Ktetaichinh’s Blog

March 12, 2009

GS.TS Hồ Đức Hùng: “Nên chú trọng gói kích cầu trực tiếp” Lao Động Cuối tuần số 10 Ngày 08/03/2009

LĐCT) – Là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển thuộc Đại học Kinh tế TPHCM, GS.TS Hồ Đức Hùng thường đưa ra những ý kiến phản biện cho những chính sách vĩ mô và vi mô.

Một số dự báo của ông khá chính xác, giúp điều chỉnh những lỗ hổng trong quản lý của doanh nghiệp (DN). Ngoài công việc giảng dạy, ông còn tham gia đào tạo đội ngũ CEO (GĐ điều hành) VN, cùng êkíp tham gia chương trình “Lãnh đạo doanh nghiệp” trên HTV4 (Đài truyền hình TPHCM) hàng tuần.

Nhiều chuyên gia cho rằng, đừng quá trông mong vào gói kích cầu, vì chính sách thì đúng, nhưng phản ứng của người tiêu dùng có thể rất khác so với tính toán của các nhà làm chính sách. Ông nghĩ sao về điều này?

– Kích cầu (đúng hơn là gói kích thích kinh tế) về nguyên lý có 2 loại: Kích cầu tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp (qua đầu tư và sản xuất). Trước hết, phải tính đến hiệu quả của nó về mặt trước mắt và lâu dài. Vậy phải biết phần nào mang tính chất trực tiếp để thúc đẩy sự lây lan những sản xuất gián tiếp về sau.

Trong giai đoạn này, Thái Lan và Trung Quốc cũng đưa ra những gói kích cầu, nhưng cách thức khác nhau. Thái Lan mạnh về gói trực tiếp, vì đây là quan điểm kích thích tiêu dùng. Trong điều kiện hiện nay kích về tiêu dùng của VN còn chưa đủ liều lượng, nhiều mặt hàng bị ứ đọng, những mặt hàng xuất khẩu trì trệ bắt đầu dồn lại thị trường trong nước. Việc kích cầu trực tiếp tiêu thụ là cần thiết để tiếp tục đẩy sản xuất lên.

Ví dụ, kích ngay những thành phần chịu sự giảm sút về thu nhập, đang gặp khó khăn trong cuộc sống như những người nghèo, công nhân, học sinh, sinh viên, viên chức… Thái Lan hỗ trợ cho người dân thu nhập thấp (dưới 15.000 baht/tháng- khoảng 420USD) mỗi người số tiền 2.000 baht. Thêm vào đó, các DN phải thực hiện các biện pháp khuyến mãi. Nhà nước khuyến khích DN một phần, như giảm thuế cho DN.

Nên nhớ là giảm thuế chứ không phải là giãn thuế, vì nếu chỉ giãn thuế thì người ta vẫn còn chịu sức ép tâm lý rồi đây sẽ phải trả nợ. Như vậy, có thể thấy gói kích cầu của ta không triệt để.

Vấn đề thứ hai, là kích cầu của ta có phần đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Đó cũng là điều cần thiết vì kích thích lây lan đến các ngành nghề, lĩnh vực khác. Nhưng cũng nên cân nhắc, vì đầu tư cơ sở hạ tầng của ta thời gian vừa qua cũng có nhiều vấn đề như lãng phí, tiêu cực cộng với tham nhũng. Đầu tư hơi tràn lan, đặc biệt là đầu tư công quá nhiều mà kém hiệu quả. Chúng ta không phải cắt đầu tư công, mà nên mạnh dạn giảm đầu tư công. Đặc biệt là những dự án không hiệu quả.

Trên thực tế, trong năm nhóm giải pháp, gói đảm bảo an sinh xã hội còn chưa thật sự được chú trọng. Và nhiều người lo ngại ít DN vừa và nhỏ được nhận hỗ trợ về vốn.

– Thì như đã nói, chính đó cũng là gói kích thích trực tiếp: Vấn đề an sinh xã hội, vấn đề giải quyết thất nghiệp, vấn đề thu nhập cho người nghèo. Còn kích thích sản xuất thì cần chú ý đến kinh tế tư nhân. Chúng tôi luôn nhấn mạnh điểm này. Nhưng ở đây nảy sinh nhiều vấn đề là DN nào được chọn. Thế nên phải có cơ chế để giảm tiêu cực trong việc chọn DN để hỗ trợ về lãi suất, vốn, tín dụng.

Thứ ba cực kỳ quan trọng là thị trường. Thị trường nông thôn hoàn toàn bỏ ngỏ. Trong khi danh chính ngôn thuận, thị trường này chiếm 70%.

Dường như vấn đề mấu chốt vẫn chưa được giải quyết, đó là tình trạng neo giữ đồng tiền Việt quá lâu, có đúng vậy không, thưa ông?

– Có khi phải có những đột phá về phá giá, dám chấp nhận rủi ro lớn. Thực ra, những tiềm ẩn về lạm phát xuất phát từ nền kinh tế của ta không được khoẻ: Nhập vẫn là nhập siêu.

Thứ hai, là thu chi ngân sách vẫn là chi quá lớn so với thu.

Thứ ba, năng suất cạnh tranh kém.

Thứ tư, đầu tư công chiếm tỉ trọng rất lớn nhưng hiệu quả thấp. Hệ số ICOR quá lớn so với các nước trong khu vực.

Thứ năm, FDI của ta trong thời gian qua có thể nói đạt kỷ lục về mức thu hút, nhưng hiệu quả chưa cao, đại bộ phận vẫn còn đầu tư ở những ngành nghề lĩnh vực thương mại dịch vụ, bất động sản, chứng khoán là chính, trong khi đầu tư vô sản xuất thì rất ít: Vô công nghiệp, chỉ 10%, vô nông nghiệp chỉ 0,1%. Chưa nói FDI vào những lĩnh vực mà mình phải trả giá sau này: FDI vô sân golf, vô lĩnh vực ô nhiễm môi trường nặng, trong khi việc giải quyết ô nhiễm môi trường hiện nay vẫn lúng túng.

Phải giải quyết bài toán này về mặt vĩ mô mới triệt để được. Cho nên, các giải pháp hiện nay là một mặt làm thế nào thúc đẩy gia tăng kích cầu, nhưng mặt khác, phải kiềm chế lạm phát nặng. Muốn thúc đẩy gia tăng kích cầu, kiềm chế lạm phát mạnh, thì kích cầu đúng để vừa mang tác dụng trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài. Vậy những gì là trước mắt thì tôi nghĩ phải nên kích cầu trực tiếp.

Phải chăng, yếu tố nhân sinh vẫn chưa được coi trọng trong chính sách này?

– Theo tôi nghĩ, vẫn còn quan niệm truyền thống dựa trên cơ sở phát triển sản xuất để cải thiện đời sống. Quan niệm đó không có gì sai cả, nhưng trong quá trình thực hiện chỉ đúng trong từng thời kỳ. Phải có những lúc trên cơ sở cải thiện đời sống mới thúc đẩy được sản xuất. Lúc này là lúc nên cải thiện đời sống. Dùng cầu để kích cung vì cung hiện nay ứ đọng, đầu tư không hiệu quả.

Vậy theo ông, bước tiếp cần thiết phải làm gì?

– Các giải pháp liên quan là nhìn lại cơ chế quản lý đầu tư công, xem lại biện pháp về thị trường, đặc biệt biện pháp thúc đẩy thị trường hàng tiêu dùng, thúc đẩy thị trường nông thôn. Cần xem lại các giải pháp về xuất khẩu để giúp hàng xuất khẩu quay trở lại thị trường nội địa trong thời điểm khó khăn này, chuyển đổi thị trường, chuyển đổi mặt hàng, đặc biệt, mấy thị trường hấp dẫn đang bị khủng hoảng, thì phải tìm đường ra.

Những DN mà ta cho vốn, vẫn thiếu điều cốt lõi là thị trường tiêu thụ, nên hỗ trợ cả mặt này. Như thế, họ mới mạnh dạn đầu tư, chứ ra hàng rồi mà không có thị trường thì làm sao đây. Đó là những giải pháp đồng bộ.

GS.TS Hồ Đức Hùng cùng các sinh viên cao học trường ĐH Kinh tế TPHCM.

Từ trong nguy cơ luôn có cơ hội tiềm ẩn. Lấy ví dụ từ sự sụp đổ của các chaebol ở Hàn Quốc vào năm 1999, nước này đã có cải tổ chính sách và vực dậy nền kinh tế. Còn ở ta là cơ hội gì, theo ông?

– Bài học của HQ và Thái Lan vẫn còn tiềm ẩn ở các tập đoàn. Việc hình thành các tập đoàn là một điều cần thiết để tạo ra quả đấm mạnh cho nền kinh tế. Nhưng mối nguy là cơ chế quản lý tập đoàn nếu không thể hiện qua luật pháp và hệ thống theo rõi đầy đủ thì sẽ là nơi phục vụ các nhóm lợi ích. Chính đó gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế vĩ mô.

Còn ngay trong thời suy thoái vẫn có cơ hội: Cơ hội về đầu tư, về chuyển hướng kinh doanh, cơ hội để tạo lập thị trường, phát triển sản phẩm mới cho hậu suy thoái. Và thậm chí có thể có cơ hội giải quyết ngay những vấn đề liên quan đến nhân sự, đặc biệt tổ chức đào tạo huấn luyện ngay trong thời kỳ này, thay vì thời kỳ trước bận rộn. Nghĩa là chúng ta vẫn có thể đầu tư về con người để chuẩn bị cho cơ hội tới.

Vậy chính sách thời hậu suy thoái sẽ phải như thế nào để vực dậy nền kinh tế, trên cơ sở thấy được những yếu kém nội tại?

– Những giải pháp đó tuỳ thuộc rất lớn vào các giải pháp hiện nay. Tôi nghĩ, nếu chúng ta thực hiện gói kích cầu một cách đầy đủ, đúng địa chỉ, có khả năng thực hiện và triệt để thì sẽ kích thích nền kinh tế vào cuối năm 2009 sẽ hồi phục. Và yếu kém nội tại vẫn chính là điều hành kinh tế vĩ mô.

Mà quản lý vĩ mô thì có mấy vấn đề lớn như sau: Một là cơ chế về quản lý đầu tư công. Thứ hai là chính sách về mặt tài chính và tài khoá (tức là những vấn đề có liên quan đến ngân sách). Thứ ba là chính sách về lãi suất và tỉ giá hối đoái. Lãi suất và tỉ giá hối đoái phải linh hoạt, chắc chắn không thể thắt chặt như trước đây và dần cũng phải có mở rộng, điều chỉnh phải linh hoạt kịp thời qua thời gian.

Trong cuộc hội thảo mới đây, ông có cho rằng trình độ của CEO VN rất đáng ngại, trong đó có 43% trình độ chỉ từ PTTH trở xuống. Hơn thế nữa, một trong những đặc điểm của DN VN là thiếu vốn, thiếu đoàn kết, hỗ trợ và thiếu tính cộng đồng. Vậy đó có phải là nguyên nhân vì sao ta chưa có được thương hiệu quốc gia được quốc tế công nhận?

– Phải có nhận thức, phải có sự hiểu biết về tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu. Và thường có suy nghĩ xây dựng thương hiệu phải có một chi phí lớn. Thật ra không phải chi phí lớn, vấn đề là anh phải chi phí hiệu quả để phát triển được thương hiệu. Nhưng giá trị thương hiệu cốt lõi vẫn là thực chất của sản phẩm phải tốt. Mình có xây dựng thương hiệu tốn kém mấy đi chăng nữa mà chất lượng sản phẩm thua sản phẩm của nước ngoài thì làm sao có được thương hiệu VN mạnh?

Việc xây dựng thương hiệu VN mạnh thì ít ra phải dựa trên cơ sở để khách hàng đánh giá chất lượng sản phẩm của anh tương đương nước ngoài. Và nếu tương đương thì mình mới hô khẩu hiệu Người Việt dùng hàng Việt được. Chất lượng kém mà phải yêu hàng nội thì coi bộ hơi khó, xét về mặt lâu dài.

Tính cộng đồng mình phải nói là thiếu hụt. Làm thế nào chúng ta có được văn hoá như người Hoa là phải biết hỗ trợ giúp đỡ nhau thực sự, cùng chia sẻ khó khăn với nhau. Hình như các thương hiệu mạnh chỉ lo cho họ, ít khi nào hỗ trợ cho DN nhỏ. Cho nên khó xây dựng được thương hiệu quốc gia. Khối cộng đồng, đoàn kết thực sự thì ít, hiệp hội chỉ có tính chất hình thức thì nhiều.

Cuộc đời ông theo đuổi điều gì?

– Có lẽ vẫn là hạnh phúc. Mà hạnh phúc là chấp nhận những gì mình có, hài lòng với những gì mình đạt được và với một ít tham vọng để đạt được hạnh phúc cao hơn.

– Xin cảm ơn ông.

GS.TS Hồ Đức Hùng từng tu nghiệp ở các nước Pháp, Canada và là giáo sư thỉnh giảng Đại học Toulouse 1 (Pháp).

Năm 2003, ông được phong tặng chức danh Giáo sư. Lĩnh vực giảng dạy của ông là marketing sản xuất và dịch vụ; chiến lược và chính sách kinh doanh.

Ông cũng là chuyên gia hàng đầu trong việc tư vấn, thiết kế chương trình, kế hoạch kinh doanh dài hạn và ngắn hạn; tư vấn quản lý và điều hành doanh nghiệp; thiết kế các chương trình đào tạo, huấn luyện đội ngũ giám đốc điều hành, trưởng bộ phận/đơn vị/chức năng.

Advertisements

Ai sẽ quyết định sự phục hồi kinh tế toàn cầu?

Filed under: khủng hoảng,kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 2:45 am
Tags: ,

09/03/2009 15:06 (GMT + 7) (TuanVietNam)

Nhu cầu tiêu dùng quá mức ở Mỹ cũng như sự tích lũy quá mức ở Trung Quốc được xem là những nguyên nhân cơ bản gây mất cân đối thu – chi trên phạm vi toàn cầu. Và đó cũng chính là lý do vì sao hai quốc gia này phải có những nỗ lực không ngừng nhằm khôi phục nền kinh tế toàn cầu.


Trên tờ Bưu điện Washington số ra ngày 6-3-2009 có đăng bài “G-2 quyết định sự phục hồi kinh tế”, tác giả là Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) Robert Zoellick và Trưởng kinh tế gia của WB Justin Yifi Lin. Tuần Việt Nam xin đăng tải lại như một tư liệu để bạn đọc tham khảo.

Năm 2009, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm. Mỹ hiện đang ở trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Nếu muốn phục hồi nền kinh tế thế giới thì hai cỗ máy (powerhouse) kinh tế này phải hợp tác với nhau và trở thành đầu tàu của Tập đoàn 20 quốc gia (G-20). Một không có một Tập đoàn hai quốc gia (G-2) mạnh mẽ thì G-20 sẽ khiến người ta thất vọng. Và chúng ta cần đối mặt với thực tế.

Nguyên nhân cơ bản gây ra sự mất cân đối thu chi trên phạm vi toàn cầu thì có tính cơ cấu: sự tiêu dùng quá mức ở Mỹ và sự tích lũy quá mức ở Trung Quốc. Với Mỹ, sự bùng nổ tiêu dùng gây ra bởi các bong bóng chứng khoán và bong bóng nhà đất. Nó còn kèm theo sự giảm sút mạnh của tỷ suất tiết kiệm. Với Trung Quốc, tích lũy dư thừa là kết quả của sự méo mó cơ cấu trong các lĩnh vực tài chính, công ty và tài nguyên.

Tỷ lệ tích lũy ở Trung Quốc cao rất nhiều so với các nước khác, lên tới một nửa GDP. Nhưng tiết kiệm gia đình ở Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 20% GDP, tương đương mức ở Ấn Độ. Tích lũy của các đại công ty cao tới mức không bình thường. Các công ty nhỏ và vừa sử dụng 80% lực lượng lao động lại có rất ít cơ hội hưởng các dịch vụ tài chính, bởi lẽ ngành tài chính Trung Quốc do 4 ngân hàng lớn nắm giữ, các ngân hàng này chủ yếu phục vụ các đại công ty.

Các doanh nghiệp nhỏ thiếu kênh tiếp cận dịch vụ tài chính, điều đó đã cản trở sự phát triển của họ, hạn chế tuyển nhân công và tăng sức ép giảm lương. Trên thực tế, sự méo mó của cơ cấu tài chính Trung Quốc có nghĩa là qua thu nhập thấp và lãi suất thấp, thường dân và các công ty nhỏ và vừa ở Trung Quốc luôn luôn phải trợ cấp cho các đại công ty và những người mới giàu (have been subsidizing big corporations and the new rich).

Hai vấn đề Trung Quốc và Mỹ cần lưu tâm

Việc điều chỉnh hối suất đồng Nhân Dân Tệ (CNY) không phải là công cụ chủ yếu để giải quyết các vấn đề cơ cấu nói trên và sự mất cân đối do nó gây ra. Trên thực tế ngoại giao kinh tế Trung Quốc – Mỹ nên nhằm vào hai lĩnh vực khác.

Trước hết, hai nước nên chung sức ngăn chặn một cuộc suy thoái kéo dài trên toàn cầu. Cả hai nước đã công bố kế hoạch kích thích kinh tế. Mỹ một lần nữa dựa vào xúc tiến tiêu dùng còn Trung Quốc thì lại bỏ vốn vào đầu tư. Tuy rằng đây là phản ứng tự nhiên đối với các vấn đề trước mắt, nhưng cùng với thời gian, Mỹ tất phải tăng tích lũy và đầu tư, còn Trung Quốc thì phải tăng tiêu dùng.

Trung Quốc đang chuẩn bị phương án kích thích kinh tế thứ hai, phương án này nên nhằm vào việc tìm cách để những người tiêu dùng tương đối nghèo có được khả năng mua hàng, xây dựng “hạ tầng cơ sở mềm (soft infrastructure)” trong ngành dịch vụ và phát triển “cơ sở hạ tầng cứng (hard infrastructure)” nhằm giảm tình trạng thắt cổ chai trong tăng trưởng (điều đó ngược lại sẽ xúc tiến nâng cao năng suất lao động).

Trung Quốc cũng nên thanh toán tình trạng phá hoại môi trường gây ra bởi sự định giá quá thấp tài nguyên thiên nhiên. Về phần mình, Mỹ nên kiên trì chính sách chỉnh đốn tiền tệ, tín dụng và tài sản. Cả hai nước nên chống chủ nghĩa bảo hộ buôn bán và giúp đỡ các nước nghèo dễ bị tổn thương trong cuộc khủng hoảng.

Thứ hai, cuộc đối thoại kinh tế Trung Quốc-Mỹ nên chú trọng vào biện pháp giảm sự mất cân đối tiêu dùng – tích lũy có tính cơ cấu của hai nước.

Để đạt được mục tiêu xây dựng “xã hội hài hòa” mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đề ra, Trung Quốc cần cải tiến việc phân phối thu nhập. Giai đoạn tiếp sau của cuộc cải cách ở Trung Quốc nên tăng cường an sinh xã hội, nâng tiền lương, tăng hiệu quả của lĩnh vực dịch vụ và thực hiện “xanh hóa (green)” trong định giá tài nguyên và doanh nghiệp – tất cả những cái đó sẽ có thể tăng được tiêu dùng và xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cần thúc giục ngành ngân hàng địa phương cải tiến việc phục vụ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kể cả việc cho vay các khoản tiền nhỏ. Đã đến lúc Trung Quốc mở rộng cửa cho cạnh tranh bán hàng, đả phá độc quyền như trong ngành viễn thông.

Việc nới lỏng hoạt động thương mại và thực hiện đầu tư vào ngành dịch vụ sẽ làm cho thị trường Trung Quốc tăng sức cạnh tranh và sinh lợi hơn, và giảm được cọ sát thương mại. Nếu không tăng nhập khẩu thì Trung Quốc sẽ đứng trước nguy cơ chỉ có thể nhịn nỗi đau giảm đáng kể xuất khẩu để thực hiện việc điều chỉnh nền kinh tế.

Còn với Mỹ, đang cần phục hồi sự cân đối giữa tiêu dùng với tích lũy, không nên quay về thời đại sử dụng thẻ tín dụng ở giới hạn lớn nhất, tiêu dùng không kiêng dè.

Các điều chỉnh nói trên sẽ giúp ích rất nhiều cho việc giảm bớt rủi ro của cuộc chao đảo tài chính toàn cầu. Cả hai bên đều có động cơ mạnh trong việc điều chỉnh: Mỹ là điểm đến lớn nhất của hàng xuất khẩu từ Trung Quốc và Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất đã tung tiền mua công trái Mỹ. Sự phụ thuộc kinh tế giữa hai nước này rất rõ ràng.

Vấn đề mất cân đối trong nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ chỉ có thể giải quyết từng bước, song nó phải được giải quyết. Trong khi dẫn đầu tìm kiếm các biện pháp giải quyết cho hôm nay, Mỹ và Trung Quốc cũng cần tạo dựng nền kinh tế toàn cầu của ngày mai.

Vietnam hit hard by global slowdown

Filed under: kinh tế,Uncategorized — ktetaichinh @ 2:43 am
Tags:

The Business Times Singapore
March 5, 2009 Thursday

Thousands laid off as exports decline; a splurging middle class stops spending

Ben Bland in Hanoi and Ho Chi Minh City

Despite having one of the world’s fastest-growing economies over the past decade, communist Vietnam is continuing to discover that opening up its markets to the outside world means taking the rough with the smooth.

Having beaten off one crisis last year when the economy overheated and inflation soared to 28 per cent, Vietnam is now faced with an even bigger challenge as the global slowdown hits the export-dependent country.

A wide range of exporters – from Japanese electronics giant Panasonic to Vietnamese textile and shoe manufacturers – have laid off thousands of workers between them since the start of the year.

With demand for consumer goods slipping around the world, exports are expected to fall further in the second and third quarters of this year and job losses are expected to increase. Labour Ministry officials have estimated that 300,000 jobs could go this year, on top of 500,000 redundancies last year.

‘The economy was overheating in 2007 but the government was quite successful in cooling it down,’ says Pham Do Chi, chief economist at Vinacapital, an investment bank based in Ho Chi Minh City. ‘But now we have been hit by the tsunami of the global economic crisis and the game has changed completely.’

While more developed economies can fall back on homegrown demand for goods and services, Vietnam, like China to the north, has a very small domestic market and is reliant on exports. To make matters worse, Vietnam’s emerging middle class, which happily splurged on new cars, motorbikes and TVs as the economy boomed, has stopped spending.

Even big discounts after the Tet lunar new year holiday have failed to lure buyers, and Ho Chi Minh City’s gleaming car showrooms and consumer electronics stores look more like museums than retail outlets.

Hotel and restaurant operators have also reported a drop in takings as tourists, expatriates and locals spend less.

‘We’re thankful for the gambling addicts because many casual gamblers have stopped coming to the casino,’ said a senior dealer at the popular casino in the New World Hotel in Ho Chi Minh City, who asked not be named.

Anna Craven, a British entrepreneur who owns several up-market restaurants, a hotel and a furniture export company in Vietnam, agrees that business is starting to suffer. ‘Tourism is definitely down and hotels are feeling the pinch,’ the long-time Vietnam resident says. ‘Expats are also more careful about spending.’

The Vietnamese government, which acted decisively to bring inflation under control last year, has not sat idly by. Although it has only a small war chest, with foreign currency reserves of US $22 billion, according to the State Bank of Vietnam, the government has launched a US $1 billion stimulus package designed to support ailing exporters by subsidising interest on bank loans.

But economists believe the government should be trying to boost demand, not supply. ‘A loan subsidy to encourage production is fine but you need to inflate the demand side and put cash in people’s pockets,’ notes Vinacapital’s Mr Chi. ‘We want to see roads and bridges repaired and more schools and hospitals built. There are a lot of unemployed people right now and these projects would create employment for them.’

As the vast majority of the workers who have lost their jobs are low-income earners, they are likely to spend what they earn, injecting much-needed cash into the economy. ‘If we can generate income and employment at the bottom, they will spend and the multiplier effect will kick in,’ says Mr Chi.

Vietnam’s economy grew by an average of 7.4 per cent a year between 2000 and 2007, but growth fell to 6.25 per cent last year. The government still hopes to hit 6.5 per cent this year but most economists are not so optimistic. They say the International Monetary Fund’s 5 per cent prediction is more realistic.

With little government support for retrenched workers, the slowdown will put a lot of pressure on Vietnam’s traditional family support networks. However, most observers believe that Vietnam’s simple and under-leveraged economy – only around 10 per cent of people have a bank account and even fewer have ever taken out a bank loan – will protect it from the sort of shocks that have rattled debt-ridden nations such as the United States and Britain.

‘There are fewer mortgages and credit cards here, so fewer debt problems than in the West,’ says Adam McCarty, who runs Mekong Economics, a consultancy based in Hanoi. ‘Vietnam is still a basic economy, where most people produce rice or other commodities like coffee and shrimps – and that’s an advantage in this crisis.’

He adds: ‘Those who lose their jobs in factories will just return to their villages and fall back on their extended family social services network. It’s a very different story from the West, where people who lose their jobs in the cities will get little family support and are more likely to cause social problems.’

Quản lý lao động nước ngoài như thế nào?

Filed under: thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 2:38 am
Tags:

Thứ Năm,  5/3/2009

(TBKTSG) – Báo cáo của các doanh nghiệp, tổ chức có người nước ngoài đang làm việc và của Ban quản lý các khu chế xuất – khu công nghiệp cho thấy, số người nước ngoài đến làm việc tại TPHCM trong năm 2008 là 2.781 người, nâng tổng số lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động và đang làm việc tại TPHCM lên 10.305 người.

Chênh số liệu giữa đăng ký và thực tế

Thế nhưng con số trên chưa phản ánh đúng số lượng lao động nước ngoài tại TPHCM. Theo Sở Công Thương, hiện có trên 2.063 văn phòng đại diện  của các công ty nước ngoài đang hoạt động và hầu hết các trưởng văn phòng đại diện là người nước ngoài.

Tuy nhiên, mới chỉ có 156 trường hợp được cấp giấy phép lao động với chức danh trưởng văn phòng đại diện. Do đó vẫn còn một bộ phận lớn người nước ngoài đang làm việc tại TPHCM chưa được cấp phép.

Đó là chưa kể đến trường hợp có doanh nghiệp thuê lao động nước ngoài chưa có giấy phép lao động với số lượng lớn nhưng không báo cáo với các cơ quan chức năng như trường hợp của Công ty TNHH Pouyen, Công ty TNHH Giày da Huê Phong…

Về phân vùng, trong năm 2008 có đến 46 quốc gia và vùng lãnh thổ có lao động vào TPHCM làm việc (trong đó, Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước có số lượng lao động đông nhất). Theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, so với các năm trước, lao động Trung Quốc có giảm nhưng Trung Quốc vẫn là một trong những nước châu Á có số lượng lớn lao động làm việc tại TPHCM.

Về trình độ chuyên môn của lao động nước ngoài, phần lớn là những người có kinh nghiệm làm việc lâu năm với trình độ cao đẳng trở xuống (69,85%); kỹ sư, đại học (26,11%); tiến sĩ, thạc sĩ (12,4%). Họ đến TPHCM làm với với mức lương tương đối cao so với lao động trong nước.

Thống kê của cơ quan chức năng (dù còn nhiều doanh nghiệp khai báo chưa đầy đủ) cho thấy, lĩnh vực ngành nghề mà người nước ngoài tập trung làm việc nhiều nhất là giáo dục, đào tạo có mức lương từ 1.300-4.000 đô la Mỹ; giày da, may mặc, in (300-1.500 đô la Mỹ); ngân hàng, tài chính, chứng khoán (trên 2.500 đô la Mỹ); và thầu xây dựng (1.000-4.000 đô la Mỹ).

Luật còn bất cập

Theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, một số doanh nghiệp trên địa bàn chưa chấp hành quy định của pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài. Có trường sử dụng số lượng lớn lao động nước ngoài không có giấy phép lao động được các cơ quan chức năng  phát hiện. Nhưng văn bản quy phạm pháp luật quy định biện pháp chế tài về kinh tế trong những trường hợp này chưa đủ sức răn đe; tình trạng doanh nghiệp sẵn sàng nộp phạt để tiếp tục duy trì mối quan hệ lao động với người nước ngoài trái pháp luật còn diễn ra phổ biến…

Mặt khác, nhiều nhà đầu tư phản ánh các quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam còn thiếu tính thực tế, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Như quy định về đối  tượng người nước ngoài được miễn cấp phép lao động (điều 9.1 Nghị định 34/2008), ngoài việc báo cáo danh sách trích ngang còn phải đính kèm hồ sơ lý lịch tự thuật, giấy khám sức khỏe, lý lịch tư pháp, bản sao văn bằng.

Quy định như vậy là thiếu đồng bộ trong việc quản lý và cấp giấy phép đầu tư đối với cá nhân tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (theo Luật Đầu tư). Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, pháp luật quy định doanh nghiệp phải thực hiện đăng báo tuyển dụng, tuy nhiên thủ tục đăng báo hiện nay là mang tính hình thức. Vì việc tuyển dụng lao động hiện nay có thể qua rất nhiều kênh như thông qua các công ty cung cấp nhân sự, thông qua mạng tuyển dụng nội bộ, thông qua các mạng tuyển dụng dịch vụ, các trung tâm giới thiệu việc làm…

Hay như trường hợp người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đảm nhiệm các chức vụ trưởng đại diện, tổng giám đốc… phải xin giấy phép lao động cũng vậy. Theo quy định về trình độ chuyên môn, để được cấp giấy phép lao động họ phải có bằng đại học, có kinh nghiệm công tác 5 năm… Điều này không khả thi vì năng lực người lao động nước ngoài trước hết là đảm bảo theo yêu cầu của người sử dụng lao động.

Ngoài ra, một hiện tượng mới xuất hiện và có chiều hướng gia tăng là lượng người nước ngoài có trình độ thấp từ các nước châu Phi nhập cảnh theo hình thức du lịch, sau đó vào làm việc thời vụ cho các doanh nghiệp, giao kết hợp đồng lao động làm việc khi chưa có giấy phép lao động… cũng chưa có quy định pháp luật để điều chỉnh hữu hiệu.

Theo Thanh tra Lao động TPHCM, vừa qua nơi này đã tiến hành kiểm tra 543 doanh nghiệp, trong đó có 200 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kết quả cho thấy khoảng 30% lao động nước ngoài không được doanh nghiệp đăng ký với cơ quan chức năng và khoảng 10% không đủ điều kiện cấp phép lao động.
11 quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều lao động làm việc tại TPHCM
STT Tên quốc gia/lãnh thổ Năm 2007 Năm 2008 Tăng , giảm so với năm 2007
1 Trung Quốc 316 185 – 41,5%
2 Hàn Quốc 142 320 + 125,4%
3 Nhật 228 308 + 35,1%
4 Đài Loan 173 172 – 0,5%
5 Úc 107 146 + 36,45%
6 Anh 100 165 + 65%
7 Philippines 67 104 + 55,2%
8 Mỹ 110 181 + 64,5%
9 Pháp 62 116 + 87,1%
10 Singapore 55 98 + 78,2%
11 Malaysia 64 151 + 136%
(Số liệu thực tế người nước ngoài đăng ký xin cấp giấy phép lao động làm việc tại TPHCM do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp)

QUANG CHUNG

03/11/09

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:36 am

IMF: Kinh tế VN dễ bị ‘tổn thương’  04/03/09 BBC VN

Nguồn thu xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô. Trong đó có ba mặt hàng hàng đầu: gạo, dầu thô và than đá. Giá của những mặt hàng này đã giảm một cách đột ngột và bất lợi.

Dầu thô tháng Bảy năm 2007 ở mức 140 USD một thùng. Nay còn 40 USD một thùng.

Gạo trước đây 1100 USD một tấn. Ngày nay 580 USD một tấn.

Theo tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh từ Hà Nội, “tính theo thu nhập thực trên một đơn vị Việt Nam xuất khẩu bằng tiền thì Việt Nam đã thu được ít hơn rất nhiều.”

Cạnh đó một loạt các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu như đồ gỗ, da giày, may mặc cũng bị thu hẹp. Không những ít đi về số lượng, mà giá cả cũng bị giảm.

Trước kia một số nhà nhập khẩu ở Mỹ và Âu châu hay có tín dụng ứng trước cho các nhà sản xuất Việt Nam. Ngày nay các nguồn tín dụng này không còn nữa. họ muốn Việt Nam tự lo lấy nguyên vật liệu.

“Nói cách khác, năm nay nền nông nghiệp Việt Nam sẽ cứu nền kinh tế một lần nữa, như đã từng đóng vai trò tích cực trong thời kỳ đổi mới trước đây.”

kinh te vn (May 2008)

Filed under: kinh tế,thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 1:15 am
Tags:

Vietnam raises interest rates to fight inflation
Vietnam raises interest rates to fight inflation

19-MAY-2008 10:22

HANOI (Thomson Financial) – Vietnam raised interest rates from Monday in a move that aims to tackle double-digit inflation by strengthening the dong, the local currency, putting money into banks and reducing credit growth.
The State Bank of Vietnam increased its base rate to 12 percent from 8.75 percent, and allowed commercial banks to offer depositors rates of up to 150 percent of the benchmark rate, or 18 percent.
Vietnam has suffered double-digit inflation for half a year. Consumer prices surged more than 21 percent year-on-year in April, driven mainly by food and energy prices, fuelling popular anger and labour unrest.
The communist government has made tackling inflation a top priority, while cutting the economic growth target for the year to 7.0 percent from last year’s 8.5 percent increase in gross domestic product.
Jonathan Pincus, the UN Development Programme’s chief economist in Vietnam, said the interest rate increase was an anti-inflationary measure that would strengthen banks and the value of the Vietnamese currency.
‘A problem when you get into inflation is that people expect the currency to devalue and instead buy gold or dollars or property,’ Pincus said. ‘It becomes a self-fulfilling prophecy, because if fewer people want to hold the currency, there is less demand for it and the value goes down.’
Higher interest rates, he said, strengthen the dong and further fight inflation by raising the cost of borrowing, thus limiting the rapid credit growth that has increased the money supply.
Most Vietnamese commercial banks on Monday increased their interest rates for savings accounts to around 14 percent, Vietnam state television reported.

Copyright Thomson Financial News Limited 2008. All rights reserved.
The copying, republication or redistribution of Thomson Financial News Content, including by framing or similar means, is expressly prohibited without the prior written consent of Thomson Financial News.
Source: http://www.forbes.com

Tuesday, May 20, 2008
Vietnam Set to Rely More on Higher Interest Rates
Vietnam Set to Rely More on Higher Interest Rates, Goldman Says
By Seyoon Kim
May 19 (Bloomberg) — Vietnam will likely depend on raising interest rates and limiting credit to cool inflation, Goldman Sachs Group Inc. said, two days after the central bank abolished a cap on deposit rates and lifted its benchmark lending rate to the highest since it introduced the base rate in 1998.
“Vietnam is clearly at a crucial stage of its cyclical management for inflation control and ensuring a soft landing of the economy,” Helen Qiao, Hong Kong-based Goldman economist said in a report.
“We believe the central bank will likely rely more on higher interest rates and credit control to reduce domestic overheating pressures, while maintaining the fixed exchange rate with a moderate downward crawl against the U.S. dollar in 2008- 2009.”
In an effort to cool accelerating inflation, the State Bank of Vietnam said on May 17 it will increase the base rate to 12 percent from 8.75 percent effective today. Consumer prices that surged 21.4 percent in April, the most since at least 1992, and rate restrictions have hurt banks’ ability to attract deposits.
Vietnam’s commercial banks raised the rates they offer depositors to as much as 14.8 percent today.
The central bank’s decision is a “positive step” to tightening monetary policy through “market-oriented measures, which demonstrates the government’s resolution in maintaining the policy priority on inflation control over growth,” Goldman’s Qiao said.
Goldman said today the risk of “hard landing” of the Vietnamese economy isn’t big.
`Hard Landing’
“On balance, we do not think the risk of a hard landing is large enough to make it our baseline scenario,” Qiao said. “With a firm stance in holding tight monetary policy, we see a greater probability that macro stability can be maintained in Vietnam.”
Vietnam’s Deputy Prime Minister Nguyen Sinh Hung said in April the government would reduce the 2008 economic growth target to 7 percent from a previous forecast of as much as 9 percent. Economic growth slowed to 7.4 percent year-on-year in the first quarter. The economy expanded 8.5 percent in 2007, the fastest rate since 1996.
Goldman forecast this year’s GDP growth at 7.3 percent and annual average consumer price inflation at 19 percent.
Standard & Poor’s Ratings Service earlier this month cut its outlook on Vietnam’s credit rating to negative from stable, citing “rising risks to macroeconomic stability from an overheating economy.”
To contact the reporter on this story: Seyoon Kim in Seoul at skim7@bloomberg.net
Last Updated: May 18, 2008 23:20 EDT
Source: http://www.bloomberg.com

Tuesday, May 20, 2008
Far Eastern Economic Review
Far Eastern Economic Review
May 2008
By Jonathan Pincus and Vu Thanh Tu Anh

What a difference a year makes. Early last year, a spate of stories appeared in the international press proclaiming Vietnam as “the New Asian Miracle” and “the Next Asian Tiger.” The country joined the World Trade Organization in January 2007, prompting a surge in annual foreign direct investment approvals to more than $20 billion. The Ho Chi Minh City Stock market caught fire, with the index reaching a peak of 1,170 in March, up 140% year on year. Rising global commodity prices drove export revenue to nearly $50 billion, an increase of more than 20% over 2006. For the year as a whole, the economy grew by an impressive 8.5%, the fastest pace since 1996.
Cut to March 2008. A major investors’ conference — marketed under the title “Sustaining Growth and Reform in Asia’s Next Tiger” — was suddenly cancelled at the request of the government owing to “pressing macro- and microeconomic concerns.” The government later claimed that the organizer’s permits were not in order. On March 25, the stock market bottomed out at 496, a fall of 57% off the peak of a year earlier. In the same month, the official year-on-year inflation rate rose to 19.4% led by a worrying 31% increase in food prices. The first quarter 2008 trade deficit came in at $7.4 billion, four times higher than the first quarter of 2007.
The abruptness of Vietnam’s economic fall from grace has raised concerns about the stability of the financial system, particularly if conditions continue to worsen. The good news is that Vietnam’s macroeconomic fundamentals are still sound. The country is not heavily indebted, export growth is strong and the State Bank of Vietnam has added substantially to foreign-exchange reserves over the past year. Vietnam is less integrated into global capital markets than Thailand and Indonesia, and therefore unlikely to suffer as much from the fallout of subprime mortgage defaults in the United States. The government could restore stability relatively quickly by achieving control over public spending and borrowing by state-owned enterprises. The bad news is that political constraints may place even this relatively simple task beyond the reach of Vietnam’s policy makers.
Vietnam’s economy is overheating. Global factors such as high energy and food prices have contributed to inflation, but the fact that prices have risen much faster in Vietnam than in neighboring countries suggests that domestic factors are more important. These factors include credit growth in excess of 50% and a fiscal deficit equivalent to 7% of GDP. The resulting money growth sent prices of nontradables spiraling and fueled a property bubble that drove prices of prime real-estate assets to double or triple in the space of one year.
The origins of overheating can be found in a sudden surge in capital inflows in 2007. Disbursed FDI, remittances, development aid and portfolio flows exceeded $20 billion or 30% of GDP. Like many developing countries, Vietnam put considerable effort into attracting foreign capital, but was unprepared for it when it finally arrived in large amounts. The SBV has traditionally targeted the exchange rate and allowed the money supply to adjust, a strategy that makes sense in an economy in which many people prefer to conduct business in foreign currencies and hold foreign-currency assets. Moreover, the instruments of monetary policy do not yet function well in Vietnam. Interest rates are a blunt instrument when directed credit to SOES make up a quarter of the stock of loans and when the banks are organized into an explicit cartel to avoid outbreak of competition. The market for government bonds is thin and the secondary market is in its infancy. Because yields on government bonds are lower than the inflation rate, bond purchasers are betting that the pegged exchange-rate regime will hold. As the odds on this bet increase, dong-denominated bonds become less attractive to foreigner and domestic investors alike.
The failure to sterilize the sudden flood of foreign capital (by selling dong-denominated securities) fueled lending growth among the small joint-stock banks. These banks lent aggressively to property developers and buyers of real estate and equities. Rising property, and share prices also put more collateral in the hands of people that owned these assets, prompting them to borrow more. Large state-owned conglomerates joined the property craze, financed by state-owned banks at favorable rates.
In addition to sparking credit growth, the surge of capital inflows also financed a widening of the trade- and current-account deficits. An important difference that separates Vietnam from most of East and Southeast Asia is that Vietnam is a net capital importer. In other words, Vietnam routinely runs trade- and current-account deficits financed by inflows of foreign capital. This is not a bad or even a risky thing for a country at the early stages of industrialization. Vietnam needs to buy equipment and inputs for its growing industries and must finance these imports through a combination of exports and foreign-capital inflows. The trouble is that dependence on short-term portfolio flows can be destabilizing if there is a sudden change of investor sentiment.
On top of the monetary shock Vietnam also piled on an expansionary fiscal policy led by public investment. In 2007, investment as a share of GDP exceeded 40%, half of which was undertaken in the public sector and partially financed by state banks. Herein lies the second major difference between Vietnam and the neighbors. The more successful among the East and Southeast Asian countries have adopted a conservative fiscal-policy stance. These governments know from experience that price inflation sets off workers’ demands for higher wages and makes exports less competitive. They also see the legitimacy of the state linked to the welfare of people who are defenseless against inflation such as school teachers, agricultural workers, pensioners and the urban poor.
The government’s response to the resulting inflationary pressure was to increase the reserve requirements of the banks by 100 basis points in February 2008, adding to a 500 basis point hike (in May 2007.) SBV also required the larger banks to buy 20.3 trillion dong in state treasury bills carrying a yield of 7.8% by mid-March. For a time, SBV limited purchases of dollars to control money growth. All of these encouraged the banks to hoard Vietnam dong liquidity, forcing up interbank lending rates as high as 43% in late February. Fearing the effect of a wave of margin calls on the balance sheets of the smaller banks, the government also narrowed the intraday trading band on the stock market to 1% from 5%.
These minor adjustments have had the intended effect on lending rates and the property market. Anecdotal evidence suggests land prices in Ho Chi Minh City have fallen about 20% from their peak in December 2007. But government policy has been inconsistent. SBV capped savings rates at a below-inflation 12%, and then stood by passively as the Vietnam Bankers’ Association enforced a cap of 11% on its members. More importantly, aside from vague appeals for efficiency in the use of public funds, nothing has been done to reign in the state banks and the public-investment program. As long as fiscal policy is expansionary, monetary tightening will simply drain funds out of the nascent private sector. In the meantime, inflation will continue unabated.
There is no shortage of people in Vietnam who understand the causes of the current economic instability and the steps needed to quell price inflation and restore stability to the markets. Vietnam’s problems are neither complicated nor unmanageable.
Unfortunately, these people are not in a position to do much about it. Vietnam’s policy-making institutions are fragmented to the point of paralysis. Monetary policy is the preserve of SBV, but the Ministry of Finance has been assigned the task of controlling inflation. Monetary policy is also overseen by a National Financial and Monetary Policy Committee that includes technical advisors and representatives of other government agencies. The Ministry of Finance sets tax policy and recurrent spending, but investment spending is under the Ministry of Planning and Investment. Appointments are under the command of the Communist Party, which issues policy guidelines. Meanwhile, the state-owned conglomerates report directly to the prime minister, bypassing the ministries, and are not averse to appealing to him or other senior politicians to get what they want.
Fundamental reforms are needed to simplify the policy-making apparatus. Most East and Southeast Asian countries created advisory boards staffed by highly trained, well-paid experts to steer macroeconomic policy. In some cases these institutions wielded the levers of power; in others they gave political leaders advice insulated from the party politics. For example, Korea’s Economic Planning Board assumed direct control over planning, fiscal policy and statistics, while Taiwan’s Council for Economic Planning and Development functioned more in an advisory role.
Vietnamese institutions are characterized by ambiguous lines of authority and consensus decision making. On the plus side, Vietnamese politics has been marked by stability. But consensus-based decision making has also reinforced a tendency to distribute rents widely across the system. This problem is evident in the allocation of public investment. Vietnamese politicians approve 10 projects when one will do, and spread them across the landscape. For example Vietnam is building a string of deep sea ports in central Vietnam despite the fact that port infrastructure in the southern provinces of Ho Chi Minh City, Dong Nai, Binh Duong and Ba Ria Vung Tau — which together comprise more than 50% of Vietnam’s job growth and nonoil budget revenues — is stretched to the breaking point. The highway authorities have plans for $40 billion worth of new roads. Vietnamese infrastructure projects are expensive by international standards despite a widely acknowledged problem of poor quality. Although the government recognizes the need to close the fiscal deficit to control inflation, it is difficult to see who will make the hard choices necessary to make public investment more efficient.

Corruption thrives when it is considered a normal cost of doing business. On April 18 the Supreme People’s Procuracy dropped bribery charges against Bui Tien Dung, the former head of the Ministry of Transport’s scandal-tainted Project Management Unit 18. Charges against his boss, former Deputy Transport Minister Nguyen Viet Tien, were dropped in March despite the national embarrassment caused by the apparent misuse of Japanese and World Bank development aid. Vietnam receives low marks in comparison to other East Asian countries on the various corruption perceptions surveys. For example, the World Bank’s composite rankings based place Vietnam below even China and far below Thailand and Malaysia. The prevalence of corruption makes it more difficult to close the fiscal deficit, since officials on all levels are benefiting from the proliferation of high cost projects.
In the early 1990s, concern over the poor performance of state-owned industrial enterprises led the government to try a new approach. General corporations and conglomerates were created out of existing firms, supposedly following the model of the Japanese keiretsu and Korean chaebol. The idea was that larger firms would realize economies of scale and scope, which would enable them to compete internationally. The gap in the logic was that most of the conglomerates — firms like the mining corporation Vinacomin, the shipper Vinalines, the electricity producer evn and the state-oil company Petro-Vietnam — earned their money from mineral rents or preferential access to the domestic market. Rather than wade into the treacherous waters of international competition, most preferred to build on their market power in Vietnam to move into lucrative domestic ventures in the property market, financial services, telecommunications and tourism.
The conglomerates did not turn into world beaters, but they did learn how to trade on their political influence at home. SBV has recently granted banking licenses to three conglomerates (FPT, the insurer Bao Viet and PetroVietnam), and more are in the queue. These companies are replicating the familiar Southeast Asian pattern of creating diversified corporate empires around a cash-generating monopoly and a bank to provide easy access to capital.
The few companies that produce products for export have used political connections to secure government-guaranteed loans to expand into unrelated sectors. The shipbuilder Vinashin received the proceeds of Vietnam’s first sovereign bond issue in 2006 and then took a billion dollar loan from Credit Suisse. More recently, Vinashin and Vinatex — a textile and garment producer — secured loans from Deustche Bank of $2 billion and $500 million, respectively, on the occasion of Prime Minister Nguyen Tan Dung’s official visit to Germany.
Even so, government is showing signs of losing patience with the conglomerates. At a recent meeting with general corporation bosses to discuss measures to control inflation, the prime minister revealed that although the conglomerates and other state corporations account for 60% of outstanding loans of the state-owned commercial banks and 70% of Vietnam’s foreign borrowing, they produce only 40% of GDP. In early April he ordered all state general corporations and conglomerates to invest at least 70% of their capital in their core businesses. But the conglomerate reaction suggests disciplining them will not be so easy. Chairman of PetroVietnam Dinh La Thang, referred to this mild sanction as “shock therapy” and remarked that “even when state conglomerates and enterprises investment in noncore businesses accounts for up to 40% or 50% of total investment and if these investments are profitable then the government should not ask them to disinvest from these businesses as this would cause the enterprises to collapse.”
Vietnam has won plaudits from the international community for its poverty-reduction record, near universal primary education and improvements in basic indicators such as the infant mortality rate and access to safe drinking water. Yet for an avowedly socialist government Vietnam relies heavily on out-of-pocket spending to finance basic health and education. Public spending on health is the second lowest in the region, after Indonesia. Public funds targeted to help the poor don’t always reach them. According a recent United Nations Development Programme study, 45% of transfer payments in health go to the richest fifth of the population, as compared to 7% to the poorest quintile. The corresponding figures for education assistance are 35% and 15%.
Beyond the numbers, there are also concerns about the quality of health and education services. Intel delivered a blow to Vietnam’s self-image as a rising star in knowledge-based industries when the company announced that after testing 2,000 students from the five top technology universities only 40 students met their minimum standards. According to Intel, this was the lowest success of any country in which they have a presence. No wonder Vietnamese household spend an estimated $1 billion per year on education overseas. The domestic system fails to deliver quality, even to those who can afford to pay.
Gore Vidal once described the American economy as “socialism for the rich and free enterprise for everyone else.” Vietnam is rapidly heading in the same direction. The formation of an elite class that enjoys access to state power and resources has potentially serious political consequences for a ruling party that claims to represent the interests of working people. Rising food prices are hurting the poor, but they are not an immediate threat to political stability. Yet the growing perception that the state looks after the interests of powerful people while leaving the poor to their own devices can only have a corrosive effect on the government’s authority over the long term.

Economic reform succeeded in Vietnam beyond most observers’ expectations. Integration into global markets has stimulated economic growth and improved the living standards of millions of Vietnamese people. Export growth has averaged over 20% per annum since 1990, with the top earners in labor intensive products such as garments and seafood. These industries have provided steady jobs to millions of rural Vietnamese who had previously only known lives of economic insecurity and extreme poverty. Export growth is driven by farmers, a nascent private sector consisting mostly of very small firms and foreign enterprises. The private and foreign invested sectors account for nearly all of the job growth recorded over the past seven years.
Welded to this competitive but low margin economy is a separate system consisting of capital-hungry state firms concentrated in natural-resource exploitation and producing goods and services for the domestic market. These firms account for the bulk of borrowing from state-owned banks and have begun to borrow overseas. They have leveraged their political influence to diversity into the lucrative domestic property and financial markets. Although data on their performance is sorely lacking, the rate of return on state capital is far lower than in the private and foreign invested sectors.

More worrying still, the conglomerates have been allowed to open banks and nonbank finance companies. The developing world is full of examples of the hazards of interlocking corporate and banking interests. From Chile’s grupos to South Korea’s chaebol and Indonesia’s konglomerat, the melding of banks and powerful corporations has led to imprudent intragroup lending, loss of control over monetary policy and ultimately financial instability. Vietnam should think carefully about the implications of this strategy before proceeding any further down this road.

Vietnam’s current inflation and macroeconomic instability are direct consequences of the country’s long-term growth problems. These challenges are one and the same. Monetary tightening alone won’t solve Vietnam’s inflation problem. Driving up interest rates in the absence of action to reduce the fiscal deficit may succeed in cooling off the small private sector, but would have little effect on the conglomerates, which borrow from state banks at preferential rates or overseas. Higher borrowing costs will also make it harder to reduce the fiscal deficit in the short term. The government will not bring down inflation until it regains control over public investment and learns how to discipline its state-owned conglomerates.

Vietnam’s government has begun to realize that it cannot build a robust securities market without first ensuring that the banking system is sound. SBV is carefully monitoring the balance sheets of the small banks for signs of trouble. This is vital, since these banks are over-exposed to the inflated property market. Should one of them come to SBV for relief, the authorities should be ready to take action to make sure that the problem is quickly contained.

Long time Vietnam watchers are quick to note that Vietnamese policy makers have a way of piecing together pragmatic solutions when times get tough. What begins as “fence breaking,” or spontaneous defiance of the rules, often ends up as official policy. Vietnamese policy makers will not let ideology get in the way of something that works. The conventional wisdom holds that this attitude will enable Vietnam to muddle through this current bout of instability.

Yet this time the government has to do more than just get out of the way. Fence breaking now takes the form of state conglomerates establishing banks and building residential estates. Instead of sanctioning this kind of behavior, the authorities need to regulate it. Financial liberalization in particular is a risky business in the absence of a transparent regulatory framework and credible enforcement. The problem is that Vietnam’s new economy has produced a new kind of politics, one based less on ideology than on the formation of powerful interest groups. Imposing discipline on these groups, most of which emanate from within the state, is the central challenge facing the Vietnamese leadership not only this year but in all likelihood for many years to come.

Mr. Pincus is chief economist of the United Nations Development Programme in Vietnam. Mr. Vu is an economist with Harvard University’s Vietnam Program.

Wednesday, May 28, 2008
Banks turning off consumer credit valve
VietNamNet Bridge – Banks still cannot mobilise capital even though the ceiling interest rate scheme was removed. As a result, they have to limit consumer credit.
The deposit interest rates offered by banks are now very high, between 13.5% for short-term and 15.6% for over-12-month term deposits. However, the high interest rates cannot help banks much in mobilising capital.
One week after the State Bank of Vietnam removed the ceiling interest rate scheme, Viet A Bank reportedly had mobilised VND200bil (VND30-40bil a day) and Dong A Bank VND20bil a day. State owned banks had a little higher mobilised volume as people always think that state owned banks are the safest investment channel.
As a result, banks continue to limit lending, though experts predicted that when the ceiling interest rate scheme was removed, banks’ capital would become more profuse, allowing them to push up lending.
Tran Phuong Binh, General Director of Dong A Bank, said that the bank is now focusing on funding production and business projects, and the bank’s capital is now not even profuse enough to meet all demands in this field. Therefore, the bank has stopped providing consumer credit.

Consumer loaning, a short-term banking product, proves to bring high profit to banks. That explains why most banks rushed to push up consumer credit in 2007. Some banks, in order to attract clients, even offered loans with no mortgaged asset requirements. In order to be eligible for loans, borrowers just needed to prove that they had the stable income of VND3mil a month. Meanwhile, they could borrow big sums of money of up to VND200-300mil with the interest rates of 0.85-0.9% per month.
In general, consumer loans always have interest rates 2-4% higher than other kinds of loans, which also means higher profit for banks.
However, as capital is limited, no bank is interested in providing consumer credit at this moment.
By the end of April 2008, Sacombank’s total mobilised capital had reached VND58tril, an increase of 20% over the beginning of the year, while it had loaned VND40tril, an increase of 17%.
Meanwhile, ACB had reportedly mobilised VND62,000bil and only lent VND40tril.
Since the beginning of the year, no bank has launched any new consumer credit product onto the market, while banks had new products every month in previous years.
ABBank is one of few banks still providing consumer credit. However, it has lowered loan limits and loan terms. Clients are able to borrow up to 70% of the value of the assets they want to buy (cars, houses by installment) with the mortgaged assets being the assets they are going to buy. If clients do not have mortgaged assets, banks can lend up to VND20mil (10 times more than the minimum monthly income of borrowers). By the end of April 2008, ABBank had mobilised VND7,300bil in capital.
In fact, while banks are trying to turn off the consumer credit valve, clients also dare not knock on banks’ doors to ask for loans due to the overly high lending interest rates.
Experts say that this is also one of the reasons that the real estate market is frozen. In 2007, clients needed to have 20-30% of houses’ value to be able to buy houses under the installment plan with the support of banks (the interest rate was 11.5%). Meanwhile, they now have to pay 22-23% interest rates, and have to have at least 30% of houses’ value.

Vietnam Faces `Currency Crisis,’
Vietnam Faces `Currency Crisis,’ Morgan Stanley Says (Update1)

By Patricia Lui

May 28 (Bloomberg) — Vietnam is heading for a “currency crisis,” similar to that of Thailand’s baht in 1997, because the central bank has kept the dong too strong as inflation soars and the trade deficit widens, said Morgan Stanley.
Twelve-month non-deliverable forwards show traders are betting the currency will drop 39 percent against the dollar in the next year. Vietnam’s current-account deficit, foreign- exchange reserves and inflation are at levels “misaligned” with the dong, wrote Stewart Newnham, a Hong Kong-based analyst at the bank, in a research note today.
“There is a run on the dong,” wrote Newnham. “Many of the classic fundamental conditions are in place including an overvalued currency, a dangerously unbalanced economy and low foreign-exchange reserves.”
The dong was at 16,229 per dollar as of 5:40 p.m. in Hanoi, down 1.3 percent this year. The State Bank of Vietnam sets a daily reference rate, and the currency is allowed to trade 1 percent either side of it. The 12-month non-deliverable forward contract has slipped 22 percent this week to 22,550 per dollar.
Nguyen Van Giau, the governor of the State Bank of Vietnam, declined to comment today on the Morgan Stanley report when contacted by Bloomberg.
The central bank said yesterday it has the ability to ensure an orderly exchange rate, Nguyen Quang Huy, director of the banking-management department, said in a statement on the bank’s Web site. Demand for U.S. dollar is accelerating, caused by Vietnam’s highest inflation since 1992, Huy said.
The government plans to continue carrying out a “stable exchange rate policy” within a trading band, Huy said, reiterating existing policy.

Asian Financial Crisis

Even so, Newnham says the dong may be devalued similar to the baht in 1997 when Thailand’s currency was devalued 45 percent against the dollar as speculators betted it was overvalued. The devaluation touched off an unprecedented financial crisis in the region as funds fled on risk aversion.

Vietnam’s non-performing loans are likely to rise as property prices fall, said Newnham. The nation’s benchmark Ho Chi Minh stock index has slumped 55 percent this year.

“The dong could face similar downside risks,” said Newnham. “A devaluation episode could trigger a contagion throughout the region.”

To contact the reporter on this story: Patricia Lui in Singapore at plui4@bloomberg.net
Last Updated: May 28, 2008 06:45 EDT
Source: http://www.bloomberg.com

Ports overloaded with uncleared imports
VietNamNet Bridge – Ports in HCM City these days are full of piled up containers of imports.

Businesses are importing commodities in big quantities but not getting them cleared.
On May 27 in the morning, Hoang Phu Cuu, a customs officer, led local newspaper reporters around Vict Port in HCM City. Most of the commodity containing areas did not have any room left. Containers were lying in rows and heaped up on one another.
Cuu said that ships are docking at the port every day, bringing more commodities to the overloaded port.

He pointed to the working crane and the containers lying in stacks, saying that if an import company wanted to get a container at the bottom, the crane would have to move the containers in the upper layers first, and it would take a lot of time.
Vict port has the capacity of 11,000TEU, or 11,000 20-foot containers. However, the port now has 13,000 TEUs. Containers ordinarily are placed in stacks of four; meanwhile, containers are now stacked 5, 6 and even 7 high.

The situation is the same at Cat Lai and some other ports.
Why are the ports so overloaded these days? Why don’t importers get their imports cleared?
No one would think that importers would not want to get their imports cleared because they have to pay for storage and interest on the loans they borrowed to import commodities. Quickly clearing goods and selling imports to take back capital would seem to be the wisest move.
However, according to analysts, a lot of importers do not want to get imports cleared at this moment, especially construction materials, steel and ingot steel imports.
Tan Thuan Port, for example, now has 80-90,000 tonnes of uncleared steel and several thousand tonnes of fertiliser. The port’s leaders say that these products always lie at the port for 4-5 months at least.
Analysts say that a lot of importers like to wait until market prices go up to launch imported products onto the market. Some others keep products at ports for re-export when prices escalate in the world’s market. Some 5-6 shiploads of products (50,000 tonnes) were exported in May.
In fact, storage fees prove to be not a problem for importers, as ports offer relatively low storage fees. Vict port, for example, sets the fee of $1.6 a day for a 20-foot container, and $2.4 a day for a 40-foot container. At Tan Thuan 1 port, importers have to pay VND1,500 a day only for every tonne of steel in storage.
HCM City People’s Committee leaders have had several working sessions with local ports to discuss solutions for the problem. Nguyen Thi Hong, Deputy Chairwoman of the HCM City People’s Committee, ordered customs agencies at ports and port developers to find a way to clear imports.
Doan Tho, an importer of frozen food, complained that several hundred containers of frozen food are stuck at Cat Lai port.
Tran Thanh Phat, the director of a company specialising in home appliance products, also complained that it now takes tens of days to get imports due to overloaded ports, while it previously took 2-3 days only.
According to Vo Hoang Giang, Director of the Tan Thuan Handling Company, there are two main factors behind the overloading of the ports. 1/ Imported commodities have been arriving in big quantities, and many companies have not got the imports cleared 2/ the city’s authorities now prohibit trucks from carrying two 40-foot containers on the old Tan Thuan bridge.
Truong Van My, Deputy General Director of Logistics Development Joint Venture No 1 (Vict port), said that 24 ships dock at Vict port every week, while the port can receive only three ships at the same time, which has caused overloading.
At Tan Cang Saigon, the import-export products going through Cat Lai port rose by 21% in the first four months of the year compared to the same period of 2007. Import products rose by 43%. The imports passing through Tan Thuan 1 also have seen the increase of 40% over the same period of last year.

Blog at WordPress.com.