Ktetaichinh’s Blog

March 8, 2009

Làm gì trước khủng hoảng Thứ Năm, 26/2/2009

Filed under: chính sách,Uncategorized — ktetaichinh @ 7:41 pm
Tags: ,

LTS: Hiện nay cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã lan sang khu vực sản xuất với hàng loạt nước công bố GDP giảm mạnh bất kể nhiều gói kích cầu được chính phủ các nước liên tục công bố. TBKTSG mời các chuyên gia kinh tế là các cộng tác viên quen thuộc của TBKTSG thảo luận qua thư điện tử một số vấn đề nhằm góp phần tìm một chiến lược thích hợp cho Việt Nam trong bối cảnh đó.

>> Chu kỳ của nền kinh tế Việt Nam

>> Đi tìm mô hình kinh tế

Việt Nam nên làm gì trước khủng hoảng?

Bao giờ phục hồi?

TBKTSG: Câu hỏi đặt ra là mọi việc rồi sẽ đi về đâu?

GS. Trần Hữu Dũng

– GS. Trần Hữu Dũng: Tôi nghĩ là tình hình sẽ trầm trọng hơn, ít nhất là trong khoảng ba tháng nữa. Từ đó đến cuối năm 2009 thì tình hình sẽ ổn định (tức là không xấu hơn, nhưng cũng chưa thật sự khởi sắc) và sẽ có những dấu hiệu thực sự phục hồi từ quí 1 hoặc quí 2-2010. Nhưng đây chỉ là dự đoán (khá lạc quan!) của tôi, tình hình tùy thuộc rất nhiều vào chính sách của các nước quan trọng như Mỹ, Nhật, EU.

– TS. Vũ Quang Việt: Riêng với Mỹ, gói kích cầu gần 800 tỉ đô la sẽ giúp phần nào chặn đứng đà suy thoái, giảm bớt những khó khăn cho dân bị thất nghiệp, nhưng gói kích cầu này không thể đưa nền kinh tế đến hoạt động bình thường. Bởi hệ thống tài chính Mỹ vẫn còn trong tình trạng hấp hối. Vấn đề chính là các món nợ xấu, làm cơ sở cho các loại chứng khoán rác trên thị trường là một mớ bòng bong, chưa được giải quyết.

Ngay cả đến việc thiết lập một hệ thống để biết ai nợ ai, và từ đó xóa đi phần nợ lẫn nhau cũng chưa được thực hiện. Nếu chưa giải quyết được vấn đề tài chính thì tôi nghĩ việc phục hồi ngay cả vào năm 2010 cũng khó. Giải pháp cuối cùng mà Chính phủ Mỹ có thể làm là để ngân hàng phá sản, và rồi đứng ra tổ chức lại, tức là quốc hữu hóa.

– GS. Trần Văn Thọ: Hiện nay, nước nào cũng đưa ra kế hoạch kích cầu, hướng vào thị trường nội địa. Có lẽ phải đến giữa năm 2009 các kế hoạch này mới bắt đầu có tác dụng, nhưng mức độ suy sụp của sản xuất đã quá trầm trọng nên nhìn chung năm 2009 là năm đen tối nhất của kinh tế thế giới từ sau Thế chiến II. Theo đa số các dự báo hiện nay, kinh tế thế giới sẽ vào quỹ đạo hồi phục trong năm 2010. Tôi cũng hy vọng như vậy.

TBKTSG: Nên nhìn vào các chỉ báo nào để biết được lúc nào tình hình sẽ xoay chuyển?

TS. Vũ Quang Việt

– GS. Trần Hữu Dũng: Đối với Mỹ, chỉ báo nên theo dõi là tỷ lệ thất nghiệp. Nếu tỷ lệ này ngừng tăng thêm, hoặc tăng chậm lại, thì tình hình sẽ bắt đầu khá dần lên.

– GS. Trần Văn Thọ: Ở Nhật, đó là tỷ lệ cung cầu lao động, tỷ lệ thất nghiệp, giá chứng khoán. Ngoài ra, tình hình liên quan đơn đặt hàng mua máy móc (giúp phán đoán khuynh hướng đầu tư sản xuất của doanh nghiệp) cũng thường được tham khảo.

– TS. Vũ Quang Việt: Nước Mỹ làm đầu tàu cho kinh tế thế giới vì họ mua hàng khắp thế giới để tiêu, bằng cách vay mượn của chính những nước này. Trong cả hơn chục năm nay nước Mỹ mượn tiền của thế giới để tiêu, hàng năm họ mượn của thế giới khoảng 800 tỉ đô la. Khi khả năng vay bị hạn chế lại vì người vay thiếu khả năng chi trả thì tất nhiên nền kinh tế đình đốn. Khi nền kinh tế bình thường trở lại thì họ lại phải lo đối phó với ám ảnh lạm phát cao vì số tiền tung ra như giấy lộn thời gian qua.

Có thể nói kinh tế Mỹ không thể phát triển mạnh như trước. Và nên nhớ rằng thất nghiệp còn kéo dài nhiều quí sau đó dù GDP tăng vì doanh nghiệp chỉ tăng thu dụng khi đã yên tâm và năng suất đã đưa đến đỉnh điểm. Lúc đó chi tiêu mới khá lên.

TBKTSG: Hiện nay, các nhà kinh tế cũng không thể tìm ra tiếng nói đồng thuận về các giải pháp. Vì sao kinh tế học không làm được vai trò tư vấn cho chính trị?

GS. Trần Văn Thọ

– GS. Trần Hữu Dũng: Đại đa số các nhà kinh tế nhìn nhận là phải kích cầu. Nhưng “gói kích cầu” cần bao nhiêu chi tiêu chính phủ, bao nhiêu giảm thuế… mới là chỗ tranh cãi (vì nó đụng chạm đến bất đồng ý căn bản – thậm chí có tính… triết lý – về vai trò của nhà nước, về tự do cá nhân, về sự công bằng trong xã hội…).

Các nhà chính trị thì còn phải quan tâm đến những mục tiêu khác mà nhà kinh tế không nghĩ đến, cũng như có những hạn chế, ràng buộc trên thực tế (ví dụ như dù cho nhà nước có muốn chi tiền cho dự án này, dự án nọ, nhưng không đủ dự án có sẵn để khởi công, thì làm sao mà tiêu?).

– GS. Trần Văn Thọ: Đại khái tôi giống ý kiến anh Dũng. Thêm một điểm nữa là các nhà kinh tế cũng không hẳn giống ý kiến nhau khi bàn về mục tiêu tăng trưởng, phát triển, về tốc độ, bước đi của hội nhập vào thị trường thế giới… Dù có mục tiêu giống nhau nhưng chính sách, biện pháp có thể khác nhau tùy theo cách nhìn về hiệu quả và hậu quả của các chính sách.

Trong bối cảnh hiện nay, ai cũng đồng ý là phải phục hồi sản xuất, giải quyết thất nghiệp nhưng không giống ý kiến về biện pháp, về các công cụ tài chính, tiền tệ… Lãnh đạo chính trị cần lắng nghe các ý kiến khác nhau và cuối cùng chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình.

– TS. Vũ Quang Việt: Tôi ví dụ, rất khó đồng thuận với đề nghị của Tổng thống Obama là dùng tiền thuế 250 tỉ đô la để chi giảm lãi suất cho những người mua nhà đang có vấn đề trả góp. Nhiều người hỏi là tại sao tôi lại phải đóng thuế để chi cho anh như thế? Và tại sao ngân hàng cho vay bừa bãi mà không chịu trách nhiệm lại còn được hưởng hoa hồng khi làm chuyện này?

TBKTSG: Đã có dấu hiệu gì cho thấy một mô hình kinh tế – tài chính mới nổi lên làm nền tảng cho một sự chuyển đổi mô hình trong thời gian tới?

– GS. Trần Hữu Dũng: Tôi nghĩ đây sẽ là hệ quả lớn nhất của cuộc khủng hoảng này (cũng như Đại suy thoái 1929 đã khai sinh kinh tế học Keynes). Khu vực tài chính chắc chắn sẽ bị điều tiết chặt chẽ hơn, thậm chí vấn đề quốc hữu hóa ngân hàng đã được đặt ra (ngay ở Mỹ).

Cơ cấu công nghiệp nhiều nước sẽ biến đổi sâu xa, chẳng hạn như công nghiệp ô tô ở Mỹ chắc chắn là sẽ thu nhỏ, lôi kéo nhiều công nghiệp khác, như công nghiệp thép, nhỏ theo…). Hệ thống sản xuất và phân phối toàn cầu sẽ qua nhiều tái cấu trúc…

– TS. Vũ Quang Việt: Anh Dũng nói đủ nên tôi không thấy cần thêm. – GS. Trần Văn Thọ: Có thể có nhiều cách hiểu về mô hình kinh tế – tài chánh. Theo tôi, mô hình kinh tế – tài chánh từ thập niên 1980, nhất là từ 20 năm trước, đã xoay quanh ba thuật ngữ (key words): nhà nước, thị trường và toàn cầu hóa, trong đó thị trường và toàn cầu hóa giữ vai trò chủ đạo, dù đã có nhiều ý kiến khác.

Trong thời gian tới, mô hình mới cũng xoay quanh ba thuật ngữ đó nhưng vai trò của nhà nước sẽ được nhấn mạnh, nhất là việc kiểm soát hệ thống tài chánh, thị trường tiền tệ sẽ được chú trọng, và tiến trình toàn cầu hóa sẽ phải chững lại. Việt Nam nên làm gì?

TBKTSG: Trong bối cảnh đó, giữa những biến chuyển đó, Việt Nam nên làm gì, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn?

– TS. Vũ Quang Việt: Xuất khẩu của Việt Nam lên tới 70% GDP, nhập khẩu thì hơn 90%, và nếu tiếp tục như thế thì Việt Nam sẽ luôn luôn phải đối mặt với ảnh hưởng trầm trọng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Hầu hết những gì xuất khẩu chỉ là khai khoáng và sức lao động rẻ tiền. Chưa thấy có cái gì gọi là thương hiệu.

Kêu gọi đầu tư nước ngoài hầu hết cũng là khai khoáng, làm sân golf, tàn phá thiên nhiên và môi trường, chủ yếu cũng là phục vụ kinh tế nước ngoài. Và vốn không chỉ là từ FDI mà là vốn mình vay nữa.

Đây là lúc nên đặt lại vấn đề phát triển nội lực. Về ngắn hạn, làm kế hoạch đối phó với khủng hoảng thì phải tính đến tình huống xấu nhất để đối phó, không nên tô hồng, đòi đồng thuận.

Riêng bài học về cuộc khủng hoảng lạm phát ở Việt Nam, độc lập với cuộc khủng hoảng ở thế giới hiện nay, tôi chưa thấy Việt Nam rút ra được bài học nào đáng kể.

Cứ nhìn Công ty Điện lạnh REE, hình như họ đã cố rút ra được bài học, vì một công ty sản xuất và làm dịch vụ lại có vài công ty con đầu tư chứng khoán và địa ốc. Sản xuất thì không lỗ nhưng lỗ nặng vì mua chứng khoán. Tất nhiên là công ty tư nhân họ muốn làm gì thì làm nhưng không thấy ai ở Mỹ làm chuyện mua bán chứng khoán đầu cơ như vậy. Công ty có mua là mua nhằm đầu tư chiến lược kiểm soát các công ty khác. Thế nhưng Nhà nước ta, trong nghị định mới, vẫn cho phép các tập đoàn sản xuất lập ngân hàng, mở công ty địa ốc…

– GS. Trần Hữu Dũng: Việt Nam đang gặp phải những thử thách trầm trọng, nhưng cũng có thể có nhiều cơ hội, đòi hỏi những chính sách khôn ngoan. Phải nhìn xa. Phải theo dõi thật sát và đánh giá thật kỹ biến chuyển hàng ngày trên thế giới, nhất là những nước có liên hệ kinh tế nhiều với ta như Mỹ, Nhật, Hàn – và đừng quên Trung Quốc! Cũng nên theo dõi chính sách của các nước ASEAN.

Đối nội, ưu tiên phải là giải quyết vấn đề thất nghiệp. Nhân dịp này, phải lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng mà từ trước đến giờ vẫn là khu vực yếu nhất trong nền kinh tế nước ta. Nói chung, cần có một đội ngũ chuyên viên kinh tế tài chính thật sự có khả năng (nhất là về kinh tế quốc tế) và phải lắng nghe ý kiến của họ.

– GS. Trần Văn Thọ: Trong một nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như nước ta, kích cầu hiện nay nên được hướng vào việc tăng cung cho giai đoạn tới, nghĩa là tạo ra nhu cầu để giải quyết sự suy thoái trước mắt nhưng đồng thời (thông qua biện pháp kích cầu) phải tăng năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh khi kinh tế thế giới hồi phục và cả trong dài hạn. Các biện pháp thực hiện gói kích cầu nên theo sát phương châm lớn đó.

Cụ thể, có thể nêu ra vài điểm như sau. Thứ nhất, chỉ đầu tư công ở những điểm yếu thật sự trong kết cấu hạ tầng kinh tế. Chẳng hạn, quốc lộ 1 cần được mở rộng và nâng cấp ngay, nhất là tại khu vực Bắc Trung bộ và duyên hải Nam Trung bộ, và mở thêm những con đường “xương cá” nối các thôn làng đến quốc lộ 1.

Thứ hai, tín dụng ưu đãi nên ưu tiên cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, là những nơi tạo ra nhiều công ăn việc làm nhưng lại đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Qua đó, công nghiệp phụ trợ cũng dễ phát triển.

Thứ ba, tập trung xây dựng nhà ở giá rẻ cho người có thu nhập thấp, nhất là tại các vùng phụ cận với các khu công nghiệp, và từng bước giải quyết các khu nhà “ổ chuột” ở thành phố. Đầu tư theo hướng này vừa có tác dụng an sinh xã hội, vừa tạo điều kiện cải thiện thị trường lao động, ổn định sản xuất cho giai đoạn tới.

Thứ tư, đầu tư cải thiện hạ tầng giáo dục, nhất là bậc tiểu học ở vùng sâu vùng xa. Giải quyết tình trạng thiếu phòng học, thiếu cơ sở vui chơi, giải trí của học sinh ở vùng sâu vùng xa. (Điểm thứ tư này không có tác dụng về mặt cung trước mắt nhưng quan trọng trong dài hạn).

Song song với chính sách kích cầu theo hướng vừa nói, trước mắt nên tìm biện pháp cải thiện quan hệ kinh tế với Trung Quốc.

Thứ nhất, Trung Quốc là thị trường rất lớn, lại ở sát nách Việt Nam. Nhập khẩu năm 2007 [của nước này] gần 1.000 tỉ đô la. Dĩ nhiên nhập khẩu Trung Quốc sẽ giảm nhiều trong tình hình hiện nay, nhưng vẫn là thị trường lớn. Theo nhiều dự báo, kinh tế Trung Quốc sẽ phát triển trên 5% trong năm 2009 và cao hơn trong các năm sau.

Thứ hai, hàng công nghiệp của Trung Quốc tràn ồ ạt vào thị trường Việt Nam, gây ra sự mất thăng bằng trầm trọng trong cán cân ngoại thương của ta. Nỗ lực thay thế hàng nhập từ Trung Quốc tại thị trường nội địa Việt Nam và đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc sẽ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô (giảm nhập siêu) và tăng năng lực cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới.

Dĩ nhiên cũng nên tiếp tục quan tâm đến các thị trường khác, nhưng trong cuộc khủng hoảng này, cải thiện quan hệ với Trung Quốc là một mũi đột phá quan trọng.

NGUYỄN VẠN PHÚ thực hiện

– GS. Trần Hữu Dũng hiện đang giảng dạy tại Đại học Wright State University, Ohio, Hoa Kỳ

– GS. Trần Văn Thọ hiện đang giảng dạy tại Đại học Waseda, Nhật Bản

– TS. Vũ Quang Việt nguyên là chuyên viên cao cấp về thống kê của Liên hiệp quốc

Advertisements

Comparative politics: Congress and Parliament

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:31 pm
Tags:

At base a congress and parliament are the same things, assemblies elected by various methods to meet and pass laws. The U.S. founding fathers merely choosing a different title to distance themselves from the then aristocrat dominated parliament they were busy arguing with.

The difference between the way the U.S. assembly acts and say the British or Australian lies of course in where the executive authority is invested. A prime minister is a member of the assembly and wields executive authority by virtue of his or her ability to get a majority of votes in that body. A president usually holds office and wields whatever power they have independently of the assembly.

adparams.getadspec(‘c_billboard1’);

What this means is that in a system with executive government under the direct control of an assembly, for any government to form and hold power for any length of time it must maintain a disciplined majority within that assembly. This of course encourages strong political parties willing and able to sanction its members who too casually vote against the party line and so threaten the party’s hold on government. There is nothing in the laws or constitutions of Britain, Australia, Canada or many other states that entrenches political parties. If the U.S. stripped the presidency of most of its executive powers and gave these to the Congress, it would not be long before a strong figure (whether called a Prime Minister, Taoiseach, or whatever) arose from within the members to dominate the individuals and enforce stronger party discipline.

The best account of this process is in Macaulay’s History of England where he traces the evolution of the Prime Ministership from a King’s representative in the Parliament, often at loggerheads with the majority of members, into the leading voice of that majority who the King no longer had the power to gainsay. This evolution is of course the same process as the shift of executive power away from the King or Queen into the hands of the Parliament itself.

With only limited influence over laws and none over the executive, Congressmen, in line with tradition, get paid more as compensation for their being less not more important.

Domino theory Feb 26th 2009 From The Economist print edition

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:39 pm
Tags: ,

Where could emerging-market contagion spread next?

THE drought of foreign capital is beginning to wreck many economies in central and eastern Europe. Currencies, shares and bonds are tumbling, and some economists fear that one or more of these countries could default on its foreign debts. Emerging-market crises have a nasty habit of spreading as investors flee one country after another. Some Middle Eastern markets, notably Dubai, are already in trouble. But which of the larger emerging economies are most vulnerable?

To answer that question in the past, economists used to pay most attention to the solvency of governments, and hence their debt-to-GDP ratios. But today, the biggest risk in the emerging world comes not from sovereign borrowing, but from the debts of firms and banks. As foreign capital dries up, they will find it harder to refinance maturing debts or to raise new loans.

Our table (based largely on figures provided by HSBC) uses three indicators to judge how vulnerable economies are to the global credit crunch. The first is the expected current-account balance for this year. Large deficits need to be financed, but banking and portfolio inflows are now scarce, and even foreign direct investment, which used to be seen as less volatile, has fallen sharply this year. Many of the smaller east European economies had double-digit deficits as a share of GDP in 2008, although deep recessions will reduce them this year. Among the countries in the table, Pakistan, South Africa and Poland are tipped to run current-account deficits of 8% or more of GDP this year—the size of Thailand’s deficit before its crisis in 1997.

As well as financing a current-account shortfall, a country has to repay or roll over existing debts. If external finance is not available, it must run down its reserves. Thus a useful measure of financing risk is short-term debt (due within 12 months) as a percentage of foreign-exchange reserves. Anything above 100%, implying that debts exceed foreign exchange, should ring alarm bells. (At the start of 1997 Thailand’s short-term debt was 130% of its reserves.) The ratio is estimated at over 250% in both Latvia and Estonia, but in all the larger emerging economies it is below 100%. However, HSBC forecasts that South Korea’s short-term debt will exceed its shrinking reserves before the year is out. The reserve cover in Indonesia, South Africa and Hungary is also looking thin. Russia’s reserves have plunged by more than one-third as the central bank has tried to prop up the rouble, but it still has a comfortable cushion.

The third indicator, the ratio of banks’ loans to their deposits, is one measure of the vulnerability of banking systems. When the ratio is over 1.0 (as in, say, Russia, Brazil, South Korea and Hungary), it means that the banks depend on borrowing, often from abroad, to finance domestic lending and so will be squeezed by the global credit crunch.

To get an overall sense of financial vulnerability we have ranked all the countries on each of the three measures and then taken their average score. If all emerging economies were included, the smaller east Europeans, such as Latvia, Ukraine and Romania, would dominate the top of the risk league. Among the 17 larger economies shown in the table, South Africa and Hungary look the most risky; China the least. Hungary has already had to go cap in hand to the IMF for a loan. South Africa may yet have to. Despite higher gold prices, weaker mineral exports are causing its current-account deficit to swell, possibly to more than 10% of GDP this year, at the same time as net foreign direct investment is expected to slump, so the country needs to borrow even more. The rand, which has already fallen sharply, remains one of the most vulnerable emerging-market currencies.

Not again

In contrast, the Asian emerging markets generally look the safest, taking all six slots at the bottom of the table. The main exception is South Korea, which, thanks to its large short-term foreign debts and highly leveraged banks, is deemed to be as risky as Poland. (Vietnam, though not included in the table, also scores high on the risk rating). South Korea is in much healthier shape than during the 1997-98 crisis. For example, it is expected to move back to a small current-account surplus this year and its reserves are much larger. But its banks and its currency still look vulnerable. The won has already fallen by almost 40% against the dollar over the past year, swelling the local-currency value of its foreign debts. Increased financial jitters in east Europe could make it harder for South Korea to roll over the $194 billion debt which falls due this year. But currency-swap agreements with America, Japan and China will give it plenty of firepower to draw on.

The overall score in the table only ranks countries’ relative risks. To assess the absolute risk of a crisis you need to estimate external-financing needs (defined as the sum of the current-account balance and the stock of short-term debt) over the next 12 months. Jonathan Anderson, at UBS, has calculated the gap between this and the stock of foreign-exchange reserves for 45 countries. The good news is that only 16 of them have a financing “gap”; in all the others, reserves are more than sufficient to cover a year’s worth of payments, even if there were no new capital inflows. Virtually all of those 16 countries are in central and eastern Europe. They include only two large emerging economies from outside the region: Pakistan, which already has an IMF programme, and South Africa. By contrast, South Korea should not have a financing gap, thanks to its expected move back into current-account surplus. Most emerging economies’ large reserves will help to keep them out of danger. Unfortunately, the longer that the credit crunch continues, the more those reserves will start to dwindle.

Diễn biến lạm phát 25/02/2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:30 pm
Tags:
Theo thông tin của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lạm phát tháng 2 là 1,17%; tính chung hai tháng là 1,49%; so với cùng kỳ năm trước, tháng 2 là 14,78%, bình quân hai tháng là 16,13%. Như vậy, diễn biến lạm phát có một số điểm đáng lưu ý.

Thứ nhất là lạm phát đã có xu hướng cao lên qua tháng 2. Sau khi giảm 3 tháng liền, tháng 1.2009 tăng thấp (0,32%), tháng 2 đã cao lên. Nếu so với cùng kỳ năm trước, thì tháng 2 và bình quân 2 tháng đầu năm nay lạm phát vẫn còn rất cao. Diễn biến này do tác động của nhiều yếu tố. Nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết thường cao hơn các dịp khác trong năm. Tháng 1.2009 là tháng đầu tiên sau 3 năm đã xuất hiện hiện tượng xuất siêu (với trên 400 triệu USD), trong khi tháng trước nhập siêu trên 400 triệu USD, tương đương với khoảng 14 nghìn tỉ đồng (chưa kể giảm do tăng trưởng thấp hơn). Chính sách tiền tệ được nới lỏng từ vài ba tháng trước, làm cho tín dụng tháng 1.2009 đã tăng sau nhiều tháng giảm, trong khi huy động lại giảm sau nhiều tháng tăng.

Thứ hai là mức lạm phát của tháng 2 cũng như 2 tháng đầu năm nay thấp hơn tháng 2 cũng như 2 tháng cùng kỳ các năm trước. Lạm phát tháng 2 năm nay thấp thứ hai trong nhiều năm qua (chỉ cao hơn lạm phát 0,4% của tháng 2 năm 2001, còn thấp xa so với mức lạm phát 3,56% của tháng 2 năm trước và cũng thấp hơn mức bình quân 2,9% của tháng 2 trong 19 năm trước). Đây là kết quả của nhiều yếu tố tác động. Giá cả thế giới giảm mạnh. Tiêu thụ trong nước tăng thấp, với tốc độ tăng chỉ bằng một nửa tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước.

Thứ ba là tốc độ tăng giá của các nhóm hàng hóa, dịch vụ cao thấp khác nhau. Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất (tăng 1,67%); trong đó ăn uống ngoài gia đình tăng 2,63%; giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,59%.

Dự đoán lạm phát trong thời gian tới dựa trên hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố làm giảm và nhóm yếu tố làm tăng lạm phát.

Yếu tố quan trọng trong nhóm yếu tố làm giảm lạm phát là tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu. Tiêu thụ trong nước giảm do công ăn việc làm gặp khó khăn, sức mua có khả năng thanh toán của dân cư thấp, người tiêu dùng vẫn tiếp tục “thắt lưng buộc bụng”. Xuất khẩu gặp khó khăn cả về thị trường, cả về giá cả, cả về thanh toán của các đơn vị nhập khẩu ở nước ngoài, cả về nguồn hàng ở trong nước. Nhu cầu tiêu dùng sau Tết Nguyên đán thường thấp hơn.

Nhóm yếu tố làm tăng lạm phát bao gồm nhiều yếu tố ở quốc tế và trong nước. Do các nước trên thế giới đã đưa ra gói kích thích kinh tế với số tiền khổng lồ, cùng với việc liên tục hạ lãi suất hiện ở mức rất thấp, sẽ làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng mạnh, tạo ra khả năng lạm phát trở lại khi tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu phục hồi. Ở trong nước cũng có nhiều yếu tố làm tăng lạm phát. Tăng cho vay, trong khi huy động giảm. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với nhiều loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ là đầu vào của nền kinh tế (như điện, nước…) sẽ làm tăng chi phí…

Kết hợp cả hai nhóm yếu tố trên, có thể dự đoán lạm phát từ tháng 3 đến tháng 9 sẽ thấp, thậm chí có tháng còn giảm; từ tháng 10 sẽ tăng cao hơn.

Vietnam Takes Measures to Spur Bank Lending FEBRUARY 24, 2009

Filed under: chính sách,ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 6:25 pm
Tags: , ,

ET By NGUYEN PHAM MUOI HANOI —

Vietnam is taking steps to spur its banks to lend more money and help reboot its swooning, exportdependent economy as consumer-price inflation eases. At the same time, a government-run bank will extend interest-free loans to companies in trouble and on the verge of cutting their staffs. Vietnam’s central bank cut the required reserve ratio on dong-denominated bank deposits to 3% from 5%, affecting maturities of 12 months or less. The ratio was cut to 1% for some banks. Providing some leeway for the central bank’s actions was news that Vietnam’s consumer price index in February rose 14.78% from a year earlier — less than January’s increase of 17.48%. On a monthly basis, the inflation rate was up 1.17%, compared with January’s 0.32% rise from December, the government’s statistics office said. The government is encouraging lending by offering a subsidy of four percentage points on loans from commercial banks, meaning borrowers are offered sharply lower rates. According to state media, the central bank’s reserve-ratio cuts, combined with other measures, are intended to spur businesses and the public to borrow as much as 600 trillion dong ($34.32 billion) this year, equal to the current total of outstanding loans. “The central bank’s move is in line with the government’s efforts to avert a recession and stabilize the economy at a time that many companies are keen to receive more loans to boost production and keep employment,” a central bank official said. Reducing the reserve ratio will help release large amounts of dong funds into the economy, the official said. “This decision will also help banks lower operational costs because banks will use their funds to lend at higher interest rates than what they could receive from the central bank,” said Technological and Commercial Bank General Director Nguyen Duc Vinh. Vietnam’s government has to strike a balance between needing to rev up economic growth while also keeping a lid on inflation, said Kieu Huu Dung, chairman of Asia Commercial Bank’s Securities unit. Vietnamese banks can make loans bearing interest rates of 6% or 7%, compared with a 3.6% rate paid by the central bank for the reserves it keeps for the commercial banks, Hanoi-based bankers said. The government also said Tuesday that the state-run Bank for Investment and Development of Vietnam will offer interest-free loans to enterprises facing difficulties amid the financial crisis. Enterprises eligible for the loans include those that have to cut at least 30% of their work force, as well as those cutting 100 employees or more due to financial difficulties. Companies owing employees their salaries can borrow an amount equal to the arrears, it said. Write to Nguyen Pham Muoi at phammuoi.nguyen@dowjones.com

Create a free website or blog at WordPress.com.