Ktetaichinh’s Blog

February 24, 2009

Banks’ report that profits are coming mainly from services

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:24 pm
Tags: ,
feb 24th 2009
VietBusinessNews – In the same period last year when the market started falling and businesses’ capital demand remained high, banks’ profit was mainly from credit, On the other hand, deposits that banks had raised previously were on low interest rates, hence, banks still earned high profits from lending activities. Closing the first month of 2009, some banks still showed good profits.

However, banks said that revenue from credit accounted for a small part of the total profit of banks. The main reason was that lending interest could not compensate for high interest rates of deposits that banks had raised previously. Additionally, the credit growth has not improved.

By the end of January, Lien Viet Bank reported total assets of nearly 10 trillion dong, rising by 1.849 trillion dong against the same period last year, total outstanding loans of 2.794 trillion dong, a year-on-year increase of 121 billion dong, profit of 44.5 billion dong. Lien Viet Bank’s general director Nguyen Duc Huong said that the bank’s revenue from credit in January contributed only 10% of total revenue. Lien Viet Bank’s profit in January mainly came from services, capital trading via the interbank market, debt trading and others.

Huong said that his bank planned to gain a year-on-year increase of 10-15% in pre-tax profit in 2009, totalling 444 billion dong. This year, Lien Viet Bank will focus on retail financial products. In a bid to compete with other banks, Lien Viet Bank offers consumer credit limit of up to 500 million dong with an interest rate of 12% a year. In addition, the bank will set aside a financial amount worth eight to ten trillion dong for those who are entitled to the 4% subsidised-interest rate programme of the government.

At Saigon Commercial Bank (SCB), by the end of January, the bank reported total assets of 38.769 trillion dong, total capital and funds of 2.808 trillion dong, total deposits of 34.739 trillion dong, outstanding loans of 23.779 trillion dong. SCB’s profit in January was 58.706 billion dong. SCB is considered one of the banks posting high profit in 2008. SCB in the first two months of 2009 has promoted its credit growth, particularly after the government issued Decision 131/TTg-QD on subsidising lending interest rates. However, in the context of the current market, SCB’s credit growth in early 2009 remained modest. The bank’s profit mainly came from monetary trading and banking services.

General director of Tien Phong Bank Dao Trong Khanh said that his bank’s 12 billion-dong pre-tax profit in January was primarily from services. Khanh said that following the government’s policy on subsidising lending interest rates, his bank is promoting credit growth and opening up consumer credit. Tien Phong Bank is applying an interest rate of 12.5% a year for consumer loans. Tien Phong Bank expected to obtain 150 billion dong in pre-tax profit.

Tran Xuan Huy, general director of Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank (Sacombank), said that after nearly three weeks of implementing the government’s policy on subsidising lending interest rates, the bank disbursed one trillion dong to clients. Huy added that the market is still facing difficulties, hence, businesses should cautiously consider borrowing loans at this time.

Huy added that not until the end of March, will the credit growth at banks in general and capital disbursement under the government’s policy on subsidising lending interest rates in particular will improve.

By mid-February, Sacombank gained total deposits of five trillion dong, outstanding loans of 2.5-3 trillion dong, pre-tax profit of over 100 billion dong of which revenue from services accounted for the majority of the earnings.

Banks expected that the credit growth will improve and contribute larger part into the total profit. (DTCK)

Đô la đang ở đâu?

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 4:18 am
Tags: , ,
Thứ năm, 19/02/2009
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu USD không muốn bán cho ngân hàng. Ngân hàng thì hơn một tháng rưỡi nay vẫn công bố giá USD mua bằng giá bán và đang khan hiếm USD. Vì sao?

Nghịch lý nơi cạn nơi đầy

Hôm qua, chị Ly, người chuẩn bị đi du học đã gọi đến ngân hàng ACB để hỏi mua ngoại tệ. Nhân viên đầu dây trả lời là hiện đô la Mỹ không có, chị hỏi đô la Singapore cũng không còn. “Khi nào muốn mua thì phải gọi lên hỏi trước và chờ nguồn”, chị được nhân viên cho biết. Chị cũng nhận được câu trả lời từ Sacombank là mua USD thì… ngày nào biết ngày ấy.

“Ngân hàng nhiều khi phải nịnh doanh nghiệp xuất khẩu để họ bán USD cho”, ông Trần Phương Bình, tổng giám đốc ngân hàng Đông Á than thở về tình trạng nguồn cung USD hiện nay. “Lượng bán từ doanh nghiệp xuất khẩu ít ỏi chứ không nhiều”, ông Đỗ Minh Toàn, phó tổng giám đốc ngân hàng ACB thừa nhận.

Lãnh đạo một ngân hàng quy mô vừa cho biết, nguồn cung lúc này không còn và dồi dào như lúc trước nữa, trong khi nhu cầu của doanh nghiệp đang gây áp lực buộc ngân hàng phải chạy tìm nguồn.

Hiện nay, lãnh đạo một công ty quản lý quỹ trong nước kể, một tổ chức muốn mua 10 triệu USD thì thay vì ngày trước được ngân hàng bán ngay trong ngày hiện nay bị xé lẻ ra tới 5 – 7 ngày mới gom đủ số.

Gần một tháng rưỡi nay, nhiều ngân hàng công bố tỷ giá USD mua vào cũng như bán ra bằng nhau. Và dù tăng kịch trần cho phép, tỷ giá niêm yết ở ngân hàng vẫn thấp hơn ngoài thị trường tự do từ 150 – 261 đồng/USD trong tháng 1 và đến hôm qua là 131 – 171 đồng. Lý do lớn nhất khiến nguồn cung USD vào ngân hàng bị nghẽn bởi giá cao hơn ngoài thị trường tự do đã khiến không ít doanh nghiệp có nguồn thu USD chọn nơi có lợi hơn để bán. Các ngân hàng thương mại chỉ có thể chạy hết biên độ tỷ giá cho phép 3%, và đành bó tay.

Ngoài lý do trên, rất ít ngân hàng cậy nhờ được vào lượng huy động ngoại tệ, khi huy động ngoại tệ chỉ tăng 2,3% trong tháng 1 theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước.

Hơn nữa, ngân hàng Nhà nước đã siết chặt hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương mại với nhiều quy định ràng buộc gần đây, nên ngân hàng thương mại khó lách quy định như bán USD thông qua ngoại tệ thứ ba hay thu phí tỷ giá…

Tỷ giá sẽ ổn định trong hai tháng tới?

Nghịch lý là, tuy các ngân hàng không mua được nhưng ngoài thị trường tự do thì USD không thiếu. Dù việc ngân hàng Nhà nước nới rộng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% vào 25.12.2008 phản ánh sát thị trường hơn, nhưng tỷ giá USD/VND luôn tăng kịch trần sau đó.

Vậy ngân hàng chịu lỗ khi mua bán USD với giá bằng nhau? Ông Trần Phương Bình cho hay, hiện Đông Á huề vốn trong việc mua bán với doanh nghiệp. “Mục đích chính là để doanh nghiệp gắn bó với ngân hàng”, ông nói.

“ACB cũng không có lời trong hoạt động ngoại hối, mà chỉ hưởng mức phí trong thanh toán quốc tế mà thôi”, ông Đỗ Minh Toàn cho biết, và hiện chủ yếu ACB mua theo giá thoả thuận theo các hợp đồng giao sau (future).

Tháng 1 trôi qua với thị trường ngoại hối khá ổn định do không có biến động lớn, song tính thanh khoản của thị trường vẫn ở mức thấp do xu hướng biến động chưa rõ ràng của đồng VND và USD trong thời gian sắp tới. Từ đầu tuần này, nhiều báo cáo được đưa ra thiên về xu hướng phá giá đồng Việt Nam sắp tới.

Theo công ty chứng khoán Kim Eng, kỳ vọng trượt giá VND/USD sau 12 tháng là 14%. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ của các nhà đầu tư nước ngoài hiện vẫn còn, nhưng đã giảm mạnh. Trái phiếu trong tay nhà đầu tư ngoại gần như đã được bán hết, còn cổ phiếu thì tính thanh khoản không cao, thể hiện qua tổng khối lượng trái phiếu giao dịch trong tuần qua đạt hơn 2.000 tỉ đồng, thấp nhất trong các tuần từ đầu năm 2009.

Ông Trần Phương Bình dự đoán, tỷ giá VND/USD ít nhất trong vòng hai tháng sẽ khó có biến động lớn, bởi “giai đoạn này ai cũng muốn ổn định, định hướng và dò từng bước.

Rủi ro trong cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay

Thứ hai, 23/02/2009

Theo cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể dùng công cụ “tỷ giá bình quân liên ngân hàng” và “biên độ” để kiểm soát tỷ giá trên thị trường. Mặc dù gọi là tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhưng NHNN thường ấn định tỷ giá này theo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thường là mang tính dài hạn. Vì thế đôi khi nó có một “độ lệch” nhất định so với thực tế biến động ngắn hạn trên thị trường Nguy cơ mất cân đối cung cầu khiến tỷ giá biến động mạnh sẽ xuất hiện khi “độ lệch” này càng lớn và kéo dài nhưng NHNN chậm điều chỉnh hoặc không can thiệp với vai trò là người mua hoặc bán cuối cùng trên thị trường. Cái khó đối với NHNN là can thiệp ở thời điểm nào, liều lượng ra sao để vẫn duy trì được nguồn dự trữ ngoại hối cần thiết đồng thời không mâu thuẫn với các mục tiêu vĩ mô khác? Người mua hoặc bán cuối cùng được hiểu là khi hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) thừa ngoại tệ và muốn bán thì NHNN phải mua vào. Ngược lại khi hệ thống NHTM thiếu ngoại tệ và cần mua thì NHNN phải bán ra để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Mức giá mua vào hoặc bán ra ở đây phải theo khung biên độ giá mà NHNN đã công bố. Một khi NHNN không thực hiện được nguyên tắc này thì thị trường ngoại tệ chính thức sẽ bị ách tắc. Trong khi đó thị trường tự do, vốn không được thừa nhận về mặt pháp lý, lại là “lối ra” để giải tỏa ách tắc này. Điều hiển nhiên là tỷ giá trên thị trường tự do thường vượt khỏi biên độ kiểm soát của NHNN, hình thành hệ thống hai tỷ giá trong nền kinh tế. Thực tế những cơn sốt cả “nóng” lẫn “lạnh” của tỷ giá trong năm 2008 đã chứng minh điều đó. Điều có thể gây rủi ro lớn hơn là hệ thống NHTM còn gián tiếp tham gia thị trường tự do để đáp ứng nhu cầu thanh toán hợp lý của khách hàng. Có hiện tượng này là vì chính sách quản lý ngoại hối hiện nay (nhằm mục đích khuyến khích nguồn kiều hối chuyển về nước) cho phép cá nhân có quyền nắm giữ ngoại tệ mặt và có thể bán lại cho hệ thống NHTM. Một công ty (nhập khẩu) cần mua ngoại tệ để thanh toán cho hợp đồng đến hạn có thể thỏa thuận với ngân hàng giải quyết nguồn cung bằng cách mua ngoại tệ mặt trên thị trường tự do rồi bán lại cho ngân hàng dưới danh nghĩa cá nhân (thông qua tên của một nhân viên nào đó). Động tác tiếp theo là ngân hàng sẽ bán đúng số ngoại tệ này cho công ty qua tài khoản để thanh toán cho nước ngoài. Ở đây công ty phải “hợp lý hóa” khoản chênh lệnh giữa tỷ giá mua trên thị trường tự do (vượt trần cho phép) và tỷ giá bán lại cho ngân hàng (tối đa chỉ bằng mức trần cho phép), góp phần làm cho hệ thống sổ sách kế toán thiếu minh bạch và phản ánh không trung thực nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Điều này lý giải tại sao tỷ giá trên thị trường tự do thường có tác động ngược trở lại tỷ giá ngân hàng để xác lập điểm cân bằng mới. Khi đó NHNN buộc phải điều chỉnh mạnh tỷ giá theo thị trường tự do. Đó chính là những “cú sốc” tỷ giá có ảnh hưởng rất tiêu cực đến tâm lý thị trường. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, tình hình xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư nước ngoài có những diễn biến phức tạp. Vì vậy, NHNN phải theo sát thực tế thị trường để có những điều chỉnh hoặc can thiệp kịp thời nhằm kiểm soát tỷ giá mục tiêu một cách linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

CPI continues surge despite crisis

Monday, February 23, 2009

VietBusinessNews – Ha Noi’s consumer price index in February increased by approximately 1 per cent against the previous month, according to statistics from the Statistics Department.

This month’s CPI, however, was up 14.85 per cent year-on-year, the department estimated.

Food prices rose at the highest level, at a rate of 1.58 per cent month-on-month and increased 17.52 per cent over the same period last year. Other consumer goods made only slight gains.

Some economic experts said that many enterprises began early production and searches for contracts, as well as concentrating on investing and improving the quality of their products. They believed the result should be a stabilisation in consumer prices soon.

The capital’s Statistics Department forecast that the total revenue of goods and services during the first two months of this year would surge to 20.2 per cent year-on-year with total retail revenue increasing by 18.5 per cent.

The domestic gold market also fluctuated in February when the local gold price climbed to its highest ever level on Thursday to VND19.75 million (US$1,129) per tael in Ha Noi.

In HCM City, the CPI in February was up 1.31 per cent against the previous month, said head of HCM City Statistics Department Du Quang Nam.

During the first two months of this year, the city’s CPI only rose a modest 1.35 per cent, against a year-on-year figure of 5.18 per cent.

Food, construction materials and household items rose between 1 and 2 per cent, while beverages, cigarettes, garments, textiles, footwear, transportation, telecommunications and education increased by less than 1 per cent in February.

Prices for other commodities and services surged 7.27 per cent, but as a group culture, sports, entertainment and tourism slipped by 1.2 per cent. Pharmaceuticals and healthcare services remained unchanged.

According to economic experts, food and beverages rose remarkably due to increasing demand for the Lunar New Year. However, rice items decreased slightly, by 0.78 per cent, because of a plentiful quantity of rice in the domestic market before and after Tet.

The speed of rising prices for essential New Year 2009 items was lower than the previous New Year thanks to a price stabilisation policy implemented by city authorities. The global economic crisis also contributed to weak domestic consumption and only slightly changed prices. (VNS)

NHNN lên “kế hoạch hành động”

Filed under: chính sách,ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 3:54 am
Tags: ,

Thứ hai, 23/02/2009

Ngân hàng Nhà nước vừa lên kế hoạch hành động với 9 nhóm biện pháp để triển khai hiệu quả chính sách tiền tệ trong thời gian tới Ngày 19/2, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đã ban hành “Kế hoạch hành động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” để triển khai kịp thời, có hiệu quả các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Theo kế hoạch hành động này, Thống đốc yêu cầu các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung thực hiện 9 nhóm biện pháp trong thời gian tới. Thứ nhất là mở rộng tín dụng có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, áp dụng lãi suất hợp lý, xử lý các vướng mắc về trả nợ vay và tiếp cận tín dụng ngân hàng của tổ chức, cá nhân. Các đầu mối thuộc Ngân hàng Nhà nước sẽ rà soát, đề xuất việc sửa đổi các cơ chế cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán, ủy thác và các cơ chế cấp tín dụng khác để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Nhà điều hành hệ thống ngân hàng cũng sẽ phối hợp với Bộ Tài chính ban hành và triển khai cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện; ban hành chỉ thị về thực hiện các biện pháp nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá, ngăn chặn suy giảm kinh tế; tập trung xử lý các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tín dụng… Thứ hai là tiếp tục đổi mới chính sách và mở rộng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn; tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ ban hành nghị định về chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm cả tín dụng quy mô nhỏ, theo hướng khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính ở trong và ngoài nước mở rộng tín dụng đối với nhưng khu vực này. Các tổ chức tín dụng cũng sẽ mở rộng và áp dụng lãi suất cho vay hợp lý theo chính sách khách hàng của mình; cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tiếp tục cho vay mới đáp ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh có hiệu quả đối với các doanh nghiệp, hộ sản xuất ở khu vực nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và triển khai cơ chế tín dụng đối với 61 huyện nghèo theo phương thức ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước; cơ chế và thủ tục cho vay đối với hộ nghèo, học sinh sinh viên và các đối tượng chính sách khác dự kiến cũng sẽ được ra soát và chỉnh sửa… Thứ ba, các đầu mối sẽ tiếp tục đề xuất và tổ chức thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất và huy động nguồn vốn cho các dự án kích cầu đầu tư. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo các ngân hàng thương mại cân đối vốn kinh doanh để bố trí vốn giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, các dự án đầu tư theo chủ trương kích cầu đầu tư, cũng như mua trái phiếu Chính phủ với mục đích đầu tư cho các dự án kích cầu. Thứ tư, các công cụ lãi suất, tỷ giá sẽ tiếp tục được điều hành linh hoạt, thận trọng, phù hợp với mục tiêu kích cầu, khuyến khích sản xuất, xuất khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống; các cơ chế khác như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, hoán đổi tiền tệ cũng sẽ được rà soát để sửa đổi, bổ sung. Trong thời gian tới, các đầu mối liên qua sẽ tổ chức thống kê và dự báo các luồng tiền tệ liên quan đến việc vay và trả nợ nước ngoài; phối hợp với Bộ Công thương kiểm soát chặt chẽ cán cân thương mại; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro vay nợ nước ngoài của khu vực doanh nghiệp. Đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ chính thức ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế quản lý, kiểm tra và giám sát các sàn giao dịch vàng. Tuy nhiên thời điểm cụ thể vẫn chưa xác định. Thứ năm là tăng cường thanh tra, giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Trong đó, quy chế cấp giấy phép và thành lập ngân hàng thương mại cổ phần tiếp tục được nghiên cứu chỉnh sửa. Ngoài ra, những biện pháp còn lại được Ngân hàng Nhà nước đặt ra để điều hành và thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ thời gian tới là nâng cao chất lượng công tác thống kê, phân tích và dự báo; nâng cao chất lượng và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng; và cuối cùng là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin trong hệ thống ngân hàng.

Blog at WordPress.com.