Ktetaichinh’s Blog

February 11, 2009

Trần Sĩ Chương, nguyên cố vấn kinh tề và ngân hàng Quốc hội Mỹ

Filed under: chính sách,Uncategorized — ktetaichinh @ 7:38 am
Tags: ,
“Tsunami tài chính Mỹ” và bài học cho Việt Nam
19/09/2008 14:42 (GMT + 7)
Biết việc gì đúng cần phải làm không khó; có khả năng và ý chí để làm được chuyện đúng không mới khó. Nước Mỹ đã biết hơn ai hết thế nào là chuẩn trong hoạt động tài chính ngân hàng. Nhưng khi mà những người có quyền lực và tài lực câu kết lũng đoạn hệ thống thì hệ quả không thể nào lường được – ông Trần Sĩ Chương, nguyên cố vấn kinh tề và ngân hàng Quốc hội Mỹ.

Nguồn cơn cuộc khủng hoảng lớn nhất từ 80 năm qua

Vào thập niên 1920, Luật Ngân hàng ở Mỹ còn lỏng lẻo nên các ngân hàng thương mại dùng tiền ký gửi đầu tư mạo hiểm vào những lĩnh vực kinh doanh có mức lợi nhuận cao nhưng đầy rủi ro. Đầu tư bừa bãi để lấy phần trăm hoa hồng, cộng với chính sách tiền tệ phóng túng đã sinh ra tình trạng siêu lạm phát, dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ năm 1929, tiếp theo là một thời kỳ khủng hoảng vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Chứng khoán Mỹ giảm mạnh. Ảnh Reuters


Năm 1932, Tổng thống Franklin Roosevelt nhậm chức và cùng Quốc hội Mỹ cho ra đời đạo luật ngân hàng (Glass-Steagal Act) năm 1933, chủ yếu để cứu nền kinh tế Mỹ nằm trong chương trình 100 ngày đầu của chính phủ Roosevelt. Đạo luật này phân biệt khắt khe giữa hoạt động của ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng đầu tư.

Ngân hàng thương mại chỉ được hoạt động trong lĩnh vực cho vay những hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất và có đầy đủ chế chấp cụ thể một cách tương xứng. Ngân hàng thương mại trả lãi suất ký gửi là X% thì cho vay lại chỉ ở mức X + 2 (hoặc 3%) mà thôi để đảm bảo tính an toàn và giữ vững niềm tin của người dân đã gửi tiền tiết kiệm.

Hoạt động của ngân hàng đầu tư là những hoạt động kinh doanh với độ rủi ro cao nên các nhà đầu tư vào các loại quỹ hoặc ngân hàng đầu tư phải được biết như vậy và chấp nhận rủi ro. Sự tách biệt giữa hoạt động ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư là để làm rạch ròi mức độ rủi ro, tránh sự mập mờ dễ gây ra sự ngộ nhận cho người dân khi gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng.

Sự tách biệt này cũng là để minh bạch hóa các hoạt động ngân hàng vì đó là nền tảng của cả một hệ thống ngân hàng ổn định, tạo nên sức mạnh cho hệ thống tài chính và kinh tế phát triển bền vững.
Đạo luật Glass-Steagal đã giúp cho kinh tế xã hội Mỹ phát triển mạnh trong suốt 50 năm và trở thành một mô hình tài chính ngân hàng mẫu mực cho cả thế giới.

Đến đầu thập niên 1980, khi Reagan nhậm chức tổng thống, Chính phủ Mỹ chủ trương phát triển kinh tế thị trường tối đa, đồng thời cho phép các ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm mở rộng các hoạt động cho vay để nhiều người đầu tư vào thị trường bất động sản. Chính sách này chỉ vài năm sau đã dẫn đến khủng hoảng ngân hàng đầu tiên, bắt buộc Chính phủ phải can thiệp, tổn hao công quỹ đến hơn 300 tỉ USD mới giải quyết được tạm ổn.

Trong thập niên 1990, chính quyền của Tổng thống Clinton đã thành công trong các chính sách kinh tế, trả được tất cả các công nợ lớn do chính quyền Reagan để lại, bắt đầu một thời kỳ phát triển dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Nhưng chính sự thành công này đã nảy sinh ra mầm mống cho sự khủng hoảng kinh tế của nước Mỹ ngày hôm nay. Say men chiến thắng và cũng đầy lòng tham, các đại gia của Mỹ và cả những nhà hoạch định chính sách đã lãng quên những quy tắc cơ bản của ngành ngân hàng và nhiệm vụ quản lý rủi ro tài chính.

Các đại gia tài chính – ngân hàng đã tiến hành những chiến dịch vận động hành lang để ngân hàng được phép tham gia vào các lĩnh vực đầu tư rủi ro mà trước đây bị cấm bởi đạo luật Glass-Steagal. Số tiền lobby từ các đặc quyền tài chính ngân hàng chi trong năm 1998 lên đến 200 triệu USD! Năm 1999, Tổng thống Clinton trước khi mãn nhiệm kỳ đã ký đạo luật Gramm-Leach-Bliley chính thức khai tử Glass-Steagal.

Năm sau, cựu Bộ trưởng Tài chính trong chính quyền Clinton là Robert Rubin chuyển sang làm chủ tịch Tập đoàn CitiGroup – một trong những tập đoàn đã chủ động chiến dịch lobby cho đạo luật ngân hàng mới. Ngân hàng Mỹ từ đó được tài trợ các loại chứng khoán, kể cả các loại tài sản (phần lớn là bất động sản) đã được chứng khoán hóa qua các thủ thuật “bốc giá”.

Chính sách tín dụng thoải mái với lãi suất cực kỳ thấp dưới thời Tổng thống Bush đã tạo ra sự tăng trưởng ảo từ những đầu tư vô tội vạ, dẫn đến sự phát triển nóng trong lĩnh vực nhà đất để rồi hệ thống tài chính – ngân hàng Mỹ không cõng được gánh nặng do chính mình tạo ra, đòi hỏi chính quyền Mỹ phải cấp cứu.

Sẽ thêm nhiều đại gia tài chính lâm vào tình trạng ngặt nghèo trong vài ngày, vài tuần tới. Chính phủ Mỹ sẽ không có đủ khả năng giải cứu tất cả và có lẽ sẽ kêu gọi cả ngân hàng trung ương quốc tế tham gia công tác cứu nạn vì thị trường tài chính Mỹ ảnh hưởng sâu rộng đến tòan thị trường tài chính thế giới. Để cứu vãn tình hình, trước mắt phải cần khoảng 1000 tỷ USD. Đây là một số tiền không lớn so với nhu cầu, và có lẽ không đủ để chữa cháy. Nhưng đó lại là một số tiền lớn đối với chính phủ, nhất là hành động này đi ngược lại nguyên tắc kinh tế thị trường.

Sự can thiệp của Chính phủ Mỹ vào lúc này chỉ hy vọng ổn định được tâm lý của thị trường để tránh sự tuột dốc quá nhanh, không kìm hãm được.

Kinh tế Mỹ sẽ đi về đâu?

Trước mắt, không ai biết được đâu là hồi kết của cuộc khủng hoảng này. Có lẽ điểm đáy thì gần kề, nhưng sau đó kinh tế Mỹ sẽ bị trầm cảm một thời gian dài, có thể từ 3 – 5 năm sau mới gượng dậy được.

Ngay cả sau khi thị trường tài chính tạm ổn định thì thị trường nhà đất cũng cần thêm ít nhất là 3 năm nữa để giải quyết mức thặng dư bên cung và nâng mức cầu lên đến mức cân bằng.

Khi đó nền kinh tế mới có thể trở lại hoạt động thật sự ổn định và phát triển.

Đây là cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất của Mỹ trong gần 80 năm qua. Nó sẽ không ngừng ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà sẽ còn nhanh chóng lan rộng sang các lĩnh vực khác như sản xuất, công nghiệp… Mức thất nghiệp sẽ tăng, dịch vụ an sinh xã hội giảm.

Ảnh hưởng dây chuyền bắt nguồn từ lĩnh vực tài chính sẽ không lường được. Đây sẽ là một cơ hội để một số đại gia nước ngoài mua lại tài sản của Mỹ với giá bèo. Đây có lẽ cũng là điểm mốc đánh dấu một thời đại mới mà Mỹ sẽ không còn quyền lực hầu như quyết định và ảnh hưởng lớn đến thương trường và chính trường thế giới như trong hai thập niên qua.

Hệ lụy toàn cầu

Từ nền kinh tế lớn nhất thế giới, khủng hoảng này sẽ lan tỏa toàn cầu vì những tài sản đầu tư xấu của Mỹ đã được chứng khoán hóa với nhiều thủ thuật “bốc giá” và phần lớn đã được bán lại nhiều lần trên các thị trường chứng khoán thế giới. Theo ước tính, nếu Mỹ bị chịu đòn 1 thì thế giới còn lại cũng phải chịu 2-3, gần đúng theo tỷ lệ GDP tương đối của Mỹ.

Tsunami tài chính của Mỹ sẽ ập đến Âu châu, Á châu… Nền kinh tế nào càng lớn, càng giao thông với Mỹ càng bị nặng. Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiêu dùng. Xuất khẩu của Việt Nam qua các nước có mức tiêu thụ lớn sẽ giảm.

Ảnh hưởng trực tiếp đối với Việt Nam có lẽ tương đối không lớn, so với những nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…Phần lớn xuất khẩu của Việt Nam là dầu khí, lương thực, thực phẩm là những nhu yếu phẩm. Việt Nam cũng chưa thực sự hội nhập vào thị trường thế giới để bị những ảnh hưởng nặng nề trực tiếp.

Tuy nhiên, trong 5 năm tới, VN sẽ mất cơ hội có được điều kiện thị trường thuận lợi của thế giới bên ngoài để phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn thử thách của VN hiện nay.

Bài học với Việt Nam

Vấn đề mấu chốt của VN không phải là lạm phát, vì tình hình trầm cảm của thế giới sẽ làm giảm mức cầu. Khi cầu giảm thì thị trường sẽ hạ nhiệt. Lạm phát có lẽ sẽ không còn là vấn đề nữa mà sẽ phát sinh vấn đề giảm phát (deflation).

Vấn đề cốt lõi của VN là sự “hụt hơi” trong khả năng tăng tính cạnh tranh. Từ 5 năm qua tính cạnh tranh của VN không được cải thiện đáng kể, loanh quanh ở mức 70 trong số hơn 100 nước được khảo sát. Môi trường kinh doanh cũng không có gì khả quan hơn. Tính cạnh tranh không tăng thì không sản xuất được sản phẩm tinh hơn, để có được giá trị gia tăng cao hơn, như vậy mức thu nhập thực tế cũng không tăng.

Trong hơn 10 năm, chúng ta đã không phát triển đúng mức hạ tầng cơ sở vật chất cũng như hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế…) để duy trì được mức tăng trưởng thật – đó là tính cạnh tranh. Cho nên chúng ta đã có lớn xác, tăng cân (GDP) nhưng không tăng cơ bắp, trí tuệ, dẫn đến tình trạng béo phì, huyết áp tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tiềm năng phát triển lâu dài.

Biết việc gì đúng cần phải làm không khó; có khả năng và ý chí để làm được chuyện đúng không mới khó. Nước Mỹ đã biết hơn ai hết thế nào là chuẩn trong hoạt động tài chính ngân hàng. Nhưng khi mà những người có quyền lực và tài lực câu kết lũng đoạn hệ thống thì hệ quả không thể nào lường được.

  • Việt Lâm

Giá đắt của cơn say chiến thắng và lợi ích nhóm
02/10/2008 10:05 (GMT + 7)
Khủng hoảng tài chính Mỹ hiện thời là cái giá phải trả khi nước Mỹ ngủ say trên chiến thắng và để các nhóm lợi ích lũng đoạn chính sách. Sẽ mất ít nhất 4 năm để Mỹ phục hồi và cục diện quốc tế đang ở giao điểm nhạy cảm. Với VN, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng sẽ giống như chấn động của sóng thần lan vào kênh rạch. Vấn đề cốt lõi với VN vẫn là nâng tính cạnh tranh và hiệu suất của hệ thống – Chuyên gia kinh tế, ngân hàng Trần Sĩ Chương.
Audio cuộc bàn tròn

VietNamNet giới thiệu nội dung cuộc bàn tròn trực tuyến về chủ đề đang thu hút sự quan tâm này.

700 tỷ USD chỉ là tấm gạc cầm máu

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thưa quý độc giả, hôm nay ở trường quay chúng tôi có một vị khách đặc biệt: Ông nguyên là trợ lý lập pháp ngoại giao, ngoại thương của Quốc hội Mỹ, chuyên gia kinh tế ngân hàng của Quốc hội Mỹ những năm 80. Hiện ông đang đầu tư và tư vấn chiến lược phát triển cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

Ông Trần Sĩ Chương sẽ trao đổi với độc giả VietNamNet về một vấn đề rất nóng, rất đang được quan tâm: Khủng hoảng kinh tế Mỹ.

Cám ơn ông Trần Sĩ Chương đã có bài viết trên VietNamNet cách đây một tuần về đề tài này. Bài viết đã tạo được sự quan tâm và đồng cảm của rất nhiều bạn đọc. Thời điểm này, chúng tôi đã nhận được rất nhiều câu hỏi của độc giả gửi về, trong đó cùng chia sẻ mối quan tâm về khủng hoảng tài chính Mỹ, và hệ lụy tới VN.

Câu hỏi đầu tiên của rất nhiều độc giả: Hạ viện Mỹ đã không thông qua gói giải pháp đó mà Tổng thống Bush đề xuất để giải cứu các định chế tài chính Mỹ, ý kiến của ông thế nào?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Thực sự 700 tỷ USD không giải quyết được vấn đề gì. Nó cũng chỉ như miếng băng đắp lên vết thương đang chảy máu, mang giá trị tâm lý thể hiện chính phủ có thái độ tích cực để ngăn chặn nền kinh tế không tụt dốc nhanh.

Muốn giải quyết tận gốc khủng hoảng, số tiền cần thiết phải lớn gấp 10 -20 lần như thế với thời gian 3 – 5 năm. Cũng giống như cuộc khủng hoảng dưới thời tổng thống Reagan những năm 1980, phải mất 1 năm kể từ khi quốc hội ra tay TTCK mới ổn định, và sau đó cần thêm 2 – 3 năm nữa để ổn định thị trường BĐS. Tổng cộng cần tới 4-5 năm,kinh tế của Mỹ mới bắt đầu ổn định lại (từ 1986-1992), tới khi Bill Clinton đắc cử vào Nhà Trắng. Cũng vì lí do kinh tế suy thoái mà Bush cha thất cử.

Ảnh: Lê Anh Dũng


Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:
Nếu 700 tỉ USD không giải quyết được vấn đề gì thì có giải pháp nào khác để giải cứu hệ thống tài chính Mỹ?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: 700 tỉ USD là mua lại số nợ xấu và giải quyết cho 1 số ngân hàng đang có vấn đề lớn. Nó giống như trút một gánh nặng lớn nhất trên vai hệ thống tài chính xuống, để ngân hàng tài chính vực dậy và tự mình vận hành, đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ của thị trường tài chính thế giới.

Mỹ sẽ không thể giải quyết vấn đề này một mình, mà cần có sự hỗ trợ của cộng đồng tài chính Âu châu và Nhật Bản, cũng như các cường quốc tài chính khác.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tại sao một nền kinh tế như kinh tế Mỹ trải qua rất nhiều kinh nghiệm về khủng khoảng tài chính, đặc biệt trước chiến tranh thế giới thứ 2, rồi lại vực dậy. Rồi hệ thống hành pháp, lập pháp của hệ thống Mỹ vốn chặt chẽ, tối ưu như vậy mà không phát hiện, rồi hệ thống think tank, các trường ĐH lớn, thường xuyên đi tư vấn cho các quốc gia khác lại không đánh giá và tư vấn cho chính nước Mỹ?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Hệ thống Ngân hàng tài chính Mỹ trong suốt 50 năm, từ khoảng đầu thập niên 30 cho tới thập niên 80 là hệ thống chuẩn mực cho thế giới. Ai đi học MBA về ngân hàng cũng phải qua Mỹ học, ai thành lập ngân hàng muốn được tư vấn cũng phải học từ Mỹ.

Nhưng đến thời Reagan đắc cử tổng thống hồi năm 1980, ông Tổng thống Cộng hòa này chủ trương mạnh mẽ tự do hoá thị trường, để thị trường vận hành đã nới lỏng quy định về ngân hàng.

Mới chỉ nới lỏng một chút, thì ngay 3-4 năm sau có vấn đề ngay: khủng hoảng các ngân hàng tiết kiệm. Vì Luật Reagan cho phép dùng tiền tiết kiệm cho phép đầu tư những lĩch vực khá rủi ro, đặc biệt là vào nhà đất, tạo nên bong bóng. Khi bong bóng vỡ tạo nên 1 cuộc khủng hoảng hồi ấy.

Lúc đầu, chính quyền tưởng cần 5 – 8 chục tỉ để giải cứu cuối cùng cần trên 300 tỉ mới giải quyết được vấn đề. Và cũng kéo dài từ năm 1986 – 1987 lúc đến gần thập niên 1990s, qua năm 1991 mới giải quyết được, lành mạnh hóa được thị trường.

Ngủ say trên chiến thắng và bàn tay nhóm lợi ích

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm những ngày ông tham gia giải cứu thị trường tài chính tiền tệ Mỹ bên Quốc hội Mỹ khi đó. So với ngày hôm nay thế nào? Và những giải pháp hồi đó như thế nào?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Sự năng động chính trị và cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề trong chính trường Mỹ, theo tôi thời nào cũng tương tự nhau.

Đầu tiên, nhà nước đánh giá kinh tế không đến nỗi tệ lắm, vì nhà nước ở đâu cũng quan tâm tới việc trấn an dư luận. Nếu nói bệnh nặng quá thì sợ nhân dân hoang mang. Cho nên đáng lẽ chuyện này phải được nêu ra ít nhất 6 tháng rồi chứ không phải tới bây giờ.

Khi đưa ra đến Quốc hội thì gặp vấn đề chính trị, đảng đối lập muốn làm khó dễ cho đảng cầm quyền, bên lập pháp lại muốn khẳng định mình đúng… Cuối cùng cũng phải vì quyền lợi của đất nước, vì áp lực của các nhóm đặc quyền thì nhà nước mới tham gia giải quyết vấn đề, cũng như bây giờ thôi.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng rõ ràng nền kinh tế Mỹ vẫn cho mình là cơ chế minh bạch, tự điều chỉnh tốt. Tại sao lại vẫn để những bàn tay của nhóm lợi ích vào đây? Như anh nói từ năm 80 đã có bàn tay đó rồi mà không rút được kinh nghiệm. Tại sao không học bài học từ trước, để bây giờ hình như những bàn tay này len vào gây ra khủng hoảng lần này?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Đầu thập niên 1990, Mỹ trở thành siêu cường quốc độc tôn trên thế giới. Khi Tổng thống Bill Clinton nhận chức năm 1992, hai nhiệm kỳ của ông là thời kỳ hoàng kim của nước Mỹ, thời kỳ có bước phát triển dài nhất, đẹp nhất của nền kinh tế Mỹ. Chỉ trong gần hết nhiệm kỳ đầu, Bill Clinton đã trả được gần hết nợ sinh ra từ thời ông Reagan.

Kinh tế phát triển tốt và vị thế của Mỹ tăng cao trên chính trường thế giới tạo cho người Mỹ tâm lý hơi “ngông”, ngủ say trên chiến thắng.

Nếu như năm 1980s, khủng hoảng tài chính bắt đầu với chính quyền cộng hòa, thì tới khoảng năm 1998 – 1999, trước khi Bill Clinton rời nhiệm kỳ tổng thống, thì Clinton – một lần nữa lại bị áp lực của tài phiệt tài chính. Tổng thống này buộc phải nới lỏng hơn những quy luật của nền ngân hàng, tài chính: Cho phép ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động đầu tư.

Điều này trước kia rất tách bạch: Ngân hàng thương mại chỉ được hoạt động trong lĩnh vực cho vay những hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất và có đầy đủ chế chấp cụ thể một cách tương xứng. Hoạt động của ngân hàng đầu tư là những hoạt động kinh doanh với độ rủi ro cao nên các nhà đầu tư vào các loại quỹ hoặc ngân hàng đầu tư phải được biết như vậy và chấp nhận rủi ro. Như thế để giữ được cái lòng tin vì lòng tin là cốt lõi, nền tảng của hệ thống tài chính ngân hàng.

Với áp lực của các hiệp hội ngân hàng như nội trong năm 1998, các nhóm đặc quyền tài chính dùng đến hơn 200 triệu USD để lobby quốc hội và chính quyền, năm 1999, Bill Cliton ký đạo luật mới (Gramm-Leach-Bliley) khai tử đạo luật cũ ra đời năm 1993 – đạo luật Glass-Steagal, nền tảng chính của sự phát triển mạnh của ngành ngân và tài chính Mỹ trong suốt hơn 60 năm.

Năm 2001, Clinton rời chức tổng thống, cựu Bộ trưởng Tài chính trong chính quyền Clinton là Robert Rubin chuyển sang làm chủ tịch Tập đoàn CitiGroup, là một trong những nhóm chủ chốt lobby cho đạo luật mới. Từ đó CitiGroup và Bank of America là hai tập đoàn thương mại lớn nhất bắt đầu tham gia đầu tư rủi ro. Ngân hàng Mỹ từ đó được tài trợ các loại chứng khoán, kể cả các loại tài sản (phần lớn là bất động sản) đã được chứng khoán hóa qua các thủ thuật “bốc giá” lên tới mức giá trị thật không còn, và bong bóng bị vỡ.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nghịch lý là các hệ thống ngân hàng đều có hệ thống kiểm tra, kiểm soát, cảnh báo rủi ro, đánh giá tín hiệu… Từng doanh nghiệp có, cả xã hội cũng có không ít hệ thống rất mạnh. Nhưng tại sao lại không cảnh báo được những dấu hiệu bất ổn sớm để hậu quả như hôm nay?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Thật ra cũng có những người lão thành trong ngành tài chính ngân hàng như Greenspan đã nhiều lần dùng từ “những hồ hởi không có cơ sở” (irrational exuberance), hay cựu chủ tịch Fed trước Greenspan, ông Paul Volker nhiều lần cảnh báo. Nhưng khi tâm lý ngông cộng với lòng tham, cộng với quá nhiều tiền để chuộc lợi, thì sự toa rập của các nhóm đặc quyền đó với nhau không có hệ thống nào quản lý nổi.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Điều đó có phải mang ý nghĩa là để các nhóm lợi ích cấu kết với hệ thống quyền lực trong chính quyền, thì hệ thống nào cũng hỏng?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Sự thực là nhìn lại, không một kẻ thù nào của nước Mỹ có thể làm thiệt hại cho nước Mỹ như người Mỹ tự hại mình trong vòng chỉ vài năm.

Tầng lớp trung lưu là xương sống của nền kinh tế

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Có kẻ mất, thì có người được. Vậy ai được ở đây?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Quy luật bảo tồn năng lượng trong vật lý cũng như trong tài chính tương đồng với nhau. Đồng tiền không chạy đi đâu cả. Có rất nhiều người được. Những ngân hàng lớn như Lehman Brothers sập thì các vị lãnh đạo vẫn có vài chục triệu, vài trăm triệu đi chỗ khác làm. Rồi những người trước đó rút được số tiền rất lớn ra vẫn giàu.

Trong kinh tế thì tiền vẫn ở đấy, nó chỉ chuyển hóa. Nhưng vì nó chuyển hóa nhanh quá thì nó dễ bị xáo trộn. Hệ thống đang lắc với đà như lò xo, kéo quá dài thì nó giãn quá nên không thể co lại. Cho nên, vấn đề cần quan tâm là hệ thống lắc nhiều quá thì sẽ gây dao động, rơi ngoài tầm kiểm soát, rất nguy hiểm.

Quan sát giới trung lưu có nhà bên Mỹ, khi đầu cơ BĐS, họ lấy tiền ra thì đã có lợi. Còn những người mua sau, rất dễ, không cần đặt cọc ngân hàng thì bây giờ giá nhà xuống, họ có mất gì đâu? Giá xuống, họ bỏ đi, ngân hàng lãnh khoản nợ đó. Ngân hàng trước kia đã có lợi khổng lồ, thì giờ bị mất. Đây là một sự chuyển dịch lực trong hệ thống, làm hệ thống xáo trộn, có thể dẫn tới đổ bể.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chính phủ Mỹ có thể nhờ đó tái cấu trúc lại và huy động lại nguồn vốn cho xã hội được không? Thay vì nằm trong các ngân hàng cũ, tiền đã được chuyển dịch để các ông chủ mới thành lập công ty mới, đầu tư vào các dịch vụ mới hay không?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Rõ ràng luật chơi trong hệ thống ngân hàng, tài chính Mỹ bị thả lỏng quá lâu, chắc chắn sẽ bị siết chặt lại. Oái oăm thay, một khi lỏng quá thì hỏng việc, còn siết sẽ siết chặt quá. Theo xu hướng đó, siết chặt quá thì hiệu suất của nền kinh tế sẽ giảm: khó tiếp cận tín dụng, vay khó khăn hơn nên kinh tế bị thu lại. Trong một thời gian dài, ngay cả khi kinh tế Mỹ gượng dậy sau cơn đau, cũng sẽ không còn năng động như thời gian qua.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vừa rồi, trường ĐH Harvard tổ chức hội thảo do chính bà Hiệu trưởng Drew Faust chủ trì với các giáo sư hàng đầu của Harvard về tài chính, luật, kinh doanh, chính sách công tham gia. Họ có đưa khuyến nghị xây dựng lại tầng lớp trung lưu Mỹ  – những người đã bị thiệt thòi nhiều sau cuộc khủng hoảng này. Ông đánh giá thế nào về ý này?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Tôi đồng ý với ý kiến đó. Trung lưu là xương sống của nền kinh tế Mỹ. Thực ra thành phần này chiếm đa số, là thành phần đóng thuế nhiều nhất, năng động nhất của hệ thống Mỹ. Điều cơ bản, triết lý xã hội của Mỹ dựa trên phát triển thành phần trung lưu trong xã hội.  Nếu thành phần này kiệt quệ, sẽ không làm giàu cho mấy ông giàu để làm đầu tàu và cũng không đủ thuế để nuôi người nghèo.

Chính phủ phải là trọng tài nghiêm túc, trung thực và sáng suốt

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo anh đánh giá, trong bối cảnh hiện nay nên chính phủ nên đầu tư vào thị trường 700 tỷ USD hay không?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Theo trường phái thị trường tự do, không có lí do gì có mấy thằng con phá gia chi tử, lấy tiền của dân chung chi cho mấy anh đó. Nó ngược với tư tưởng nền tảng xã hội, chính trị của xã hội Mỹ. Nhưng vấn đề này đã trở thành chuyện chung, mấy anh này chết sẽ kéo nhiều người chết theo. Vì thế không thể làm ngơ để mấy anh này chết được.

Thực tế buộc Chính phủ phải tham gia. Vì vai trò của Chính phủ không phải cực đoan như đảng Cộng hòa thường nói là Chính phủ không làm gì hết. Thật sự ra, chính phủ phải trung dung. Chính phủ phải là trọng tài nghiêm túc, trung thực và sáng suốt. Vì thế, chính phủ hiện nay phải đóng vai trò đó, để cân bằng hai thế lực đặc quyền trong 10 năm qua đã lũng đoạn hệ thống tài chính, kinh tế và ngay cả chính trị Mỹ.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Người ta lo ngại về câu chuyện vận động hành lang của các nhóm lợi ích. Nhóm lợi ích bỏ ra 200 triệu USD đã làm khủng hoảng hệ thống tài chính hùng mạnh như Mỹ. Nếu như nước ngoài chi số tiền 500 triệu, 1 tỉ USD để có hệ thống luật pháp, chính trị có lợi cho họ thì sao?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Cái đó đã và đang xảy ra. Những nhóm như Do Thái, Trung Quốc lobby rất mạnh bên Mỹ. Thực ra tất cả những chính sách đối ngoại của Mỹ cũng bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi những thế lực lobby này, mà người dân Mỹ không bao giờ thấy hay biết được.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nước Mỹ vốn luôn đề cao sự minh bạch, công khai và sự thực luôn đi đầu trong sự minh bạch công khai. Vậy mà với vấn đề này lại không phát hiện ra bằng sự minh bạch công khai ấy? Ông đánh giá vai trò truyền thông nước Mỹ, của hệ thống giám sát bảo đảm tính minh bạch của Mỹ trong sự kiện này như thế nào?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Chủ trương minh bạch đúng đắn, để cho xã hội có những lực kiềm lẫn nhau. Nhưng thập niên vừa rồi, giới tài chính Mỹ sáng tạo ra những công cụ đầu tư quá tinh vi, và bộ máy truyền thông PR đánh bóng sản phẩm này, làm dân Mỹ ngộ nhận giá trị thật của nó. Ở đâu cũng vậy, khi có quá nhiều tiền, người ta sẽ sáng tạo hình thức để thỏa mãn những điều kiện minh bạch còn thực chất không còn minh bạch.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy quyền lực của nhóm lợi ích cộng với đồng tiền đã chiến thắng. Liệu có phải chính phủ đã có tham nhũng?

Chuyên gia kinh tế TrầnSĩ Chương: Chỉ cần nhìn không cần khắt khe lắm cũng thấy rõ ràng chuyện xảy ra này ra hệ quả lớn nhất, hệ quả vô tiền khoáng hậu của thế giới vì tham nhũng.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tôi đánh giá đó là sự tham nhũng ở một hình thức tinh vi và được pháp luật bảo vệ ở cả hệ thống. Có lobby từ Quốc hội mới đưa ra Luật mới để Bill kí loại bỏ hệ thống luật cũ chặt chẽ cho ngân hàng. Nhưng nhìn ở góc độ truyền thông, phải chăng những người làm truyền thông Mỹ có tội với đất nước vì đã không thực hiện trách nhiệm xã hội phản biện, cảnh báo kịp thời. Cũng có khi lobby xảy ra ở cả hệ thống truyền thông chứ không chỉ ở quan chức?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Khi vấn đề đã xảy ra, tất cả mọi người đều là nạn nhân và đều tham gia vào nguyên nhân gây ra hệ quả. Người dân ngủ quên trong những giấc mơ, “hồ hởi không có cơ sở”, tưởng mình giàu hơn, lấy thêm tiền ra mua sắm. Ở góc độ hành pháp, chính phủ Bush cần tiền cho cuộc chiến Iraq, cho chính sách xã hội trong nước, nên phải làm ngơ để kinh tế phát triển ảo, để vẫn có tăng trưởng, có thuế. Và thảm hoạ vẫn thường đến khi hội tụ từ nhiều yếu tố rủi ro.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nghịch lý nhất đó là các trường giỏi nhất về kinh doanh, quản lý nhà nước giỏi nhất là ở nước Mỹ. Hệ thống cảnh báo, quản trị rủi ro của nhà nước cũng rất bảo đảm. Bao nhiêu con người, bao nhiêu tiền của cho hệ thống chuyên gia, giáo sư, học giả nghiên cứu rất nhiều…. rất nổi tiếng.  Ở trường Harvard, bà Mary Graham có nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “Full disclose” nói về việc minh bạch, công khai rất được hoan nghênh… Tại sao họ lại không kịp thời chỉ ra được chuyện này để giúp nước Mỹ? Có nhóm vì lợi ích cá nhân nhưng vẫn còn những người vì lợi ích đất nước chứ?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Lịch sử thế giới cho thấy: các đế quốc sụp đổ vào lúc họ mạnh nhất, cả văn hoá và đầu óc hiểu biết con người. Mấy nghìn năm trước, Rome sụp đổ khi các triết gia của La Mã là cha đẻ của những thuyết đến giờ vẫn còn được dạy. Nhưng điều này còn tùy thuộc vào xác suất. Nếu chỉ là một tiếng nói trong trăm nghìn người nói khác anh, anh không có thế trong xã hội. Anh nói ngược chiều số đông khi đa số nhân danh phát triển cho thấy rằng: GDP tăng, tạo ra nhiều việc làm, ai cũng thấy giàu hơn… thì họ có hậu thuẫn của xã hội cho những gì họ làm.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy, trong 1 xã hội phát triển như nước Mỹ vẫn còn đầy rẫy khiếm quyết, rất nhiều rủi ro, và cảnh báo rủi ro vô cùng cần thiết. Nếu nước Mỹ không ngủ quên trên chiến thắng, say mê cảm giác của người đứng đầu thì chắc tính cảnh báo, phản biện sẽ mạnh hơn, biết đâu sớm ngăn được cuộc khủng hoảng này. Đây là bài học cho thấy không chỉ nghe theo số đông, mà hãy nói đúng nhận thức suy nghĩ của mình.

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Cái gì cực đoan quá cũng không tốt, vì sẽ chứa đựng mầm mống tự huỷ diệt ở trong nó. Kinh tế thị trường tự do có bàn tay vô hình thị trường điều chỉnh, nhưng thả lỏng quá, chính phủ không còn quản lý điều tiết khi cần, khi có vấn đề gì, sẽ không kịp can thiệp. Vì thế, thuyết trung dung luôn đúng, cái gì cũng nên vừa phải, đừng rơi quá xa tâm điểm của sự thuận lý, để nếu hệ thống bị bung ra có thể kéo nó lại.

Khủng hoảng: kết quả canh bạc lớn của nước Mỹ mà ai cũng nghĩ mình khôn

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng cũng có 1 số các luận điểm khác cho rằng phát triển quá thì phải dừng, đi xuống, rồi lại tái cấu trúc và sẽ đi lên trở lại?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Vấn đề phát triển của Mỹ là phát triển ảo, phát triển tạo tài sản ảo nhiều hơn thật.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Liệu có thể cho rằng đó là thời đại kinh tế thông tin, giá trị ảo quan trọng không kém giá trị thật?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương:
Ảo tới một mức nào đó thôi, đến một mức nào đó thị trường không chấp nhận giá bị “bốc” lên nữa, sẽ “trả giá” xuống, gây phản ứng ngược lại.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nước Mỹ không học được bài học của chính mình từ quá khứ sau những cuộc khủng hoảng năm 1980s, rồi khủng hoảng năm 2000 vỡ bong bóng dot.com. Đó cũng là giá trị ảo được kỳ vọng quá lớn?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Nhiều người chơi trong cuộc chơi này biết nó ảo, nhưng họ tâm lý là nghĩ mình khôn hơn người kế tiếp, biết nhảy ra trước khi nó đổ vỡ. Ai cũng nghĩ vậy, giống như đánh bạc vậy, thắng rồi thì không có khái niệm thua. Đây là canh bạc lớn cho nước Mỹ, cho cả với dân thường và lãnh đạo.

Bạn đọc Phan Công, Gia Lai: Việc Hạ viện Mỹ bác bỏ dự luật 700 tỷ USD làm cho cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ trầm trọng được ví như cuộc đại hồng thủy. Liệu có xảy ra đại suy thoái như trước đây. Mức độ như thế nào, nếu so đại suy thoái là 10? Liệu khủng hoảng có dẫn tới chiến tranh thế giới không?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Câu hỏi lớn, tôi không dám làm thầy bói nói khoác. Nhưng tôi nghĩ có lẽ không đến nỗi như đại suy thoái, khi nước Mỹ kiệt quệ, dân xếp hàng xin cháo ăn.

Bây giờ, tương lai nước Mỹ gắn với nhiều người trên thế giới, không ai muốn để Mỹ kiệt quệ. Cộng đồng tài chính thế giới sẽ góp tay vào, vì Mỹ sụp thì nhiều nơi cũng sụp theo.

Tài sản của Mỹ được chứng khoán hóa và các nước khác đã mua lại một phần khá lớn. Nước ngoài phải giữ 70-80% tổng tài sản chứng khoán của Mỹ. Để Mỹ vực dậy, các nước sẽ góp tay giúp Mỹ tái tạo được tài sản, nếu không họ sẽ mất trắng. Các nước cũng phải lo lắng.

Trong khủng hoảng này, Nhật Bản có lợi tương đối nhiều nhất, vì Nhật vừa qua khủng hoảng, tái cấu trúc, có khả năng nhất. Vừa rồi nhiều tập đoàn Nhật Bản mua lại một số tài sản của các tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ. 6 tháng trước đây, các DN Nhật không nghĩ mình có cơ hội mua lại tài sản như vậy.

Nói chung, về ảnh hưởng tương đối, khủng hoảng sẽ không giống như đại suy thoái, nhưng về tuyệt đối, thiệt hại lớn hơn nhiều.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Đây là bài học lớn cho nước Mỹ. Có những đế chế sụp đổ như Rome. Liệu đế chế Mỹ có sụp đổ?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Nếu nói sụp đổ thì hơi quá. Bởi vì ảnh hưởng của Mỹ, giá trị thật của Mỹ vẫn lớn, và giá trị tuyệt đối của Mỹ cũng là lớn nhất thế giới. Nhưng quyền và thế tương đối của Mỹ sẽ giảm, giảm nhất là uy thế, uy tín của Mỹ.

Năm ngoái, ông bộ trưởng tài chính Mỹ đi dự họp hội nghị tài chính thế giới, hay Diễn đàn kinh tế thế giới được coi như vua, chỉ đạo người ta sống như thế nào, cấu trúc kinh tế ra sao, cơ cấu nguồn vốn thế nào. Nhưng có lẽ sang năm, vẫn ông ấy đi những hội nghị thế này thì vị thế đó sẽ không còn như xưa nữa.

Cục diện quốc tế: Giao điểm nhạy cảm

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tôi cảm nhận rằng điều này có lẽ lại tốt cho nước Mỹ, để nước Mỹ tỉnh lại, nhận thức lại mình. Nhìn ra, nhiều nước trên thế giới vừa ganh vừa ghét, vì nước Mỹ thường xuyên áp đặt cho mình những cái gì là đúng đắn, là hay. Qua đó, nước Mỹ thấy mỗi quốc gia dân tộc có đặc thù, bước đi và cách nhìn riêng và có lẽ không nên áp đặt những chuẩn mực, mô hình, lối suy nghĩ Mỹ lên thế giới.

Và có lẽ có cuộc khủng hoảng này thì nước Mỹ mới không thỏa mãn. Họ nhận ra mình có những đối thủ cạnh tranh, có mối đe dọa vị thế của nước Mỹ. Người dân Mỹ, lãnh đạo Mỹ tỉnh ra, để thấy rằng lúc đó, với lòng tự trọng và ái quốc, họ sẽ tụ hội những gì tốt nhất để làm nước Mỹ phục hồi trở lại.

Cá nhân tôi cũng đồng tình rằng giá trị thật của nước Mỹ còn nhiều, nhờ cơ chế để mỗi người có điều kiện và được phát huy cao nhất khả năng của mình. Theo tôi, đó là giá trị lớn nhất nước Mỹ đang có. Ai cũng thấy mình có cơ hội lớn nhất khi ở Mỹ. Và hạ tần mềm, hạ tầng cứng đều ổn.

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Cái đó tốt cho thế giới nữa. Rõ ràng trong 20 chục năm qua, từ sau chiến tranh Lạnh, Mỹ là siêu cường độc tôn. Một cục diện thế giới như vậy thực ra cũng có nhiều điều bất ổn, không tồn tại lâu dài được.

Trong lịch sử thế giới, khi siêu cường số 1 đi xuống, hay những người khác có cảm nhận người ta đang đi xuống, những cường quốc số 2, số 3 sẽ vượt lên, cạnh tranh. Siêu cường đi xuống cũng sẽ không chịu xuôi tay, tiếp tục vùng vẫy. Giao điểm này cực kỳ nguy hiểm, khi cường quốc số 2, số 3 đang muốn lợi dụng sự suy yếu của siêu cường số 1 còn siêu cường số 1 muốn tái khẳng định vị trí của mình, dễ dẫn đến xung đột.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thậm chí là chiến tranh thế giới như đã từng xảy ra?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Người đi xuống sẽ không dễ chấp nhận, cản người đi lên, xác suất có lúc đụng khá cao.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo anh, từ chuyện này nhìn ra xu hướng trật tự thế giới, an ninh thế giới có bất ổn không hay các nước lớn sẽ hòa hoãn được với nhau?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Xu hướng hoà hoãn nhiều hơn. Các quốc gia đều nghĩ lợi ích riêng, nhưng phải sống chung với nhau nhiều hơn trước. Anh không thể đơn phương đưa ra một quyết định gì mà chỉ có lợi cho anh và không có lợi cho người khác. Người ta sẽ “nghỉ chơi” với anh ngay và thị trường phản ứng ngay. Hội nhập làm thế giới phải nương nhau mà sống, dẫn đến thế giới ổn định hơn những giai đoạn trước, trong đường dài. Trong thời gian trước mắt sẽ có cạnh tranh ngôi vị, dễ dẫn tới xung đột.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thế nhưng lại xuất hiện những bất ổn khác, những nước lớn lại muốn tranh giành ảnh hưởng với những nước nhỏ xung quanh, lan toả ảnh hưởng khu vực cho nên không có những xung đột giữa các nước lớn với nhau mà ảnh hưởng những thân phận nước nhỏ?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Đó là lối hành xử cổ điển của các nước trong quan hệ quốc tế. Các “ông lớn” không dám đụng nhau trực tiếp, vì thiệt hại lớn, xúi các “ông nhỏ” đụng nhau, thế giới sẽ thấy nhiều xung đột nhỏ.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Hoặc thậm chí các ông lớn lấn lướt các ông nhỏ bên cạnh để thể hiện tầm ảnh hưởng của mình thì sao? Có xảy ra không?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Có, nhưng sẽ chủ yếu ở lĩnh vực thương mại, kinh tế, tài chính, còn lĩnh vực quân sự sẽ giới hạn và khó. Thực ra, dùng biện pháp quân sự, không lời nhiều, vì nó quá lộ liễu, tốn kém, dễ gây ác cảm với thế giới. trong khi các biện pháp tài chính – kinh tế nhẹ nhàng hơn, ảnh hưởng lớn, tạo thế hiệu quả lợi hơn liệu pháp mạnh.

Khủng hoảng là cơ hội lãnh đạo thể hiện vai trò, bản lĩnh

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Anh có dự đoán là nước Mỹ sẽ phải trở lại hệ thống quản trị ngân hàng, quy pháp chặt chẽ?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Ai làm Tổng thống nhiệm kì tới, đó sẽ là câu chuyện đau đầu.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng đó cũng là cơ hội để Tổng thống mới thể hiện bản lĩnh, vai trò của mình?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Sứ mệnh đó không chỉ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và chính trị Mỹ, mà còn đặt ra với Âu châu, Nhật Bản… Thủ tướng Anh G.Brown đang đề nghị cấu trúc lại hệ thống tài chính thế giới do Mỹ đặt ra từ sau chiến tranh thế giới II, hệ thống Bretton-Woods… Hệ thống tài chính thế giới hiện đang do Mỹ thiết kế và có ảnh hưởng điều hành.

Các nước khác dựa cơ hội này để góp bàn tay tham gia tái cấu trúc kinh tế thế giới. Người nào lãnh đạo nước Mỹ cũng phải đóng vai trò lãnh đạo trong công tác đó, để duy trì ảnh hưởng, quyền và thế của nước Mỹ trong cộng đồng tài chính thế giới. Nó không chỉ ảnh hưởng tới nước Mỹ mà ảnh hưởng nhiều thế hệ, bởi hệ thống trước đã kéo dài tới 60 năm.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Điều này sẽ ảnh hưởng tới bầu cử nước Mỹ. Theo ông, ai sẽ được hưởng lợi, khôn ngoan để vượt lên giành thắng lợi?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Những thăm dò mới đây cho thấy Obama sẽ là người hưởng lợi. Người ta đánh giá ông có khả năng quản lý kinh tế tốt hơn McCain. Thực ra, TNS Obama chưa bao giờ thể hiện khả năng quản lý kinh tế của ông ấy như thế nào, bởi chỉ mới vào Thượng viện vài năm, lo bầu cử. Nhưng nhìn ông McCain, suốt cuộc đời chính trị, ông ấy thường quan tâm đến đối ngoại, an ninh quốc gia… và chưa bao giờ tham gia việc gì nổi tiếng ở nước Mỹ để người Mỹ thấy ông có quan tâm về kinh tế, dù trước ông có tham gia UB Thương mại Thượng viện, lo về viễn thông.

Hơn nữa, xã hội Mỹ đã chán chường với đảng Cộng hoà, sau những năm của ông Bush. Đây là điểm bất lợi cho McCain. Tại thời điểm này, khủng hoảng kinh tế có lợi cho Obama hơn McCain.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thực tế, cuộc tranh luận đầu tiên, người ta cảm nhận McCain lấn lướt hơn, lấy điểm hơn?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Nhiều cuộc khảo sát nói ngược lại. Thật ra, cá nhân tôi, qua cuộc tranh luận đó, không ai thắng một cách quyết đoán, không ai ghi bàn rõ nét cả. Có lẽ, hai ông vẫn đang thực hiện chiến thuật: không thua thì hy vọng thắng, không tạo lỗi với hy vọng tạo cú hích phía sau. Tình hình chộn rộn quá và không ai muốn có lập trường, chủ trương quá mạnh mẽ có thể gây sốc với cử tri.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo anh, Tổng thống mới của Mỹ có thể giải quyết được những ngổn ngang này trong xã hội Mỹ hay không?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Tổng thống Mỹ có quyền tương đối trong xã hội Mỹ. Quanh ông ấy, có những trung tâm nghiên cứu đặc quyền về đối ngoại: quân sự, ngoại giao, kinh tế. Với nước Mỹ, ai làm Tổng thống cũng không khác nhau lắm về mặt đối ngoại, chỉ khác về mặt đối nội.

Khi bầu cử, hai Đảng đối lập nhau, nhưng khi nắm quyền khi được báo cáo đầy đủ, dù cấp tiến thì họ vẫn trở lại là con người bảo thủ, đặt lợi ích của nước Mỹ lên trên hết. Nhìn cựu Tổng thống Jimmy Carter khi nhậm chức năm 1976, rất cấp tiến, nói chuyện hoà bình, nhưng đến 1979, khi cầm quyền, ông là người tăng ngân sách quân sự lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Rất khó đoán biết kết quả.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chúng ta cũng mong rằng kinh tế, tài chính Mỹ sẽ sớm khôi phục. Theo ông, đến bao giờ? Liệu hết nhiệm kỳ của Tổng thống mới, nước Mỹ có khôi phục lại?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Với quy mô, cường độ của cuộc khủng hoảng này, theo tôi, thời gian phục hồi không nhanh hơn được 4 năm. Ít nhất 1 năm để sắp xếp. Anh đang mới biết bệnh thôi, chưa đụng đáy. Đụng đáy rồi mới hồi phục. Hồi phục rồi mới tập luyện và trở lại đấu trường, làm ăn. Tức là 1 năm để tỉnh táo lại và 2-3 năm để thị trường nhà đất phục hồi. Hiện cung đang vượt cầu rất lớn. Nhà bỏ trống phải thanh lý, giá giảm đến mức để có người mua nhà đó, để cung gặp cầu trên thị trường địa ốc. Sau đó thì TTCK mới hoạt động tốt.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Anh tin rằng Tổng thống mới sẽ lãnh nhiệm vụ này, đi vào lịch sử của nước Mỹ như trước đây?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Thời thế tạo anh hùng, dù Tổng thống là ai. Sẽ có nhân tài xuất hiện khi thời biến, đóng góp cho nước Mỹ. Với nguồn lực nước Mỹ, nước Mỹ sẽ vượt qua.

Chấn động khủng hoảng Mỹ vào VN: sóng thần từ biển vào kênh rạch

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Từ góc độ nước Mỹ, bài học để chúng ta nhìn ra, soi chiếu. Trong bối cảnh như vậy, anh đánh giá VN như thế nào?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Ảnh hưởng tới VN về trực tiếp không lớn. Ví von 1 chút, cơn địa chấn – tsunami này, anh ở biển sẽ chấn động mạnh nhất. Đi qua một con sông, qua rạch tới VN, đương nhiên sẽ tác động ít hơn. Tuy nhiên, nếu ai cũng chấn động, sau này mình có chèo ghe, mang nải chuối đi bán, thì cũng ít có người mua, và có mua cũng trả giá rẻ, vì chợ không đông. Xuất khẩu của VN sẽ ảnh hưởng rõ nét nhất.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo anh, kiều hối về VN có giảm hay không khi mọi người thắt chặt chi tiêu? FDI có vào nhiều như trước nữa hay không?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Kiều hối sẽ không thay đổi nhiều, vì nhìn lịch sử kiều hối mấy chục năm qua, thì thấy kiều hối tăng đều dù đã qua nhiều bấp bênh của Mỹ cũng như của VN. Theo một báo cáo mới đây, kiều hối sẽ vượt ngưỡng 10 tỷ USD/năm, cả gửi tặng, đầu tư và tiền bà con đi làm ăn mang về. Nguồn tiền này, theo tôi, có lẽ sẽ ổn định.

Nguồn FDI sẽ thay đổi lớn vì, trong 2 năm qua, nguồn FDI của VN tăng bất thường, tăng không có cơ sở chính đáng. VN không thể tiệu thụ quá 5 tỷ USD một năm với hạ tầng, môi trường kinh doanh như hiện nay.

Những năm qua, khối tiền tệ đầu tư rất lớn. Từ những thủ thuật bốc giá, bơm giá, móc tiền trong dân ra, những quỹ này quá nhiều tiền, không biết đầu tư đi đâu. Đầu tư có phần trăm, nên người quản lý quỹ đầu tư phải tìm chỗ để đầu tư, càng nhiều, càng nhanh càng tốt. Từ năm 2007 đến nay, VN cho nhà quản lý này một bài rất đẹp: thị trường đang lên, hội nhập WTO, hứa hẹn cải cách… Người quản lý qũy có cớ để lấy tiền đổ vào VN.

Hai năm qua, có những đầu tư không lí giải được. Nếu tiền này của anh thì anh sẽ không đầu tư như thế. Anh không thể đầu tư vào dự án resort 300-500 triệu USD ở một tỉnh thành đã có 15-20 dự án như vậy. Có thể là dự án không thật. Tại sao xảy ra?

Phải hiểu rằng nhiều khoản đầu tư đã được tính từ những năm trước, những năm 2005-2006. VN sau gia nhập WTO, tạo tiền đề mở cổng cho tiền ập vào.

Chỉ trong quý này thôi sẽ thấy có sự điều chỉnh trong FDI vào VN, và có thể sẽ nhỏ giọt xuống dưới 10 tỷ/năm.

Không thể xem FDI là cứu cánh thoát nghèo

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tôi nghĩ quan trọng là cái vốn được bỏ vào được hấp thụ như thế nào và bỏ vào theo hướng nào để tạo ra sức bật cho nền kinh tế, chứ đầu tư theo kiểu tàn phá môi trường, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng, không tạo ra giá trị mới thì sẽ không bền vững?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Bởi vậy trách nhiệm quản lý vĩ mô, chiến lược đầu tư vĩ mô của chính VN mới quan trọng.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chứ không sợ FDI vào nhiều hay ít?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Trong nhiều năm, VN xem FDI là cứu cánh thoát nghèo, nên ai đưa gì mình cũng nhận. Bây giờ mình cần biết mình cần gì, ưu tiên gì, ở đâu, sử dụng như thế nào. Cái đó VN phải chủ động rất cao, không thể để nhà đầu tư chủ động.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chúng ta có hoạch định chiến lược hát triển của chúng ta, để kêu gọi vào chứ không ngồi chờ, có lĩnh vực cần ra ngoài, kêu gọi họ vào, và có những cái ngay cả khi họ mang tiền vào, VN cũng phải lắc đầu từ chối. Tư duy của chúng ta phải chủ động hơn?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: VN cũng cần xét lại tư duy, đầu tư dàn trải để ở đâu cũng có một ít. Không nên như vậy.

Mỗi địa phương có một lợi thế. Ví dụ, anh xây một khu du lịch 5-7 sao ở miền trung, khu vực mà một năm hết 6-7 tháng bão. Lợi nhuận sẽ rất tương đối. Thay vì dàn trải, anh nên tập trung du lịch ở chỗ nào có lợi thế du lịch, làm giàu cho đất nước trên lợi thế đó, dùng khoản lời đó để đầu tư cho những nơi khác, làm chuyện khác mà địa phương có lợi thế hơn. Bài toán đó mình tính rồi, nói nhiều rồi nhưng làm chưa tốt lắm.

Điểm chốt cạnh tranh và hiệu suất của hệ thống

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo anh nhìn nhận, nền kinh tế – xã hội VN trong năm nay thế nào?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Tôi đánh giá là nhà nước ta trong mấy tháng vừa qua đã có những kết quả tích cực.

Trước hết, về mặt tâm lý thị trường đã ngăn chặn được lạm phát, cho người dân có cảm giác là chính phủ có thái độ quyết liệt. Tuy nhiên, vấn đề là tính hiệu suất của môi trường kinh doanh. Tính cạnh tranh trong thời gian 5 năm trở lại đây không được cải thiện cụ thể.

Hình dung nó giống như hộp đen trong vật lý, chúng ta tăng đầu vào nhiều mà đầu ra không tăng thì máy sẽ nóng lên, chính là lạm phát. Tăng vốn, tăng đầu vào nhiều mà hệ thống không kịp xử lý và không có khả năng xử lý, thì hệ thống sẽ nóng.

Kinh tế VN cũng có thể ví như con người, không có gì nhiều để làm có hiệu quả thiết thực, mà được cho ăn nhiều, không tiêu hóa được thì béo phì, tăng huyết áp, chính là lạm phát. Đó là chưa kể các điều kiện khác nội tại khác, sẽ khiến VN phải xử lý cả các bệnh về gan thận, tiểu đường…

Vấn đề trọng tâm là tăng tính cạnh tranh, hiệu suất của hệ thống. Điều tiên quyết để tăng tính cạnh tranh là phải cải thiện môi trường kinh doanh, tạo nội lực bền vững.

Làm nhẹ gánh cho DN dân doanh ra đấu trường quốc tế

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Anh có thể chỉ ra cụ thể hơn nội lực bền vững là gì để đảm bảo sự phát triển?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Lí do môi trường kinh doanh có tính quyết định bởi đó là phần quan trọng nhất trong gói phát triển của nền kinh tế.

Trước đây, tôi còn làm công tác nghiên cứu phát triển kinh tế, có dịp quan sát từ Pakistan, tới Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, tôi và các đồng nghiệp của WB, IFC và cơ quan nghiên cứu quốc tế khác đều đánh giá con người VN năng động. Từ Đổi mới tới nay, DN VN đặc biệt các DN vừa và nhỏ cực kỳ năng động. Phát triển trong hoàn cảnh khó khăn, các DN này vẫn sống, phát triển và làm tương đối tốt.

Bây giờ hội nhập, anh đang chơi trên đấu trường quốc tế rồi, môi trường kinh doanh tốt sẽ làm anh nhẹ gánh, không phải cõng thêm gánh nặng khi ra đấu trường đấu với người khác.

Môi trường kinh doanh bắt đầu từ những cái cụ thể nhất. Nhìn đời sống của doanh nhân hằng ngày, họ làm gì, vướng gì hàng ngày, rồi nỗ lực giải quyết cho họ. Ví dụ, họ ra nhận lô hàng ở cảng, mất bao nhiêu thời gian, chi bao nhiêu tiền, có gặp khó dễ gì không. Nếu là người quản lý kinh tế, mình phải làm sao để hoạt động của DN thuận tiện nhất, tăng hiệu suất, sản xuất tốt nhất, nhanh nhất và tập trung nguồn lực để phát triển.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Hôm 30/9,Thủ tướng đã chỉ đạo phải chú trọng và tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN vừa và nhỏ, DN dân doanh. Anh đánh giá thế nào?

Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương: Tôi nghĩ đó là chủ trương quá đúng đắn, không thể tốt hơn được nữa. Thật ra, từ thời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, mấy năm sau Đổi mới chúng ta đã chú ý tới phát triển thành phần kinh tế tư nhân.

Tôi có may mắn tham gia nhóm nghiên cứu về phát triển thành phần kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới từ những năm đầu tiên của những năm 90s có báo cáo chính phủ. Nhìn lịch sử phát triển của các nước đang phát triển như VN, đầu tàu chính là kinh tế tư nhân. Họ có tính năng động, uyển chuyển và chịu trách nhiệm. Không phải là chịu trách nhiệm trước nhà nước mà chịu trách nhiệm với chính họ. Họ làm trật thì ngay lập tức ngày hôm sau họ đã phải trả giá. Đó là điều mà khu vực kinh tế nhà nước không có. DN dân doanh buộc phải duy trì tính năng động, tính điều chỉnh cần thiết trong hoạt độngkinh doanh.

Trong 10, 15 năm qua thành phần kinh tế tư nhân, DN vừa và nhỏ, đã có những bước phát triển nhất định. Nhưng tôi nghĩ vẫn có thể làm tốt hơn. Tôi rất mừng vì Chính phủ có những biện pháp tốt vậy, và chắc chắn sẽ được DN và cộng đồng thế giới ủng hộ. Cộng đồng thế giới cũng muốn VN làm tốt, phát triển tốt để họ có những bạn hàng, những cơ hội mới.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Cảm ơn bạn đọc VietNamNet đã theo dõi buổi trực tuyến. Trong quá trình trao đổi chúng tôi đã sử dụng rất nhiều ý của các bạn gửi về. Những câu hỏi khác, chúng tôi sẽ chuyển tới tay ông Trần Sĩ Chương.

Đại kế hoạch bô – xít ở Tây Nguyên bị phản đối quyết liệt

24/10/2008 07:55 (GMT + 7)
Mặc dù quy hoạch khổng lồ về khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên đã bắt đầu được triển khai, các nhà khoa học đang phản biện quyết liệt. Một trong những phản biện đó lại chính từ bên trong đơn vị thực hiện.

Trong hai ngày 22 và 23/10 vừa qua, tại tỉnh Đắk Nông đã diễn ra một hội thảo khoa học về quy hoạch ngành khai thác quặng nhôm (bô – xít) ở Tây Nguyên. Mặc dù quy hoạch đã bắt đầu được triển khai, các Phát triển bền vững Tây Nguyên như thế nào?
Từ những năm 80, khi bàn về phát triển thủy điện, trên tạp chí “Năng lượng” chúng tôi đã đề xuất thành lập một Ủy ban quốc gia về phát triển kinh tế Tây Nguyên. Cũng giống như thủy điện, việc phát triển bô – xít rất cần có một ủy ban của Chính phủ chuyên về Tây Nguyên để xử lý những vấn đề vĩ mô: môi trường, sinh thái, dân cư, cộng đồng, an ninh xã hội… Chúng ta không thể trông cậy vào các đối tác nước ngoài như Vedan hay Miwon.
Với số vốn có hạn, chúng ta nên ưu tiên đầu tư cho phát triển cây công nghiệp có giá trị lớn trong kim ngạch xuất khẩu, có hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường cao hơn nhiều so với quặng alumina.
Thủ tướng đã có các quyết định số 168/2001/QÐ-TTg và 304/2005/QÐ-TTg về phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên, về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Đây là những quyết định cần thiết và sáng suốt, nhằm tôn tạo và phát triển các môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, xã hội và nhân văn của Tây Nguyên.
Với 127 tỷ đồng tiền phạt Vedan làm ô nhiễm môi trường (mà chưa chắc đã thu được), chúng ta có thể cải tạo được sông Thị Vải để nàng Kiều dám trẫm mình trong làn nước “xanh như ngọc” của cụ Nguyễn Du.
Nhưng với 127 tỷ đô la Mỹ (không phải tỷ đồng), chúng ta không thể đưa hàng trăm triệu tấn bùn đỏ trên cao nguyên đi chôn cất an toàn vĩnh viễn ở vùng có đá gốc, bằng phẳng, ít mưa như của thế giới, để Tây Nguyên của anh hùng Núp sẽ có hàng triệu khách du lịch đến cưỡi voi bản Đôn, và để các đối tác nước ngoài đến mua cao su, cà phê, chè, hoa, rau, quả của Tây Nguyên được ngủ trong các khách sạn “5 sao 4 không” của Đà Lạt (không điều hòa, không ma túy, không mại dâm, và không cờ bạc).
Cần rút ra các bài học chưa thuộc từ các dự án có yếu tố nước ngoài
Hồ thải bùn đỏ của mỏ khai thác bô – xít ở Ấn Độ
(ảnh: red mud project)
Nếu Tây Nguyên – mái nhà của miền Trung – sẽ bốc cháy vì bùn đỏ (giống như sông Thị Vải đang bốc mùi hôi thối ở Đồng Nai), liệu chúng ta có cách gì để “chữa cháy”.
Hay cũng giống như hôm nay, UBND tỉnh Đồng Nai không thể đóng cửa được Vedan của một chủ tư nhân Đài Loan ngay trên đất của mình? Mùi không chỉ bốc lên từ sông Thị Vải.
Vấn đề “bùn đỏ” của bô – xít hiện đang “cháy” thực sự (mặc dù chỉ trên giấy) trong các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án trên Tây Nguyên.
Nhưng, hy vọng khái niệm Tây Nguyên gắn liền với “đất đỏ bazan” không bị đổi thành “bùn đỏ bô – xít” để các cháu học sinh không phải học lại bài địa lý đã thuộc.

Phát triển bền vững Tây Nguyên là bài toán không khó giải. Chỉ có điều chúng ta có muốn giải hay không? Muốn giải thì phải học thuộc bài, và ai là người giải? Liệu các đối tác nước ngoài (những người rất thuộc bài) đang khát alumina của VN có thật lòng giúp chúng ta giải bài toán “bùn đỏ” này một cách khách quan, trung thực, đầy trách nhiệm như những chuyên gia của COMECON ngày xưa hay không?
Ngày nay, chúng ta may mắn hơn Nguyễn Du, đã hiểu rõ về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hãy nghiêm chỉnh thực hiện các quyết định nêu trên của Thủ tướng, để cùng Chính phủ giữ lại mầu xanh cho Tây Nguyên hùng vĩ, để mộ các anh hùng liệt sỹ của chúng ta còn được lưu lại trên Tây Nguyên dưới bóng mát của cây cao su và cà phê, chứ không phải nằm bên cạnh những bãi bùn đỏ rộng hàng trăm hécta do chính chúng ta (là con, em, và đồng đội của các anh hùng liệt sỹ) tạo ra.
Khuyến nghị đối với dự án bô – xít thử nghiệm
Khai thác bô – xít ở Ấn Độ (ảnh: Gosaliagroup)
Để khắc phục những vấn đề tồn tại và để giải đáp những câu hỏi còn bỏ ngỏ về phát triển bền vững Tây Nguyên, giải pháp duy nhất với dự án bô – xít là triển khai thử nghiệm.
Quy mô thử nghiệm chỉ nên giới hạn dưới 1,5 triệu tấn bô – xít/năm. Địa điểm có thể trên cơ sở khu mỏ bô – xít Gia Nghĩa hoặc tốt nhất là khu mỏ “1 tháng 5” vì khu mỏ này có trữ lượng được phê duyệt tương đối lớn, và có thể đại diện cho bô – xít toàn vùng Tây Nguyên.
Về phương thức thử nghiệm, cần có sự giám sát toàn diện của cộng đồng xã hội thông qua chính quyền địa phương trong việc đưa ra các quyết định và thực hiện cam kết.
Mục tiêu thử nghiệm cần làm rõ những vấn đề khách quan và chủ quan còn bỏ ngỏ của các dự án, những câu hỏi lớn và quan trọng chưa có giải đáp của chủ đầu tư liên quan đến 10 nhóm vấn đề như sau:
1. Vấn đề xã hội: phản ứng của xã hội và cư dân địa phương về các dự án bô – xít như thế nào? Phương án thu hồi đất và đền bù cho dân? Phương án hoàn thổ của chủ đầu tư? Khả năng tạo việc làm cho cư dân tại chỗ? Vấn nạn “bô – xít tặc” trên Tây Nguyên (thuận lợi hơn nhiều so với “than thổ phỉ” ở Quảng Ninh) liệu có xẩy ra? Ngăn chặn thế nào?
2. Vấn đề đa dạng sinh học: thảm thực vật và nguồn động vật sẽ được quản lý như thế nào để tuân thủ Luật đa dạng sinh học đang được Quốc hội thông qua? Khả năng phục hồi thảm thực vật? Cây gì sẽ trồng được sau khi khai thác bô – xít?
Do không đủ điện để chế biến nên Ấn Độ phải xuất quặng thô (ảnh: gosaliagroup)
3. Vấn đề công nghệ: chất lượng bô – xít của VN thích ứng như thế nào để áp dụng qui trình Bayer: độ ổn định của chất lượng, thành phần khoáng chất trong bô – xít của VN tham gia các phản ứng với NaOH có nồng độ khác nhau và ở nhiệt độ khác nhau như thế nào? Công nghệ Bayer phù hợp đến mức độ nào? Thiết bị kỹ thuật của nước ngoài được chế tạo theo tiêu chuẩn nào? Có đạt được các chỉ tiêu và thông số kỹ thuật đề ra? Tiêu hao hoá chất và nguồn cung cấp hoá chất?

4. Vấn đề môi trường: thành phần bùn đỏ? Liệu có chất phóng xạ trong bùn đỏ? Khối lượng và tỷ lệ bùn đỏ? Mức độ độc hại của bùn đỏ? Phương thức chôn cất bùn đỏ an toàn, hiệu quả? Ảnh hưởng của bãi thải bùn đỏ đến môi trường nước ngầm, môi trường không khí? Các bãi chứa bùn đỏ trong điều kiện mưa lũ ở Tây Nguyên cần được thiết kế như thế nào cho phù hợp?
5. Vấn đề sinh thái: các hiện tượng dị thường về khí hậu vốn đang xẩy ra đối với Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung liệu có gia tăng hay giảm bớt do khai thác bô – xít? Khả năng xảy ra các thảm hoạ môi trường ảnh hưởng tới vấn đề sinh thái của toàn vùng? Ảnh hưởng của việc khai thác bô – xít đối với các tỉnh Nam Trung bộ và Campuchia? Các yếu tố thiên nhiên ở Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề bùn đỏ?
6. Vấn đề nước ngọt: tiêu hao nước như thế nào? Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn nước? Bổ sung nguồn nước tự nhiên? Phục hồi nguồn nước tự nhiên?
Hồ chứa bùn đỏ ở Ấn Độ tràn ra sông suối, nguồn nước sinh hoạt của dân làng
(ảnh: picasaweb)
7. Vấn đề kinh tế: vốn đầu tư thực và hiệu quả thực của dự án? Huy động vốn? Khả năng thanh toán nợ nước ngoài? Khả năng cạnh tranh của quặng alumina VN trên thị trường thế giới? Mô hình tổ chức sản xuất “không giống ai” của chủ đầu tư? Mô hình quản lý của chúng ta hiện nay có phù hợp để phát triển một ngành công nghiệp hoàn toàn mới?
8. Vấn đề chính sách: việc chế biến và tuyển quặng bô – xít thành quặng alumina với những chi phí cao, phải trả giá đắt về môi trường sinh thái, có nhiều rủi ro chỉ để xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của các đại gia nước ngoài liệu có phù hợp? Liệu có nên cấm không xuất khẩu quặng alumina? Khả năng xây dựng nhà máy luyện nhôm như thế nào? Khả năng đề nghị nhà nước thay đổi chủ trương, chính sách cho phép xuất khẩu quặng bô – xít không qua chế biến như thế nào?
9. Vấn đề về con người: nguồn nhân lực chắp vá của chủ đầu tư có đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo vận hành an toàn và hiệu quả các dự án trên thực tế? Cần đào tạo như thế nào? Đào tạo lĩnh vực gì, nghề gì, ở đâu?
10. Vấn đề liên quan đến hành vi ứng xử: dự án thử nghiệm sẽ giúp người dân địa phương hiểu rõ thực sự về quan điểm và thái độ của chủ đầu tư, cũng như của các đối tác nước ngoài đến phát triển kinh tế trên địa bàn như thế nào? Ngược lại, dự án thử nghiệm sẽ giúp chính quyền địa phương biết cần phải làm gì để phối hợp phát triển các ngành kinh tế khác, các dịch vụ hậu cần, cũng như các biện pháp phối hợp và hỗ trợ chủ đầu tư.
Kết luận 3 điểm: nhu cầu – hiệu quả – hiểm họa
ảnh 4: Đua voi Tây Nguyên (ảnh: vov)

Việc khai thác bô – xít và chế biến quặng alumina chỉ đáp ứng được nhu cầu cần nhập khẩu của các đại gia nhôm trên thế giới. Nền kinh tế chưa có nhu cầu về quặng bô – xít và alumina vì Việt Nam chưa có thừa điện để luyện nhôm.
Khai thác bô – xít trên Tây Nguyên có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái toàn vùng rộng lớn. Việc sản xuất alumina trên Tây Nguyên chắc chắn sẽ tạo ra các hồ bùn đỏ có nguy cơ bị mưa lũ cuốn trôi tràn ra toàn vùng rộng, gây ra thảm hoạ về môi trường.
Các dự án bô – xít & alumina kém hiệu quả hơn nhiều lần so với dự án cao su và cà phê (với cùng một số tiền vốn bỏ ra), và không giải quyết được vấn đề việc làm cho dân cư địa phương, làm căng thẳng thêm vấn đề hạ tầng cơ sở vốn đã kém phát triển (điện, nước và giao thông vận tải).
Kiến nghị 4 điểm
Thứ nhất, cần sớm đình chỉ các dự án khai thác và chế biến bô – xít qui mô lớn ở trên Tây Nguyên. Cần rà soát lại việc tuân thủ pháp luật của các dự án này. Ngoài việc phải tuân theo luật Đầu tư, các dự án bô – xít cần tuân theo luật Khoáng sản, các dự án alumina cần tuân theo các văn bản pháp qui về hoá chất độc hại. Về nhiều khía cạnh, các dự án bô – xít và alumina trên Tây Nguyên chưa tuân thủ đúng theo luật và các qui định hiện hành.
Thứ hai, chỉ nên triển khai 1 dự án thử nghiệm và trình diễn cụ thể trên thực tế (thay cho các lời hứa hay cam kết trên giấy của các chủ đầu tư) để tìm ra các câu trả lời cho 10 nhóm vấn đề còn bỏ ngỏ nêu trên, để kịp thời rút kinh nghiệm tránh các nguy cơ có thể xẩy ra, và để không lặp lại các sự việc nghiêm trọng như Vedan.
Thứ ba, cần quan tâm và ưu tiên nước ngọt và có các chính sách thoả đáng khác cho việc phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè, điều…) đúng với tiềm năng của Tây Nguyên, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, bù đắp cho danh mục dầu thô sắp cạn của VN.
Thứ tư, cần thành lập “Uỷ ban quốc gia về phát triển kinh tế Tây Nguyên” trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội để chỉ đạo toàn diện việc phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên.
Thay cho lời kết, chúng tôi muốn nhắc lại câu nói của một triết gia: “Phát triển chẳng giống ai là cách tự huỷ hoại mình nhanh nhất”.
* TS. Nguyễn Thành Sơn

Updates
Từ chiến thắng Buôn Ma Thuột nghĩ về địa chiến lược Tây Nguyên 031009
…Cha ông từ xa xưa đã nhận định vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức nếu ai chiếm được Tây Nguyên thì coi như đã làm chủ được Việt Nam và Đông Dương.

Sau này, người Pháp, người Mỹ và thế giới cũng nhận thức được vị trí yết hầu của khu vực này với câu nói nổi tiếng: Đây là “nóc nhà của Đông Dương”. Vùng đất này liền kề ngã ba Đông Dương, cho nên khi chiếm lĩnh được khu vực này thì cũng dễ dàng chiếm lĩnh được toàn bộ Đông Dương.
..Chiến tranh đã lùi xa, hơn 30 năm đất nước có hòa bình nhưng ý nghĩa địa chiến lược, địa chính trị và địa kinh tế của khu vực Tây Nguyên đối với đất nước vẫn nguyên vẹn, không hề thay đổi.
Chính vì vậy, trong suốt hơn 30 năm hòa bình, thống nhất Tổ quốc, các thế lực thù địch vẫn không thôi nhòm ngó và tìm cách kích động, quấy phá ở khu vực này.
Hai cuộc bạo loạn năm 2001 và 2004 đã minh chứng rất rõ về tính chất nhạy cảm và ý nghĩa chiến lược của khu vực này đối với an ninh quốc gia.
Nằm trong vành đai núi lửa Thái Bình Dương nên Tây Nguyên cực kỳ giàu tài nguyên, không chỉ bô-xít mà còn nhiều loại khoáng sản quý hiếm khác.
Vấn đề là trữ lượng của những mỏ này rất ít, nếu khai thác thủ công thì không đủ hoàn vốn, còn khai thác công nghiệp, thì chưa triển khai xong, mỏ đã cạn kiệt. Hoặc trữ lượng lớn như bô xít thì lại phân bố trên địa tầng mỏng, diện rộng nên khi khai thác phải bóc bỏ đi cả một lớp thực vật, ảnh hưởng đến môi sinh

Vietnam bauxite plan opens pit of concern By Duy Hoang 031709

One of Vietnam’s most verdant regions faces severe ecological damage if the government moves ahead with its multi-billion dollar plans to mine and process bauxite. The perceived risk has sparked a rare public outcry in Vietnam’s government-controlled society, with residents, scientists, state media, bloggers and even military officers lodging
vocal protests.

Though apparently not coordinated, their collective dissent is part of a budding Vietnamese environmental movement, notable for challenging the state’s traditionally unquestioned authority in implementing large-scale economic development projects.

In recent months, a number of local scientists have written thoroughly researched articles, some published in state-controlled
media, exposing weaknesses in the government’s mining plans. A state-sanctioned domestic news site, vietnamweek.net, has been at the forefront of probing the issue, while bloggers have provided even more critical analysis.

Prime Minister Nguyen Tan Dung has called bauxite exploitation “a major policy of the party and the state”, and he has approved several big mining projects for the country’s central highlands. The government’s master plan calls for investments of around US$15 billion by 2025 to tap Vietnam’s rich bauxite reserves, estimated to be the third-largest in the world.

Over the past decade, Vietnam’s rise as an agricultural exporter has come in large part from increased cultivation of coffee and other cash crops in the central highland’s fertile plateau. It is an area of stunning beauty with rich eco-tourism potential. Thus many Vietnamese question the economic rationale and environmental wisdom of converting what is already an economically productive area into an open pit mine.

Bauxite is converted through a toxic process to alumina, the raw material for making aluminum. Known by environmentalists as “red sludge”, the waste product, if not properly managed, can contaminate water supplies and choke off vegetation. For every ton of alumina produced, three tons of red sludge is given off, according to international experts.

Australia, a world leader in aluminum production, addresses the problem by disposing of its red sludge in remote outback areas with little rainfall, thus mitigating the risk of waterway contamination. Vietnam, which has a comparatively wet climate and is densely populated, does not have the luxury of vast tracts of unused land.

Nor is the country recognized for its expertise in managing hazardous industrial waste. Vietnam’s emerging environmental movement fears the toxic residue from processing bauxite could run off into rivers that flow into heavily populated areas, including the Mekong Delta in the country’s southern region.

To be commercially viable, bauxite processing usually requires access to cheap electricity. Because Vietnam faces mounting power shortages, the economics of bauxite mining and its low-margin exports are in doubt and will likely require heavy state subsidies just to cover costs.

The government has already announced plans to build a dedicated rail line to transport the produced alumina 250 kilometers to the Pacific coast. There a yet-to-be-built port will be installed to serve exclusively the bauxite projects.

Those plans, too, have underscored environmental concerns that the government’s alumina export plans are an ill-begotten scheme devised simply for the sake of state-led industrialization. Other critics have questioned whether officials close to Prime Minister Dung and Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai have personal stakes in the big-ticket ventures.

China factor
There is also a touchy strategic dimension to the ventures. Chinese interest and cooperation in Vietnam’s bauxite industry was established through a joint statement issued after a meeting last June between Communist Party secretary general Nong Duc Manh and China’s President Hu Jintao. In subsequent agreements between the Aluminum Corporation of China Ltd and state-owned Vietnam Coal and Mining Industry Group, it has become clear that China will be the primary market for Vietnamese alumina exports.

As part of those arrangements, thousands of Chinese workers are to be stationed permanently in Vietnam to assist in the production, according to local Vietnamese authorities. According to a recent fact-finding trip in Lam Dong province organized by the pro-democracy Viet Tan party, Chinese guest workers are appearing in growing numbers in the central highlands. Pictures obtained by Viet Tan show rows of newly constructed housing for Chinese workers and roadside restaurants with signs in the Chinese language.

Vietnamese bloggers, many critical of China’s encroachment on the Paracel and Spratly Islands and perceptions that Beijing bullied Hanoi into accepting an inequitable border treaty this year, have questioned why Chinese guest workers are required in a country with a labor surplus and growing unemployment.

Bloggers have also expressed concerns that undercover Chinese military and intelligence agents could mix in with the workers. Vo Nguyen Giap, the famed communist military leader and later sometimes government critic, sounded the same alarm about the potential strategic threat of unregulated Chinese workers in an open letter in January to communist party’s politburo.

The 97-year-old Giap referred to the central highlands as the strategic gateway to Vietnam, where previous wars have been won and lost through gaining control of the region’s high ground. A month after Giap’s warning, which only one newspaper in Vietnam was willing to publish, a second retired general issued a similar letter calling on the party leadership to reconsider allowing a permanent Chinese presence in the middle of the country.

Most of Vietnam’s ethnic minorities live in the central highlands and they are the people likely to bear the environmental brunt of the government’s bauxite scheme. They risk losing their lands with little or no compensation and subsequent exposure to mismanaged industrial waste.

Nor is it clear that the jobs created by bauxite production, even if they went to local Vietnamese rather than imported Chinese workers, would be enough to replace those lost with the forced elimination of pre-existing coffee, tea and cashew fields. It’s from these ill-conceived government plans that Vietnam’s grassroots environmental movement and calls for more sustainable development are being heard.

Duy Hoang is a US-based leader of Viet Tan, an unsanctioned pro-democracy political party active in Vietnam.

Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề – TT Võ Văn Kiệt

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 1:50 am
Tags:

TT

” Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa – trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo”

Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng sau những bão lụt – thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa – trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo. Cam kết lịch sử Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để xóa đói giảm nghèo. Tỉ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày), đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 14,7% năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của VN. Nhưng những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước và chúng ta hiểu khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể. Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo trước đó đã “100% ngói hóa”. Mặt khác, dù phần lớn dân chúng đã “thoát nghèo” nhưng chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có lại gần như bị xóa sạch. Tôi vừa đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy người nghèo đang chiếm một tỉ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao. Chăm lo cho người nghèo hiện nay không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo. Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của giai cấp công nhân. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài. Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi. Khi đó chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài. Đầu tư phát triển, một mặt không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc… không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ. Từ thiện không thể thay chính sách Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ các nhà lý luận rất cần tham khảo. Kinh nghiệm sau hơn hai thập niên đổi mới cho thấy không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể cào bằng bằng cách điều tiết hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng. Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình “tích lũy tư bản” diễn ra như thời “hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững. Có lẽ chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ là đã quá đủ. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy chúng ta đã thật sự làm được những gì: nhóm 20% những người giàu nhất ở VN hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; trong khi nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này. Gần như thường xuyên chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá… được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do Ủy ban T.Ư MTTQ VN tổ chức. Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ công việc ấy để các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều. Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo. Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu “đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có tạo được những nền tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ. Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của Nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy lớn hơn là việc quyên góp, xin – cho rất nhiều. Mặt trận có thể tham gia xóa đói giảm nghèo một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất. Đầu tư của Nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa… không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia. Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quĩ trợ cấp, tín dụng giáo dục… cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn. Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo, nhưng phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo. VÕ VĂN KIỆT VN: chênh lệch giàu nghèo 34,4 lần 10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập và chi tiêu quốc gia. 10% giàu nhất chiếm 28,8% thu nhập và chi tiêu quốc gia. 20% dân số nghèo nhất chiếm 9% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia. 20% dân số giàu nhất chiếm 44,3% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia. Chênh lệch giữa 10% dân số giàu nhất với 10% dân số nghèo nhất là 6,9 lần, còn theo chỉ số Gini (chỉ số chênh lệch giàu nghèo) ở VN là 34,4 lần. (Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2007-2008 của UNDP) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=252302&ChannelID=3

RFA phỏng vấn THTNDC

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 1:46 am
Tags:

Vì sao thanh niên Việt Nam cần quan tâm và tham gia các hoạt động chính trị? Cổ võ dân chủ là một con đường đầy chông gai, thử thách, làm thế nào để kêu gọi sự lưu tâm của thanh niên nhiều hơn đối với việc này? Đây là nội dung chính của buổi trao đổi tiếp theo với Hoàng Lan, Quốc Minh, Kế Vũ đang du học ở Pháp, và Trang Nhung, đã về nước sau một thời gian làm việc cho hãng Avassy tại Nhật. Trang Nhung: Quan tâm tới chính trị xã hội là một cách thiết thực để góp phần xây dựng đất nước. Các hướng đóng góp khác như là tham gia vào lãnh vực kinh tế hay là giáo dục chẳng hạn đều là những đóng góp thiết thực. Song, trong hiện trang Việt Nam chưa có dân chủ thì những đóng góp trong những mặt khác đều có thể không giành được kết quả xứng đáng bởi vì vấn đề về quy chế. Do đó đóng góp vào lãnh vực chính trị đem lại hiệu quả thiết thực hơn cả. Trà Mi: Nhưng cổ võ dân chủ trong tình hình Việt Nam hiện nay không phải là một việc làm dễ dàng. Có nhiều người đặt ra câu hỏi là như vậy thì khi làm những công việc dân chủ, dấn thân vào con đường chính trị mang lại ích lợi gì cho bản thân hay là chỉ rước họa vào thân mà thôi? Quốc Minh: Như là bản thân của Quốc Minh, sau khi tham gia hoạt động thì Quốc Minh có thể tự cải thiện được khả năng nói chuyện của mình với các bạn, cảm thấy tự tin hơn khi nói chuỵên với những người đối diện với mình, mình học hỏi được nhiều kiến thức chung quanh, và nhận biết được nhiều hơn. Cái đó không những đóng góp cho xã hội mà khi mình rèn luyện bản thân như vậy thì không những cho hoạt động chính trị mà cho ngay cả công việc hàng ngày của mình mà mình đi làm, mà mình còn thuyết phục ai đó, thì sẽ giúp đỡ được cho mình rất là nhiều. Hoàng Lan: Với những bạn mà suy nghĩ rằng chính trị là chuyện xa vời, không có ảnh hưởng gì đến mình thì Lan muốn nhắn nhủ bạn là thực ra chính trị là một cái điều gì đó gần gũi với đời sống của mỗi người hơn là các bạn tưởng. Nói ví dụ chuyện lạm phát ở Việt Nam hiện nay tác động lên đời sống của nhân dân Việt Nam thế nào thì mọi người cũng đều thấy rõ. Cái vấn đề giáo dục như thế nào thì mọi người cũng đã thấy rồi. Để giải quyết được những vấn đề đó thì cần phải có một giải pháp chính trị cho Việt Nam. Tâm lý người bình thường cũng đều là muốn mình có một đời sống, một cuộc sống yên bình, nhưng khi mà đất nước ở trong tình trạng có những vấn nạn quốc gia như là tham nhũng, yếu kém như hiện nay, trên mọi mặt đều có vấn đề cả. Vấn đề không còn là mình thích hay mình không thích làm nữa mà đây là cái vấn đề mỗi thanh niên, rường cột tương lai của đất nước, mỗi người cần có cái trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vấn đề quốc gia. Nếu như mỗi bạn trong điều kiện của mình không có thể tham gia làm việc trong tổ chức để mà hoạt động chính trị lâu dài được thì các bạn cũng cần có một thái độ chính trị đúng đắn. Khi Lan nói chuyện với nhiều bạn, nhiều bạn rất là đồng thuận trong vấn đề là những nhà lãnh đạo ở Việt Nam nếu họ không có đủ sức đề làm được thì tại sao không mở cái cơ chế ra để cho những người tài giỏi ở hải ngoại cũng như là những tiến sĩ, thạc sĩ du học cùng nhau giải quyết những vấn nạn quốc gia. Cái thiết thực nhất chúng ta có thể làm, đó là vận động cho cuộc bầu cử tự do công bằng, trong đó người dân được bầu ra người thật sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, bầu lên một quốc hội đa đảng, để từ đó làm ra hiến pháp mới, làm nên những chính sách cần thiết để giải quyết những vấn đề của Việt Nam hiện nay. Trà Mi: Quan tâm tới chính trị hoặc là quan tâm tới tình hình đất nước thì có nhiều cách, trong đó có cách gọi là truyền thống an toàn nhứt hiện nay là đi vào con đường của đoàn, rồi tiếp tục phấn đấu vào đảng, cũng là một cách tham gia chính trị, thế thì tại sao phải đi theo con đường cổ võ dân chủ là một con đường đầy chông gai và nhiều thử thách? Nếu mà có bạn trẻ nào đặt ra với các bạn câu hỏi này thì các bạn sẽ trả lời như thế nào? Hoàng Lan: Thì Lan sẽ hỏi các bạn là cái vấn đề chính của đất nước mình hiện giờ là ở đâu. Mọi người đều thấy đó là vấn nạn tham nhũng và sự thiếu năng lực của bộ máy hành chính. Sự tham nhũng xảy ra là bởi vì không có cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực. Những người lãnh đạo hiện nay không do dân bầu ra. Thì bây giờ vấn nạn tham nhũng chỉ có thể giải quyết được khi mà có cơ chế dân chủ, tức là có tam quyền phân lập và có bầu cử tự do công bằng để mọi người dân thực sự bầu lên những người đại diện cho nhân dân. Những người tham gia vào đoàn, vào đảng hiện nay, theo như Lan được biết, thì rất là ít người tham gia vì lý tưởng, vì mọi người đều thấy là tham gia vào trong đảng thì có rất là nhiều quyền lợi hơn người khác. Người dân đã mất niềm tin rồi thì bây giờ hãy để nhân dân là người bầu lên người lãnh đạo đất nước. Dân chủ là công nhận mọi quan điểm khác biệt ở trong xã hội. Đó là cách duy nhất để đoàn kết và từ sự đoàn kết đó chúng ta mới có thể thúc đẩy nội lực của Việt Nam. Trà Mi: Các bạn đã có những hoạt động cụ thể để mà quan tâm tới tình hình ở Việt Nam, các bạn cũng có ấp ủ những niềm tin về dân chủ, về thay đổi chính trị cho Việt Nam, thì các bạn có những vui buồn, khó khăn như thế nào khi tham gia những công việc như vậy? Trang Nhung: Đối với các thành viên ở trong nước thì cái khó khăn thứ nhất là không dễ dàng gì được gia đình ủng hộ, còn điều tích cực khác là làm được những gì theo đúng lý tưởng của mình. Hơn nữa, khi mà tham gia vào tổ chức có nhiều thứ mình có thể học được, đó là tạo được cho mình một ý chí, một bản lĩnh vững vàng, có được các mối quan hệ xã hội và học được rất nhiều kiến thức về các lãnh vực của đời sống. Trà Mi: Các bạn du sinh thì sao? Khi tham gia vào công cuộc kêu gọi cởi mở chính trị hoặc là cổ võ dân chủ cho Việt Nam, thì các bạn có những khó khăn nào không? Có gặp những trở ngại hoặc những vui buồn nào mà các bạn muốn chia sẻ? Kế Vũ: Kế Vũ muốn chia sẻ những vấn đề mà chung quanh em thấy rồi. Một khi mình đang nói chuyện chính trị với các bạn du sinh thì có một số bạn tỏ ra lo ngại về việc làm giấy tờ với chính quyền ở Việt Nam. Các bạn sợ là một khi các bạn tham gia một tổ chức chính trị như vậy, mực dù các bạn quyết định đây là con đường đúng đắn, nhưng các bạn vẫn sợ sự cản trở của chính quyền. Liệu các bạn có về Việt Nam chỉ để du lịch được hay không? Và vấn đề nữa là vấn đề gia đình của các bạn. Nhiều khi các bạn cũng muốn, nhưng gia đình các bạn không ủng hộ, hoặc là có ủng hộ nhưng cũng ngại chính quyền địa phương đặt ra những rào cản giấy tờ của mình cho nên nó ảnh hưởng tới sự hạn chế việc các bạn tham gia vào những hoạt động tích cực như vậy. Trà Mi: Đó là những mối quan tâm rất thực tế. Các bạn đã là những người đi trước đã tham gia vào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ rồi thì các bạn có câu trả lời nào “gỡ rối tơ lòng” cho những người đang quan ngại như vậy không? Kế Vũ: Cũng không có gì ngoài hai chữ “vững tin”. Vấn đề đó có thể có nhưng mà mình sẽ vượt qua. Trà Mi : Các bạn không sợ là sau khi tốt nghiệp về nước thì bạn sẽ gặp khó khăn trong việc kiếm công ăn việc làm ổn định, rồi khó khăn có được một cuộc sống bình yên? Kế Vũ: Vấn đề này thì mình phải xác định tư tưởng từ trước rồi và nghĩ là việc làm của mình là đúng. Mình vẫn bước đi trên con đường đó. Hoàng Lan: Lan cũng chia sẻ ý kiến với Kế Vũ, đó là một khi mình đã tin tưởng vào những gì mình làm là đúng, và nhất là đối với tình trạng của Việt Nam hiện nay thì những bạn trẻ mà có lý tưởng cho đất nước đều cảm thấy là nếu mình không thể làm cái điều gì đó cho Việt Nam tốt đẹp hơn thì mình sẽ cũng không thể sống cuộc sống thanh thản cho chính bản thân mình được. Chính niềm tin của mình cho một tương lai tốt đẹp hơn của đất nước đã tiếp cho mình sức mạnh nhiều hơn rất là nhiều. Nếu mỗi người trong chúng ta không cố gắng, nhất là thế hệ thanh niên mỗi người không hy sinh một chút riêng tư cá nhân của mình để mà lo việc chung thì sẽ không ai làm thay cho mình cả. Và Lan muốn sau này về Việt Nam, nên Lan nghĩ là nếu mình không thể làm một điều gì đó cho đất nước thì cuộc sống của mình sẽ mất đi nhiều ý nghĩa. Trà Mi: Nhưng mà bạn có nghĩ là khi mà về nước thì bạn có cách nào để giải thích cho những người có cái nhìn ngược lại hiểu được cái lý tưởng của mình là vì mục đích tốt đẹp cho đất nước, cho quê hương? Hoàng Lan: Lan nghĩ là những người có ý kiến khác biệt với mình thì mình hãy nhìn họ với lòng bao dung. Từ cái thiện chí đó của mình thì có thể đối thoại với nhau được. Chứ nếu bây giờ cả hai bên đến với nhau bằng thành kiến thì rất là khó. Trà Mi: Nhưng mà có quan niệm cho rằng những thành phần dân chủ là những thành phần muốn “diễn tiến hoà bình”, là những thành phần phản động, theo khái niệm của Việt Nam. Nếu mà có nhiều bạn trẻ ở Việt Nam nhìn các bạn như vậy thì bạn sẽ giải thích như thế nào? Hoàng Lan: Mình cũng chia sẻ với các bạn những bức xúc về tình hình đất nước một cách rất là ôn hoà, ví dụ như Tập Hợp chỉ yêu câu là tiếng nói cuối cùng của người dân là bầu cử tự do công bằng chứ không thể có một nhóm người nào, một đảng phái nào tự cho mình cái quyền là nói thay cho 84 triệu dân, thì Lan thấy là bây giờ cái tư tưởng đó của Tập Hợp được chia sẻ bởi rất nhiều bạn trẻ, ngay cả khi các bạn đó vẫn còn mơ hồ và chưa hoàn toàn ủng hộ dân chủ. Trà Mi: Trong những cuộc tiếp xúc mà Trà mi đã có được với các bạn trẻ trong nước thì nhiều người nêu ra ý kiến như thế này là muốn đất nước phát triển, muốn đóng góp cho đất nước thì có nhiều cách, thì bây giờ đất nước đang phát triển đó mà tại sao mình không đóng góp cho sự phát triển đó thêm vững mạnh mà mình phải tìm con đường phát triển khác bằng con đường dân chủ? Trang Nhung: Nếu các bạn nào có quan niệm như thế thì Lan có thể giải thích là một đất nước vừa chuyển biến như Việt Nam thì phát triển là điều tất yếu, vấn đề là phát triển ở mức độ như thế nào và tốc độ như thế nào thì xu hướng dân chủ là xu hướng tất yếu. Nếu như không có dân chủ, một đất nước phát triển chỉ ở một mức độ không phải hiệu quả nhất. Chỉ ở thể chế dân chủ thì mọi yếu tố cho sự phát triển ổn định mới có thể được đảm bảo thật sự. Hoàng Lan: Chỉ có thể chế dân chủ mới giải phóng tiềm năng nước Việt Nam và dân tộc. Có thể chế dân chủ thì Việt nam sẽ còn phát triển hơn nữa chứ không phải chỉ dừng lại ở cái sự phát triển không bền vững như bây giờ. Trong cái thể chế độc đảng, tham những, độc tài như hiện nay thì sẽ rất là khó cho những người trí thức, những người cần môi trường tự do để mà sáng tạo, để mà làm việc, thì sẽ rất khó thu hút họ về. Đó là lý do vì sao chúng ta cần mở cơ chế ra để từ đó những người có tài có tâm mới có thể đóng góp sức mình vào được nhiều hơn, thì khi đó nền kinh tế và xã hội Việt Nam mới phát triển hơn nữa. Trà Mi: Cái thể chế dân chủ mà các bạn đang cổ võ, các bạn đang mong muốn Việt Nam đạt được thì nó phải như thế nào, mang tính chất như thế nào? Có những đặc điểm gì? Trang Nhung: Phải đảm bảo được các quyền căn bản của con người, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do ứng cử, tự do bầu cử, tự do lập hội, tự do lập đảng, như thế thì mọi tiềm năng của con người mới được phát huy triệt để. Trà Mi: Để Việt Nam có được thể chế dân chủ như các bạn mong muốn thì vai trò của người thanh niên Việt Nam cần phải làm gì, có thể làm gì? Kế Vũ: Mỗi bản thân của một người bây giờ nên có sử dụng hai từ gọi là “dấn thân” và mở rộng mình ra và tìm hiểu về những vấn đề dân chủ để mình có những kiến thức cơ bản, hiểu rõ bản chất của vấn đề là gì, cùng nhau cùng xây dựng với một tính chất tích cực hơn, chứ không hẳn là chỉ nghe về một phía. Trà Mi: Làm thế nào để các bạn có thể thu hút các bạn trẻ ở Việt Nam biết đến Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ nhiều hơn, rồi lôi cuốn sự tham gia của giới trẻ trong nước nhiều hơn nữa? Các bạn tiếp cận với giới trẻ trong nước bằng cách nào? Kế Vũ: Mỗi người Việt Nam luôn yêu nước mình, chỉ có điều là bây giờ họ chưa nhận ra hoặc là họ còn có những e dè của riêng mình và khi mà họ được khơi dậy cái lòng tự hào dân tộc thì em nghĩ việc tiếp cận với Tập Hợp như lôi kéo thành viên vào Tập Hợp sẽ trở nên dễ dàng hơn. Hoàng Lan: Lan muốn nhắn gửi các bạn trẻ nói chung có liên quan tới nhiều sự việc rất gần đây, đó là chuyện Trung Quốc thiết lập quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, và sự kiện gần đây nhất là ngày 19-4-2008 khi mà thanh niên Việt Nam yêu nước muốn lên tiếng về sự việc đó thì bị ngăn cản và thành phố Sài Gòn chỉ còn dành cho lá cờ Trung Quốc, thì Lan cũng như rất nhiều bạn bè khác dù là có chia sẻ lý tưởng dân chủ hay không thì đều cảm thấy rất là tủi nhục trước hình ảnh đó và rất là bất bình. Thì Lan muốn nhân dip này nhắn nhủ với các bạn là những gì chúng ta có thể làm được cho đất nước nhiều hơn là những cuộc biểu tình hoặc là việc lên tiếng mỗi người chúng ta có thể chủ động hơn một chút trong việc phát triển nội lực của Việt Nam. Bởi vì chỉ khi Việt Nam trở thành một nước có tiềm năng về kinh tế, vấn đề quan sự mạnh mẽ hơn, thì khi đó những nước khác mới không thể xem thường chúng ta và có những hành động rất là ngang ngược về mặt ngoại giao với chúng ta như vậy. Trên đây là buổi giao lưu với các bạn trẻ trong Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ, một tổ chức chính trị độc lập đầu tiên của thanh niên thế hệ hậu 1975, do cựu du sinh Nguyễn Tiến Trung thành lập tại Pháp. Trong hai năm qua, Tập Hợp đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm kêu gọi và ủng hộ dân chủ cho Việt Nam. Và nhân tiện đây Trà Mi cũng xin được giới thiệu cuốn “Cẩm nang dành cho blogger và người bất đồng chính kiến trên mạng” do Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới soạn thảo, được các bạn trong Tập Hợp chuyển ngữ, với mong muốn phổ biến cho giới blogger thêm công cụ bảo vệ quyền tự do bày tỏ quan điểm. Nội dung cuốn cẩm nang có đăng trên trang web của RFA để quý vị và các bạn tiện tham khảo.

VIỆT NAM ĐỒNG ĐANG Ở ĐÂU VÀ SẼ ĐI VỀ ĐÂU

Những số liệu được công bố cho biết trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tăng trưởng GDP của Việt Nam là 27% (tạo ra thêm khoảng 434 ngàn tỷ đồng giá trị sản phẩm quốc nội) nhưng lượng cung tiền lại tăng tới 135%. Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. Nếu lượng tiền đó được lưu thông hết vào thị trường thì sẽ tạo ra khả năng lạm phát lên đến 80% trong quãng thời gian này.

Thế nhưng con số lạm phát danh nghĩa từ 2005 đến 2007 đã được công bố là 27,6% (2005: 8,4%, 2006: 6,6%, 2007: 12,6%), như vậy mức độ lạm phát thêm 52,4% nữa sẽ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào từ đầu năm 2008 trở đi. Nếu loại trừ các yếu tố lạm phát không do tiền tệ (giá đầu vào tăng, kỳ vọng của người dân, v.v..) trong con số 27,6% nêu trên thì mức độ lạm phát tiềm tàng còn cao hơn 52,4% nhiều. Con số này chưa xảy ra vào cuối năm 2007 nghĩa là có trên 600 ngàn tỷ đồng (tương đương 52,4% GDP của năm 2007) đã được phát hành nhưng đang bị ghim giữ bởi một số cá nhân và tổ chức nào đó chưa đẩy cho lưu thông vào thị trường.

Tiền đồng đang ở đâu?

Người dân Việt Nam không có thói quen giữ tiền đồng làm dự trữ an toàn, trong tình hình lạm phát tăng nhanh thì biện pháp này lại càng không được lựa chọn. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì luôn trong tình trạng cần vốn, phải đi vay. Các ngân hàng thương mại không có lý do gì cầm giữ một lượng tiền đồng lớn mà không cho vay ra để phải gánh chịu lãi suất huy động trừ các khoản dự trữ bắt buộc. Khả năng duy nhất là một lượng lớn tiền đồng đang bị ghim giữ bởi các quỹ đầu cơ (hedge fund) buôn chứng khoán tại Việt Nam.

Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO. Vậy là đã hội đủ các yếu tố cần để tạo thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử sừng mềm – cách gọi của Thomas Friedman dành cho các quỹ đầu cơ tài chính trong thời đại toàn cầu hóa – tấn công trục lợi nhanh tại Việt Nam. Các hedge fund mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹ với lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.

Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ) vào thị trường chứng khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từ nguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân. Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần, nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.

Khi mọi người đã đạt đến cơn say ghim giữ cổ phiếu bởi giấc mộng làm giàu nhanh thì tai họa ập xuống. Nhưng tai họa không chỉ đến một lần. Mỗi khi các cổ phiếu được đầu cơ bị bán ra ồ ạt để thu lợi, chỉ số chứng khoán sụt giảm thì ngay sau đó sẽ xuất hiện những thông tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài và được tuyên truyền quá nhiệt tình bởi các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Người dân lại được hâm nóng bằng những hy vọng mới, bầy thú tiếp tục nhồi tiền làm mồi nhử, cổ phiếu lại lên giá, dân lại hồ hởi mua vào. Cái vòng xoáy hút – nhồi ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt năm ngoái đến nay. Tiền trong dân tuôn ra ngày càng nhiều, guồng máy hút – nhồi này lại càng tăng công suất, các ngân hàng trong nước càng nhiều nguy cơ.

Kết quả cuối cùng như thế nào thì giờ đây ai cũng thấy, nhưng thật đáng tiếc là chính phủ vẫn không chịu nhìn thấy, vẫn tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ cơ hội để ra những quyết sách tiếp tay cho bầy thú điện tử. Tổng công ty SCIC dễ dàng tuôn ra 5 ngàn tỷ đồng để gọi là “cứu” chứng khoán nhưng thực tế là giúp cho những con thú điện tử bán ra những cổ phiếu sắp chết để mua vào những cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, chuẩn bị cho một sự thâu tóm.

Còn nhớ vào đầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi bầy thú để đầu cơ trục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượng tiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực. Là một cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều các công ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIC hoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho nó phát triển lành mạnh. Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng động xông vào “cứu” chứng khoán vừa rồi.

Giờ đây, khi mà hàng triệu người đã trở về với “cái máng lợn” thì những con thú điện tử sừng ngắn đã tích lũy được những khoản lời kếch xù, ít thì cũng bằng số vốn bỏ vào, nhiều phải đến một vốn bốn lời. Ngược lại, giá trị tài sản của SCIC đã bốc hơi đến vài chục ngàn tỷ đồng, thế nhưng họ vẫn đang tiếp tục “ôm” vào những cổ phiếu sắp chết. Hiện nay các chỉ số chứng khoán đã lùi về thấp hơn mức trước khi bầy thú tham gia vào thị trường, điều này đồng nghĩa với mấy trăm ngàn tỷ đồng không tự mất đi mà chỉ được dịch chuyển từ túi người dân và túi nhà nước vào túi bầy thú.

Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dân đang dần cạn kiệt. Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch. Sau giai đoạn chứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá. Đồng tiền quốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn.

Tiền đồng đi về đâu?

Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài tăng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồng vượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ. Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trong nước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dàng hút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát. Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô trách nhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngược lại như thực tế đã diễn ra.

Áp dụng cách thức này trong lúc các điều kiện cần để tạo ra thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử đầu cơ đã hội tụ, chính là đưa đến điều kiện đủ cho một cuộc tấn công lũng đoạn có thể bắt đầu. Có nhiều chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước đã không tích cực hút tiền về nên làm lạm phát mạnh, nhưng cần hiểu là không thể thực hiện được điều đó khi mà chính ngân hàng Nhà nước đã tự đặt mình vào bẫy, để quyền điều tiết tiền đồng cho bầy thú kiểm soát.

Luồng vốn đầu tư gián tiếp tập kích ồ ạt vào chứng khoán nhưng hầu như chẳng được đưa vào đầu tư thực sự, nó chạy lòng vòng từ người này qua người khác theo cái vòng xoáy hút – nhồi để cuối cùng quay trở lại túi của bầy thú với trị giá được nhân lên nhiều lần. Các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn xong lại tiếp tục đổ vào chứng khoán, chẳng có bao nhiêu tiền từ nguồn này được đưa vào đầu tư mở rộng kinh doanh tạo thêm sản phẩm cho xã hội.

Rất nhiều các lãnh đạo doanh nghiệp niêm yết vô trách nhiệm còn tiếp tay cho bầy thú điện tử lừa cổ đông để cùng hưởng lợi. Một tỷ lệ nhỏ tiền văng khỏi vòng xoáy của bầy thú, vào túi những kẻ tiếp tay. Số vốn này cuối cùng được đầu cơ vào bất động sản hoặc được cất giữ an toàn tại ngân hàng nước ngoài. Còn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2007 chỉ thực hiện được một phần tư so với đăng ký do những rào cản hành chính, yếu kém hạ tầng và thiếu thốn nguồn nhân lực được đào tạo. Triển khai đầu tư chậm, dòng vốn lưu thông ì ạch thì tiền đâu mà ngân hàng Nhà nước hút vào.

An sinh của gần 86 triệu dân hiện nay đang phụ thuộc hoàn toàn vào sự rộng lượng của “những con sói”. Nếu vài trăm ngàn tỷ đồng đang bị ghim giữ được tung ra đổi thành đô-la Mỹ thì lạm phát sẽ đẩy người dân đến thảm họa. Lượng đô-la này nếu bị đảo chiều – chuyển ra khỏi Việt Nam – thì toàn bộ dự trữ ngoại hối của quốc gia sẽ bốc hơi trong tích tắc nhưng cũng chỉ là muối bỏ bể trước sự thâm hụt cán cân thanh toán và thương mại quốc tế trầm trọng. Một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất không thua gì vụ giá–lương–tiền hồi giữa thập niên 80 của thế kỷ trước sẽ nổ ra ngay sau đó. Tiền đồng – VND sẽ mất giá và rơi tự do.

Ngay đầu năm 2008, rất nhiều các chuyên gia và tổ chức nước ngoài đệ trình lên chính phủ các giải pháp nâng giá tiền đồng so với đô-la Mỹ, thắt chặt tiền tệ, gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các giải pháp này lẽ ra đã phải được khuyến nghị để thực hiện từ giữa 2006 nhằm chống nguy cơ tấn công của bầy thú điện tử trước khi gia nhập WTO, giảm tăng trưởng ảo của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát để kéo dần lãi suất ngân hàng xuống nhằm thúc đẩy đầu tư cho sản xuất kinh doanh thực thụ, nhờ đó nền kinh tế sẽ được tăng trưởng dần theo hướng có chất lượng bền vững.

Thật tiếc rằng các giải pháp vĩ mô trong 2006 – 2007 đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, các nguy cơ không những không được tháo gỡ mà còn bị làm cho trầm trọng hơn. Chiến lược tăng trưởng nhờ thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng xuất khẩu đã ngăn cản việc nâng giá tiền đồng hợp lý nhằm gia tăng sức mua và nhu cầu nội địa – tức là gia tăng mức sống của người dân, một yếu tố quan trọng để tăng trưởng bền vững.

Việc duy trì tiền đồng yếu trong lúc đô-la Mỹ mất giá trung bình khoảng 20% so với các ngoại tệ khác trên thế giới chỉ tạo ra những sức hút ngắn hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác lợi thế giá rẻ nhờ bảo hộ tỷ giá của nhà nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh nhưng đa số là nhập khẩu nhanh những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam rồi khai thác nhân công giá rẻ, nguyên liệu rẻ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi lớn, lợi kép nhờ tỷ giá. Những khoản lợi nhuận này được để bên ngoài Việt Nam bằng cách khai tăng giá nhập thiết bị và vật tư phục vụ xuất khẩu (thuế suất nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp). Giá trị còn lại trong nước chỉ là tiền công và nguyên liệu rẻ mạt, đi kèm với môi trường bị hủy hoại do công nghệ lạc hậu, và sự suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Đã có những cảnh báo về các nguy cơ rối loạn kinh tế lẫn xã hội nếu luồng vốn ngoại không cân đối làm suy yếu nội lực trong nước. Nhưng sự tuyên truyền ầm vang không mệt mỏi của các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư nước ngoài, tô hồng viễn cảnh sáng sủa của nền kinh tế đã át hẳn những tiếng nói có trách nhiệm. Dân chúng tránh sao được sự ảo tưởng và rơi vào vòng xoáy ma lực. Nhiều đề xuất, khuyến nghị chính phủ cần xem xét lại chính sách thúc đẩy xuất khẩu kiểu này nhưng kết luận cuối cùng là càng phải tăng mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu.

Nhưng sự thật trớ trêu là càng xuất khẩu kiểu đó thì nhập siêu càng lớn. Lý do là sức mua của toàn dân sụt giảm nghiêm trọng do tỷ giá tiền đồng thấp hơn thực tế, mà nhu cầu thì ngày càng tăng lên. Trong khi đó lại hoàn toàn thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu nội địa, biểu thuế suất nhập khẩu hàng ngàn mặt hàng (đặc biệt là nông sản) giảm xuống do gia nhập WTO. Lượng nhập khẩu tăng lên là đương nhiên để đáp ứng các nhu cầu trong nước. Giá nhập khẩu cũng phải tăng mạnh do 2 tác động kép của tỷ giá tiền đồng thấp và giá cả thế giới tăng.

Nhập siêu 2007 phi mã đến 12,5 tỷ đô-la Mỹ (hơn 2,5 lần mức 2006) là vẫn còn may mắn. Nếu dầu thô thế giới không tăng giá để mang thêm về cho Việt Nam gần 2,5 tỷ đô-la Mỹ (40 ngàn tỷ đồng) từ xuất khẩu trong 2007 thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Thế nhưng người dân đã không được hưởng gì từ khoản thặng dư của tài nguyên quốc gia này sau khi chính phủ quyết định cắt bỏ 10 ngàn tỷ đồng bù giá xăng dầu trong nước. Sức mua của người dân bị ép giảm sút nặng nề để tăng lợi thế cho đầu tư nước ngoài và xuất khẩu mà ở đó chỉ một nhóm nhỏ các nhà xuất khẩu, chủ yếu từ nước ngoài hưởng lợi.

Giờ đây khi mà tiền đồng đã mất giá thực sự do lạm phát tiền và nội lực trong nước suy kiệt thì các giải pháp nâng giá tiền đồng lại được thực hiện. Lại một cái bẫy. Quyền lợi lại thuộc về nước ngoài. Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước mới yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; chỉ hút hơn 30 ngàn tỷ đồng mà đã làm cả hệ thống tài chính ngân hàng điêu đứng, náo loạn đua nâng lãi suất để động viên người dân chuyển đổi ngoại tệ thành tiền đồng gửi vào ngân hàng. Tiền đồng trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ bị mất giá.

Người dân lại bị cuốn hút vào một cuộc chơi mới của bầy thú điện tử. Các quỹ đầu cơ này đang cần đổi tiền đồng sang đô-la Mỹ, một tỷ giá đô-la Mỹ thấp sẽ rất có lợi cho họ. Tiền đồng bị siết chặt, biên độ tỷ giá đô-la Mỹ được nới lỏng. Đô-la Mỹ rơi xuống gần 15,5 ngàn đồng/USD nhưng bán cũng không ai mua. Trong tuần thứ ba của tháng 3/2008 này bầy thú điện tử đã tung hơn 30 ngàn tỷ đồng để mua vào khoảng 2 tỷ đô-la Mỹ. Ngay lập tức lạm phát gia tăng thêm 3%, đạt mức kỷ lục 9.2% trong chưa đầy 3 tháng đầu năm 2008. Cùng lúc, các ngân hàng chuẩn bị giảm lãi suất huy động.

Cái vòng xoáy hút – nhồi, tăng lên – giảm xuống sẽ được lặp lại nhiều lần như chứng khoán, đến khi mà bầy thú đã nắm trong tay một lượng lớn đô-la Mỹ thì sức mua của tiền đồng sẽ rơi tự do không phanh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI sẽ tăng thêm cỡ 50% nữa, con số này chưa bao gồm những tác động của việc tăng giá đầu vào và sự mất niềm tin của dân chúng. Yếu tố niềm tin này có thể dẫn đến sự sụp đổ không ai có thể lường hết được, nó sẽ vượt quá nhiều lần mọi tính toán kỹ thuật nếu như người dân nhận ra mình đã bị lừa.

Thâu tóm và thôn tính

Nhưng mục tiêu của bầy thú không chỉ đơn giản như vậy. Bây giờ có lẽ chính phủ đã nhận ra được những nguy cơ của lạm phát sẽ tác động khủng khiếp thế nào đến sự bất ổn xã hội. Nếu không muốn cuộc khủng hoảng này bùng nổ ngay trong năm 2008, chính phủ phải thương lượng mua lại khoản tiền đồng khổng lồ của bầy thú. Quá trình thâu tóm đang bắt đầu.

Nhưng tiền đâu để mua khi mà dự trữ ngoại hối của quốc gia quá yếu ớt. Ngay cả có huy động được mọi nguồn lực để có đủ số tiền này thì bầy thú sẽ nói họ không cần đô-la Mỹ vì họ có thể mua nó dễ dàng từ thị trường. Họ muốn quyền kiểm soát các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những tập đoàn được hưởng đặc quyền và đầy lợi thế của nhà nước. Các doanh nghiệp này đã được bảo hộ chặt chẽ trong các điều khoản gia nhập WTO để không chịu sức ép cạnh tranh lớn khi hội nhập. Nhưng giờ đây chúng sẽ được trao quyền kiểm soát chi phối bằng sở hữu đa số thông qua các hiệp định song phương đang được đàm phán vội vã.

Dân chúng đừng vội mừng vì hy vọng vào sự tốt lên của các doanh nghiệp này sau khi có bàn tay của nước ngoài. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy trong một đất nước mà thiếu vắng các chiến lược để tạo ra lợi thế quốc gia trong một hệ thống toàn cầu hóa, và nguồn nhân lực thì thiếu kỹ năng được đào tạo đúng mức, cộng với tham nhũng chi phối các chính sách nhà nước thì bầy thú điện tử sẽ chỉ dùng các doanh nghiệp khổng lồ trong nước được bảo hộ để khai thác thị trường nội địa, buộc người dân phải trả giá cao để có siêu lợi nhuận. Hiệp hội các nhà sản xuất ô-tô (VAMA) vừa vận động nâng thuế nhập khẩu xe hơi để “chống nhập siêu” là một minh chứng cụ thể cho việc đó.

Áp lực đang được gia tăng lên rất mạnh để các điều khoản đảm bảo cho việc thâu tóm dễ dàng đạt được. Bầy thú đang nhả tiếp tiền đồng ra đổi lấy đô-la Mỹ khiến nó lên giá, lạm phát tiếp tục tăng vọt. Trong tình hình này có lẽ những điều kiện cần để thâu tóm sẽ phải hoàn tất trong vòng trên dưới 2 tháng nữa. Từ nay đến đó chứng khoán sẽ tiếp tục hoành hành để gây rối và gia tăng áp lực đàm phán. Đến khi mọi việc được ký kết thì tới lượt bất động sản sẽ được thổi bùng lên, giá trị thật giá trị ảo sẽ lại điên loạn lên một lần nữa – một cuộc chơi mới theo bài cũ. Nó sẽ tạo ra bất ổn đến cuối năm, không chỉ để trục lợi mà còn nhằm lũng đoạn dễ dàng các chính sách vĩ mô để phục vụ cho những kế hoạch tiếp theo.

Nhà nước nếu không cẩn thận thì sẽ bị những kẻ cơ hội tiếp tục thao túng để bơm ra lượng tiền đồng khổng lồ đã thu hồi về nhờ bán rẻ tài sản toàn dân. Trong lúc rối ren, thật giả lẫn lộn thì không khó gì để viện ra những lý do nghe xuôi tai để làm được việc ấy. Lúc đó sẽ không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Đó chính là sự kết thúc.

Nhưng đấy cũng là khởi đầu của sự thôn tính.

Cộng sinh trong toàn cầu

Đất nước ta đang thực sự rất nguy kịch, tiến thoái lưỡng nan mà chỉ có sức mạnh của toàn dân mới có thể giúp vượt qua được. Người dân cần được chia sẻ những thông tin thật để lường trước những khó khăn xấu nhất. Người dân cần được tạo niềm tin từ sự chân thật để cùng nhà nước tìm ra những biện pháp thoát hiểm. Từ trước đến nay dân chúng bị cuốn hút vào những cuộc chơi mà mình không những không có được thông tin đầy đủ mà còn bị làm sai lệch.

Trong khi đó bầy thú thì không thiếu bất kỳ thông tin gì nhờ lấy được từ các định chế tài chính quốc tế như ngân hàng Thế giới (WB), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Chính phủ phải cung cấp định kỳ cho họ. Thông tin quốc gia là một loại tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, nó càng quan trọng hơn trong thời đại ngày nay. Sự thất bại thuộc phía người dân là tất yếu.

Kinh tế học không phải là môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý. Nó là một khoa học dựa vào hành vi con người và hướng đến con người dù rằng nó dùng các công cụ toán học để mô phỏng và phân tích. Các tính toán lý thuyết kinh tế sẽ không có giá trị gì nếu không gắn nó với việc hiểu ứng xử và động lực của con người.

Không thể điều hành vĩ mô một nền kinh tế thị trường thành công bằng bàn tay hữu hình của chính phủ, vì kinh tế thị trường vốn được vận hành theo qui luật của bàn tay vô hình – cách mà các nhà kinh tế học gọi tên một cơ chế thúc đẩy sự vận động kinh tế thông qua việc tác động vào động lực con người. Thật tiếc là các thế lực bên ngoài đã áp dụng cách này thật nhuần nhuyễn ở Việt Nam.

Chỉ khi nào những người cầm cân nẩy mực hiểu được dân, biết được điểm mạnh của dân, nhìn được điểm yếu của dân, cảm được nỗi đau của dân, hạnh phúc vì niềm vui của dân thì mới có thể xây dựng được những chính sách hợp lòng dân. Còn không thì cho dù là lý thuyết nào đi nữa, được ủng hộ bởi những tổ chức danh giá đến đâu đi nữa, dựa vào mô hình thực tế thành công của thể chế nào đi nữa cũng không thể tránh khỏi sự thất bại.

Trong một đất nước mà sự phát triển dân chủ còn rất nhiều hạn chế, nhà nước ở đó phải thương dân như con thì mới có thể xây dựng một nền kinh tế mạnh, xã hội vững chắc. Đầy tớ mà có trách nhiệm thì thật là hiếm hoi, mà dù có trách nhiệm thế nào thì cũng không bao giờ có tình thương với chủ.

Cái giá của một nền kinh tế trọng ngoại như nước ta sẽ còn những tác hại rất lâu dài. Sẽ không có một thần dược ngoại nào có thể chữa ngay khỏi bệnh. Chỉ có niềm tin của dân, sức mạnh tập hợp của toàn dân trong lẫn ngoài nước mới có thể tạo ra một nội lực đủ sức đề kháng với sự tấn công tiêu cực của ngoại lực, rồi tiến tới trung hòa cộng sinh với nó. Lúc đó đất nước mới có thể phát triển vững bền.

Chỉ khi nào nền kinh tế đất nước hội nhập một cách cộng sinh với hệ thống toàn cầu hóa thì lúc đó mới có thể tránh khỏi những cuộc tấn công như vậy. Người ta không thể đánh vào chính mình. Thật buồn là chúng ta đã tự làm như thế. Hội nhập mà không tạo ra những lợi thế tương hỗ, ràng buộc trong một guồng vận hành khốc liệt của toàn cầu hóa thì không khác gì tự biến mình thành một cái hố hứng rác thải của cái cỗ máy ấy mà thôi.

Tham nhũng và sụp đổ

Hơn lúc nào hết, chính phủ phải nhìn thẳng vào sự thật cho dù nó khắc nghiệt đến mức nào. Khủng hoảng toàn diện một cách trầm trọng là không thể tránh khỏi. Tránh né sự thật, trì kéo mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại sẽ chỉ làm cho nó trầm trọng hơn mà thôi. Sự khốn cùng của dân chúng sẽ càng tồi tệ. Nền kinh tế nước ta từ nhiều năm nay đã tăng trưởng theo kiểu vay mượn tương lai cho thành tích hiện tại. Cuộc khủng hoảng này sẽ là một điểm dừng phải có để chấm dứt cái hệ thống vận hành sai qui luật này.

Trái qui luật nhưng nó vẫn tồn tại một thời gian khá dài chính là nhờ tham nhũng. Tham nhũng tạo ra động lực và bị biến thành công cụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và bầy thú điện tử. Quyền tạo ra tiền, tiền biến thành quyền, quyền cần có thành tích để củng cố. Thành tích không thể thật vì tham nhũng nhưng phải được tuyên truyền và thổi phồng làm người dân ảo tưởng, chấp nhận chịu đựng vì hy vọng vào những tương lai tốt đẹp mà chính quyền hứa hẹn. Nhưng niềm tin không thể được xây dựng trên những gì giả tạo. Trong sấm Trạng Trình có câu:

Phú quí hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Thật đúng với thời cuộc. Sự giàu có (phú quí) ở những nơi đô thị (hồng trần) chỉ là ảo (mộng). Đến khi dân chúng rơi vào nghèo khổ cùng cực (bần cùng) thì sự thật (bạch) sẽ phơi bày (phát sinh). Sự sụp đổ niềm tin có sức tàn phá khủng khiếp. Nếu nó không được dẫn dắt bằng lòng nhân ái và quyền lợi dân tộc thì sức mạnh đó sẽ bị lợi dụng cho mục tiêu chính trị ngược lại.

Nên nhớ rằng cuộc khủng hoảng đang xảy ra nhanh chóng vì đã có một sự phá vỡ cái thế cân bằng ảo. Đất nước không được xây dựng để cộng sinh trong hệ thống toàn cầu hóa, nhưng lại hình thành sự cộng sinh giữa những kẻ tham nhũng, cơ hội trong chính quyền với bầy thú điện tử để chi phối các hoạt động xuyên suốt của đất nước mà nhiều người lầm tưởng là sự ổn định. Nhưng giờ đây bầy thú không thể bỏ qua thời cơ tuyệt vời để có nhiều quyền lợi hơn và đứng lên trên cái hệ thống cộng sinh đó. Sự cân bằng bị phá vỡ vì thế.

Sức dân và mệnh nước

Toàn dân cần được chuẩn bị để đối phó với cuộc khủng hoảng mà đỉnh điểm của nó sẽ rơi vào năm sau – Kỷ Sửu 2009. Tất cả những gì nhà nước cần tập trung lúc này là HẬU SỨC DÂN. Làm sao phải gia tăng sức mạnh vật chất lẫn tinh thần cho dân đủ sức chịu đựng khó khăn để vượt qua và xoay chuyển tình thế. Bổ sung sức mạnh vật chất là cần thiết nhưng trong điều kiện hiện nay thì không thể đủ mạnh. Chỉ có sức mạnh của niềm tin và sự đồng lòng mới có thể tạo ra vận thế mới.

Chính phủ đang kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng và đề ra các giải pháp “chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô” như vừa rồi thì không thể hậu sức dân. Chỉ đơn cử việc giảm đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương đang bàn về cắt giảm ngân sách đầu tư bằng việc cắt bớt các dự án. Giảm đầu tư trong nước tức là giảm nội lực. Cấu trúc hiện nay của nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào đầu tư công vì nó chiếm đến 40% tổng đầu tư quốc gia. Trong khi mà chưa có những cơ chế, chính sách để cho phép và hỗ trợ khu vực dân doanh đầu tư thay thế nhà nước thì việc rút giảm đầu tư công sẽ tạo ra một khoảng trống cực kỳ tai hại.

Toàn dân vẫn cần những đầu tư ấy để tạo ra hạ tầng, công ăn việc làm – những thứ mà Việt Nam còn thiếu thốn nhiều một thời gian dài nữa. Việc chính phủ cần làm là đảm bảo hiệu quả đầu tư công, hay nói theo kinh tế học là giảm chỉ số ICOR xuống. Thống kê chỉ số này của nhà nước cho thấy ICOR của đầu tư công là 8 (tức đầu tư đến 8 đồng mới làm ra thêm 1 đồng tăng trưởng). Đầu năm 2007, một thành viên của chính phủ trả lời trước công chúng giải thích rằng chỉ số này cao vì năng suất lao động của đất nước còn thấp.

Nhưng không thấy có ai hỏi tiếp rằng tại sao cùng với những người lao động Việt Nam mà khu vực dân doanh, dù trình độ quản lý cũng chưa hiện đại nhưng chỉ số này chỉ có 4 (chỉ cần 4 đồng đầu tư sẽ tạo ra 1 đồng tăng trưởng), của khu vực nước ngoài là 2.7. Không hỏi vì ai cũng biết rằng hiệu quả đầu tư công thấp là do tham nhũng.

Chỉ cần làm được như khu vực dân doanh thì cùng một dự án đầu tư nhà nước có thể giảm được một nửa số vốn bỏ ra mà dân chúng vẫn được hưởng thành quả không đổi. Một nửa ấy từ trước đến nay do tham nhũng mà thất thoát. Theo kế hoạch 5 năm từ 2006 – 2010, mỗi năm đầu tư công lên đến 270 ngàn tỷ đồng, một nửa số tiền đó mà tiết kiệm được và dùng để hậu sức dân thì thật là có ý nghĩa. Còn nếu cắt giảm theo kiểu số lượng thì chỉ gia tăng sức mạnh cho những kẻ tham nhũng, cơ hội. Lạm phát sẽ càng tăng dù trị giá đầu tư có giảm. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện tình trạng chạy để được giữ lại các dự án. “Mạnh vì gạo”, ai chi nhiều hơn thì sẽ được tiếp tục đầu tư, tỷ lệ thất thoát sẽ càng gia tăng, chất lượng đầu tư càng giảm, lạm phát càng tăng là vì thế. Dân sẽ vẫn lãnh đủ.

Giải pháp hiệu quả nhất hiện nay thật đơn giản mà không đơn giản: triệt tiêu tham nhũng. Làm được việc này thì sẽ gia tăng nguồn lực cho dân, củng cố niềm tin của dân. Chính là hậu sức dân. Nhưng điều này thật quá khó cho chính quyền hiện nay khi mà luật pháp trong nước bị bóp méo bởi những kẻ tham nhũng – cơ hội, và những định chế quốc tế bị chi phối bởi bầy thú điện tử. Một kẻ như Bùi Tiến Dũng lại được ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam khẳng định là không có dấu hiệu tham nhũng để rộng đường cho một phiên tòa chỉ xử tội đánh bạc. Nguyễn Việt Tiến cũng vừa được thả ra và phục hồi quyền lợi mà không qua xét xử. Cái hệ thống cộng sinh này là như thế đấy.

Chính phủ thực hiện các giải pháp vĩ mô như hiện nay sẽ tiếp tục hậu ngoại lực, ép nội lực dù vô tình hay hữu ý. Càng nhiều bàn tay hữu hình thò ra thì càng dễ bị giật dây điều khiển. Chưa hết tháng 3/2008 mà nhập siêu đã phi đến 7 tỷ đô-la Mỹ, bằng 56% của cả năm 2007, vượt xa con số 4,8 tỷ của 2006. Ấy vậy mà nhận định mới nhất của chính phủ trước thường vụ Quốc hội là vẫn tin tưởng cân đối được cán cân thanh toán quốc tế do Việt Nam vẫn đang là điểm sáng của thu hút đầu tư nước ngoài.

Sao vẫn tiếp tục trông chờ vào ngoại lực mà không nhìn nhận thực tế là đất nước này đang còn cầm cự được phần nào trước sự thâm hụt mậu dịch lâu nay là nhờ vào kiều hối 2 tỷ đô-la Mỹ của gần nửa triệu lao động Việt đang phải chịu cực khổ, tủi nhục, cả bỏ mạng ở nước ngoài, 5 tỷ đô-la Mỹ của hơn 3 triệu đồng bào Việt định cư ngoài nước gửi về hàng năm mà không kèm bất kỳ điều kiện và đòi hỏi nào; nhờ vào tiền công lao động rẻ mạt của hàng triệu lao động nghèo trong nước còn giữ lại được từ xuất khẩu; và của hàng chục triệu nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời làm ra những nông sản để xuất khẩu. Không hề thấy chính phủ phân tích và đề cập đến việc chăm sóc các nguồn lực này như thế nào trong các giải pháp hiện nay và trước đây.

Những người lao động nghèo này chính là lực lượng tiên phong phải đương đầu trước tiên với cạnh tranh toàn cầu, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO trong khi chưa hề được chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Họ chẳng hiểu toàn cầu hóa là gì nhưng các cam kết để gia nhập WTO đã dỡ bỏ ngay lập tức trợ cấp xuất khẩu nông sản và hàng dệt may; giảm ngay xuống mức thấp thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản, may mặc.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước đang kiểm soát hoàn toàn các ngành dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí được nuôi dưỡng và hưởng đặc quyền lâu nay, nắm giữ những nguồn lực lớn nhất của quốc gia thì vẫn tiếp tục được bảo hộ theo lộ trình từng bước 3 năm, 5 năm sau khi gia nhập WTO. Tiềm năng phát triển rất lớn của thị trường nội địa trong các lĩnh vực này, thay vì phải được dùng làm hậu phương vững chắc để tiến công ra thị trường toàn cầu, làm lực lượng tiên phong bước ra cạnh tranh để giảm áp lực cho những nông dân, công nhân may mặc cần thời gian để hiểu và chuẩn bị cho hội nhập, thì lại được quây rào để dành cho bầy thú điện tử thâu tóm.

Chuyện này khác gì trong một cuộc chiến, những người dân đen cùng đinh bị đưa ra trước để làm bia đỡ đạn trong khi quân chủ lực vẫn đang còn say sưa chè chén. Đến khi giặc vào tới thì hèn nhát, không phải là bỏ chạy mà là đầu hàng bán rẻ đồng đội. Thế nhưng những kết quả đạt được trong đàm phán WTO được ca ngợi là thành công, là ngoạn mục. Có thể dễ dàng đọc được trên các website của các bộ ngành để nghe họ khen tặng, tâng bốc về cái thành quả này như thế nào.

Hội nhập toàn cầu là một quá trình phải được bắt đầu một cách chủ động từ trước khi ký kết hiệp định quốc tế. Sự thụ động và chạy theo thành tích thì tránh sao khỏi rơi vào những cái bẫy đàm phán. Người ta không cần nhưng vẫn khăng khẳng đòi mở cửa xuất bản ngay. Còn ta thì châm châm bảo vệ sự kiểm soát nó tuyệt đối bằng mọi giá mà không hiểu rằng internet đã thay đổi mọi thứ. Nếu anh muốn giữ chặt cái này thì anh phải nhả cho tôi ngay cái khác: hoặc là nông sản và dệt may; hoặc là các dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí. Họ muốn ta nhả cái thứ nhất để tạo bất ổn xã hội, mục tiêu lớn như vậy mà chẳng phải vất vả gì để đạt được. Họ thừa biết các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực dịch vụ này dư sức chi phối các quyết định đàm phán cuối cùng.

Đừng nghĩ là chính quyền kiểm soát báo chí, tuyên truyền mà dân chúng không đủ hiểu biết để nhìn ra những vấn đề quá lớn mà các chính sách vĩ mô đã tạo ra cho họ. Người dân thậm chí còn bảo rằng chẳng phải nhà nước mắc bẫy, chẳng qua vì quyền lợi cá nhân mà nhà nước đưa dân vào hoàn cảnh như ngày hôm nay. Luật thuế thu nhập cá nhân sắp có hiệu lực từ đầu năm sau sẽ là một giọt nước tràn ly đối với lòng dân.

So sánh chiến lược về lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia thì bộ luật này, với mức khởi đầu là 5% cho thu nhập 4 triệu đồng/tháng và 35% cho phần thu nhập từ 80 triệu đồng/tháng trở lên, đã đặt Việt Nam vào một quốc gia có tương lai dựa trên lao động giá rẻ thiếu kỹ năng, chứ không phải một nơi nuôi dưỡng chăm sóc cho con người có đủ tri thức để làm nền tảng phát triển vững chắc của đất nước. Chắc chắn rất nhiều nước đã vỗ tay vui mừng bộ luật này. Lại mắc bẫy hay do thiếu hiểu biết, người dân tự sẽ nhận ra và phán xét.

Không củng cố niềm tin thì hậu quả thật khó lường hết bằng các con số. Các tính toán kỹ thuật cho thấy khả năng tiền đồng sẽ nhanh chóng chỉ còn hơn 20 ngàn/USD. Nhưng một khi người dân không còn niềm tin gì vào nhà nước thì con số này có thể là 30 ngàn, 40 ngàn hay cao tới mức mà không ai có thể dự báo nỗi. Nó cũng không khác gì việc đáy chứng khoán được dự báo không biết bao nhiêu lần. Mức trên dưới 500 điểm như hiện nay vẫn chưa phải là đáy. Còn xa mới tới đáy vì bầy thú không chỉ muốn thâu tóm, mà là thâu tóm rất rẻ để dồn tiền cho sự thôn tính chính trị.

Vận nước đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Đây là một biến cố lớn sẽ chắc chắn tạo ra sự xoay chuyển. Con tạo xoay vần, nhưng xoay về đâu, đó là trách nhiệm của tầng lớp trí thức của đất nước. Những con Lạc cháu Hồng ưu tú sẽ tập hợp lại tạo nên sức mạnh của cả dân tộc thuộc mọi tầng lớp để hóa giải thế cờ, xoay chuyển biến cố thành một vận hội mới.

Có một Con đường như vậy.

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Trong họa có phúc.

Trần Đông Chấn

Mùa xuân tháng 3, 2008.

Nguồn : http://blog.360.yahoo.com/blog-VAMH4Rclaaccgza0JPgODGPLQXM-?cq=1&p=28#comments

Gửi các bạn thắc mắc về số liệu:

Đây là vài đường link nói về lượng cung tiền và nạn lạm phát tiềm tàng – 2 báo cáo của nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Châu Á (ĐH Harvard) gửi cho Thủ tướng Việt Nam trong cuộc gặp ngày 16/1/2008, tính toán dựa trên dữ liệu mà ngân hàng nhà nước cung cấp cho World Bank:

http://www.minhbien.org/?p=228

http://www.minhbien.org/?p=221

Báo Tuổi trẻ cũng đã dẫn thông tin này:

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=244711&ChannelID=11

Trích 1 đoạn trong bài trên báo Tuổi trẻ:

“Nguyên nhân chính của lạm phát là mặc dù nền kinh tế kém hiệu quả nhưng lại phải hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Tổng lượng vốn bên ngoài chảy vào nền kinh tế trong năm 2007 ước chừng lên tới 22-23 tỉ USD, tương đương 30% GDP. Đồng thời cung tiền, tín dụng và đầu tư đều tăng ở mức kỷ lục, trong đó một tỉ lệ rất lớn dành cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. “Khi lượng tiền đổ vào nền kinh tế quá nhiều, lại không được sử dụng một cách có hiệu quả để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ sẽ dẫn đến tình trạng “quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng”. Trong ba năm từ 2005-2007, cung tiền tăng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%”.

ĐÔ-LA NGOẠI SẼ ĐI TỚI ĐÂU

Báo cáo “Lựa chọn thành công: bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam”

Cuối tháng 6-2008 báo chí đồng loạt đưa tin Việt Nam thu hút hơn 31,6 tỷ đô-la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đến giữa tháng 7 con số này được dự báo là sẽ vượt qua mức 40 tỷ vào cuối năm 2008. Nhưng chỉ chưa đầy 2 tuần sau đó số liệu chính thức được công bố đã làm ai cũng phải kinh ngạc: hơn 45 tỷ đô-la Mỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được cấp phép trong 7 tháng đầu năm 2008. Cơn sốt tỷ giá USD/VND tạm lắng dịu từ cuối tháng Sáu vừa rồi là nhờ một phần tác động rất lớn của những con số FDI này. Nhà nước thì hồ hởi với những thành quả tột bật, người dân thì hy vọng điều đó sẽ cải thiện đáng kể tình hình u ám đầy bất ổn từ cuối năm 2007 đến giờ. Tuy nhiên, nếu phân tích một cách có trách nhiệm các con số này thì người ta sẽ phải thực sự lo lắng vì những hệ quả rất đáng lo ngại của nó. Hãy tạm bỏ qua những khả năng xấu nhất – dùng kinh tế bẫy chính trị – tức là đăng ký thật nhiều để được cấp phép nhưng sẽ thực hiện giải ngân vốn rất ít để đặt Việt Nam vào tình trạng sụp đổ do vỡ nợ. Hãy giả định một tình huống lạc quan nhất mà chính phủ đang trông đợi: nguồn vốn FDI sẽ được thực hiện giải ngân nhanh chóng và ồ ạt trong vòng 3 năm 2008-2010. Theo dự báo mới nhất chưa được công bố rộng rãi của cục Đầu tư nước ngoài, tổng số vốn FDI đăng ký trong năm nay sẽ đạt không dưới 50 tỷ đô-la Mỹ. Số vốn FDI đã được cấp phép trước cuối năm 2007 nhưng chưa thực hiện vẫn còn thời hạn khoảng 40 tỷ nữa, đưa tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên hơn 90 tỷ đô-la Mỹ đang và sẽ rót vào Việt Nam. Để đạt được con số ấn tượng này, chính phủ đã phải ưu đãi “giành” cho các nhà đầu tư nước ngoài những lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn, từ thuế đến đất đai, từ quyền kinh doanh đặc biệt đến cả những bảo hộ ngầm. Ngược lại, những con thú sừng dài này phải cam kết thực hiện giải ngân nhanh chóng theo tiến độ mà chính phủ mong muốn (2008: 10 tỷ USD, 2009: 15 tỷ USD, 2010: 20 tỷ USD). Những đồng đô-la ngoại này sẽ làm chuyển biến và tác động như thế nào đến các khía cạnh kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước là điều đòi hỏi sự quan tâm của không chỉ nhà nước mà cả đông đảo các thành phần xã hội.

Tỷ trọng nền kinh tế

Dù được mọi ưu đãi và tập trung hỗ trợ của nhà nước nhưng sau 20 năm kể từ lúc có luật đầu tư nước ngoài 1988, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chỉ mới chiếm tỷ trọng hơn 17% tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào cuối năm 2007 như số liệu của tổng cục Thống kê công bố:

Trong khi đó, thành phần kinh tế tư nhân (ngoài nhà nước) chỉ mới được công nhận chính thức từ đầu năm 1991 bởi luật doanh nghiệp tư nhân 1990, và chỉ thực sự có được một môi trường pháp lý tương đối tốt từ đầu năm 2000 bởi luật doanh nghiệp 1999. Thành phần này không nhận đầu tư gì từ ngân sách hay hưởng những đặc quyền kinh doanh và bảo hộ đặc biệt từ nhà nước, cũng là thành phần bị nhũng nhiễu nhiều nhất bởi tệ quan liêu hành chính và tham nhũng nhưng đã vươn lên dẫn đầu tỷ trọng GDP từ đầu thập niên 1990. Đến cuối năm 2007 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp đến hơn 46% tổng sản phẩm trong nước (GDP), bỏ xa 36,8% của khu vực kinh tế nhà nước vốn chiếm gần trọn ngân sách đầu tư quốc gia và hơn 70% lượng vốn cho vay của các ngân hàng huy động được từ người dân, cùng với 100% vốn vay của nước ngoài do chính phủ bảo lãnh. Tổng cộng trong 3 năm từ 2005 đến 2007, khu vực kinh tế nhà nước đầu tư đến hơn 546 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 45% tổng giá trị đầu tư phát triển toàn xã hội:

Tuy nhiên, cấu trúc tỷ trọng này sẽ thay đổi đột biến từ năm nay khi dòng đô-la ngoại rót vào ồ ạt để đầu tư phát triển cho khu vực kinh tế nước ngoài tại Việt Nam. Trong cùng lúc đó thì khu vực kinh tế tư nhân bị chính sách thắt chặt tiền tệ – nâng lãi suất để chống lạm phát – trói cứng, vốn để duy trì mức cũ còn khó nói gì đến đầu tư mở rộng. Khu vực kinh tế nhà nước thì phải cắt giảm đầu tư công, nhưng dù sao nguồn vốn đầu tư cho nó vẫn khá dồi dào. Theo tài liệu “Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009” của bộ Kế hoạch Đầu tư gửi các bộ ngành, địa phương vào cuối tháng 6-2008 vừa rồi thì tổng giá trị đầu tư công trong năm 2008 dự kiến đạt 238 ngàn tỷ đồng[1] (tăng 19% so với 200 ngàn tỷ năm 2007), năm 2009 sẽ đạt 295 ngàn tỷ đồng[2]; đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân (ngoài quốc doanh) được dự báo đạt mức 190 ngàn và 235 ngàn tỷ đồng tương ứng cho 2008 và 2009, đây quả thật là một con số quá lạc quan so với 187 nghìn tỷ đồng trong năm 2007. Tiếp tục lạc quan để đưa ra số dự báo trị giá đầu tư phát triển trong năm 2010 của 2 khu vực kinh tế trong nước này sẽ tăng 20% so với số dự kiến của 2009[3]. Những giả định lạc quan Tỷ trọng đầu tư này sẽ dịch chuyển tỷ trọng GDP theo thành phần kinh tế như thế nào? Để có đủ thông số để tính toán, chúng ta lại giả định những con số lạc quan nhất trong tình hình hiện nay:chỉ số giá tiêu dùng CPI trung bình 2008 tăng 25% so với 2007, 2009 tăng 15% so với 2008, 2010 tăng 9% so với 2009; chính phủ sẽ kiềm được tỷ giá VND/USD ở mức bình quân là 16.700 cho cả năm 2008, 17.200 cho 2009 và 17.700 cho 2010. Dùng chỉ số hiệu quả sử dụng vốn ICOR[4] (bằng mức thay đổi tổng giá trị đầu tư chia cho mức thay đổi tổng giá trị sản lượng GDP được qui về giá so sánh với 1994 theo chuẩn của tổng cục Thống Kê) cho từng thành phần kinh tế, có thể tính ra kết quả:

Tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế nước ngoài bứt phá từ 17% trong năm 2007 lên 30% trong 2008; đến 2009 thì vươn lên dẫn đầu với 35%, nhỉnh hơn thành phần kinh tế tư nhân trong nước một chút. Nhưng nó sẽ khống chế hoàn toàn với tỷ trọng 37.5% GDP, bỏ xa hai thành phần kinh tế trong nước vào năm 2010. Một đất nước mà ngoại lực kiểm soát đến 30% nền kinh tế thì chủ quyền của người dân nước đó sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Ở Việt Nam ta, khi mới đạt tỷ trọng có 15% – 17% GDP mà thành phần kinh tế nước ngoài đã tạo sức ảnh hưởng rất lớn, chi phối thao túng đến hầu hết các chính sách vĩ mô thì sức mạnh của lực lượng này sẽ đến mức nào một khi nó chiếm tỷ trọng khống chế của cả nền kinh tế. Tỷ trọng này sẽ còn lớn hơn nhiều nếu tính cả tác động của nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Chưa có số liệu thống kê nào cho biết hiện nay có bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn của các doanh nghiệp trong nước (cả quốc doanh và ngoài quốc doanh) được sở hữu bởi các tổ chức nước ngoài. Nhưng với nguồn vốn khổng lồ tích lũy được sau chiến dịch đầu cơ vào thị trường chứng khoán Việt Nam quá thành công của bầy thú sừng ngắn vừa rồi, cộng với việc chính phủ vừa cho phép chuyển nhượng các dự án đầu tư bất động sản cho nước ngoài, và hiệp định đầu tư song phương Việt-Mỹ sắp ký kết sẽ hỗ trợ mạnh mẽ và đảm bảo cho hoạt động này, chưa kể tình trạng thiếu vốn do lãi suất cao buộc các doanh nghiệp tư nhân phải tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư gián tiếp này thì không ai có thể nghĩ cái tỷ lệ này sẽ dưới 25% trong một hai năm tới. Đầu tư trực tiếp sẽ kiểm soát 37,5% GDP, đầu tư gián tiếp sẽ kiểm soát 25% của 62,5% còn lại, tương đương với 15,6% GDP. Tổng cộng thành phần kinh tế nước ngoài sẽ chiếm trên 53% của cả nền kinh tế. Thật khó mà không choáng váng khi nghĩ đến một con số như vậy. Nên nhớ rằng các con số này được tính toán dựa trên những giả định lạc quan nhất, chưa tính đến các tác động tự nhiên và cả những tác động bằng sức mạnh có chủ đích của các thực thể tham gia vào quá trình kinh tế làm biến đổi nhanh chóng các yếu tố kinh tế. Xem xét các tác động này theo đúng qui luật vận hành thì sẽ thấy rằng những mong muốn lạc quan này là không có cơ sở. Lạm phát và nhập siêu Báo chí trong nước đang lạc quan về những dấu hiệu giảm dần của tốc độ lạm phát và nhập siêu trong tháng Sáu và tháng Bảy vừa qua. Điều này chẳng khác gì việc chườm đá cho con bệnh đang bị sốt. Nguồn gốc căn bản của lạm phát và nhập siêu chưa bao giờ được thừa nhận để áp dụng những giải pháp đúng phù hợp. Thay vào đó là những mệnh lệnh hành chính áp đặt chủ quan lên quá trình vận hành nhằm kiềm nén, che dấu những triệu chứng biểu hiện ra ngoài của căn bệnh đang ngày một trầm trọng hơn. Nhập siêu là một nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát. Trước hết nó tác động làm giảm giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ, sự suy giảm này sẽ làm gia tăng chi phí nhập khẩu. Nếu nhu cầu nhập khẩu phải giữ nguyên khối lượng để đáp ứng nhu cầu nội địa thì giá cả trong nước sẽ tăng vọt và tiếp tục làm tăng cao mức nhập siêu. Cái vòng xoáy lẩn quẩn ấy chỉ chấm dứt khi nào nhu cầu tiêu dùng nội địa bị cắt giảm đáng kể. Trong tình hình hiện nay của Việt Nam, sự cắt giảm nhu cầu này sẽ dẫn đến suy thoái và khủng hoảng, nhấn chìm cả nền kinh tế và gây rối loạn xã hội. Với trên 99% dân số thuộc thành phần nghèo, bình dân và trung lưu thì mức chi tiêu hiện nay của họ đa phần là cầu tự định (thuật ngữ kinh tế học để chỉ mức cầu căn bản tối thiểu mà người ta muốn sử dụng ngay cả khi không có thu nhập). Đang cố gắng thoát nghèo như Việt Nam ta thì mức cầu như vậy là chính đáng và cần được thúc đẩy. Nếu nó bị kéo thấp xuống thì trung lưu sẽ trở thành bình dân, bình dân trở thành nghèo, nghèo trở thành đói. Thành quả tăng trưởng của nhiều năm có thể bị xóa sạch. Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009 của bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết: “tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội cả năm 2008 dự kiến đạt khoảng 925 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 27,4% so với năm 2007”. Con số tăng trưởng 27,4% này tương đương với mức lạm phát, có nghĩa rằng người dân phải trả một cái giá cao hơn 27,4% cho cùng một khối lượng hàng hóa và dịch vụ sử dụng trong năm 2007. Như vậy mức tiêu dùng nội địa không tăng trong khi mỗi năm dân số tăng thêm cỡ một triệu người, tính trên đầu người là giảm sút. Xu thế này tiếp tục thêm một năm nữa thì những rối loạn xã hội sẽ xảy ra. Một quốc gia xây dựng chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu mà không đạt được tình trạng xuất siêu ở mức cao để tạo dự trữ lớn và thặng dư đủ cho tiêu dùng nội địa thì sẽ rước vào mình những nguy cơ chờ sẵn. Chúng sẽ bùng phát khi thị trường các nước nhập khẩu bị sụt giảm và thị trường toàn cầu bị biến động. Dựa vào xuất khẩu mà lại nhập siêu là “cái chết được báo trước”. Việt Nam theo đuổi chiến lược này nhiều năm qua nhưng chưa bao giờ có được xuất siêu, thay vào đó nhập siêu liên tục, năm sau cao hơn năm trước. Các chính sách vĩ mô hướng ngoại của Việt Nam đã không mang lại đến quả mong muốn. Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu được chú trọng thúc đẩy nhưng lại tạo ra giá trị gia tăng quá thấp nên phần thu nhập còn ở lại trong nước không đủ bù đắp cho nhu cầu tiêu dùng nội địa ngày một tăng. Trong khi đó chiến lược khuyến khích sản xuất thay thế hàng nhập khẩu lại được thực hiện bằng việc bảo hộ bởi các rào cản hành chính là thuế và giấy phép. Sự bảo hộ này lại chỉ dành cho thành phần kinh tế nhà nước và nước ngoài. Các doanh nghiệp được bảo hộ lại khai thác lợi thế đó để bán giá cao cho người tiêu dùng trong nước. Nhà nước giảm nguồn thu thuế, người dân bị giảm sức mua, tất cả lợi ích này chạy hết vào túi các doanh nghiệp được bảo hộ và các quan chức làm nhiệm vụ bảo hộ. Điều trớ trêu là lợi ích càng cao thì khả năng cạnh tranh của chúng càng thấp. Sau khi gia nhập WTO thì các rào cản hành chính dần bị gỡ bỏ, thuế suất nhập khẩu giảm dần nên hàng nhập khẩu giá rẻ và chất lượng tốt hơn trở thành lựa chọn chính đáng của người dân. Các doanh nghiệp được bảo hộ giờ đây không còn sức chống đỡ, nhiều doanh nghiệp nhà nước thì không biết làm gì ngoài việc kinh doanh trái ngành nghề như đầu tư vào chứng khoán, tài chính và bất động sản; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì đóng cửa sản suất xoay sang kinh doanh hàng nhập khẩu. Nhập siêu tăng vọt là tất yếu. Cầu tiêu dùng nội địa Một phần nhu cầu tiêu dùng nội địa trước giờ được đáp ứng tốt bởi các nhà sản xuất khu vực tư nhân. Nhưng nguồn cung này đang bị sụt giảm và đe dọa nghiêm trọng bởi lãi suất cho vay quá cao hiện nay. Lực lượng sản xuất này đang chịu đựng để duy trì hoạt động, đầu tư phát triển để tăng thêm sản lượng là chuyện không thể. Trong khi đó, nếu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam trong thời gian tới đây thì sẽ làm tăng mạnh mức cầu đầu tư trong nước. Đầu tư này chưa thể tạo ngay ra sản phẩm trong vòng 1-2 năm nên sẽ gia tăng sự thiếu hụt nguồn cung hàng hóa và dịch vụ. Điều đó sẽ tạo áp lực lên nhu cầu tiêu dùng nội địa làm nó càng tăng giá. Sự khan hiếm hàng hóa tất yếu xảy ra. Để hoàn tất việc đầu tư nhanh chóng, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng cường nhập khẩu. Với nguồn đô-la ngoại sẵn có cộng với chính sách miễn giảm thuế để thu hút FDI thì việc nhập khẩu này trở nên quá dễ dàng và thuận lợi. Nhập siêu lại tăng, bắt đầu cho một vòng xoáy lẩn quẩn mới. Vốn đầu tư vừa rót vào lại chảy ra ngay lập tức. Người dân chưa kịp hưởng thành quả của đầu tư thì đã bị lạm phát và khan hiếm hàng hóa hoành hành ngay lập tức. Như vậy có thể thấy nguyên nhân gốc của vấn đề lạm phát và nhập siêu là do nhu cầu tiêu dùng nội địa đã không được chú trọng để có giải pháp đáp ứng hiệu quả. Chính phủ đang giải quyết vấn đề này bằng lệnh kiềm chế giá một số mặt hàng thiết yếu. Nhưng đây lại chính là nguyên nhân làm gia tăng thêm lạm phát và thiếu hụt nguồn cung. Nhìn thẳng vào sự thật sẽ thấy người dân không được hưởng mức giá đó. Các mức giá đó chỉ tồn tại trên sổ sách và được dùng để thống kê chỉ số giá tiêu dùng CPI. Nhưng nó lại để ngỏ một cơ hội tuyệt vời cho tham nhũng. Bình thường không ai dễ dàng gì làm cái việc bán rất rẻ sản phẩm của mình dưới giá thị trường để nhận những khoản đút lót lớn của các đại lý phân phối, tuy nhiên khi có mệnh lệnh hành chính là phải kiềm giá để hỗ trợ chống lạm phát thì việc này trở nên rất hợp pháp. Đại lý phân phối các mặt hàng này muốn mua được hàng buộc phải chi một khoản tiền hối lộ lên đến 80% phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá kiềm chế. Và đây mới chính là căn nguyên của nạn đầu cơ trục lợi mà các quan chức chính phủ lớn tiếng phê phán, đổ lỗi cho người dân và doanh nghiệp. Những nhà sản xuất đàng hoàng không thể lươn lẹo như vậy, cũng không thể phạm pháp mà bán cao hơn giá chính phủ yêu cầu, theo giá này thì sẽ chịu lỗ lớn mà người tiêu dùng cuối cũng chẳng đuợc hưởng gì. Họ chỉ còn cách dừng sản xuất làm cho sản lượng cung ứng cho toàn xã hội càng sụt giảm trong lúc nhu cầu thì không giảm. Giá cả vì thế càng leo thang. Những nguyên vật liệu đã nhập khẩu để sản xuất lại được xuất ngược trở ra. Nhập siêu vì thế mà giảm chút ít. Triệu chứng chườm đá ấy lại được tuyên truyền lạc quan. Hiện tượng một số ngân hàng hạ lãi suất cho vay hiện nay là sự áp dụng bài vở này của những quan chức tham nhũng lọc lõi. Lựa chọn chống lạm phát Chúng ta đang ở trong tình trạng bệnh rất nặng. Nếu các triệu chứng phát bệnh trầm trọng bị che dấu thì đến khi nó bùng phát sẽ không còn cách nào chữa trị. Nguy hại hơn nữa là nó làm cho định bệnh sai dẫn đến chọn sai phương thuốc. Nếu không mau chóng chấm dứt chính sách lãi suất cao để chống lạm phát thì nền kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ ngay vào năm sau. Có 2 phương thức để chống việc tăng giá do lạm phát tiền. Thứ nhất là thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền đang lưu hành bằng cách tăng lãi suất đi kèm với cắt giảm chi tiêu. Thứ hai là gia tăng sản lượng nhưng không tăng thêm lượng tiền lưu hành. Cách thứ nhất làm giảm sản lượng dẫn đến thiếu hụt nguồn cung, hậu quả của nó đối với nền kinh tế Việt Nam như vừa phân tích ở trên. Cách thứ hai là lựa chọn tối ưu cho tình hình của chúng ta hiện nay. Tuy nhiên những thầy thuốc ngoại danh giá đã đồng loạt khuyến nghị, thậm chí tạo sức ép lên chính phủ để phương thức thứ nhất phải được thực hiện. Nền kinh tế Việt Nam lâu nay tăng trưởng dựa chủ yếu vào sự gia tăng nguồn vốn chứ không phải nâng cao năng suất và giá trị sáng tạo. Điều này chưa bao giờ được chú trọng cải thiện mà còn bị làm xấu hơn do hiệu quả đầu tư ngày càng thấp của khu vực kinh tế nhà nước. Hiệu quả sử dụng vốn chưa được cải thiện mà thắt chặt tiền tệ, nâng cao lãi suất, cắt giảm chi tiêu thì chẳng khác gì hút máu khỏi cơ thể và khai tử các doanh nghiệp trong nước. Nó đồng thời tạo ra một khoảng trống tuyệt vời cho các doanh nghiệp nước ngoài vốn chẳng bị ảnh hưởng gì bởi chính sách thắt chặt tiền tệ lấp vào thay thế. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tăng vọt gần đây. Các nhà doanh nghiệp nước ngoài thừa biết và có thể dự báo chính xác được thời điểm xảy ra những khoảng trống như vậy. Và do đó, lúc nào thì sẽ thực hiện giải ngân nguồn vốn đã đăng ký để hưởng ưu đãi là những kế hoạch đầy mưu tính để đạt được hiệu quả tối ưu. Hãy xem xét lý thuyết của phương thức thứ nhất – thắt chặt tiền tệ để hút tiền về bằng lãi suất cao. Nguyên lý hoạt động: đầu tiên sản lượng sẽ giảm do các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất vì thiếu vốn, dẫn đến sa thải làm tăng mức thất nghiệp; cung lao động gia tăng nên sẽ làm thay đổi kỳ vọng của người lao động về mức lương doanh nghiệp phải trả; điều này làm giảm thu nhập cá nhân dẫn đến giảm nhu cầu chi tiêu và giữ tiền; và do đó sẽ làm cho mức cầu hàng hóa và tiền giảm xuống nên cung tiền cũng giảm. Lạm phát nhờ vậy mà hạ nhiệt. Khi lạm phát giảm thì có thể điều chỉnh hạ lãi suất, từ đó sẽ tăng ngồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất làm giảm thất nghiệp và tăng nguồn cung hàng hóa. Liệu đây có phải là những gì mà người dân chúng ta sẽ kỳ vọng và chấp nhận? Những nghiên cứu thực chứng gần đây của các nhà kinh tế học tại nhiều nước áp dụng phương thức này đã chứng minh rằng những tác động của nguyên lý trên chỉ có thể tạo ra sự điều chỉnh đầy đủ trong vòng 2 năm. Hai năm là quá đủ để những khoảng trống tai hại nói trên được lấp đầy kín. Bây giờ hãy xem xét tiếp cách thức áp dụng thực tế lý thuyết này. Trước hết nó đòi hỏi rằng giá cả của hàng hóa, dịch vụ và tiền lương phải hoàn toàn linh hoạt theo phương thức thị trường, đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho nguyên lý của nó hoạt động. Một nền kinh tế rơi vào lạm phát cao, chính phủ của nó sau khi nghiên cứu rất kỹ để đưa ra những con số lạm phát thấp hơn dần rất cụ thể cho từng thời kỳ (gọi là lạm phát kỳ vọng). Tất cả những chỉ số giá này phải được công bố với toàn dân cùng với cam kết chống lạm lạm phát kiên quyết bằng cách thắt chặt tiền tệ. Niềm tin là một yếu tố rất quan trọng mà chính phủ phải có được từ dân chúng để họ tin tưởng mà thay đổi kỳ vọng của mình theo ý chí của chính phủ. Để đạt được điều này, chính phủ phải cam kết và thực hiện đúng việc cắt giảm chi tiêu của các cơ quan công quyền (bao gồm cả thu nhập của công chức) đồng thời với việc tăng trợ cấp và an sinh xã hội để hỗ trợ cho những người bị mất việc làm; điều chỉnh mức thuế thu nhập cá nhân để phù hợp với thu nhập thực tế bị giảm xuống do lạm phát tăng. Ngân hàng Trung ương sẽ liên tục quan sát và đo lường mức lạm phát thực tế và điều chỉnh nhanh chóng lãi suất theo nguyên tắc thực dương, tức là làm sao để lãi suất tiền gửi phải luôn cao hơn mức lạm phát hiện hành ở một mức cố định (gọi là lãi suất thực tế). Quá trình đo lường và điều chỉnh này phải diễn ra liên tục và nhanh chóng cho đến khi lạm phát giảm xuống mức kỳ vọng và xác lập trạng thái cân bằng dài hạn của nền kinh tế tại đó. Không chọn lãi suất cao So sánh với những gì đang diễn ra ở Việt Nam thì có thể thấy trước sự thất bại nặng nề của việc áp dụng lý thuyết này. Giá cả bị áp chế và dùng đó để đo lường chỉ số lạm phát. Không hề thấy chính phủ đưa ra một lộ trình cụ thể cho những chỉ số lạm phát kỳ vọng thấp dần theo từng thời điểm như thế nào, người dân chỉ được biết chung chung khi báo chí đưa tin về việc thủ tướng trả lời đại diện tập đoàn J.P Morgan Chase ngày 05-06-2008 rằng “lạm phát sẽ được hạ dần dần về mức một con số vào năm 2010”. Niềm tin thì lấy đâu ra khi mà cam kết trợ giá xăng dầu cho toàn dân bị thất hứa đột ngột, những chương trình trợ cấp cho một số đối tượng thì bị tệ quan liêu tham nhũng hạch họe và cắt xén. Có nhiều tiếng nói đề nghị xem xét điều chỉnh ngay mức đóng thuế theo pháp lệnh thuế thu nhập cho người có thu nhập cao hiện hành, thay đổi mức khởi điểm đóng thuế thu nhập cá nhân theo luật thuế mới sẽ được áp dụng đầu năm 2009 hoặc dời thời điểm thực hiện nó. Nhưng các quan chức tổng cục Thuế “thay mặt” quốc hội trả lời dứt khoát là không cần thiết. Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009 của bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2008 tăng cao, vượt xa mức dự toán và cùng kỳ năm 2007[5]. Lạm phát là một thứ “thuế” khủng khiếp đánh vào toàn dân làm giảm thu nhập thực tế của họ. Thuế nhà nước lại không điều chỉnh, đánh luôn vào phần thu nhập bị sụt giảm thì sức dân làm sao chịu đựng nổi. Chọn phương thuốc không phù hợp, lại dùng nó một cách sai trái thì hậu quả không thể lường hết được. Chỉ xét trên mục tiêu chống lạm phát của liều thuốc này được áp dụng ở nhiều nước, chưa nói đến những hệ quả mà nó tạo ra: có rất nhiều nước đã thất bại không thể hạ nhiệt lạm phát dù họ đã áp dụng nghiêm ngặt cách dùng thuốc. Lý do: chính phủ không tạo được niềm tin đối với dân chúng. Biện pháp này trên thực tế chỉ có thể áp dụng thành công ở những nước có nền kinh tế phát triển khá cao, có một hệ thống đảm bảo an sinh xã hội rất mạnh và sâu rộng, trạng thái kinh tế đã đạt gần tới mức toàn dụng lao động và sản lượng tiềm năng[6]. Nhưng điều quan trọng và trên hết là nội lực của nền kinh tế đó đã phải rất mạnh để chống lại những hệ quả do tác động của ngoại lực gây ra. Một cơ thể yếu không thể dùng một liều thuốc mạnh. Những thầy thuốc danh giá đã không hề cảnh báo cho con bệnh như vậy. Tệ hại hơn, họ lờ đi một điều kiện ban đầu rất quan trọng của lý thuyết này: “tốc độ lưu thông tiền giả định là không thay đổi”. Tốc độ lưu thông tiền là tốc độ lưu chuyển của lượng tiền trong một nền kinh tế. Tốc độ này càng cao thì lượng tiền cần càng ít cho cùng một khối lượng giao dịch. Đây là điều thực sự rất có ý nghĩa đối với việc quản trị kinh tế vi mô lẫn vĩ mô. Trong quản lý doanh nghiệp, nếu mỗi năm cần tạo ra mức doanh số 100 đồng mà số vòng quay vốn chỉ đạt 1 vòng/năm thì người ta cần đến 100 đồng vốn, nhưng nếu quay được 2 vòng/năm thì người ta chỉ cần 50 đồng vốn, nếu 4 vòng/năm thì chỉ cần 25 đồng vốn. Cứ thế, tốc độ quay vòng càng nhanh người ta càng cần ít vốn. Trong kinh tế vĩ mô cũng vậy, cùng một giá trị sản lượng (GDP) nếu môi trường kinh tế thông thoáng, vận hành trơn tru, tốc độ lưu thông tiền nhanh chóng thì nền kinh tế đó sẽ cần một lượng tiền ít hơn so với tình trạng ngược lại. Lý thuyết nói trên ngụ ý rằng khi mà tốc độ lưu thông tiền đã đạt mức tối ưu, không còn có thể cải thiện hơn được nữa bằng những biện pháp khác, thì gia tăng lãi suất lúc đó là cách khả dĩ duy nhất nhằm gia tăng tốc độ lưu thông tiền để giảm lượng cung tiền nên giảm được lạm phát. Điều này một lần nữa giải thích vì sao lý thuyết này chỉ có thể áp dụng cho những nền kinh tế đã có trình độ phát triển cao, tệ quan liêu tham nhũng ở mức rất thấp. Tốc độ lưu thông tiền Như vậy bản chất của vấn đề là gia tăng tốc độ lưu thông tiền. Hiểu được điều này Việt Nam ta có thể tự xây dựng một phương thức chống lạm phát hữu hiệu mà không tạo ra những hậu quả nghiêm trọng kèm những tác động khác không lường trước được. Về nguyên lý, khi gặp tình trạng lạm phát tiền thì một là hút lượng tiền đã cung ứng thừa trở về, hai là tăng sản lượng (tức là giá trị của cải) tương ứng với lượng tiền đã cung thừa ra. Phương thức thứ nhất dùng lãi suất đã phân tích là không phù hợp vì sẽ tạo ra những hậu quả nghiêm trọng. Phương thứ thứ hai thì nguy cơ ở chỗ lạm phát có thể tác động nhanh và mạnh gây sụp đổ nền kinh tế trước khi nó có thể tạo ra một lượng của cải cân bằng. Tuy nhiên, trong cái rủi có cái may: tốc độ lưu thông tiền hiện nay của nền kinh tế Việt Nam quá thấp[7] mà lý do chính của nó cũng là do tệ quan liêu tham nhũng gây ra. Quyết tâm cải cách hành chính thực sự và kiên quyết chống tham nhũng thực tâm sẽ có thể tăng tốc độ lưu thông tiền của cả nền kinh tế lên nhiều lần. Nó không những không tạo ra hệ quả xấu mà còn gia tăng hiệu quả đầu tư vốn (ICOR) cho cả nền kinh tế. Thành phần kinh tế nhà nước lâu nay chiếm tỷ trọng khoảng 37% GDP. GDP là đại lượng đại diện tốt nhất cho khối lượng giao dịch trong quá trình lưu thông vận hành của một nền kinh tế. Có nghĩa rằng thành phần kinh tế nhà nước chiếm đến 37% các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế được vận hành theo một chu trình khép kín mà nhà nước, doanh nghiệp và người dân là những mắc xích quan trọng. Ở Việt Nam nhà nước tham gia vào chu trình này với hai tư cách, vừa là doanh nghiệp, vừa là chính phủ. Do vậy sự ì ạch của khu vực nhà nước sẽ tạo ra sự chậm chạp, tắt nghẽn ở cả hai mắc xích lớn tập trung nhiều lưu lượng, gây ảnh hưởng dây chuyền lên toàn bộ chu trình và những mắc xích còn lại. Những doanh nghiệp tư nhân làm ăn với những doanh nghiệp nhà nước luôn phải chịu thiệt thòi về vòng quay vốn, chẳng có hợp đồng nào dù nhỏ có thể thu hồi tiền dưới 1 năm, trung bình là 2 năm, dài thì có khi vài ba năm. Cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước thì còn tệ hơn nữa. Các giao dịch giữa người dân, doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước theo nghĩa công bộc của dân thì lại càng tồi tệ. Muốn nhận được tiền thoái thu thuế thì không khác gì ăn xin. Tiền vốn đã bỏ ra nhập hàng phải nằm chờ hải quan kiểm hóa thông quan đến cả tuần lễ. Tiền và vât liệu xây dựng nằm chờ để xin được giấy phép xây sửa nhà. Có thể kể cả tháng mà không hết tất cả những thứ tương tự làm tắt nghẽn lưu thông tiền. Thu hồi vốn chậm nên doanh nghiệp và người dân phải vay tiền ngân hàng, vì thế lượng cung tiền gia tăng trong khi giá trị của cải (sản lượng) chẳng tăng lên chút nào mà còn phải chia sẻ cho các ngân hàng do lãi suất vay. Lạm phát ở Việt Nam trong nhiều năm liền luôn ở mức cao là vì vậy. Giới ngân hàng nhờ đó hưởng lợi lớn quá dễ dàng mà chẳng cần sáng tạo cung cấp thêm dịch vụ gì có lợi cho doanh nghiệp và người dân. Kết quả là đã tạo ra ma lực kéo người ta ùn ùn bỏ vốn đi lập ngân hàng. Một số ngân hàng cho vay vô tội vạ mà không ý thức rằng mình đang “in” thêm tiền cho nền kinh tế. Tốc độ lưu thông của cả nền kinh tế chậm đến là vậy. Thế nhưng ở một vài lĩnh vực cục bộ thì lại có tốc độ nhanh đến dị thường, quay vòng nhanh lẹ đến chóng mặt. Đó chính là thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Chẳng có đâu trên thế giới mà chứng khoán lên ồ ạt rồi xuống ào ào trong vòng một vài tháng, bất động sản thì sốt rồi đóng băng vài ba lần chỉ trong vòng hơn 3 năm. Ai cũng hiểu là do những nhóm lợi ích mạnh thao túng, nhưng thực tế là họ chẳng thể làm được nếu không có sự tiếp tay của quan chức nhà nước. Khi hai thị trường này sốt đến chóng mặt thì nhà nước lại hồ hởi, báo chí lại hoan nghênh. Không biết người ta có hiểu rằng đó vừa là triệu chứng của một căn bệnh nặng, vừa là nguyên nhân làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng như ngày nay hay không. Lượng tiền các ngân hàng cung ra được bơm vào vòng xoáy hút nhồi của 2 thị trường này, nó hút luôn cả những nguồn vốn trong dân và lĩnh vực kinh tế khác. Kết quả nó tạo ra là một nền kinh tế thừa tiền nhưng thiếu vốn. Lưu thông tiền vì thế lại càng chậm chạp. Nó tạo ra rất ít của cải vật chất, thậm chí không có nhưng lại sản sinh ra một lớp người có rất nhiều tiền. Lớp người này kiếm tiền quá dễ nên tiêu xài bạt mạng cho những nhu cầu xa xỉ, tạo thêm gánh nặng và cả tệ nạn cho xã hội. Sự phồn vinh giả tạo là vì thế. Xem tiếp tại đây Tải file pdf và prc (đọc trên di động) tại đây Chú dẫn: [1] Bao gồm: vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước khoảng 102 nghìn tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ đạt 25 nghìn tỷ đồng, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đạt 40 nghìn tỷ đồng, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước đạt 71 nghìn tỷ đồng. [2] Bao gồm: nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 125 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 35 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước khoảng 50 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp nhà nước khoảng 85 nghìn tỷ đồng. [3] Tài liệu “Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009” của bộ KHĐT không đưa ra số dự báo cho năm 2010. [4] Incremental Capital Output Ratio. Do đặc điểm về độ trễ trong hiệu quả đầu tư nên các chỉ số này được thống kê một giai đoạn dài 3 năm (2005-2007) và dùng chúng để tính mức tăng trưởng dựa trên mức đầu tư cho giai đoạn 3 năm kế tiếp (2008-2010), xem như 3 thành phần kinh tế sẽ giữ nguyên hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho tăng trưởng. Tình hình thực tế hiện nay thì chỉ có thành phần kinh tế có vốn nước ngoài là có khả năng gia tăng hiệu quả này. [5] Nguyên văn: “Thu ngân sách nhà nước 6 tháng tăng cao bảo đảm nhu cầu chi tiêu cần thiết, nhất là bảo đảm cấp đủ kinh phí thực hiện các chính sách an sinh, xã hội. Thu NSNN 6 tháng đạt 195.850 tỷ đồng, bằng 60,6% dự toán, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2007 và bằng 31,3% GDP; trong đó: thu nội địa (không kể dầu thô) ước đạt 107.300 tỷ đồng, bằng 56,7% dự toán (cùng kỳ năm 2005 đạt 53,8%, năm 2006 đạt 48,8%, năm 2007 đạt 46,1%), tăng 37,3% so với cùng kỳ năm 2007; thu từ dầu thô đạt 42.210 tỷ đồng, bằng 64,3% dự toán, tăng 40,8% so với cùng kỳ. Giá dầu thanh toán tháng 6 bình quân đạt 125 USD/thùng, bình quân 6 tháng đầu năm đạt 105 USD/thùng, tăng 41 USD/thùng so với dự toán; sản lượng dầu thanh toán ước đạt 6,89 triệu tấn, bằng 44,5% dự kiến năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 43.740 tỷ đồng, bằng 67,8% dự toán năm, tăng 53,7% so với cùng kỳ. Cả năm 208 phấn đấu thu ngân sách Nhà nước ước đạt trên 358 nghìn tỷ đồng, tăng 11% so với dự toán năm. Trong đó: thu nội địa đạt 198 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với dự toán; thu từ dầu thô đạt trên 85 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8% so với dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 71 nghìn tỷ đồng, tăng trên 10% so với dự toán. Tổng chi ngân sách nhà nước dự kiến đạt 369 nghìn tỷ đồng, giảm 7,4% so với dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 102 nghìn tỷ đồng, tăng 4% so với dự toán. Bội chi ngân sách khoảng 59 nghìn tỷ đồng, bằng 4% GDP. Năm 2009 Tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 379-388 nghìn tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 461-470 nghìn tỷ đồng. Bội chi ngân sách nhà nước khoảng 87.000 nghìn tỷ đồng, bằng 5% GDP. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 thấp hơn năm 2008.” [6] Thuật ngữ kinh tế học để chỉ mức sản lượng mà một nền kinh tế làm ra được nếu tất cả các lực lượng sản xuất được sử dụng đầy đủ. [7] So với các nước phát triển thấp hơn cả chục lần, với các nước công nghiệp tới vài lần.

Tham nhũng hãm tốc độ

Chẳng có gì là không chính xác khi nói rằng nguyên nhân của tất cả mọi vấn đề trên làm nền kinh tế lưu thông ì ạch là do tham nhũng. Vì để được hối lộ nên những thủ tục hành chính quan liêu không thể cải thiện bất chấp quyết tâm cải cách hành chính từ trên cao. Người dân muốn được việc thì phải chi tiền bôi trơn, càng làm giảm đi nguồn vốn. Vì để được đút lót, ăn chia những món lợi béo bở từ làm giá đầu cơ chứng khoán, bất động sản nên quan chức mới tiếp tay cho những nhóm lợi ích. Tham nhũng không những làm chậm tốc độ lưu thông tiền mà còn giảm mạnh hiệu quả sử dụng vốn. Một tác động kép thật tai hại.

Tham nhũng là nhân chứ không phải là quả, không như chủ tịch nước thường nói “tham nhũng là do ta quản lý kém”. Do tham nhũng nên hệ thống quản lý kém đã cố tình được tạo ra và duy trì. Muốn chống tham nhũng thì phải hạn chế rồi tiến đến triệt tiêu động lực tham nhũng. Thế nào để làm được điều đó thì đã có nhiều góp ý gửi cho các vị lãnh đạo cao nhất từ lâu. Vấn đề còn lại là ở các vị. Chống tham nhũng vừa dễ vừa khó. Dễ vì nó chẳng tốn kém gì mà lại còn được lợi, không phải đánh đổi cái gì khác như các giải pháp chống lạm phát đang thực hiện. Khó vì nó đòi hỏi người ta phải vượt qua khỏi những gì đời thường, những vấn đề lịch sử, những vấn đề tình cảm và lợi ích cá nhân để chỉ nhắm đến một thước đo duy nhất: quyền lợi của đa số dân chúng.

Ở Việt Nam nhập siêu tăng nhanh cũng có phần đóng góp của tham nhũng. Các quan chức tham lam giờ đây thích tích trữ tài sản ở nước ngoài. Họ yêu cầu các đơn vị cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên liệu và dịch vụ nhập khẩu phải thanh toán tiền hối lộ ở bên ngoài. Giá nhập khẩu vì vậy mà bị nâng lên. Năm ngoái thủ tướng chính phủ có văn bản chỉ thị một số chủng loại hàng hóa mà các đơn vị nhà nước phải mua qua các doanh nghiệp trong nước thì các quan chức tham nhũng này yêu cầu các nhà thầu trong nước phải có công ty đại diện ở nước ngoài để ký hợp đồng cung ứng cho những phần hàng hóa nhập khẩu. Với mức nhập khẩu lớn như Việt Nam hiện nay, một khoản thất thoát 5-10% từ nhập khẩu của các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước cũng làm cho nhập siêu tăng thêm vài tỷ đô-la Mỹ một năm.

Chống lạm phát hiệu quả

Một lần nữa, xin được kêu gọi chính phủ hãy dừng ngay chính sách thắt chặt tiền tệ gia tăng lãi suất để chống lạm phát. Hãy tập trung gia tăng tốc độ lưu thông tiền cho cả nền kinh tế bẳng cải cách hành chính kèm chống tham nhũng triệt để. Song song đó, tập trung lành mạnh hóa ngay thị trường chứng khoán và bất động sản để đưa nó vào chu trình vận hành chung của cả nền kinh tế nhằm thực sự tạo ra của cải vật chất phục vụ cho người dân chứ không phải là công cụ để đầu cơ trục lợi. Điều này đồng nghĩa với việc nó sẽ được trả về với giá trị thực và sẽ có không ít kẻ đầu cơ phá sản. Nhưng tuyệt đối không cứu thị trường, không cứu bất kỳ ai tham gia vào thị trường bằng bàn tay của nhà nước. Thay vào đó là tập trung xác lập một thị trường hoàn toàn cạnh tranh[8], đảm bảo sự công bằng cho mọi thành phần kinh tế kể cả nước ngoài được tham gia dễ dàng vào thị trường. Nhưng nhà nước phải có những chương trình hỗ trợ (chứ không phải bảo hộ) cho các thành phần kinh tế trong nước bằng những biện pháp xanh phù hợp với qui định của WTO.

Thực tế sau gần 5 tháng thực hiện thắt chặt tiền tệ cho thấy nó chẳng mang đến kết quả nào cho việc chống lạm phát. Cung tiền thay vì phải giảm thì vẫn tiếp tục tăng nhưng tốc độ lưu thông tiền vẫn chậm chạp[9]. Tiền tăng nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn, doanh nghiệp trong nước vẫn khát tiền, người dân không có niềm tin lạm phát sẽ giảm. Đua tranh lãi suất để thu hút tiền tiết kiệm trong dân thực chất không khác gì tiếp máu để nuôi những hạch ung thư chứng khoán và bất động sản. Chỉ có cách tăng cao tốc độ lưu thông tiền thì doanh nghiệp sẽ cần ít vốn đi mà vẫn có thể tăng được sản lượng nhanh chóng với chi phí thấp – một yếu tố quan trọng để giảm lạm phát. Nếu làm thật tốt điều đó thì có khi chẳng cần phải vay thêm vốn, có thể điều chuyển vốn lưu động đang dôi ra (do tốc độ quay vòng vốn được cải thiện) để đầu tư phát triển, tiếp tục tạo ra sản phẩm đáp ứng rất tốt cho nhu cầu tiêu dùng và đầu tư trong nước.

Về phía người dân, một chính sách vĩ mô đúng đắn vào lúc này là phải thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng nội địa và làm sao để người dân có đủ sức mua nhằm gia tăng thể lực, trí lực hơn nữa để thay đổi thành phần của mình cao hơn. Trí lực và thể lực của người dân là những nền tảng quan trọng để tạo ra của cải cho quốc gia, chúng càng tốt thì đất nước càng mạnh, người dân càng giàu. Có tiền mà đem cất đi thì người ta không thể thay đổi tốt hơn, xã hội không thể phát triển thịnh vượng. Quốc hội cần điều chỉnh ngay mức phải nộp thuế thu nhập dành cho người có thu nhập cao hiện hành phù hợp với mức độ lạm phát, cần đình hoãn việc thi hành luật thuế thu nhập cá nhân vào đầu năm sau đến một thời điểm thích hợp. Việc này chắc chắn sẽ tạo niềm tin cho dân chúng rất lớn để tiếp tục đầu tư vào tương lai, thay vì hoài nghi phòng thủ bằng những kế hoạch dự phòng tiêu cực như hiện nay. Khi không có niềm tin thì việc làm đó của người dân là chính đáng.

Việc lành mạnh hóa thị trường chứng khoán và bất động sản sẽ thực sự giải nguy cho các ngân hàng vốn đang rất nguy cấp vì bị chôn một lượng tiền cực lớn vào đó. Không những thế, nó còn làm giảm ngay áp lực đua tranh gia tăng lãi suất. Cùng với lượng vốn cần ít đi do tốc độ lưu thông tiền tăng mạnh chắc chắn sẽ kéo lãi suất xuống mức thấp. Làm thật tốt thì kéo lãi suất xuống dưới 10% trong năm nay không phải là việc quá khó. Chính phủ không được can thiệp, ngược lại cần hỗ trợ các ngân hàng phát mãi các tài sản thế chấp không thanh toán được nợ cho dù con nợ đó có là ai. Số tiền thu hồi về có thể không thể bằng lúc cho vay ra nên phải chịu lỗ nặng, nhưng lỗ nặng còn hơn là sụp đổ lúc chưa kịp lỗ. Dù sao các ngân hàng cũng đã được hưởng lợi quá lớn thời gian trước. Ngân hàng không còn nguy cơ, doanh nghiệp không bị khát vốn, người dân không cần thủ nhiều dự trữ thì sức mạnh của những kẻ ghim giữ tiền với những mưu tính thâm hiểm sẽ giảm đi một cách đáng kể.

Những kẻ này muốn đưa tiền vào lưu thông cũng không phải dễ nếu như chính phủ có biện pháp chống đầu cơ hữu hiệu. Muốn vậy thì giá cả phải được hoàn toàn linh hoạt theo nguyên tắc thị trường đồng thời với việc chính phủ phải tập trung giám sát và chế tài nghiêm ngặt việc tuân thủ luật pháp để duy trì một môi trường cạnh tranh quyết liệt. Việt Nam đã có đủ những bộ luật như vậy, điều cần thay đổi là sửa các nghị định để tăng mức xử phạt hành chính lên thật cao, thật thích đáng. Việc ghìm giá chẳng mang đến lợi ích gì ngoài việc tiếp tay cho tham nhũng và làm giảm động lực đầu tư cho sản xuất để gia tăng sản lượng.

Duy nhất 3 mặt hàng là xăng dầu, điện, nước cần được nhà nước trợ giá. Việc nâng giá xăng dầu vừa rồi chính phủ đã bỏ mất một cơ hội và công cụ quan trọng để tạo sự bình ổn vĩ mô. Nếu giữ mức giá cũ thì ngân sách nhà nước chỉ cần bù không quá 15 ngàn tỷ đồng trong năm nay (không thể là trên 70 ngàn tỷ như bộ trưởng Tài chính phát biểu). Con số này quá nhỏ so với thu 85 ngàn tỷ đồng từ dầu thô vào ngân sách 2008, nó chưa bằng khoản thặng dư tăng thêm do giá dầu thô tăng vọt. Trong tình hình vĩ mô rất nhiều biến động, các nhà quản lý rất cần một số cái neo để cố định một vài yếu tố đầu vào quan trọng. Khủng hoảng giá dầu thế giới gây rối loạn cho rất nhiều nền kinh tế. Nhưng Việt Nam may mắn khai thác được dầu thô. Dùng thặng dư do tăng giá dầu thô để trợ cấp giữ cố định giá xăng dầu cho toàn dân, cho cả nền kinh tế là biện pháp vừa hợp đạo lý, vừa mang lại hiệu quả cao. Nhiều ý trả lời, phát biểu của nhiều quan chức chính phủ cho thấy những quan điểm sai lầm: trợ giá là phi kinh tế thị trường trong khi đó các mệnh lệnh hành chính để áp chế giá cả lại được xem là cần thiết của chính phủ trong nền kinh tế thị trường. Những phản bác chỉ trích về việc trợ giá xăng dầu nếu có sẽ đến từ những nước thành viên WTO, nhưng tới hiện nay Việt Nam chưa bị ràng buộc bởi những việc làm như thế. Giá xăng dầu đã được điều chỉnh lên bằng mức ở Mỹ, ở Úc. Thế nhưng bộ trưởng Tài chính vẫn dự kiến có thể sẽ phải bù trên 50 ngàn tỷ đồng cho đến cuối năm nay thì thực sự phải đáng lo ngại.

Quốc doanh và tư nhân

Cần tạo điều kiện ngay cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh doanh mà Việt Nam đã cam kết mở cửa cho nước ngoài theo lộ trình gia nhập WTO, sắp tới là hiệp định đầu tư song phương với Mỹ. Doanh nghiệp tư nhân hiện nay không chỉ bị hạn chế đầu tư bởi lãi suất cao mà còn bị gạt ra bên ngoài bằng rào cản pháp lý. Những lĩnh vực có khả năng sinh lời cao hiện nay chỉ dành cho doanh nghiệp nhà nước và được cam kết cho nước ngoài tham gia vào sau 3 đến 5 năm gia nhập WTO. Doanh nghiệp trong nước không có lý do gì không thể tận dụng lợi thế đi trước trên sân nhà. Doanh nghiệp tư nhân thì không được làm, doanh nghiệp nhà nước cả năm nay dồn sức cho những khoản đầu tư vào chứng khoán, tài chính-ngân hàng, bất động sản và nhiều việc trái nghề khác, giờ thì loay hoay với cắt giảm đầu tư công. Điều này lại càng tạo ra thêm những khoảng trống tai hại cho các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng lấp vào.

Hơn nữa, cần thay đổi vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước là để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển, chứ không phải trở thành những đối thủ cạnh tranh mạnh, trực diện với khu vực tư nhân như hiện nay. Với tiềm lực lớn, các doanh nghiệp nhà nước luôn phải đi tiên phong để đầu tư vào những hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi đầu tư lớn để phục vụ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, xem họ là khách hàng của mình. Người ta sẽ phải hỗ trợ và nâng đỡ khách hàng của mình chứ không thể chèn ép như tình trạng hiện nay. Làm được như vậy thì cả 2 khu vực doanh nghiệp trong nước đều mạnh, tạo ra một nội lực rất khỏe. Chính sức mạnh này sẽ cuốn các đầu tư nước ngoài vào để gia tăng thêm giá trị và sức mạnh cho guồng máy kinh tế Việt nhờ kết hợp với công nghệ ngoại và kết nối với thị trường quốc tế. Với thực trạng “chia rẽ” như hiện nay nền kinh tế đã yếu lại còn yếu hơn khi dòng vốn ngoại ập vào. Khối ngoại sẽ điều khiển cuộc chơi, những tập đoàn và tổng công ty nhà nước sẽ chẳng khác gì những con hổ giấy, dễ dàng bị xé nát, bán rẻ.

Một khi các doanh nghiệp nhà nước mạnh lên theo như cách đã đề cập ở trên, tự nó sẽ tạo ra một động lực giải tư lành mạnh đặt trên lợi ích của quốc gia hài hòa với tất cả các thành phần kinh tế. Động lực như vậy sẽ hoàn toàn khác với những kiểu động lực của cổ phần hóa hiện nay. Khách hàng – những doanh nghiệp tư nhân đương nhiên là muốn được sở hữu một phần các nhà cung cấp chủ lực của mình, ngược lại thì các nhà cung cấp này cũng muốn khách hàng của mình trở thành cổ đông. Điều này sẽ tạo ra những cấu trúc cổ đông hiệu quả, chặt chẽ nên càng gia tăng giá trị của doanh nghiệp. Sẽ thực sự tai hại nếu nghĩ rằng chỉ có cách bán rẻ cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược (được hiểu là nước ngoài) thì mới có thể làm cho doanh nghiệp nhà nước mạnh lên.

Chính trị và xã hội

Nếu không chấp nhận thay đổi và thay đổi nhanh chóng từ nay đến cuối năm 2009 thì chắc chắn rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ lệ thuộc mạnh mẽ vào nước ngoài khi những cam kết mở cửa sâu rộng với quốc tế có hiệu lực. Hãy nhìn vào nhiều nước ở châu Mỹ La tinh mà xem, nước ngoài sở hữu và chi phối hầu hết nền kinh tế. Những nơi đó có rất nhiều những tập đoàn khổng lồ nhưng chẳng thấy hoạt động hay tiếng tăm gì ở ngoài nước. Chúng xây rào để tập trung khai thác tối đa thị trường nội địa với giá cắt cổ. Những kết nối với thị trường quốc tế của chúng nếu có cũng chỉ là gia công nhờ lao động rẻ, xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản, nông sản nhờ lợi thế thiên nhiên. Chúng bóp chết cạnh tranh để liên kết thỏa thuận với nhau kiểm soát thị trường, bóng dáng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ gần như không có. Vì thế mà thành phần trung lưu cũng chẳng tồn tại. Một nền kinh tế như thế thì có khác gì với kiểu của các nước thuộc địa thời thực dân.

Ở những nước này, người ta sẽ dễ choáng ngợp với những đô thị nguy nga tráng lệ nhưng những người buôn bán nhỏ lẻ bị cấm đoán ở đó. Xã hội phân chia ra hai thành phần ở hai thái cực, tầng lớp thượng lưu chỉ dưới 1% dân số nhưng sở hữu đến hơn 50%-60% lượng của cải của toàn xã hội, kiểm soát đến 80%-90% cả nền kinh tế, 99% thành phần bình dân nghèo chia nhau phần còn lại. Ở bất kỳ đất nước phát triển nào, thành phần trung lưu luôn là lực lượng và động lực để dẫn dắt sự tiến bộ của toàn xã hội. Giáo sư Joseph E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 viết: “Tầng lớp trung lưu là tầng lớp có truyền thống ủng hộ sự cai trị bằng luật pháp, ủng hộ giáo dục phổ thông cho mọi người và ủng hộ tạo lập hệ thống an sinh xã hội. Đây là những yếu tố cơ bản cho một nền kinh tế lành mạnh và sự xói mòn của tầng lớp trung lưu đã đồng thời kéo theo sự giảm sút ủng hộ những cải cách quan trọng này… Trong lịch sử, tầng lớp trung lưu luôn là trung tâm trong xây dựng xã hội dựa trên những nguyên tắc luật pháp và giá trị dân chủ”.[10] Chính vì vậy mà tầng lớp thống trị ở những nước này không muốn tồn tại thành phần trung lưu. Không có thành phần này dẫn dắt nên lá phiếu đa số của thành phần bình dân nghèo rất dễ bị lợi dụng và thao túng.

Ở Peru vào năm 1990 người dân nước đó đã bầu một người Nhật, với khuôn mặt Nhật, cái tên cũng Nhật – Fujimori – lên làm tổng thống trong 10 năm liền. Sau một vài chương trình mị dân đầu nhiệm kỳ, Fujimori bắt đầu thực hiện những chính sách hạn chế cạnh tranh làm lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt từ Nhật. Kinh tế Peru có thời tăng trưởng rất cao nhưng phân hóa xã hội và giàu nghèo lại càng trầm trọng. Cuối cùng ông ta bị hạ bệ trong lúc đang công du ở Nhật. Sau đó người dân phát hiện ra tổng thống của mình đã khai man là sinh trưởng ở Peru, thực chất là sinh ra ở Nhật, gần trưởng thành mới tới Peru.

Văn hóa và bản sắc

Một nền kinh tế bị bóp chết cạnh tranh không chỉ tạo ra các vấn đề về kinh tế. Ở một môi trường cạnh tranh quyết liệt thì cạnh tranh cao nhất cuối cùng là cạnh tranh con người, cạnh tranh chất xám. Chỉ khi đó con người mới thực sự được tôn trọng. Xem xét tác động của việc này ở khía cạnh văn hóa và bản sắc sẽ thấy nó ảnh hưởng quan trọng như thế nào. Một doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn tại một địa phương nào đó. Nếu buộc phải cạnh tranh thì họ phải có những chính sách nâng đỡ tài lực, thể lực và trí lực của người lao động địa phương. Muốn vậy họ phải xây dựng những chính sách quản trị phù hợp với văn hóa địa phương để ưu đãi và thu hút nhân tài về cho họ. Kết quả là chính lực lượng lao động này sẽ tăng cường tính văn hóa địa phương kết hợp sự giao thoa với văn hóa du nhập từ doanh nghiệp nước ngoài để tạo nên những thành tựu văn hóa mới của địa phương đó mà không mất đi bản sắc. Tiến đến là làm giàu văn hóa đó đến mức có thể lan tỏa ra những khu vực khác, cộng đồng khác.

Nhưng nếu ngược lại, ở một môi trường cạnh tranh không phải là sống còn và tại đó thu hút đầu tư nước ngoài là nhờ nguồn lao động rẻ. Lực lượng lao động đó không đủ mạnh về tri thức và năng lực, hay chỉ là những lao động giản đơn thì thường phải tranh giành để làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp này không việc gì phải nương theo văn hóa địa phương để xây dựng các chính sách quản trị phù hợp mà ngược lại người lao động địa phương đó phải thỏa mãn ông chủ nước ngoài, hành xử hoàn toàn theo văn hóa của họ. Kết quả là lực lượng lao động địa phương sẽ đánh mất đi bản sắc văn hoá của mình và để văn hóa ngoại du nhập lấn át. Còn nhiều những quan hệ giao tiếp văn hóa ở nhiều lĩnh vực và cộng đồng khác nhau nhưng chắc chắn rằng trong thế giới ngày nay văn hóa chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi các sản phẩm, dịch vụ và phương thức quản trị của các doanh nghiệp.

Hoàng yến và diều hâu

Những đồng đô-la ngoại luôn có sức ảnh hưởng lớn, làm chuyển biến sâu sắc và tác động khốc liệt một cách toàn diện đến tất cả các khía cạnh kinh tế, xã hội lẫn chính trị của những nơi mà nó đi đến. Dù vậy kết quả của những tác động này sẽ thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào thái độ phản ứng và sức mạnh của nội lực. Những mong tầng lớp trí thức, tầng lớp trung lưu của đất nước hãy thực sự quan tâm, nghiên cứu và lên tiếng cảnh bảo cần thiết cho cả xã hội. Có nhiều định nghĩa về trí thức, nhưng thật đơn giản: trí thức là dùng trí tuệ của mình để thức xã hội; thức là thức tỉnh, là đánh thức người ngủ mê, là làm cho người khác nhận thức đúng. Người có học mà không làm được chữ thức thì không thể gọi là trí thức, lại còn để bị ru ngủ nữa thì thật nguy hiểm cho xã hội. Xã hội Việt Nam ta bây giờ không ngủ nhưng vẫn mê.

Những tiếng nói đại diện cho ngoại lực ngày càng có sức ảnh hưởng mạnh hơn trong xã hội Việt Nam. Lý thuyết dùng lãi suất cao để chống lạm phát ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20 bởi nhà kinh tế học nổi tiếng Irving Fisher, nhưng các nước phát triển ngày nay chưa bao giờ áp dụng nó mãi cho đến những năm cuối thập kỷ 1970. Đơn giản vì nó chưa phù hợp với tình trạng lúc đó của họ. Ấy vậy mà phương thức này lại được quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) áp đặt cho rất nhiều nước cần sự trợ giúp, bất chấp sự thất bại rõ ràng của những nơi đã dùng trước đó. Giáo sư Joseph E. Stiglitz, cựu phó chủ tịch ngân hàng Thế giới (World Bank), đã từng lên tiếng phản đối quyết liệt phương thức này vì ông thấy rõ những hậu quả của nó gây ra cho các nước đang phát triển. Sau nhiều lần thuyết phục ông giữ im lặng không được, World Bank đã sa thải ông vào đầu năm 2000. Việt Nam chưa cầu viện chính thức tới sự trợ giúp của IMF nhưng phương thuốc này đã đang được đưa vào áp dụng ở Việt Nam quá dễ dàng. Nó được rao giảng rất nhiều bởi các chuyên gia nước ngoài với sự ủng hộ tuyên truyền mạnh mẽ của nhiều tờ báo lớn. Kinh tế học không phải là kỹ thuật – công nghệ mà có thể đi tắt đón đầu.

Nếu chúng ta không lên tiếng, không làm gì thì những sự ảnh hưởng như vậy không chỉ dừng lại ở một phương thuốc. Danh nhân Cao Bá Quát đã từng chia trí thức thành ba loại, ứng với ba loài chim. Loại thứ nhất là hồng hạc bay giữa trời xanh. Loại thứ hai là hạc đen ẩn bên sườn núi. Loại thứ ba là hoàng yến luẩn quẩn ở chốn lâu đài của kẻ quyền quý. Ngày nay, những con chim hoàng yến không chỉ biết hót vui tai mà còn biết đồng thanh gầm gừ lại những tiếng lạ trái tai chủ. Nhưng có lẽ chính Cao Bá Quát cũng không thể ngờ rằng bây giờ nhưng con diều hâu cũng biết hót rất ngọt tai con mồi.

Gốc dân hay gốc ngoại

Vào những lúc khó khăn thế này, triết lý lấy dân làm gốc luôn đúng và càng có ý nghĩa. Chúng ta vẫn thường nghe tuyên truyền như vậy nhưng diễn biến thực tế lại không hoàn toàn đúng thế. Trong một lần trả lời thời báo Kinh tế Việt Nam vào ngày 12-06-2008 về việc làm sao để củng cố lòng tin của người dân vào chính sách tiền tệ, thống đốc ngân hàng Nhà nước trả lời bằng cách nói rằng nó được đánh giá cao bởi đại diện tập đoàn JP Morgan Chase và phó chủ tịch ngân hàng Thế giới. Hay như mới đây, một doanh nhân nổi tiếng trong nước trả lời thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 03-08-2008, tờ báo này ngạc nhiên đặt câu hỏi về cơ sở cho khả năng nộp ngân sách 4,5 tỷ đô-la Mỹ/năm trên mức doanh thu 6,5 tỷ đô-la Mỹ/năm có thể tạo ra của một dự án liên doanh với nước ngoài là trung tâm phần mềm Thủ Thiêm. Vị doanh nhân này toàn mượn lời và uy của đối tác nước ngoài làm câu trả lời của mình.

Cách thức ứng xử như thế đã trở nên phổ biến ở rất nhiều thành phần trong xã hội. Tai hại hơn là nó không chỉ tạo ra một tâm lý sính ngoại mà còn định hình một niềm tin rằng có ngoại lực sẽ làm mọi thứ trở nên tốt đẹp. Sự tập kích của dòng vốn ngoại vào Việt Nam được quảng bá rộng khắp để người dân tin rằng các chính sách vĩ mô của chính phủ vẫn đúng đắn nên thu hút được người ngoài vào làm ăn, chứng tỏ môi trường Việt Nam đầy hấp dẫn và thuận lợi, khó khăn là tạm thời. Sức chịu đựng của dân được đánh giá quá cao nhưng lòng tự trọng của họ lại bị đánh giá quá thấp.

Nếu thực hiện các biện pháp chống lạm phát và khắc phục tình hình khó khăn hiện nay dựa trên nguyên tắc lấy dân làm gốc thì chắc chắn sẽ thu được kết quả tốt đẹp và nhanh chóng. Lạm phát sẽ giảm nhanh, có thể xuống dưới 10% vào năm sau. Ngược lại duy trì các giải pháp và chính sách vĩ mô như hiện nay thì lạm phát không thể dưới 35% vào cuối năm và khó có thể giảm trong năm sau. Lúc đó sức mạnh của những đồng đô-la ngoại sẽ càng lớn. Họ sẽ gây sức ép phá giá tiền đồng để giá trị tiền đô đủ bù đắp cho mức lạm phát khi giải ngân vốn đầu tư. Khi đã mất lòng dân, chính phủ lấy gì để chống đỡ ngoài việc chấp nhận “trả tỷ giá về giá trị thực”. Không dưới 22.000 VND/USD. Ở mức này, tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế nước ngoài sẽ còn lớn con số 53% đã tính toán ở mức giả định lạc quan nhiều.

Các nhà cầm quân giỏi là những người xác định được những điểm nhắm chiến lược để tập trung quân lực vào đó. Chiếm được những điểm này sẽ khống chế được cục diện của cuộc chiến. Trong quản lý kinh tế xã hội cũng vậy. Với Việt Nam hiện nay, điểm nhắm chiến lược chính là tệ quan liêu tham nhũng.

“Hiểu lòng dân, hậu dân sinh để dụng sức dân” là điều mà những người gánh vác việc lớn cần phải biết.

Trần Đông Chấn

Đầu thu tháng 8, 2008.

Chú dẫn:

[8] Đảm bảo sự cạnh tranh đồng nghĩa với việc chống lại những hành động bóp chết cạnh tranh.

[9] Theo Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009: “Qua 6 tháng thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tổng phương tiện thanh toán (M2) trong nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2008 chỉ tăng 4,48% so với cuối năm 2007, thấp hơn cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước 24,62%) và tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước. Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tháng 6 giảm 7,13% so với tháng 12/2007 và giảm 17,46% so với cùng kỳ năm trước”.

[10] Trang 117 & 215 Sách Toàn cầu hóa và những mặt trái – Nhà xuất bản Trẻ – 04/2008.

CHÍNH TRỊ

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 12:32 am
Tags: ,
Trần Đông Chấn

Đang đọc một cuốn sách rất hay: “TIỂU LUẬN viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932” của Phạm Quỳnh. Tác giả là một nhà văn hóa lớn đầu thế kỷ 20, đã từng viết nhiều bài báo và tác phẩm văn học có giá trị.

Trong các tiểu luận này, có một bài báo tựa đề “Chính trị” được viết vào năm 1929 nhưng vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. Xin được trích dẫn vài đoạn:

“Vậy chính trị theo định nghĩa ở từ điển là gì? Đó là tất cả những gì liên quan đến công việc cai quản Nhà nước, đến công việc quản lý có hiệu quả mọi công việc công cộng, đến việc bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc.
Vậy thì, vì lẽ gì một công dân xứng với danh hiệu này, cho dù danh hiệu đó đã bị hạ thấp ít nhiều, – và đó chính là trường hợp của kẻ đang muốn trở thành công dân ở xứ Đông Dương hay ở nước Nam – lại có thể không quan tâm đến công việc của đất nước mình, nghĩa là quan tâm đến chính trị, cái chính trị như một nghệ thuật quản lý mọi công việc của đất nước sao cho tốt đẹp?

Vì lẽ gì một người nước Nam biết lo lắng cho sự phồn thịnh và tương lai của tổ quốc mình, lại có thể không tìm hiểu xem tố quốc mình được cai quản như thế nào, lại không tự hỏi liệu các thể thức cai quản hành chính hay cai quản hiện nay có phù hợp với đất nước mình không, và nếu cần, thì phải tiến hành những cải cách, những cải tiến, những sửa đổi hoặc những cải tạo hữu ích hoặc cần thiết nào? Và nếu cái người nước Nam ấy phát hiện thấy có những lạm dụng, những sai sót hoặc những vi phạm, liệu cái người nước Nam ấy có thể tự buộc tội mình không tố cáo chúng ra?

Tất cả những điều đó chính là chính trị, và đó không chỉ là quyền được làm mà còn là nghĩa vụ phải làm của người công dân.

Và nếu, trong khi tranh luận về những vấn đề lợi ích chung này, công dân nước Nam kia chỉ duy nhất bị thúc đẩy bởi ước vọng được có ích cho đất nước và đồng bào mình, nếu như công dân ấy không bao giờ mất bình tĩnh, mất khả năng làm chủ hoàn toàn bản thân, mất cái trung lập về tinh thần hay tính “trung dung” thành thói quen trải qua nhiều thế kỷ văn hóa Khổng giáo, nếu như công dân ấy không đem vào đó bất kỳ định kiến nào, bất kỳ sự nóng nảy nào, và hơn thế nữa, nếu công dân ấy luôn luôn giữ mình trong phạm vi hợp pháp và tôn trọng trật tự, thì có cái chính phủ nào, dù có yếu bóng vía đến mấy, lại có thể coi hành vi và thái độ như thế của công dân kia là một tội ác?

Ngược lại, một chính phủ quan tâm đến việc hoàn tất tốt nhiệm vụ của mình sẽ phải biết ơn những con người có thiện chí này, những người làm hết sức mình để soi tỏ cái niềm tin đó của chính phủ.

Và trong hoàn cảnh này, các bạn lại không muốn người nước Nam làm chính trị hay sao? Như thế chẳng khác nào các bạn muốn họ thờ ơ với số phận của đất nước họ, đến tương lai con cháu họ, đến hạnh phúc gia đình họ, đến cuộc sống của chính họ!

Chính các xã hội mị dân Phương Tây đã truyền bá ra thế giới dạng chính trị này, một dạng chính trị khêu gợi và khai thác các đam mê của dân chúng, chia rẽ dân tộc thành các bè phái đối lập, khích họ chống lại nhau, khơi dậy các bản năng thấp hèn nhất của dân chúng để thỏa mãn các tham vọng của một thiểu số sẵn sàng làm tất cả. Dưới cái cớ kiếm tìm hạnh phúc cho nhân dân, người ta ru ngủ và lừa dối nhân dân bằng các ảo tưởng nguy hiểm hoặc giả trá. Với chiêu bài chính trị này, những kẻ tầm thường nhờ vào những con người tốt đẹp hơn họ để giành lấy chính thắng, những người cuồng nhiệt nhất thì vùng vẫy và đứng ra trục lợi là láu cá nhất hạng hoặc là những kẻ ít biết hổ thẹn hơn cả thì đứng ra trục lợi.

Bọn họ duy trì trong xã hội một tình trạng siêu kích động triền miên thuận lợi cho sự bùng nổ mọi loại hằn thù, oán hận, mọi loại tình cảm xấu vốn đang ngủ yên trong đám đông. Đó chính là chính trị “làm chiêu bài cho đủ điều ngu ngốc, cho mọi thứ tham vọng, và cho mọi chuyện lười nhác” như Alphonse Daudet đã nói. Chính vì thế nó trở thành “chất hòa tan cực mạnh ý thức con người”, trở thành yếu tố làm bại hoại tình cảm và phong tục. Cái thứ chính trị đó luôn luôn đi kèm với những cách thức thực thi ít nhiều được đem dùng phổ biến, bao gồm từ những lời dối trá ngu xuẩn nhất đến những dọa dẫm trơ trẽn nhất, từ các mưu mô xảo quyệt nhất đến hành động mua chuộc công nhiên nhất. Lợi ích chung, lợi ích của nhân dân, lòng ái quốc, sự hòa hợp xã hội, đó là những lời lẽ được dùng để biện hộ cho sự buông thả mọi dục vọng và mọi thói ích kỷ.

Dạng chính trị này, vốn dĩ mọi người đều có thể tiếp cận được, tự nhiên làm nảy nở mọi sự tầm thường. “Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm”, nó làm những con người có giá trị tránh xa, nhưng lại phô ra những nét hấp dẫn đặc biệt cho đám người bất tài, mưu mẹo, tham vọng, ba hoa. Sở thích này bắt đầu lan truyền trong một số giới người nước Nam. Nhưng nếu đồng bào chúng ta được tiếp xúc sâu rộng với loại chính trị này, – và dường như đó là quy luật để “tiến bộ” lên – thì chúng tôi mong muốn sự tiếp xúc để tiến bộ đó càng xảy ra muộn càng tốt.

Kết luận phải rút ra từ sự so sánh như thế giữa hai dạng chính trị là rành rành rồi. Người nước Nam có thể và cần phải làm chính trị, nhưng đó là chính trị theo nghĩa thứ nhất đã đem ra phân tích: cái chính trị của lợi ích chung đòi hỏi một sự toàn tâm toàn ý cho việc công. Ngược lại, người nước Nam phải tránh cái chính trị có xu hướng mị dân, nó ve vãn nhân dân để lừa dối nhân dân, và bất chấp thực tế, khiến nhân dân lao vào các ảo tưởng nguy hiểm và không thể thực hiện được.” (trang 312 – 317)

Bài báo ra đời vào năm 1929, thời điểm mà chính quyền phong kiến và chế độ bảo hộ của thực dân Pháp bước vào giai đoạn suy vong. Đúng 80 năm trôi qua nhưng tình trạng bài báo mô tả chẳng thay đổi là mấy ở nước ta, có phần còn tệ hơn. Lúc đó còn có những tờ báo chính thức đăng tải công khai những bài báo như thế này. Tốt hơn nữa là tác giả của chúng chẳng bị làm sao. Không những thế, 2 năm sau ông còn được triều đình Huế mời vào làm quan, giữ đến chức thượng thư (tức bộ trưởng bây giờ). Chính quyền thực dân cũng chẳng bắt tội ông chút nào vì đã dám mỉa mai đến “mẫu quốc”. Nếu Phạm Quỳnh sống vào thời nay thì chắn chắn các bài báo rất giá trị của ông sẽ bị xem là “lề trái”. Nhưng “may” cho ông là đã không “phải” sống đến bây giờ. Ngay sau cách mạng Tháng 8 ông đã bị bắt và giết chết. Một thời gian dài mấy chục năm sau đó chính quyền xem ông là phần tử xấu.

Nhờ tiến bộ công nghệ của nhân loại, người dân Việt vừa tìm thấy một không gian để bày tỏ quan điểm và mối quan tâm chính trị cho đất nước thì chính quyền nhanh nhạy cho ra thông tư quản lý blog. Cuộc sống khó khăn của dân chúng đang có quá nhiều thứ cần chính quyền nhanh nhạy nhưng các quan chức đều vô cảm với những điều ấy. Hệ thống công quyền này chỉ quan tâm đến những cái họ gọi là nhạy cảm. Ý nghĩa trong sáng của tính từ này khi nói về công chúng là để diễn tà mức độ quan tâm rất lớn của nhiều người, nhưng nó đã bị lạm dụng và chính trị hóa để ngăn chặn sự quan tâm chính đáng của người dân vào chính trị.

Xét cho cùng đó là sự hoảng sợ. Yếu thế nào thì người ta mới sợ đến như vậy.
Mùa đông tháng 1, 2009

Động Lực Cho Thay Đổi

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 12:29 am
Tags: , ,

Trần Đông Chấn

Kính gửi anh Nguyễn Tâm – Đảng Dân Chủ Việt Nam Tôi đã đọc bản tuyên bố anh gửi cho tôi về quan điểm của đảng Dân chủ Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 2008. Tôi nhận thấy đây là một nhận thức giá trị trong đường lối hiện nay. Đại biến cố sắp diễn ra ở Việt Nam tới đây sẽ là một biến động từ sự sụp đổ niềm tin. Đó là điều không thể tránh khỏi vì nó là kết quả cuối cùng của một quá trình cầm quyền sai qui luật, trái lòng dân. Nó sẽ xảy ra, diễn tiến và kết thúc rất nhanh trong vòng 2 năm nữa vì được ngoại lực rất mạnh thúc đẩy một cách có chủ đích để lợi dụng. Mặc dù đứng trước một cơ hội để thay đổi nhưng Việt Nam cũng sẽ đối mặt với một nguy cơ rất tai hại. Lịch sử thế giới và Việt Nam cùng cho thấy những cuộc cách mạng được phát động bằng cách kích động lòng hận thù của dân chúng đều dẫn đến những sự phá hủy xã hội nặng nề. Cho dù chúng dễ dàng tạo ra sự thành công lúc phát động nhưng cũng thường đi kèm với những sự tàn phá vật chất lẫn tinh thần. Các nền tảng của xã hội không được tôn tạo tốt hơn mà còn bị xói mòn nghiêm trọng, dẫn đến những kết cuộc tồi tệ mà không tạo ra các nền văn minh mới. Những cuộc cách mạng Tháng Mười ở Nga, cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc hay cách mạng tháng Tám và cải cách ruộng đất ở Việt Nam là những ví dụ còn nguyên giá trị. Các vấn đề từ kinh tế, xã hội đến chính trị ở Việt Nam và những quốc nạn mà nó tạo ra như tham nhũng, đàn áp bất đồng chính kiến, khủng hoảng kinh tế, v.v… đã và đang xói mòn lòng tin của người dân song song với nỗi uất hận của họ đang ngày càng lớn dần. Khi có sự tác động mạnh của ngoại lực sẽ dẫn đến một sự sụp đổ nhanh chóng. Thêm vào đó, ngoại trừ tác động của thời gian thì vẫn chưa có một biện pháp nào được thực hiện để xóa bỏ những chia rẽ sâu sắc trong cuộc chiến Việt Nam; cách hành xử của phe chiến thắng sau cuộc chiến là những vấn đề chưa dễ quên với không ít người trong lẫn ngoài nước. Tất cả những yếu tố đó sẽ dễ dàng biến thành một sự biến động mạnh được dẫn dắt bởi lòng hận thù. Đó là điều mà dân tộc Việt Nam cần phải tỉnh táo để tránh. Đất nước chúng ta cần sự thay đổi, và buộc phải thay đổi. Nhưng làm sao để đảm bảo rằng sự thay đổi sẽ tốt hơn mà không bị rơi vào những vòng lặp của lịch sử là điều rất cần được quan tâm trên hết. Những sự thay đổi bởi động cơ hằn thù thì sẽ luôn dẫn tới suy nghĩ và hành động thay đổi bằng mọi giá, nếu nó gắn với động cơ lợi ích của các nhóm nhỏ được khéo léo che đậy bởi đám đông quần chúng thì thực sự là tai họa mà chúng ta đã từng chứng kiến. Mỹ và các đồng minh của họ đang sử dụng đòn “gậy ông đập lưng ông” với chính quyền hiện nay. Cộng sản đã duy trì sự tồn tại của chế độ và kiểm soát bộ máy quan lại bằng tham nhũng. Họ trả lương cho công chức rất thấp nhưng lại để rất nhiều kẽ hở cho tham nhũng. Đầu tiên người ta phải tham nhũng nhỏ vì không đủ sống đàng hoàng bằng lương, họ nghĩ đơn giản đó là những gì mà công bằng thì họ phải được do công sức của mình. Nhưng rồi lòng tham không cho họ dừng lại như thế, kẻ hỡ càng ngày càng nhiều. Dần dần hầu hết quan lại trở thành những kẻ phạm pháp nên phải ra sức bảo vệ chế độ bằng mọi giá, họ chống lại bất kỳ thay đổi nào vì sợ bị trừng phạt. Họ thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào của đảng Cộng sản bất chấp đạo lý, nếu không họ sẽ trở thành những con tốt bị thí. Có lẽ chính quyền Cộng sản cũng không ngờ rằng chẳng riêng họ mới biết khai thác chiêu thức này. Hơn 10 năm nay bằng chứng nhận hối lộ âm thầm được thu thập, và bây giờ chúng trở thành những công cụ cực kỳ hữu hiệu để sai khiến hệ thống quan lại ở Việt Nam. Những vụ truy tố đưa hối lộ tại Nhật và Mỹ liên quan đến quan chức Việt Nam gần đây chỉ là những vụ nhỏ để “rung cây nhát khỉ” mà thôi. Có rất nhiều những quan chức nhỏ bây giờ đã trở thành những nhân vật cao cấp mà bằng chứng nhận hối lộ và những bê bối khác “thuở nhỏ” của họ đang là những cái gót Achile bị điều khiển. Đến khi cục diện đã được khống chế thì một vài vụ truy tố hối lộ đình đám hơn sẽ được công bố – giọt nước sẽ tràn ly, niềm tin của dân chúng sẽ sụp đổ hoàn toàn. Xã hội Việt Nam đang rất mong manh, dưới bề mặt có vẻ bình lặng của nó là những cơn sóng ngầm của u uất và hằn thù do bất công lâu nay và sự kích động thù hận trước đây tạo ra. Hơn lúc nào hết, cần phải nhanh chóng hình thành những động lực tích cực vì quyền lợi của cả dân tộc để dẫn dắt những biến động theo hướng tạo ra sự phát triển bền vững cho đất nước. Nếu không có những động lực như vậy thì theo lẽ tự nhiên, những biến động này sẽ được kích động bằng sự thù hận và dễ dàng bị lợi dụng để phục vụ cho những thế lực khác mâu thuẫn với quyền lợi dân tộc. Trong lịch sử của thế giới, những cuộc cách mạng thành công và gắn liền với việc tạo ra những nền văn minh mới cho nhân loại đều không có ảnh hưởng của sự thù hằn và gắn liền với những động lực thực sự nhân văn. Cuộc cách mạng tư sản ở Anh (1640) là một minh chứng như vậy, nó được dẫn dắt bởi tầng lớp tư sản mới vì nhu cầu phát triển thực tế của xã hội Anh thời bấy giờ, họ không giết vua để trả thù khi nắm được chính quyền. Nó còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi những tiến bộ khoa học kỹ thuật vì lợi ích của con người, từ đó dẫn đến một cuộc cách mạng công nghiệp rộng lớn trên toàn thế giới, tạo ra nền tảng thay đổi cơ bản những suy tưởng tư duy mới của nền văn minh nhân loại. Như đã nhiều lần trao đổi với anh, dân chủ ở Việt Nam hiện nay cần được xác định là mục tiêu và phương tiện để xây dựng một xã hội văn minh và thịnh vượng cho toàn dân, chứ chưa thể là động lực cho một sự thay đổi. Dân chủ là nền tảng vững chắc của xã hội, thiếu dân chủ sẽ không có sự phát triển và thịnh vượng bền vững. Nhưng dân chủ tự thân nó không thể tạo ra sự phát triển thịnh vượng. Dân chủ là điều kiện cần, rất cần nhưng không phải là điều kiện đủ. Nhiều nước đã có nền dân chủ lâu rồi nhưng vẫn nghèo, thậm chí rất nhiều nơi dân chủ còn bị lợi dụng để phục vụ cho quyền lợi của một thiểu số nhỏ. Chỉ khi nào xã hội có sự chuyển biến mạnh mẽ trong điều kiện sinh tồn và suy tưởng hoàn toàn mới thì mới tạo ra được một sự đột phá trong phát triển kinh tế lành mạnh- đây chính là điều kiện đủ. Sự phát triển kinh tế như vậy nếu được nuôi dưỡng trong một môi trường chính trị dân chủ thì sẽ tạo ra một xã hội phát triển hài hòa giữa vật chất và tinh thần một cách công bằng cho dân chúng. Chính những thành quả này sẽ trở thành những nhân tố rất quan trọng để duy trì dân chủ và đảm bảo một nền dân chủ thực chất. Thiếu những điều này thì dân chủ sẽ không bền vững hoặc chỉ là giả hiệu mà thôi. Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, công nghệ thì lạc hậu; nền kinh tế thì lệ thuộc; môi trường bị hủy hoại; giáo dục thì xuống cấp trầm trọng, việc tìm ra những thế mạnh cốt lõi từ những yếu tố này để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ và động lực tích cực cho sự thay đổi từ những biến động sắp tới quả thật là một thách thức rất lớn, khó tìm ra lời giải. Tuy nhiên, những lợi thế của thiên nhiên và tạo hóa ban tặng cho mảnh đất và con người Việt Nam; những đặc tính văn hóa của dân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử chính là những thế mạnh cho đất nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay. Vấn đề văn hóa từ trước đến giờ thường được đề cập một cách thụ động như cảnh báo các nguy cơ của văn hóa du nhập, làm sao để bảo vệ văn hóa không bị tấn công, cần có các biện pháp bảo hộ văn hóa, v.v… Ít có những cách tiếp cận chủ động để khai thác văn hóa như một sức mạnh tạo ra động lực phát triển của cả một dân tộc, quốc gia. Bản tính trời cho dân tộc Việt Nam là ôn hòa và thân thiện, không thích suy tư tranh cãi về triết học hay các lý thuyết chính trị. Điều này dẫn hướng đến một tầm nhìn lớn về chiến lược giao thoa văn hóa và giao lưu kinh tế giữa đông và tây. Đây thực sự là lợi thế về đặc tính của con người Việt Nam trong việc hấp thụ rồi tạo nên những thành tựu văn hóa và kinh tế mới thông qua sự tương hợp với bất kỳ nền văn minh nào trên thế giới mà không tạo ra những mâu thuẫn và xung đột về văn hóa, sắc tộc và tôn giáo. Việt Nam là nước có nền văn hóa và tiếng nói phương đông nhưng lại có chữ viết theo kiểu phương tây, đó chính là những di sản do lịch sử tạo lợi thế cho dân tộc ta trong một môi trường đa phương toàn cầu của hệ thống quốc tế mới đang hiện hữu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong một bối cảnh thế giới đang nhiều biến động như hiện nay, xu thế hình thành đa cực để chống lại sự đơn cực cộng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung quốc và Ấn Độ, sự không chịu thua của Nga chắc chắn sẽ làm nảy sinh thêm nhiều xung đột cả về quân sự lẫn văn hóa, sắc tộc và tôn giáo. Sự xuất hiện một nơi cân bằng về kinh tế, văn hóa và chính trị sẽ rất cần thiết để duy trì sự ổn định cho thế giới. Và đương nhiên, nơi cân bằng đó sẽ được hưởng lợi rất lớn. Việt Nam là một mảnh đất lành, có đầy đủ những ưu điểm về con người và lịch sử cũng như giá trị của vị trí trung tâm trong vùng châu Á Thái bình dương, cũng là giao điểm của đông và tây để trở thành một nơi cân bằng như vậy. Dẫn hướng này cũng sẽ mở ra một khả năng đột phá để giải quyết vấn đề tranh chấp biển đông và bảo vệ lãnh thổ. Thụy Sĩ đã tránh được các cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu và phát triển thanh bình là nhờ làm “túi tiền” của bất kỳ phe nào. Việt Nam có thể biến mình trở thành cái “chợ” của bất kỳ nước nào. Người dân cần được định hướng và tạo động lực để xây dựng những cái mới tốt hơn thay thế dần cho những cái cũ. Động lực của sự hận thù dễ dàng dẫn đến sự đập phá những cái cũ trước khi cái mới có thể hình thành và phát triển. Ngay cả vấn đề tham nhũng cũng cần có cách nhìn khoan dung với quá khứ của nó để triệt tiêu những động lực chống đối sự thay đổi. Tham nhũng ở Việt Nam phát triển phức tạp đến mức nó vừa là nhân mà cũng vừa là quả. Cần nhìn nhận nó như một vấn đề chính trị và lịch sử để tạo ra được những giải pháp tích cực từ đó. Tôi hẹn sẽ trao đổi sâu hơn với anh về vấn đề này vào một dịp khác.

Thư ngỏ gửi bác Nguyễn Thị Bình

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 12:25 am
Tags: ,

Thư ngỏ gửi bác Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam.

Kính gửi bác Nguyễn Thị Bình, Vừa xem xong bài phỏng vấn của bác trên BBC, cháu có vài điều tâm tình muốn gửi đến bác. Thật sự yêu nước? Khi chú Xuân Hồng nhắc đến hoạt động của chị Công Nhân và Hoàng Lan để đóng góp cho một đất nước tốt đẹp hơn, bác bày tỏ sự hoài nghi “họ có muốn như vậy không”? Mới đầu bác khẳng định “họ không muốn”, về sau bác nói, chưa tìm hiểu rõ về hai nhân vật này lắm, nên không biết rõ họ muốn gì… Cháu xin trả lời ngay rằng, bạn bè của cháu trong Đảng Dân Chủ Việt Nam và Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ cũng như bản thân cháu luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho đất nước. Cháu tin chị Công Nhân cũng là một người yêu nước. Nếu không yêu nước thì không ai dấn thân vào con đường không bằng lặng này, trong khi họ có những lựa chọn khác tốt hơn, êm ả hơn cho cuộc đời họ. Khi mới sang Pháp du học, cháu cũng như nhiều bạn khác mang trong mình lòng tự hào dân tộc, vì là công dân của một nước nhỏ mà đã kiên cường đánh thắng hai cường quốc. Đến bây giờ cháu vẫn tự hào, vì truyền thống văn hoá, vì lịch sử, vì cảnh đẹp và con người Việt Nam. Nhưng tự hào không có nghĩa là ru ngủ mình trong hào quang của quá khứ hoặc trong những hình ảnh tốt đẹp mà truyền thông đưa ra. Chiến tranh đã qua 33 năm rồi, chúng ta cần gây dựng thêm nhiều điều khác để làm vẻ vang cho dân tộc. Thật buồn khi mà thế giới mỗi khi nhắc tới Việt Nam họ thường nghĩ đến một đất nước gắn với chiến tranh và nghèo đói… Ngày nay kinh tế đã phát triển hơn trước rất nhiều, nhưng bao nhiêu phần trăm người dân Việt Nam được hưởng thành quả ấy? Cái giá đã và đang phải trả cho sự phát triển ấy là gì, đó là ô nhiễm môi trường, là thiên nhiên bị tàn phá, là mức lương đói khổ của công nhân, là những khoản nợ nước ngoài mà các thế hệ trẻ sẽ phải gánh chịu. Cơ chế chính trị không đuổi kịp sự phát triển kinh tế, tạo môi trường lý tưởng cho tham nhũng, tăng khoảng cách giàu nghèo. Cơ chế chính trị thất bại trong việc chiêu mộ người tài, khiến bộ máy Nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả và tạo nên cái vòng luẩn quẩn: người dân bất mãn vì tham nhũng và bộ máy ì trệ, Nhà nước cải cách nhưng bộ máy nhà nước thiếu hiệu quả hoặc thiếu quyết tâm chính trị để tiến hành cải cách đó, dẫn đến lãng phí ngân sách và tiêu cực, rồi người dân bất mãn, và Nhà nước lại hứa hẹn cải cách, và rồi lại thất bại. Vụ Vedan vừa rồi là một ví dụ tiêu biểu nhất cho sự trì trệ và vô trách nhiệm của chính quyền, mặc cho người dân lên tiếng từ cả chục năm nay. Sự việc đó là lời kêu gọi có sức nặng nhất cho sự cần thiết phải trao quyền cho các cá nhân, đoàn thể phi chính phủ để họ có vai trò hiệu quả hơn trong vai trò giám sát và hỗ trợ nhà nước xử lý tiêu cực. Việt Nam đã cải thiện phần nào hình ảnh của mình trên trường quốc tế, với việc hội nhập kinh tế và tham gia tích cực hơn trong các thiết chế quốc tế. Nhưng đó mới chỉ là bề nổi. Vấn đề cấp thiết hơn phải làm là phát triển nội lực, để tiếng nói của Việt Nam thực sự có sức mạnh. Mà muốn phát triển nội lực thì giáo dục và thông tin phải là hàng đầu. Bác cho rằng giáo dục Việt Nam không phá sản. Thế nhưng Bản báo cáo lựa chọn thành công của nhóm nghiên cứu thuộc đại học Harvard trình gửi Thủ tướng đầu năm 2008 lại đưa ra nhận định “Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện đang khủng hoảng”. Thất bại trong giáo dục là thất bại trong tất cả. Muốn đất nước phát triển, Nhà nước phải tạo môi trường độc lập cho các trường đại học, như quyền tự trị, ngân sách độc lập. Thông tin phải được mở ra và giáo dục phải khuyến khích sự sáng tạo thay vì nhồi nhét. Cháu biết, thật dễ để phê bình, vì quản lý một đất nước không phải điều đơn giản. Nhưng cái đáng phê bình hơn là việc quay lưng lại với thiện chí của những đoàn thể, tuy không cùng quan điểm với thành phần lãnh đạo, nhưng đều muốn góp sức vào công cuộc phục hưng đất nước. Điều này cháu sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau. Bên cạnh những băn khoăn về tình hình đất nước, cháu cũng mong muốn chia sẻ những suy nghĩ, những trải nghiệm cá nhân. Khi về Việt Nam nghỉ hè, cháu thường theo các bạn thanh niên tình nguyện đi làm một số hoạt động xã hội. Qua những chuyến đi ấy, cháu thấy những khu ổ chuột gầm cầu Long Biên hay những gia đình trôi nổi trên những chiếc thuyền con ven sông Hồng, con cái họ không có điều kiện đến trường. Nhiều cơ sở giúp đỡ người tàn tật vẫn phải tự xoay sở để giúp mình, giúp người mà không nhận được sự giúp đỡ nào từ chính quyền. Bên cạnh đó là những nỗi đau khi thấy phụ nữ Việt Nam lần lượt ra đi, làm công nhân hoặc làm dâu xứ người. Khi ở Pháp, cháu thường tự hỏi, tại sao mình được học là xã hội tư bản dã man, người bóc lột người, mà chính sách an sinh xã hội của họ lại tốt như vậy. Nhìn những chiếc xe bus hay cơ sở hạ tầng của họ được thiết kế để có thể đón tiếp những người tàn tật, cháu chạnh lòng nhớ lại hình ảnh những người tàn tật lê lết xin ăn trên đường phố thủ đô Hà Nội nhầy nhụa vì mưa phùn. Nhìn xứ người tươi đẹp, sạch sẽ, với nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, người dân xứ họ có mức sống cao hơn Việt Nam nhiều lần, họ sống mà ngẩng cao đầu, không phải lo sợ Nhà nước điều gì khi họ bày tỏ chính kiến, cháu tự hỏi, sao cùng là con người, mà người dân mình vẫn còn khổ quá? Sao sinh viên Việt Nam thường học rất giỏi, đi du học ngày càng đông, mà Việt Nam không có bước phát triển thần kỳ nào cả? Đấy là nhìn người dân châu Âu, chứ ngay cả bạn bè Á Châu như Nam Hàn, Nhật Bản, họ cũng có một mức sống cao, họ sống ngẩng cao đầu, sống ngay thẳng, họ chu du khắp nơi trên thế giới và được nể trọng. Có điều gì sai với dân tộc Việt Nam? Trước khi tham gia việc chính trị, cháu có đóng góp trong các hoạt động xã hội. Cháu biết quỹ Bảo trợ trẻ em mà bác làm Chủ tịch đã có nhiều hoạt động tích cực. Nhưng hoạt động từ thiện xã hội chỉ như miếng băng dán lên vết thương, chứ không giải quyết tận gốc vấn đề là các bất công, tiêu cực mà hệ thống gây ra. Cháu không muốn phê phán, mà với những nhận định đó, chỉ tự hỏi mình có thể làm được gì? Tuổi trẻ phải làm gì, nếu như không phải là lên tiếng và hành động để cải thiện tình trạng đất nước, mà bắt đầu là việc cải tổ hệ thống có nhiều khiếm khuyết khiến đất nước như cái xe cọc cạch không tiến nhanh, tiến mạnh được? Có điều kiện du học tại Pháp, tốt nghiệp loại Khá ở Panthéon-Assas, trường đại học luật hàng đầu của nước Pháp, nói tiếng Pháp và tiếng Anh trôi chảy, cháu hoàn toàn có thể ở lại Pháp, kiếm một việc làm tốt, lương cao, và yên ổn với gia đình của mình. Cháu dấn thân vào chuyện chính trị, chấp nhận những hi sinh trong cuộc sống riêng tư, chỉ vì nặng lòng với đất nước. Cháu cũng là một trong số ít những sinh viên Luật chọn học ngành luật công, hành chính và hiến pháp. Đó là bởi vì cháu cho rằng sau khi học những cái hay, cái tốt của nước người, cháu có thể trở về giúp đất nước. Nếu học luật tư hay luật thương mại, cháu sẽ có nhiều cơ hội kiếm tiền hơn, nhưng đó sẽ chỉ là sự mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân mình mà thôi. Mặc dù sự mưu cầu hạnh phúc là chính đáng, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong Tuyên ngôn độc lập, nhưng cháu tự cảm thấy mình là một người quá may mắn trong cuộc sống, nếu không chia sẻ sự may mắn ấy hoặc tận dụng sự may mắn ấy để giúp ích cho xã hội, thì thật là ích kỷ biết nhường nào. Cháu từng có dịp nói chuyện với một cô làm trong Bộ lao động, thương binh và xã hội. Cô than phiền rất nhiều về tình hình Việt Nam, đặc biệt tình trạng dân oan mất đất, mất nhà, tình trạng tham nhũng. Nhưng sau khi than phiền một cách hăng say, cô dừng lại, thở dài: “Nhưng mà thôi, nếu mình không nặng lòng quá với mấy chuyện đó, thì mình vẫn sống tốt được.” Cháu chỉ mỉm cười mà không nói gì cả. Cháu trót nặng lòng rồi. Yêu nước đâu phải là cái tội, phải không bác? Làm gì? Bác Bình đã không nói cụ thể về việc “làm như thế nào”, mà chỉ đưa ra nhận định rất chung chung: chúng ta cần có tổ chức, cần có Hiến pháp, pháp luật, cần có sự thảo luận để cảm thông, tìm sự đồng thuận đi tới, chứ không thể áp đặt. Cháu xin được nói ngay là những điều bác nói trên đây là rất đúng. Đó cũng là những gì mà Đảng Dân Chủ Việt Nam và Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ hướng đến. Bác Bình có nói chúng ta cần thảo luận, để thông cảm với nhau. Không phải cháu và bạn bè không muốn, mà chính là Nhà nước, hoặc những người đại diện cho Nhà nước đang thiếu thiện chí đó thôi. Những vấn nạn của Việt Nam hiện nay như tham nhũng, giáo dục xuống cấp, tranh chấp đất đai với Trung Quốc, v.v, là những vấn đề chung của toàn dân tộc, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền và nghĩa vụ tham gia vào việc giải quyết những vấn nạn ấy. Về nguyên tắc, có lẽ không có gì mâu thuẫn. Nhưng hãy nhìn vào thực tế, vào cách hành xử của những cán bộ Nhà nước. Cháu mong muốn được tâm sự với bác về những gì cháu “mắt thấy, tai nghe” trong mùa hè vừa rồi. Mùa hè vừa qua, cháu có trở về Việt Nam trước khi qua Mĩ tiếp tục du học với một suất học bổng nhỏ của trường đại học Indiana. Trước là về thăm nhà, sau là muốn gặp gỡ những người bạn cùng lý tưởng lâu nay vẫn thường trao đổi thông tin, cháu cũng đã mong có cơ hội đối thoại trực tiếp với những cán bộ an ninh. Ngoài những buổi mời đi uống cà phê, nói chuyện với một số anh chị an ninh trẻ, một lần, cháu “được” Công an phường mời lên làm việc với lý do Khai báo tạm trú (tại nhà bố mẹ)… Dù biết đó chỉ là cái cớ, cháu vẫn sẵn sàng đến, mong có một cơ hội nữa để hiểu nhau hơn. Buổi “làm việc” hôm ấy, thật bất ngờ, không phải là với công an phường mà là với cán bộ Bộ công an từ Trung ương xuống, về các hoạt động chính trị của cháu. Dù không đồng tình cách làm việc thiếu minh bạch khi mời một đằng, làm một nẻo, cháu vẫn vui vẻ nói chuyện với các cô chú. Cháu đã tỏ rõ quan điểm của Đảng Dân Chủ Việt Nam và Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ là mong muốn đối thoại, tìm những điểm đồng thuận để cùng nhau đi tới, trên cơ sở chung là cùng hướng đến những gì có lợi cho nhân dân, cho đất nước. Thật bất ngờ, chú cán bộ của Bộ công an nói, Đảng Dân Chủ của cô có tư cách gì mà đòi nói chuyện, ai cho phép? Rõ ràng, nếu câu nói này không thể hiện thái độ đối đầu, thiếu thiện chí mà những người lãnh đạo cấp trên truyền đạt xuống, thì nó cũng thể hiện việc hành xử ngoài thẩm quyền của nhân viên an ninh khi thi hành nhiệm vụ. Đó là chưa kể thái độ có lúc hằn học, cách đối xử với những người khác biệt quan điểm với mình như những kẻ tội phạm. Dù buồn và thất vọng với cách hành xử của những người được gọi là công an nhân dân mà lại đặt ý thức hệ và đảng phái của mình cao hơn dân tộc, cháu vẫn muốn tin rằng có những người trong số họ chỉ thi hành mệnh lệnh cấp trên vì miếng cơm manh áo. Tuy vậy, có những người bạn cùng lý tưởng nói với cháu rằng: không phải họ muốn, mà chính chính quyền đã đẩy họ vào thế đối lập. Sau lần này cháu hiểu hơn câu nói ấy. Bác Bình nói đến chủ trương đoàn kết dân tộc, cháu rất mừng khi nghe điều ấy. Nhưng nếu nói đoàn kết dân tộc mà chỉ khăng khăng giữ quan điểm, thành kiến của mình mà không mở ra cơ hội để đối thoại, thảo luận, tìm mẫu số chung để cùng nhau đóng góp cho đất nước, thì đó chỉ là những từ vô nghĩa mà thôi. Đoàn kết phải dựa trên nguyên tắc dân chủ, tôn trọng sự khác biệt, đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích đảng phái, cá nhân. Đã nhiều năm nay điều 3 Hiến pháp Việt Nam nhắc đến chủ trương xây dựng “Xã hội Công bằng, Dân chủ, Văn minh”. Tiêu chí cuả Đảng Dân Chủ Việt Nam là “Dân chủ, Đoàn kết, Phát triển.” Mục tiêu không khác nhau, vậy còn chờ gì mà chưa mở ra cơ hội đối thoại, thực hiện đoàn kết dân tộc để đưa đất nước đi tới? Với tư cách là đảng lãnh đạo, nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ động mở ra tiến trình này, thì cháu tin đó sẽ là một chính sách phù hợp lòng dân, mở ra vận hội mới cho đất nước. Cháu biết rằng vẫn có những nghi ngại và phân biệt người “trong nước” – “ngoài nước”, “trong Đảng” – “ngoài Đảng”. Vẫn còn nghi ngại vì chưa có đối thoại. Vẫn còn phân biệt vì chưa đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết. Mọi sự đánh giá từ mỗi bên đều là chủ quan. Bác Bình đã nói đúng, không thể tự mình nghĩ ra một kiểu rồi áp đặt lên tất cả mọi người. Không một thiểu số nào được quyền áp đặt ý thức hệ hay chủ thuyết của mình lên 84 triệu dân, dù đó là chủ thuyết cộng sản hay dân chủ. Quyết định cuối cùng phải thuộc về nhân dân. Các đảng phái, đoàn thể chỉ có quyền vận động, thuyết phục nhân dân chứ không được quyền áp đặt. Thế nhưng, nếu không có báo chí độc lập, thì làm sao nắm bắt được nguyện vọng của nhân dân? Nếu không mở ra tự do ứng cử, tự do bầu cử, mà việc bầu cử vẫn do Mặt trận tổ quốc kiểm soát, thì làm sao những đại biểu quốc hội có thể đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân được đây? Chừng nào những đại biểu quốc hội hoặc hội đồng nhân dân, hoặc chủ tịch xã được dân trực tiếp bầu ra, chừng đó lá phiếu-tiếng nói của người dân mới có giá trị, những người đại biểu mới thấy mình phải gắn bó và có trách nhiệm với nhân dân, chừng đó người dân mới cảm thấy tin tưởng và tìm đến người đại biểu của mình. Bác Bình đã trải qua một thời tuổi trẻ sôi nổi, hăng say cống hiến cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Đó là những ngày mà người dân miền Nam Việt Nam còn có quyền biểu tình, có quyền ra báo, có quyền lên tiếng công khai để phản đối chính quyền mà họ cho là độc tài, là không xứng đáng. Còn bây giờ, cháu thấy báo chí không có sự độc lập, phải chịu sự kiểm soát của đảng cầm quyền để “đi đúng lề bên phải.” Sinh viên biểu tình phản đối Trung Quốc thì bị chính công an Việt Nam ngăn chặn, bắt bớ. Các đoàn thể như công nhân tập hợp nhau lại để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ thì bao giờ cũng bị gắn cái mác “bị các thế lực thù địch kích động,” như thể người dân Việt Nam, ngoài đảng Cộng sản, chỉ là những con rối. Người dân chỉ dám thì thầm với nhau về những tiêu cực và bất mãn, mà ít khi dám lên tiếng công khai. So sánh những ngày tuổi trẻ của bác, với xã hội và tình hình Việt Nam bây giờ, không biết bác cảm nhận thế nào. Còn cháu, cháu đau nỗi đau của người dân một nước nhỏ lép vế trên trường quốc tế và lép vế trước người láng giềng phương Bắc. Cháu lo cho vận mệnh của dân tộc khi cái sinh khí hào hùng trong lịch sử dường như đã trôi xa. Chừng nào vẫn còn những tiếng nói cải cách, chừng đó dân tộc vẫn còn. Chỉ sợ khi không còn ai lo lắng cho đất nước, chẳng còn ai buồn lên tiếng nữa, khi ấy Việt Nam sẽ không còn là một dân tộc nữa, mà chỉ là những cá nhân đơn lẻ sống cạnh nhau, lo vun vén cho bản thân mình, mặc cho cái xã hội này đi đến đâu cũng được. Nếu vậy thì tiếc cho bốn nghìn năm lịch sử hào hùng của dân tộc lắm, phải không bác? Bác có nói là phải có tổ chức, phải tôn trọng Hiến pháp và Pháp luật, cháu đồng ý lắm. Nhưng trước hết chính Nhà nước hãy tôn trọng quyền tự do báo chí, quyền tự do lập hội, quyền tự do biểu tình của người dân được quy định trong Hiến pháp trước đã. Những bộ luật, nghị định mà Nhà nước thông qua phải phù hợp với Hiến pháp, chứ không thể đi ngược lại nó được. Cháu đoán rằng khi bác nói đến Hiến pháp, có thể bác ám chỉ điều 4 Hiến pháp, vì khi cháu “làm việc” với các cô chú bên Bộ Công an, các cô chú có đưa điều khoản này ra để nói rằng việc thành lập tổ chức là vi phạm pháp luật. Trước hết, việc thành lập tổ chức hoặc bày tỏ quan điểm ôn hoà là một vấn đề chính trị, và cần phải được giải quyết bằng giải pháp chính trị, tức là bầu cử tự do, công bằng, để biết nhân dân thuận theo ai hơn. Thứ hai, pháp luật do con người làm ra, con người có thể thay đổi nó. Đến một thời điểm trong lịch sử, khi người dân không còn ưng thuận với điều khoản đó nữa, người dân giữ quyền thay đổi, thông qua trưng cầu dân ý nếu đó là Hiến pháp; hoặc thông qua Quốc hội lập nên từ bầu cử tự do, công bằng, để thay đổi luật pháp. Đó là quá trình thay đổi ôn hoà nhất, hợp lòng dân nhất. Nếu Việt Nam làm được điều này, Việt nam sẽ chứng tỏ được với bạn bè quốc tế về sự ổn định chính trị của mình, rằng những vấn đề của Việt Nam được giải quyết qua những cơ chế dân chủ nhất, đó chẳng phải là điều tốt cho sự thu hút đầu tư đến Việt Nam sao? Xã hội chỉ không ổn định khi không có những cơ chế giải quyết mâu thuẫn xã hội một cách hoà bình. Việc bắt bớ, hạn chế dân quyền, hình sự hoá các vấn đề chính trị, chỉ tăng sự mâu thuẫn trong xã hội và gây lo ngại cho bạn bè quốc tế muốn đến làm ăn ở Việt Nam mà thôi. Như bác Bình đã nói, “bước vào một giai đoạn mới, mỗi người có suy nghĩ của mình, không phải ai cũng giống ai.” Không phải cứ phải vào Đảng cộng sản hay Đoàn thanh niên cộng sản thì mới là đóng góp cho đất nước qua con đường hoạt động chính trị. Chính vì thế, việc mở ra các cơ chế đối thoại cho những đoàn thể đại diện cho những luồng tư tưởng khác nhau trong xã hội là điều quan trọng hơn bao giờ hết, để tạo nền tảng cho đoàn kết dân tộc. Việc có các tổ chức chính trị khác nhau được thành lập chẳng qua cũng chỉ là hệ quả của quá trình vận động tự nhiên trong xã hội mà thôi. Khả năng có hạn của con người không thể bẻ cong bước tiến của lịch sử được. Những người lãnh đạo giỏi sẽ là những người nhìn thấy xu thế ấy mà có chính sách, hành động cho thuận thiên cơ và hợp nhân tâm. Có được những người lãnh đạo ấy là cái phúc của dân tộc vậy. Người lãnh đạo thức thời ấy sẽ là đảng Cộng sản hay một lực lượng nào khác? Điều đó phụ thuộc vào chính những người lãnh đạo bây giờ, hoặc phụ thuộc vào bước đi tất yếu của lịch sử, mà thôi. Nếu được tóm gọn ý kiến của mình trong một câu, quan điểm của cháu cũng không khác bác Bình nhiều lắm: thảo luận, đối thoại, tìm quan điểm chung để cùng hành động. Cháu rất mong rằng, là một người phụ nữ đã đi vào lịch sử Việt Nam, bác Bình sẽ có những tiếng nói và hành động tích cực hơn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, đồng thuận. Về phần cháu, chỉ là một người con gái bình thường cố gắng dung hoà trách nhiệm với gia đình và xã hội, cháu sẽ vẫn tiếp tục lên tiếng và hành động cho những gì mình cho là đúng. Khi ấy, thật mong bác Bình, người đi trước, sẽ chỉ ra cụ thể cái chưa đúng để cháu được học hỏi thêm. Thảo luận để thông cảm là điều chúng ta chưa có, hoặc ít có cơ hội thực hiện, phải không bác? Bloomington-Indiana, ngày 12 tháng 10 năm 2008

Cháu Hoàng Lan

Khủng hoảng-Cơ hội cuối

Trần Đông Chấn

Vào tháng này năm ngoái, quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2008 theo đề xuất của chính phủ. Mặc dù tình hình lạm phát lúc đó đã đến mức báo động nhưng chính phủ và quốc hội vẫn xây dựng mục tiêu tăng trưởng GDP 8,5% – 9%. Con số này là một cơ sở để đòi phải tăng cường đầu tư, nghị quyết nêu rõ đầu tư sẽ đạt 42% GDP trong cùng năm tài khóa 2008 – một con số rất cao và tỷ lệ nghịch với chất lượng tăng trưởng nhưng tỷ lệ thuận với giá trị tham nhũng. Kết quả là các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty, được rót ngân sách khổng lồ và đầu tư tràn lan vào đủ thứ lĩnh vực. Nguy cơ lạm phát không hề được tháo ngòi nổ từ gốc mà lại còn bị đổ thêm dầu vào lửa bởi nạn đầu tư ăn xổi ở thì này. Hậu quả thì thấy ngay lập tức, lạm phát và nhập siêu phi mã chóng mặt. Chính phủ buộc phải thắt chặt tiền tệ nâng lãi suất lên còn chóng mặt hơn.

Lợi ích công hay tư?

Hậu quả đến giờ ai cũng nhìn thấy. Nông dân lẫn các doanh nghiệp vừa và nhỏ điêu đứng, phá sản hàng loạt; sản xuất đình đốn làm sức cung suy giảm nghiêm trọng. Nhưng điều tồi tệ hơn nữa là sức cầu đã và đang tiếp tục suy thoái nặng nề cho dù nhu cầu mong muốn của người dân vẫn tăng. Chính phủ buộc phải nới lỏng tiền tệ. Dù vậy, lãi suất có xuống thêm nữa thì nhu cầu vay để đầu tư cho sản suất cũng không thể phục hồi chỉ trong một vài tháng do lực lượng sản xuất đã thiệt hại nặng nề, không thể gượng dậy ngay được. Trong khi đó, các biện pháp kích cầu tiêu dùng nội địa và đầu tư đang được khởi động. Những cái vòng luẩn quẩn đang được lặp lại.

Kỳ họp quốc hội mới đây vừa thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009. Không hề tìm thấy những phân tích xác định các yếu kém căn nguyên của nền kinh tế và các vấn đề xã hội đang nóng bỏng để đưa ra những biện pháp sửa lỗi căn bản nhằm dần tạo ra sự phát triển bền vững. Thay vào đó, mục tiêu tăng trưởng được đặt khoảng 6,5%, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên GDP là 39,5% (có giảm so với 2008 nhưng vẫn ở mức rất cao). Điều này cho thấy chính quyền vẫn tiếp tục theo đuổi những mục tiêu ngắn hạn, kém chất lượng và không bền vững.

Các mục tiêu này vẫn xoay quanh lợi ích của các nhóm thiểu số và được chi phối bởi động lực của các nhóm này như từ nhiều năm nay, bất chấp những nguy cơ và hậu quả vẫn còn đó của cả nước, bất chấp những bất lợi từ tình hình kinh tế thế giới. Việt Nam đang cần một sự tăng trưởng mà cơ hội của nó được phân bổ công bằng cho hầu hết dân chúng. Một mức tăng trưởng thấp hơn nhưng chất lượng tốt hơn thì đa số người dân vẫn được hưởng thành quả. Với kiểu tăng trưởng như lâu nay, lợi ích thì các nhóm thiểu số chiếm đoạt nhưng hậu quả thì đa số dân chúng lãnh đủ. Đó là chưa kể tác hại của môi trường bị hủy hoại, kẹt xe tắt đường, v.v…, tất cả đều đè nặng lên đa số người dân.

Thực sự muốn bền vững?

Cũng trong kỳ họp quốc hội vừa rồi, có đại biểu quốc hội chất vấn chính phủ về chiến lược phát triển bền vững thì được thủ tướng trả lời rằng phần này đã có trong báo cáo vừa mới đọc. Khi xem báo cáo này thì thấy một chiến lược tăng trưởng bền vững được viết trong vài dòng, với ý chung chung là xây dựng trên 3 trụ cột. Tiếng nói của những đại diện dân cử có đủ quyền hạn và tư cách còn bị dễ dàng lướt qua trước nghị trường, trước hàng triệu người dân mà họ đại diện, thì những cảnh báo khác làm sao thắng được sức mạnh của các nhóm lợi ích thiểu số. Những gì đang diễn ra ở Việt Nam gần một năm nay đã được cảnh báo ngay từ đầu năm 2006. Các phân tích cảnh báo này đã được gửi đến những đại biểu quốc hội với hy vọng họ sẽ tác động cần thiết để tránh những cơn bão cho nền kinh tế. Hy vọng này đã không thành hiện thực.

Bước sang 2007, những nguy cơ này càng trầm trọng hơn nhưng cả nước đang bị làm cho phấn khích với việc gia nhập WTO. Những cảnh báo nguy cơ và kiến nghị giải pháp đã được gửi đến các vị lãnh đạo chính phủ cao nhất với mong muốn nó sẽ được quan tâm để tháo gỡ ngòi nổ cho nền kinh tế. Những vấn đề được đề cập trong các bài “Một năm sau đại hội X – Cảnh báo những nguy cơ quốc gia”, “Việt Nam đồng đang ở đâu và sẽ đi về đâu” đều được trình bày rõ ràng kèm những giải pháp gửi cho các vị này. Khi chỉ nhận được sự thờ ơ của họ thì các bài viết này mới được cho công bố rộng rãi. Nhóm vận động này cũng đã tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau thông qua những quan hệ khác nhau nhưng đều vô tác dụng trước sức chi phối của đồng tiền.

Vừa rồi, nhóm vận động này lại đổi cách tiếp cận, muốn thông qua báo chí chính thống trong nước để lên tiếng cảnh báo đến toàn dân nhằm tạo ra sự nhận thức đúng đắn vấn đề. Điều này ngoài việc giúp người dân khả năng tự chống đỡ khó khăn nó còn tạo áp lực lên các chính sách vĩ mô để có được sự điều chỉnh cần thiết, đặc biệt là lúc chính phủ và quốc hội chuẩn bị cho kế hoạch 2009. Kết quả nhận được vẫn là một sự im lặng đồng nhất, trong đó ứng xử có trách nhiệm nhất là “cảm ơn đã gửi bài”. Dù không quá ngạc nhiên nhưng những ai tham gia vào công việc này đều không thể tránh khỏi cảm giác xót xa cho số phận của dân tộc.

Chúng ta đều có thể hiểu được sức ép và sự bị khống chế mà các nhà làm báo gặp phải thời gian qua. Nhưng thái độ cúi đầu quá dễ dàng và nhanh chóng của họ thì thật khó mà tìm được sự đồng tình và thông cảm của người dân. Báo chí bây giờ thích khai thác sự bực dọc, uất hận của dân chúng đối với các sự việc đã gây hậu quả hơn là cung cấp cho họ những thông tin cần thiết để tránh hoặc đối phó với những nguy cơ có thể gây hại. Một khi người dân đủ khả năng tự bảo vệ mình thì những hành động của các tổ chức hoặc nhóm lợi ích muốn trục lợi trên người dân khó mà thực hiện được để có thể gây ra hậu quả.

Bong bóng và thực chất

Một cơ hội nữa lại bị bỏ qua. Vào cuối năm 2007 nếu các nhà hoạch định chính sách vĩ mô biết lắng nghe và đặt quyền lợi của đa số dân chúng lên trên hết thì đã có được những chiến lược đúng đắn để chủ động đối phó với khủng hoảng, giảm đi thiệt hại rất lớn, thay vì rơi vào bị động buộc phải dùng đến những biện pháp gây nhiều hậu quả như ngày nay. Còn bây giờ, cơ hội để tránh được một sự sụp đổ nặng nề cũng đã bị đánh mất khi các chính sách của 2009 được phê chuẩn. Vẫn như từ nhiều năm nay, các chính sách vĩ mô này chủ yếu tập trung sử dụng các công cụ tiền tệ và tài khóa. Những thứ này chỉ tạo ra các tác động trong ngắn hạn, nhất thời làm thay đổi giá trị danh nghĩa – tức là một sự thay đổi ở ngọn. Sự thay đổi các giá trị danh nghĩa này nếu không đi kèm với sự gia tăng nguồn lực thì trước sau gì chúng cũng sẽ bị điều chỉnh về giá trị thực.

Các giá trị danh nghĩa ở Việt Nam hiện nay là những bong bóng khổng lồ liên thông nhau. Thời gian qua chúng chưa hề được xả hơi để giảm nguy cơ nổ tung, áp lực từ chỗ này chỉ được chuyển tạm thời qua chỗ khác mà thôi. Chứng khoán và bất động sản bơm hơi qua lạm phát và lãi suất, từ đây bơm tiếp vào tỷ giá. Bây giờ nó đang tìm cách để bơm vòng lại bất động sản, nếu biện pháp “kích cầu” bất động sản lần này không có tác dụng thì quả bóng tỷ giá sẽ nổ tung. Khủng hoảng do bong bóng xảy ra trong tình trạng nội lực suy kiệt như Việt Nam lúc này sẽ gây ra một sự sụp đổ toàn diện.

Nhiều nước trên thế giới cũng đang khủng hoảng, nhưng nước nào có nguồn lực trong nước được chăm sóc tốt và thực chất – tức là có nền tảng vững thì cho dù khủng hoảng có rất nặng nề đi nữa, nền kinh tế nước đó vẫn có khả năng điều chỉnh và nhanh chóng tạo ra cơ hội mới để phát triển. Việt Nam lâu nay luôn thiếu vắng những biện pháp chăm sóc từ gốc làm nó ngày càng mục ruỗng do đó mà nội lực của quốc gia ngày càng suy kiệt. Nguồn lực trong nước không chỉ ít được tạo mới mà còn bị khai thác tràn lan và phí phạm. Nguồn lực quan trọng nhất là con người thì ngày càng kém chất lượng và bị xem thường. Vốn xã hội thì bị xói mòn và xuống cấp. Niềm tin thì bị đem ra chơi trò cút bắt bịt mắt bắt dê. Chúng ta rất muốn lạc quan để vượt qua khó khăn nhưng thật khó để tìm thấy những sở cứ cho nó.

Vẫn theo đuổi ngắn hạn

Vì sao các chính sách vĩ mô thời gian qua chỉ thích ở ngọn thì cũng không khó hiểu. Dù các công cụ tiền tệ và tài khóa này chỉ có tác dụng ngắn hạn nhưng chúng lại dễ làm, và lại rất dễ bị lợi dụng để trục lợi bởi các nhóm lợi ích và cả những người sử sụng công cụ. Hậu quả dài hạn của nó thì người dân “hưởng” trọn. Các biện pháp cải cách hành chính và thể chế là điều vừa khó, lại vừa làm mất đi quyền lực để trục lợi cho nên vẫn ì ạch giậm chân tại chỗ. Vừa rồi có một đại biểu quốc hội chất vấn thủ tướng đại ý là làm sao cải cách hành chính có tiến triển để dân gian không phải kêu hành dân là chính nữa. Người đứng đầu chính phủ thay vì trả lời thì phản bác lại rằng qui kết như thế là không có thực tiễn.

Tuy nhiên điều đáng quan ngại hơn nữa là những phát biểu của các thành viên chính phủ trước kỳ họp quốc hội vừa rồi cho thấy trong những năm kế tiếp chính phủ sẽ vẫn theo đuổi những chính sách ngắn hạn bằng các công cụ tiền tệ và tài khóa; không nhìn nhận tình trạng khủng hoảng để giải quyết tận gốc. Chi phí cho việc duy trì bong bóng này rất tốn kém, làm cho nguồn lực trong nước đã yếu lại càng thiếu hụt, chỉ những kẻ trục lợi và đầu cơ chính sách là hưởng trọn. Dự trữ trong dân bị “xén lông cừu” nên đã vơi cạn bởi những cơn sốt phình lên xẹp xuống của các bong bóng chứng khoán, nhà đất, lạm phát, lãi suất, tỷ giá. Dự trữ ngoại tệ quốc gia được cho biết là có tăng lên chút ít. Tuy vậy, sau lời khẳng định nhiều lần của người đứng đầu chính phủ trước quốc hội và toàn dân về việc người nông dân trồng lúa lời trung bình 60% trong năm 2008, người dân đã có cơ sở để hoài nghi về tất cả những số liệu khác mà chính phủ công bố.

Tin từ việc chuẩn bị hội nghị của chính phủ trong tháng tới để triển khai nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2009 cho hay: các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sẽ lại được dành ưu tiên rất lớn trong việc đầu tư kích cầu và đầu tư đón đầu hậu khủng hoảng. Cho dù quốc hội có yêu cầu xiết chặt quản lý các tập đoàn kinh tế, nhưng sự khẳng định của người đứng đầu chính phủ trước quốc hội về vai trò quan trọng của các doanh nghiệp này trong việc điều tiết vĩ mô và kiềm chế thành công lạm phát vừa rồi, đã cho họ những kim bài miễn tội, thúc đẩy họ tiếp tục đi vào những kế hoạch tai hại. Những kiểu điều hành vĩ mô thế này cho thấy mong muốn phát triển bền vững chỉ là những khẩu hiệu suông.

Bất ổn đang gia tăng

Tình trạng bất ổn xã hội đang gia tăng. Trong cả 2 kế hoạch của 2008 và 2009 đều đặt mục tiêu tạo ra 1,7 triệu việc làm mới mỗi năm. Nếu đây là một tính toán nghiêm túc thì nó thể hiện sự thụt lùi về chất lượng tăng trưởng vì năm 2008 ban đầu được dự kiến sẽ tạo ra 8,5 – 9% tăng trưởng GDP; con số tương tự cho 2009 là 6,5%; số việc làm được tạo mới bằng nhau cho một mức tăng sản lượng thấp hơn, tức năng suất lao động trên đầu người sẽ sụt giảm. Sự tăng trưởng không dựa trên tăng năng suất thì làm sao nói đến phát triển bền vững được. Mà làm sao có được việc làm mới trong khi lực lượng duy nhất làm được điều này trong nhiều năm qua là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hấp hối và đã chết gần một nửa. Thực ra không ít người thừa hiểu rằng những con số mục tiêu về việc làm này được đưa ra để che dấu tình trạng thất nghiệp đã và sẽ còn tăng nhanh và phức tạp trong thời gian tới. Tội phạm và tệ nạn xã hội cũng theo đó mà tăng mạnh.

Với người nông dân thì tương lai trước mắt còn mờ mịt hơn rất nhiều. Lực lượng lao động trong khu vực này ngày càng tăng cả về con số lẫn tỷ lệ. Trong khi đó tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai thì đang bị thu hẹp nhanh chóng, mà đầu tư cho công nghệ để gia tăng năng suất lao động thì gần như bằng không. Chuyển đổi sang việc làm trong khu vực công nghiệp và dịch vụ thì gặp phải những chiếc bánh vẽ của các kẻ đầu tư để chiếm đất nông nghiệp. Số cầu lao động do các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra hàng năm cho khu vực nông thôn thì bây giờ là một con số âm to tướng. Những công nhân gốc nông dân giờ đây trở về quê với hai bàn tay trắng, không đất không nghề. Mưu sinh với họ là cả một thử thách đạo đức. Hàng tỷ đô-la đầu tư kể cả từ nước ngoài lẫn từ nhà nước thì số dành cho nông nghiệp và nông thôn chỉ là phần thừa đuôi thẹo. Lúa, cá, tôm, cà phê, v.v… giảm giá và ế ẩm đang chồng chất nợ nần lên người nông dân. Doanh nghiệp nếu phá sản còn áp dụng được luật để giải trừ trách nhiệm trả nợ, còn người nông dân thì có chết cũng không hết trách nhiệm do vỡ nợ. Con giun xéo mãi cũng oằn.

Mong qua ngày đoạn tháng

Bức tranh chung thật là u ám. Và điều đáng lo sợ nhất là tư duy đối phó ngắn hạn của những người cầm chèo cầm lái. Người ta vẫn còn trông chờ vào những phép màu nên tiếp tục mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại. Nhưng không ai mua mãi như thế được vì thời gian mua được càng về sau càng ngắn đi do chi phí mua càng tăng lên. Cũng giống như phải chấp nhận vay siêu cao của người sau để trả lãi cao cho người cho vay trước đó vậy, càng ngày càng cụt dần. Nếu trước đây những chính sách ngắn hạn chỉ thấy hậu quả khoảng vài ba năm sau đó, thì bây giờ chỉ vài tháng là hiển hiện.

Năm 2007 tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kém chất lượng vào đầu năm thì cuối năm lạm phát tăng mạnh; giảm thuế nhập khẩu để chống đợt lạm phát này thì ngay lập tức nhập siêu tăng vọt vào đầu năm 2008; kéo theo lạm phát cùng phi mã. Rồi nó lại được chữa trị bằng lãi suất cao, giết chết sản xuất trong nước chỉ vài tháng sau đó. Bị buộc phải cam kết với giới tài phiệt giữ giá tiền đồng cao đến không tưởng nên tất yếu phải nâng lãi suất càng cao hơn nữa để giữ chân dòng vốn đầu cơ không chạy ra ngoài. Nhưng bài học chưa kết thúc. Sau khi đã trục lợi chán chê bằng cách đó thì các dòng vốn này đang được rút dần và gia tăng áp lực lên tỷ giá.

Cả nước đang gồng mình chịu đựng sức căng của bong bóng tỷ giá. Bây giờ nếu không muốn dòng vốn này chuyển ra khỏi Việt Nam thì phải có những món gì khác rất hời hơn nữa để giữ chân họ lại. Dài hạn hay ngắn hạn, chấp nhận xì hơi bong bóng tỷ giá hay bơm áp lực của nó qua chỗ khác là bài toán đang đợi sự quyết định khôn ngoan lẫn dũng cảm hay không của những người cầm lái. Có rất ít hy vọng để tin cơ hội cuối cùng này sẽ không bị đánh mất. Những kẻ cơ hội và các nhóm lợi ích tư vẫn đang chực chờ vây quanh các tay chèo và bánh lái với hàng trăm biện pháp trục lợi được che dấu dưới những chiêu bài “ổn định kinh tế vĩ mô”.

Dân phải tự cứu mình?

Thiếu tỉnh táo chiến lược lần này sẽ dẫn đến một sự sụp đổ. Hậu quả của nó sẽ rất kinh hoàng và còn phải chịu thêm tác động kép của khủng hoảng thế giới. Việt Nam đang phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực. Lần này không chỉ dân nghèo, bình dân phải hứng chịu nặng nề, mà thành phần trung lưu thành thị lẫn nông thôn đều sẽ phải chịu đựng những hậu quả kinh khủng, chưa thể lường hết được. Những lúc khó khăn, người dân có quyền trông chờ vào sự ra tay của nhà nước, điều đó không thể gọi là ỷ lại. Nhưng nhà nước sẽ làm gì thì đến giờ vẫn chưa rõ ngoài việc kêu gọi toàn dân cùng chia sẻ khó khăn và làm mọi người lạc quan ảo.

Trong những tình huống như vậy, nếu không có những cam kết thành thật và dẫn hướng từ nhà nước thì dân chúng sẽ hành động ở trạng thái mất niềm tin để tự cứu lấy mình. Đó là lúc rối loạn xã hội sẽ phát triển nhanh chóng. Và những kẻ đầu cơ trên sự rối loạn đó lại xuất hiện đúng lúc.

Chúng ta đều mong điều tốt đẹp, nhưng có lẽ người dân phải dự phòng tình huống xấu nhất để tự lo cho mình.

Trần Đông Chấn

Mùa đông tháng 11, 2008

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.