mua sắm xe cộ, ăn chơi trác táng.

Chẳng bao lâu sau, gia đình ông tán gia bại sản, một đứa con dính vào ma túy và hiện đã bỏ nhà đi đâu không rõ. Đứa còn lại giờ phải đi làm phụ hồ để tự mình nuôi sống bản thân. Vợ ông thì ngày ngày thức khuya dậy sớm sang chợ đầu mối Hóc Môn mua ít rau về đem bán ở chợ làng.

Riêng ông, vì buồn tình thường xuyên nhậu nhẹt bê tha, sức khỏe sa sút nên chẳng thể đi làm thuê, làm mướn. Hàng ngày ông xòe tay xin vợ năm mười nghìn đồng để góp vào hội nhậu mua rượu uống, còn mồi thì có chi dùng nấy, chỉ vài trái chuối chát chấm muối ớt cũng xong!

Đối với hội viên Sáu Tâm, 47 tuổi, người được xem là có kinh tế khá nhất trong hội nhậu thì có được căn nhà cấp 4 và 3 phòng trọ cho thuê. Ông Tâm trước đây nhà ở quận 4, hai vợ chồng bán bún bò ở lề đường, tuy thu nhập không nhiều nhưng đủ để nuôi sống gia đình và lo cho hai con nhỏ đi học.

Một quán nhậu vỉa hè về đêm ở TP HCM.

Năm 2004, nhà ông bị giải tỏa làm đường. Lấy số tiền đền bù từ căn nhà rộng khoảng 20m2 ông lặn lội đến ấp 5, Đông Thạnh, Hóc Môn mua đất cất căn nhà cấp 4 cùng 3 phòng trọ để phòng thân. Ở miệt ngoại thành còn nghèo khó, nghề bán bún bò của vợ chồng ông cũng chỉ đủ ăn, tiền học hành cho con trông chờ vào tiền cho thuê phòng trọ.

Vì thời gian nhàn rỗi trong ngày quá nhiều, để giết thời gian, ông lân la tìm đến những người hàng xóm mới cũng có cùng cảnh ngộ như mình rồi gia nhập “hội nhậu” và nghiện rượu lúc nào chẳng biết…

Mỹ Hạnh – một phụ nữ duy nhất trong “hội nhậu” năm nay tròm trèm 50 tuổi nhưng uống rượu thuộc hàng “vô địch” trong “hội nhậu”. Hai đứa con bà chỉ mới ngoài 20 nhưng cũng đã thành gia thất và ở chung một đại gia đình là căn nhà 3 gian và mảnh vườn 2 công đất phía sau nhà.

Tuy ở chung nhà nhưng đại gia đình này luôn lục đục vì giành nhà đất và không ít lần các con của bà đánh đập lẫn nhau, gây náo động cả xóm.

Bà còn sống sờ sờ mà chúng nó còn vậy, buồn đời, bà quyết định bán tất nhà cửa, đất đai rồi “cưa” ba, đường ai nấy đi.

Phần bà, dùng số tiền có được mua miếng đất ruộng cất căn chòi để có chỗ “chui ra chui vào”, còn lại thì để dành… nhậu! Nhiều năm liền sống với ma men, bà đã bị xơ gan và chưa biết ngày nào theo chân hai “chiến hữu”…

Đến “hội nhậu hạng sang”

Tuy cơn sốt đất ở ngoại thành đã hạ nhiệt từ hơn 1 năm nay nhưng những tỷ phú nông dân từ tiền bán đất thì vẫn còn số lượng khá nhiều. Và những “công tử Bạc Liêu” đã tập họp thành những nhóm nhậu “đại gia”, tiêu tiền như nước.

Như nhóm nhậu của T.Q. ở Hiệp Thành (quận 12), tập hợp khoảng 5-6 người “có máu mặt” (về đất đai) gần như có mặt hàng ngày ở các quán nhậu có tiếng ở quận 12. Nhóm này thường xuyên uống rượu ngoại hoặc bia Heneiken theo phương thức xoay tua trả tiền nhậu.

Ngoài thời gian nhậu, khi rảnh rỗi nhóm này còn tìm đến các trường gà sát phạt hàng chục triệu đồng mỗi trận và thường xuyên đánh số đề với số tiền mỗi lần đánh từ 10-30 triệu đồng.

Cùng với nhóm nhậu của T.Q., ở quận 12 còn có “hội nhậu” khét tiếng T.S. ở phường Thới An. T.S. ngày trước là anh chăn vịt chạy đồng được cha mẹ chia cho vài công đất ruộng khi lập gia đình ra ở riêng.

May thay, chẳng bao lâu sau, một con đường mới mở chạy ngang khu đất ruộng của S., thế là anh ta bán đất trở thành tỷ phú. Có tiền, T.S. quan hệ với ông nọ bà kia rồi được chỉ dẫn mua đất ruộng đón đầu (mở đường), tiền đẻ ra tiền, đến nay, dù thị trường đất ế ẩm nhưng “của chìm” của T.S. nghe đồn lên đến vài chục tỷ đồng.

Một trong những thú vui mà T.S. thường hay sử dụng là vào bất cứ quán xá nào dù là bia ôm hay quán nhậu bình thường khi tan tiệc cũng “boa” cho mỗi em tiếp viên 500.000 đồng để nhận những ánh mắt tròn xoe kinh ngạc!. Trong những lúc cao hứng T.S. thường khoe số tiền mà anh “boa” cho các cô gái từ mấy năm qua ít ra cũng cất được mấy cái nhà lầu!

Những năm đầu của thế kỷ XXI, những “hội nhậu” của các tỷ phú chân đất ở khu vực quận 9, Thủ Đức thường quanh quẩn ở các quán nhậu, bia ôm ở địa phương. Còn nay, những người giàu có mới đã cảm thấy quán xá ở địa phương đã không còn đủ “đẳng cấp” cho những cuộc chơi của họ.

Mặt khác, nếu ngày trước, các “hội nhậu” thường đi xe gắn máy loại xịn như @, SH, Dylan thì nay đã đổi sang xe hơi đời mới.

Thế là nơi nhậu phải là những nhà hàng sang trọng ở nội thành, nơi có tiếp viên “chân dài” và sẵn sàng phục vụ “từ A đến Z”. Vì thế mà mỗi cuộc nhậu vài chục “chai” (triệu) là chuyện thường tình.

Những lúc nhậu bình thường, ghé vào quán Ng. bán thịt rừng nổi tiếng trên đường Tôn Đức Thắng, hội nhậu 5-6 người “thịt” một con chồn hương hoặc tê tê, hổ đất… lai rai một hai chai rượu ngoại thượng hạng cũng ngót nghét gần 10 triệu đồng. Số tiền mà trước đây, khi còn nông dân tay lấm chân bùn bằng thu nhập cả năm của họ.

Và những vấn đề xã hội nhức nhối

Ở TP Hồ Chí Minh hầu như bất kỳ con đường, ngõ ngách nào cũng có quán nhậu. Người tham gia nhậu thì rất đông đảo và đủ mọi thành phần. Lý do nhậu thì vui cũng có, buồn cũng có và lúc không vui không buồn cũng… nhậu!

Tuy nhiên, “hội nhậu” mà chúng tôi phản ánh ở đây nó cũng hoàn toàn khác với “hội nhậu” là tập hợp những người làm ăn kinh tế, nhậu để ngoại giao, để bàn tính chuyện làm ăn hay “hội nhậu” là các đại gia thực thụ có nhà cửa, văn phòng cho thuê, có vợ con buôn bán ổn định hoặc những người lao động nghèo lai rai sau một ngày lao động mệt nhọc để tìm chút niềm vui bên ly rượu. Mà “hội nhậu” này nó thể hiện nhiều vấn đề xã hội nhức nhối phát sinh trong quá trình đô thị hóa.

Chẳng hạn như ở “hội nhậu bình dân”, qua khảo sát thực tế các đối tượng tham gia hội hầu hết thuộc diện KT2 (khoảng hơn 600.000 nhân khẩu), trong đó phần đông là những hộ ở nội thành chuyển đến vùng ven, ngoại thành sinh sống.

Có nhiều lý do của sự di chuyển này, nhưng hai nguyên nhân chính là thuộc diện giải tỏa ở nội thành và có nhà cửa ở nội thành nhưng cho thuê hoặc thích ra ngoại thành sống cho rộng rãi, thoáng mát. Thế cho nên, ở các khu dân cư nằm trong qui hoạch và các biệt thự, nhà vườn nằm rải rác ở vùng ven, ngoại thành phần đông chủ nhân là những người giàu có đến từ nội thành. Ngược lại, người thuộc diện giải tỏa thì tạo thành những khu nhà ổ chuột của hiện tại và tương lai.

Do phần đông các hộ KT2 đều xuất thân từ thành phần lao động nghèo, nhà ở các khu ổ chuột, ven kênh rạch, nguồn sống chủ yếu là làm thuê, mua bán nhỏ nên trình độ văn hóa khá thấp và không có tay nghề. Nên khi nhà bị giải tỏa và trôi dạt về ngoại thành, họ rất khó tìm cho mình một việc làm ổn định. Từ đây, phát sinh ra chuyện nhậu nhẹt, đánh đề và làm những nghề phi pháp.

Còn “hội nhậu hạng sang” nổi lên từ năm 1999, tức vào thời điểm UBND TP Hồ Chí Minh chủ trương cho thí điểm dự án nhà ở phân lô hộ lẻ (chủ trương này sau đó đã bị tạm ngưng và hậu quả mà nó gây ra đến nay vẫn chưa giải quyết xong) vì ngay sau đó đã xảy ra cơn sốt đất ở vùng ven, ngoại thành.

Giá đất từ 1 chỉ vàng/công (1.000m2) bỗng chốc vọt lên hàng chục lượng vàng/công, nông dân thi nhau bán đất và trở thành tỷ phú và lao vào ăn chơi.

Để rồi ngày hôm nay, những S.Q. ở cù lao Long Phước (quận 9) được mệnh danh là “công tử Bạc Liêu” (nổi đình nổi đám ở kiểu chơi ngông là đứa nào ở trong xóm gọi ông là “công tử” ông cho ngay 1 gói thuốc 555); B.H. ở quận Thủ Đức (từng “boa” cho gái bia ôm chiếc Dream Thái), T.Tr. ở quận 12 (có tiền mua ngay cho 4 đứa con trai mỗi đứa 1 chiếc SH màu đỏ)… đều đã tán gia bại sản và phải đi làm thuê làm mướn.

Kết cục ấy nó như một tất yếu – một bài học cho những người đi sau. Đáng buồn là vết xe đổ ấy người sau vẫn chưa tránh được mà có chiều hướng lan rộng ra miệt ngoại thành ở các huyện như Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi…

Như chúng tôi đã đề cập ở trên, “hội nhậu bình dân” hay “hội nhậu hạng sang” ở đây không chỉ đơn thuần là “nhậu” nữa mà đã là một vấn đề xã hội phát sinh từ quá trình đô thị hóa mà hai “nạn nhân” phải gánh chịu là người nông dân và dân lao động nghèo. Tuy nhiên, trước hết người đáng trách ở đây chính là các “hội viên” vì họ đã thiếu nghị lực để “vượt lên chính mình”; không nghĩ đến tương lai khi ăn chơi bạt mạng.

Nhưng vấn đề ở đây là làm sao để họ thức tỉnh trước khi quá muộn để dành thời gian, tiền bạc lo cho bản thân, gia đình và xã hội?

Đó là một vấn đề lớn, cần có sự tham gia của ban, ngành, đoàn thể địa phương trong việc vận động, tuyên truyền, quan tâm giúp đỡ vốn liếng, việc làm cho người nghèo và kịp thời uốn nắn, chỉ dẫn cách làm ăn cho các tỷ phú nông dân…

Rất tiếc là công tác này từ trước đến nay chưa được các địa phương quan tâm, thậm chí khi chúng tôi đặt vấn đề, lãnh đạo của một phường còn bảo “tiền họ họ xài làm sao mà cản?”

Nhiều khu chung cư bỏ hoang 031009

Filed under: kinh tế,Uncategorized,đầu tư — ktetaichinh @ 2:21 am
Tags:

Để phục vụ việc di dân giải phóng mặt bằng cho hàng loạt công trình trọng điểm trên địa bàn, mỗi năm TP Hà Nội thiếu hàng chục ngàn mét vuông nhà tái định cư phục vụ dự án. Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều khu chung cư thuộc diện tái định cư xây dựng xong lại thiếu đủ thứ hạ tầng dịch vụ, khiến người dân bức xúc. Thậm chí có những khu chung cư bỏ hoang nhiều năm liền gây lãng phí lớn.
>> Loạn phí ở các khu chung cư / Mua căn hộ chung cư – Trăm nỗi nhọc nhằn

Lãng phí hàng trăm tỷ đồng vì chung cư bỏ hoang

Nhìn toàn cảnh có thể thấy rõ sự tiêu điều dù trước đây, Khu đô thị mới Nam Trung Yên (quận Cầu Giấy) là kỳ vọng của nhiều người dân, nhất là các hộ dân trong diện GPMB. Tuy nhiên, đến thời điểm này, cả khu đô thị hầu như không có bóng dáng cây xanh, hệ thống chiếu sáng, đèn giao thông.

Trong buổi làm việc với Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Phí Thái Bình ngày 3/3/2009, đại diện hai đơn vị là chủ đầu tư tại đây đã nêu ra hàng loạt lý do của việc chậm tiến độ. Hàng nghìn căn hộ đã xây thô chưa thể hoàn thiện được là do thiếu vốn. Trong khi chủ đầu tư đang phải xin TP Hà Nội ứng trước 100 tỷ thì còn mấy hécta đất bỏ hoang chưa thể đem bán đấu giá quyền sử dụng vì chưa có hạ tầng về điện. 19 dự án thứ phát của các lĩnh vực thương mại – dịch vụ, văn hóa – xã hội, đa năng nhưng cũng chỉ có một phần nhỏ là những dự án ngân sách Nhà nước đã hoàn thành, còn lại hầu hết ở giai đoạn khởi động, gây lãng phí lớn về tài nguyên đất.

Nguyên nhân tình trạng này do nhà đầu tư cấp I là Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà thiếu chế tài quản lý, để các nhà đầu tư tự “chạy” thủ tục. Đáng buồn hơn, các chung cư vừa xây xong đã lỗi thời vì không có trạm xử lý nước thải, nhà thấp tầng, không có tầng hầm, thiết kế căn hộ bên trong quá nhỏ. Những bất tiện đó đã khiến 2/3 số hộ thuộc diện tái định cư tại Nam Trung Yên phải chuyển đi nơi khác vì không đủ diện tích phục vụ sinh hoạt. Nhiều căn hộ hết thời gian bảo hành đã bắt đầu có dấu hiệu xuống cấp vì không được duy tu sửa chữa thường xuyên.

Có những tòa nhà bỏ trống hoàn toàn mặc cho hoen gỉ, cỏ dại mọc nghi ngút như nhà B10, B6B và B6C. Những chung cư này đã được hoàn thành cách đây 2 năm với mục đích dành cho 300 hộ dân trong diện GPMB đường vành đai 1 Nguyễn Khoái – Ô Đông Mác nhưng năm này qua năm khác, chung cư dần xuống cấp nhưng vẫn chưa có người đến ở.
Được khởi công từ năm 2003 nhưng đến thời điểm này, các chung cư tại khu đô thị mới Nam Trung Yên đang trong tình trạng xây xong không có người ở hoặc mới chỉ hoàn thành phần xây thô, chưa hoàn thiện.

Dự án khu đô thị Nam Trung Yên rộng 56ha với số vốn kỷ lục 1.900 do Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội đầu tư phần hạ tầng xã hội và Ban Quản lý dự án trọng điểm thành phố làm chủ đầu tư phần hạ tầng kỹ thuật. Đến thời điểm này, Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội mới chỉ bàn giao được 10 chung cư 13 tầng. Còn lại, 8 chung cư 17 tầng đang hoàn thiện và 13 tòa nhà nữa chưa được khởi công.

Tình trạng chung cư hàng trăm tỷ bỏ hoang không chỉ xảy ra ở khu đô thị Nam Trung Yên. Tại khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính cũng có nhiều nhà chung cư xây xong trông rất hoành tráng nhưng cũng bỏ không. Điển hình như các nhà 2B, 3B, 2D… nhà bỏ trống, tầng 1 làm kho chứa vật liệu, cỏ ngập sân… Đây cũng là quỹ nhà dành cho các hộ dân GPMB đường vành đai 3 nút Thanh Xuân nhưng dùng dằng hàng năm trời, công trình giao thông chậm tiến độ chỉ vướng bất đồng trong khâu GPMB, người dân cũng không di chuyển đến nơi ở mới.

Hay như khu tái định cư Hòa Lạc có diện tích gần 8ha nằm cạnh đường cao tốc Láng – Hòa Lạc, trên địa phận xã Bình Yên (huyện Thạch Thất) dành cho những hộ nằm trong khu công nghệ cao Hòa Lạc phải di dời. Nhưng đến nay số dân đến ở chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Khu đô thị Mễ Trì Hạ (huyện Từ Liêm) cũng không nằm ngoài cảnh ngộ với các khu khác khi vẫn còn những tòa nhà hoàn thành nhưng mong ngóng mãi vẫn không có người đến ở…

Chung cư để hoang, hàng trăm tỷ đồng bị lãng phí theo thời gian mưa gió. Đấy là chưa kể đến sự xuống cấp do không được duy tu bảo dưỡng. Liên quan đến những khu nhà tái định cư tại Nam Trung Yên, theo Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng TP Hà Nội, một trong những nguyên nhân chưa thực hiện được di dân tại một số khu vực là do giá bán các căn hộ này vẫn chưa được thống nhất tới người dân.

Có nên để không những chung cư bạc tỷ?

Có một nghịch lý là trong khi quỹ nhà tái định cư (TĐC) của Hà Nội vẫn đang thiếu thì lại có những công trình TĐC trị giá nhiều tỷ đồng tại các khu vực được đánh giá là đắc địa lại bỏ hoang.

Toàn TP Hà Nội hiện nay có 97 tòa nhà chung cư phục vụ tái định cư cho người dân thuộc diện phải GPMB. Riêng trong năm 2008, TP Hà Nội cần bố trí 3.565 căn hộ, lô đất tái định cư cho các dự án kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội theo tiến độ nhưng thực tế mới chỉ cân đối, đáp ứng được 2.296 căn hộ, lô đất, còn thiếu 1.269 căn hộ, lô đất chưa cân đối được trong năm 2008 để phục vụ tái định cư các dự án.

Theo Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Hồng Khanh, nhu cầu trên mới chỉ tính riêng cho các trường hợp phải di chuyển chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa tính đến các căn hộ, lô đất phải giao khi thực hiện Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Chưa kể từ nay đến năm 2010, Hà Nội cần phải có 9.468 căn hộ và lô đất mới cơ bản đáp ứng nhu cầu TĐC cho 38 công trình trọng điểm.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Đức Biền, Trưởng Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng TP Hà Nội, cho biết: Giá bán nhà TĐC phải căn cứ theo quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán từng loại nhà của cấp có thẩm quyền và mặt bằng giá khu vực, vị trí tại thời điểm TĐC. Sau đó, Sở Tài chính và Sở Xây dựng sẽ tiến hành thẩm tra, trình UBND thành phố quyết định giá bán nhà TĐC cho từng tầng, loại nhà, vị trí của từng dự án cụ thể. Ngoài ra, giá bán nhà còn phải bảo đảm nguyên tắc tính đủ chi phí GPMB, chi phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong, ngoài nhà và tiền sử dụng đất phân bổ. Sau đó sẽ đến hàng loạt khâu thẩm định hồ sơ quyết toán, thẩm định khối lượng từng hạng mục… Vì vậy, do chưa có khung giá để áp dụng, không thể đưa dân về khu tái định cư, đã khiến tiến độ của các công trình giao thông bị chậm trễ.

Thời gian hoàn thành các công trình trọng điểm kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long không còn nhiều, các dự án hiện nay đều đang chậm tiến độ và nguyên nhân chủ yếu là vướng khâu GPMB. Chính vì không hoàn thành GPMB đúng hẹn nên các chung cư dù xây xong vẫn phải đóng cửa im ỉm chờ chủ nhân. Ngoài chuyện lãng phí hàng trăm tỷ đồng, những chung cư bỏ hoang còn là minh chứng cho việc giải quyết thiếu hiệu quả, kiên quyết trong quản lý đô thị.

Chiều 3/3, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Phí Thái Bình đã phê bình các chủ đầu tư, các sở liên quan và nhấn mạnh: UBND quận Cầu Giấy phải có trách nhiệm sớm tổ chức, ổn định sinh hoạt cộng đồng cho người dân. Đồng thời Ban Quản lý dự án Nam Trung Yên thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Nhà phải là đơn vị chịu trách nhiệm chính, khớp nối các công việc và thường xuyên báo cáo tình hình triển khai dự án lên thành phố.

Xuất siêu: Chưa phản ánh đúng năng lực nội tại 031009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:58 am
Tags: ,

(LĐ) – Tuy kim ngạch XK 2 tháng chỉ bằng gần 95% cùng kỳ năm 2008, nhưng 2 tháng này VN lại đã xuất siêu khoảng 300 triệu USD. Đây là điều hiếm trong lịch sử XK hàng hoá của VN. Nhưng xuất siêu vẫn chưa phải là điều đáng mừng.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu (XK) tháng 2.2009 ước đạt 4,3 tỉ USD, tăng 25,1% so với tháng 1.2009, nâng tổng kim ngạch XK cả hai tháng đầu năm lên 8,023 tỉ USD. Tuy kim ngạch XK 2 tháng chỉ bằng gần 95% cùng kỳ năm 2008, nhưng 2 tháng này VN lại đã xuất siêu khoảng 300 triệu USD. Đây là điều hiếm trong lịch sử XK hàng hoá của VN. Nhưng xuất siêu vẫn chưa phải là điều đáng mừng.

Đã xuất siêu khoảng 300 triệu USD

Nếu tính cả 2 tháng so với cùng kỳ năm 2008 thì kim ngạch XK nhóm nông sản đạt 1,619 tỉ USD, tăng được 10,4%, nhóm khoáng sản ước đạt 1,118 tỉ USD – giảm 38%; nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 5,286 tỉ USD – tăng 2,2%. Riêng trong tháng 2.2009, XK kim loại quý ước đạt 800 triệu USD – tăng 7,107%. Các mặt hàng có kim ngạch XK giảm mạnh là dầu thô – giảm 42,3% dù số lượng đã tăng 26,7%; da giày giảm 7,2%; sản phẩm gỗ giảm 26,4%; điện tử, máy tính và linh kiện… Điều đáng nói là kim ngạch XK giảm, trong khi lượng XK lại tăng.

Về nhập khẩu (NK), trong tháng 2.2009, VN đã NK lượng hàng hoá trị giá khoảng 4,4 tỉ USD – giảm 28,6% so với tháng 2.2008. Tính chung cả 2 tháng đầu năm, kim ngạch NK ước đạt hơn 7,7 tỉ USD – giảm 43,1% so với cùng kỳ năm 2008. Các mặt hàng NK có kim ngạch giảm mạnh như máy móc thiết bị, phụ tùng đạt kim ngạch 1,7 tỉ USD – giảm 28,2%; xăng dầu NK 753 triệu USD – giảm 52,9%; thép các loại đạt 454 triệu USD – giảm 71,6%; phôi thép đạt 89 triệu USD – giảm 76,8%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 30,2%; vải giảm 14%; nguyên phụ liệu dệt, may, da giảm 27%; chất dẻo nguyên liệu giảm 34,5%; hoá chất giảm 41,4%; gỗ và sản phẩm giảm 55,8%; thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 61,2%… Như vậy, trong 2 tháng đầu năm 2009, VN đã xuất siêu khoảng 300 triệu USD, là điều hiếm thấy.

Chớ vội mừng…

Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, vấn đề nhập siêu ở VN vốn đã lớn cả về quy mô và kéo dài cả về thời gian. Gần đây, mức nhập siêu có giảm nhưng việc nói rằng “VN đã xuất siêu” thì cần phải xác định một cách đúng đắn. Bởi xuất siêu là do chúng ta tái xuất vàng (khoảng 800 triệu USD) và XK khoảng 136 triệu USD các loại đá quý.

Lượng kim ngạch thu được từ việc này không thể hiện trình độ công nghiệp hoặc vấn đề giải quyết việc làm ở tầm cỡ quốc gia của VN. Do đó, việc xuất siêu do tái xuất vàng và đá quý cần được nhìn nhận một cách tỉnh táo và cầu thị, không nên nhìn vào con số đột biến để tự huyễn hoặc mình về khả năng XK của nền kinh tế.

Về vấn đề nhập siêu, do nền kinh tế xuất phát từ một nước trình độ công nghiệp hoá còn ở mức khiêm tốn, việc nhập siêu ở một mức độ nhất định là việc có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, chúng ta đã nhập siêu trong một thời gian quá dài, và mức nhập siêu cũng đã rất cao, do đó vấn đề này không nên xem thường.

Về ý kiến cho rằng, thế giới đang trong tình trạng khủng hoảng, giá nguyên liệu, giá vật tư… đang giảm mạnh, nên chấp nhận nhập siêu các loại vật tư, nguyên – nhiên vật liệu… dự trữ dành cho thời điểm kinh tế thế giới phục hồi?

Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, đấy chỉ là bài toán đầu cơ. Cách làm như thế sẽ tuỳ thuộc diễn biến giá cả thế giới. Thời gian vừa qua đã có nhiều DN đầu cơ phân bón, sắt thép, gỗ… và kết quả đã để lại hậu quả nặng nề. Đất nước phải có dự trữ quốc gia an toàn để điều hành nền kinh tế là cần thiết.

Nhưng NK để hy vọng đầu cơ kiếm lời là việc phải rất thận trọng. Bởi cách làm này có thể được một số lãi nhất định, nhưng chỉ có thể làm giàu cho một số cá nhân, chứ không đem lại giải pháp cho cả nền kinh tế là việc tạo ra công ăn việc làm và tạo ra thu nhập cho người lao động.

Do khủng hoảng, các công nghệ, thiết bị sản xuất đang… đại hạ giá. Có nên chấp nhận nhập siêu để mua về trang bị cho các ngành, nhằm tăng năng lực sản xuất? Không đồng tình với quan điểm này, tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết: Các công nghệ về tiết kiệm năng lượng, công nghệ sinh học, nông nghiệp… chắc chắn sau kỳ khủng hoảng sẽ vẫn tiếp tục có giá trị. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đang diễn ra rất sâu sắc.

Thế giới sau khủng hoảng sẽ khác đi rất nhiều, lúc đó chắc chắn những loại ôtô kềnh càng, tiêu thụ nhiều nhiên liệu như người Mỹ đang sản xuất sẽ “biến mất” trong các quy trình sản xuất của họ. Lúc đó, liệu có còn một nước Mỹ cứ sống bằng NK và dựa trên vay mượn nhiều như vừa qua?

Việc NK từ những nước xa xôi như đã diễn ra liệu có còn hợp lý cho nước Mỹ nữa hay không? Những thay đổi trong tương lai sẽ như thế nào? Đây là những vấn đề còn quá sớm để kết luận.

Do đó, một số những công nghệ phụ thuộc vào các vấn đề như vừa nêu như công nghệ của ngành đóng tàu, ngành ôtô… là những ngành đang chịu những biến động rất lớn từ khủng hoảng. Do đó chúng ta phải rất thận trọng, kẻo chấp nhận nhập siêu, mua về lại phải bỏ đi bởi không còn phù hợp.

TS Võ Trí Thành – Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập KTQT (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư): Năm 2009, nhập siêu sẽ không gây áp lực lớn lên tỉ giá

Dự báo cả năm nay, nhập siêu vẫn tăng, song mức thâm hụt sẽ giảm đi nhiều so với mức nhập siêu của năm 2008. Tác động của nhập siêu sẽ không tạo áp lực làm tăng tỉ giá ngoại tệ, bởi trong bối cảnh hiện nay, hoạt động XK chịu ảnh hưởng lớn từ việc kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu tiêu dùng thế giới giảm, đồng thời NK hàng hoá làm nguyên liệu cho sản xuất hàng XK cũng giảm.

Trong khi đó, liên quan đến các nguồn tài trợ cho thâm hụt, trong năm nay, các nguồn vốn ODA, FDI, kiều hối cũng giảm mạnh. Lượng FDI giải ngân trong năm nay dự kiến khoảng 6-7 tỉ USD, sẽ không gây áp lực quá cao làm tăng tỉ giá và chỉ số lạm phát. Tuy nhiên, xét ở góc độ vĩ mô, thì XNK giảm khiến nền kinh tế VN phải đối mặt với nhiều thách thức.

Cho đến nay, các dự báo về sự phục hồi kinh tế có sự khác biệt rất lớn. Nhiều tổ chức quốc tế đưa ra dự báo, tăng trưởng GDP của VN năm nay chỉ đạt từ 2-3%, đa số khác khẳng định từ 4,5% đến trên 5%, chúng tôi vẫn lạc quan đánh giá, tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5%, nhưng cần phải triển khai rất quyết liệt các giải pháp vĩ mô mà Chính phủ đã đề ra

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.