Ktetaichinh’s Blog

February 6, 2009

chính sách tiền tệ đầu năm 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:33 pm
Tags:

Ngân hàng đồng loạt triển khai việc hỗ trợ lãi suất  02/07/09

TBKTSG Online) – Theo yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng hiện đang đồng loạt triển khai việc hỗ trợ 4% lãi suất cho các doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh trong nước.

>> Nhiều băn khoăn về việc hỗ trợ lãi suất

Xuất khẩu được ưu tiên

Trong kế hoạch triển khai việc cấp bù lãi suất này, các ngân hàng hầu như đều ưu tiên cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Ngân hàng Á Châu (ACB) ngoài việc ưu tiên xét cho vay hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp xuất khẩu còn tuyên bố dành hẳn khoản tín dụng 200 triệu đô la Mỹ trong chương trình này để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu lương thực.

Như vậy, sau khi được bù lãi suất từ Chính phủ, lãi suất vay vốn lưu động để sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ giảm xuống rất thấp. Tại ACB, với các doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn theo chương trình tài trợ xuất khẩu bằng đồng Việt Nam nhưng tính theo lãi suất cho vay đô la Mỹ thì lãi suất vay chỉ còn 2%/năm, tức là  0,17%/tháng.

Ngân hàng Quốc Tế (VIB) cũng đang triển khai chương trình tài trợ xuất khẩu bằng đồng Việt Nam với lãi suất tính theo cho vay đô la Mỹ ở mức thấp nhất là 1%/năm sau khi được bù lãi suất. VIB sẽ dành 25.000 tỉ đồng để cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ.Còn tại Ngân hàng Techcombank, mức lãi suất sau hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước sẽ dao động từ 5 – 6%/năm (theo lãi suất cho vay tiền đồng). Đối với một số doanh nghiệp xuất khẩu trong chương trình cho vay xuất khẩu ưu đãi của Techcombank thì có thể được hưởng mức lãi suất sau hỗ trợ từ 1 – 2%/năm (theo lãi suất cho vay đô la Mỹ). Techcombank cũng đã công bố sẽ dành 50.000 tỉ đồng dư nợ để cho vay trong chương trình này.

Đối với Ngân hàng Eximbank, lãi suất cho vay xuất khẩu kỳ hạn 180 ngày bằng đồng Việt Nam nhưng tính lãi suất theo cho vay đô la Mỹ công bố ngày 5-2 là 4,5%/năm đối với các doanh nghiệp cam kết bán ngoại tệ cho ngân hàng theo tỷ giá ngày giải ngân. Tuy nhiên, đây là mức lãi suất chưa được hỗ trợ từ Chính phủ. Theo trả lời của Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước trên báo Tuổi Trẻ (7-2) thì các khoản vay này vẫn thuộc diện được bù lãi suất. Vậy, lãi suất cho vay doanh nghiệp xuất khẩu theo sản phẩm này của Eximbank sẽ chỉ còn 0,5%/năm.

Ngân hàng Sacombank thì cho biết lãi suất vay vốn sau khi được hỗ trợ của các doanh nghiệp sẽ từ 5,5 – 6,5%/năm (theo lãi suất cho vay tiền đồng) và doanh nghiệp sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng sẽ được xét để giảm lãi suất cho vay thấp hơn mức trên. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng của Sacombank trong năm nay chỉ ở mức 20 – 25% so với dư nợ cuối 2008 là 35.000 tỉ đồng nên tổng dư nợ dành cho chương trình này của Sacombank sẽ không nhiều như ACB và Techcombank.

Xét tín dụng, mỗi ngân hàng một kiểu

Tuy các ngân hàng đã đồng loạt triển khai việc cho vay hỗ trợ lãi suất trên toàn hệ thống của mình, nhưng việc xét để cho vay theo chương trình này thì mỗi ngân hàng mỗi khác.

Ngân hàng ACB chỉ xét hỗ trợ lãi suất cho các khách hàng không phát sinh nợ quá hạn nhóm 2 trong vòng 12 tháng gần nhất, và nợ quá hạn nhóm 3 đến nhóm 5 trong hai năm gần nhất.

Trong khi đó, ông Trần Xuân Huy, Tổng giám đốc Sacombank, thì cho biết đối với doanh nghiệp đã từng phát sinh nợ quá hạn nhưng đã trả xong, ngân hàng sẽ xem xét từng trường hợp để cho vay theo diện được hỗ trợ lãi suất.

Đại diện Ngân hàng Eximbank thì cho biết các tiêu chí xét cho vay theo diện được hỗ trợ lãi suất hiện đang được soạn thảo và sẽ công bố vào ngày thứ Hai (9-2).

Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) thì thông báo rằng các đối tượng được xem xét hỗ trợ lãi suất phải thỏa mãn các điều kiện vay vốn của SCB, có tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính tốt, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi vay đúng hạn. Tương tự, Ngân hàng Liên Việt thông báo chỉ thực hiện việc hỗ trợ lãi suất khi khách hàng thực hiện trả lãi vay đầy đủ của số tiền lãi đến hạn.

Theo các ngân hàng, việc cho vay hỗ trợ lãi suất này quá mới lại chỉ triển khai trong thời gian ngắn, nên trong thời gian thực hiện, nếu có phát sinh thắc mắc sẽ chờ hướng dẫn cụ thể từ phía Ngân hàng Nhà nước mà đầu mối là Vụ chính sách tiền tệ.

Tỷ giá có thể còn biến động 02/05/09

(TBKTSG) – Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tháng 1-2008 chỉ đạt 3,8 tỉ đô la Mỹ, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ (1,2 tỉ đô la Mỹ) và thấp hơn chỉ tiêu mà Quốc hội đặt ra (chỉ tiêu xuất khẩu năm 2009 là 72 tỉ đô la Mỹ, trung bình 6 tỉ đô la Mỹ/tháng).

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang tác động thế nào đến xuất khẩu nói riêng, kinh tế Việt Nam nói chung là chủ đề cuộc trao đổi đầu năm của TBKTSG với ông Tô Hải, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Bản Việt (VCSC). Ông Hải mở đầu:

– Khủng hoảng toàn cầu và sự suy giảm nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu đã ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam bởi các mặt hàng nguyên liệu chiếm gần một nửa kim ngạch xuất khẩu cả nước. Giá thép, dầu, cao su, cà phê… đều giảm. Để chống lại tác động của giảm giá và giảm cầu tiêu dùng, các nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu đã thực hiện hàng loạt biện pháp đối phó.

TBKTSG: Chính phủ cũng đang kích thích xuất khẩu thông qua cơ chế thuế và điều chỉnh tỷ giá. Tuy nhiên mức độ điều chỉnh vẫn đang là đề tài tranh luận của nhiều giới, nhiều ngành. Ông có nghĩ rằng sự điều chỉnh đã ở mức hợp lý?

– Ông Tô Hải: Hàn Quốc đã có động thái giảm giá đồng nội tệ khoảng 30% so với đô la Mỹ. Thái Lan, Indonesia, Philippines đã để đồng tiền của họ trượt giá 16%, 17% và 15% so với đồng đô la Mỹ.

Về lý thuyết, chính sách phá giá tiền tệ có thể giúp nền kinh tế khởi sắc do xuất khẩu được cải thiện và dựa trên chi phí của các nước khác. Có thể thấy là trước sau gì, Việt Nam cũng phải thực hiện chính sách tương tự để không làm mất đi tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu so với các nước khu vực. Năm ngoái, đồng Việt Nam chỉ giảm giá 8,5% so với đô la Mỹ. Do đó việc tiền đồng bị phá giá thêm nữa là hoàn toàn có thể.

TBKTSG: Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Chỉ một mình tỷ giá liệu có đủ sức nâng đỡ xuất khẩu?

– Tỷ giá không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng. Với Indonesia, đồng rupiah được phá giá tới 35% năm 2000 và thêm 8% năm 2001, nhưng xuất khẩu của nước này vẫn giảm mạnh từ 20% năm 2000 xuống âm 12% năm 2001.

Philippines đã giảm giá đồng peso lần lượt là 24% và 3% vào các năm 2000 và 2001, nhưng xuất khẩu vẫn giảm từ 9% năm 2000 xuống âm 16% năm 2001. Dĩ nhiên cần nhiều bằng chứng hơn về cơ cấu xuất khẩu để minh chứng cho những con số trên.

TBKTSG: Trong những năm 2000 – 2001 Việt Nam cũng điều chỉnh tỷ giá với mức độ nhẹ hơn nhiều và xuất khẩu của chúng ta đã không giảm ở mức như các nước láng giềng. Phải chăng chính sách  phá giá tiền tệ không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng?

– Cuộc khủng hoảng từ Mỹ – nước tiêu thụ chính của thế giới – đang ảnh hưởng trực tiếp tới các nước xuất khẩu và buộc các nước này phải phá giá tiền tệ. Câu hỏi bây giờ là chính sách này được áp dụng như thế nào? Năm 2000 và 2001 tiền đồng trượt giá 3,5% và 3,9% so với đô la Mỹ. Và cùng thời gian đó tăng trưởng xuất khẩu của ta là 25% và 4%. Lúc đó Mỹ chỉ chiếm 7% thị phần xuất khẩu của Việt Nam. Còn hiện nay Mỹ và châu Âu chiếm hơn 30% thị phần. Con số thị phần có rất nhiều ý nghĩa.

TBKTSG: Thưa ông, điều đó có thể hiểu là tác động của cuộc khủng hoảng hiện nay đến xuất khẩu khắc nghiệt hơn năm 2001?

– Theo chúng tôi là khắc nghiệt hơn. Do đó các chính sách của Chính phủ có thể sẽ “mạnh tay” hơn. Chính phủ cũng nên thận trọng trong việc đưa ra các chính sách nhằm tránh tác động phụ của điều chỉnh tỷ giá, chẳng hạn đô la hóa hay sự tăng trở lại của lạm phát.

TBKTSG: Sự biến động của tỷ giá không thể chỉ nên đo lường bằng xuất khẩu. Những thông số khác liên quan đến cán cân thanh toán là không thể bỏ qua. Dưới góc độ công ty chứng khoán, Bản Việt nhìn nhận ra sao về dòng vốn đầu tư nước ngoài năm nay?

– Viện Tài chính Quốc tế cho biết năm 2008 khoảng 400 tỉ đô la Mỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được giải ngân vào các nước đang phát triển. Tỷ lệ FDI giải ngân vào Việt Nam chiếm 1-2,5% tổng nguồn vốn đầu tư vào các nước đang phát triển. Tỷ lệ giải ngân đạt cao nhất vào năm 1995, sau đó giảm nhanh chóng và giữ ở mức thấp năm 2006.

Năm ngoái tỷ lệ giải ngân vào Việt Nam đạt 2,2% tổng vốn đầu tư, khoảng 11 tỉ đô la Mỹ. Nếu lấy tỷ lệ bình quân FDI giải ngân vào Việt Nam là 1,5%, thì FDI năm 2009 dự đoán chừng 6 tỉ đô la Mỹ. Nếu lấy 2% thì được 8 tỉ đô la Mỹ. Dù lấy tỷ lệ nào, thì giải ngân FDI năm nay cũng giảm 3-5 tỉ đô la Mỹ so với năm ngoái.

TBKTSG: Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trước mắt có thể hứa hẹn một kết quả khả quan hơn không, thưa ông?

– Tôi nghĩ là không, bởi các tổ chức đầu tư đang trở nên rất thận trọng. Đầu năm 2008 công cụ bảo hiểm rủi ro tín dụng của thị trường Việt Nam (credit default swap – CDS) ổn định ở mức 1%, nhưng đến cuối năm đã tăng lên 4-5%. Nói cách khác đầu tư vào Việt Nam phải bù rủi ro và mức bù đã tăng lên thêm 3 điểm phần trăm. Vì vậy ngay cả khi chúng ta hoặc các quỹ nước ngoài huy động được vốn để bỏ vào Việt Nam, chi phí nguồn vốn này cao hơn nhiều so với trước.

TBKTSG: Thu hút vốn gián tiếp qua kênh chứng khoán đang khó khăn, nhưng trái phiếu chính phủ với độ an toàn cao có khả năng trở thành kênh dẫn vốn…

– Chúng tôi quan sát thấy khối ngoại vẫn đang bán ra trái phiếu và họ có thể chưa dừng lại. Đầu năm ngoái họ nắm trong tay 3 tỉ đô la Mỹ trái phiếu chính phủ Việt Nam, nay họ chỉ còn giữ 500 triệu đô la Mỹ. Không loại trừ khả năng họ bán ra đến hết.

Vì sao ư? Vì họ thực tế. Hiện tại lợi suất trái phiếu Việt Nam kỳ hạn 1-4 năm khoảng 8,5%, trong khi mức bù CDS 4-5%, mức bù rủi ro tỷ giá ước 3-5%. Nhìn sang Mỹ, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ loại năm năm đang là 2%. Bán trái phiếu Việt Nam, mua trái phiếu chính phủ Mỹ, cái nào chắc ăn hơn?

HẢI LÝ thực hiện

Không thể tránh khỏi tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

“Trước đây nhiều người vẫn hoài nghi liệu kinh tế Việt Nam có phải đối mặt với khủng hoảng toàn cầu không. Trong suy đoán của họ, bên cạnh nỗi lo về tương lai ảm đạm và sự sụp đổ của thị trường tài chính, vẫn còn những hy vọng và sự lạc quan về nền kinh tế. Trong nửa đầu năm 2008, gần một năm kể từ khi khủng hoảng nhà đất của Mỹ bùng nổ, hầu hết chúng ta đều quan tâm đến lạm phát cao của nền kinh tế, giá cổ phiếu giảm mạnh và những bất ổn đáng lo của hệ thống ngân hàng. Rồi FDI cam kết tăng kỷ lục, thị trường xuất khẩu được đa dạng hóa, GDP vẫn tăng trưởng 6,23%. Nhiều ý kiến cho rằng nền kinh tế sẽ phục hồi khi các vấn đề trong nước được giải quyết.

Ngay cả khi những ngân hàng đầu tư tên tuổi quốc tế lao đao, phá sản vào giữa tháng 9-2008, không ít người vẫn tiếp tục nghi ngờ về khả năng ảnh hưởng của khủng hoảng thế giới đến Việt Nam. Thứ nhất, khả năng tác động của thế giới đến Việt Nam có vẻ không cao. Thứ hai, sự liên thông của hệ thống ngân hàng và tài chính với thị trường chứng khoán phái sinh là không đáng kể. Cuối cùng, có lẽ chúng ta đã có nhiều bài học từ các nước đang phát triển trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Nhiều người tự tin về khả năng miễn nhiễm trước khủng hoảng của nền kinh tế.

Tuy nhiên từ tháng 10-2008 đến nay, sự lạc quan dường như không còn nữa. Kinh tế nội địa không thể tránh khỏi tác động từ kinh tế toàn cầu. Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu phản ánh những tin tức từ thị trường thế giới vào giá cổ phiếu. Chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, mức độ tương quan giữa VN-Index và chứng khoán thế giới tăng trên 50%. Thị trường tín dụng cũng trầm lắng khi ngân hàng e ngại cho vay vì sợ rủi ro. Tình hình có vẻ chưa thể sáng lên khi các tổ chức chuyển sang bán ròng cả cổ phiếu và trái phiếu. Từ lạm phát cao ngất ngưởng, chúng ta đột ngột phải đối mặt với nguy cơ thiểu phát. Đó là minh chứng rõ nhất cho tác động sâu của khủng hoảng toàn cầu đến kinh tế Việt Nam”.

Tô Hải, Tổng giám đốc VCSC

02/04/09

Với quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh, Ngân hàng Nhà nước đã có thông tư hướng dẫn, đồng thời tổ chức cuộc họp với các ngân hàng thương mại để phổ biến chủ trương này.

>> Hỗ trợ lãi suất, đang chờ hướng dẫn cụ thể

>> Chỉ hỗ trợ lãi suất các khoản vay trong 2009

Ngày 4-2, tại TPHCM, đại diện của các ngân hàng thương mại ở khu vực phía Nam đã đến tham dự buổi triển khai thực hiện việc hỗ trợ lãi suất của Chính phủ  với rất nhiều thắc mắc xoay quanh việc cấp bù lãi suất 4% nói trên.

Trách nhiệm nặng hơn

Tại cuộc họp, ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB), nêu lên một loạt mười điểm thắc mắc. Một trong những điều có vẻ mâu thuẫn được ông Hải nêu lên là thông tư ghi rõ ngân hàng không được từ chối hỗ trợ lãi suất nhưng lại cũng có nói các ngân hàng phải từ chối hỗ trợ lãi suất với các mục đích không đúng.

“Ngân hàng thương mại chỉ là một kênh dẫn vốn hỗ trợ từ NHNN đến các khách hàng, và ngân hàng có thể xác định khách hàng này thuộc đối tượng hỗ trợ, khách hàng kia là không, sự xác định này có thể đúng cũng có thể sai. Và trong thời gian chờ Ngân hàng Nhà nước trả lời có đúng đối tượng không, các ngân hàng luôn ở trong trạng thái có thể bị kiện vì không chịu hỗ trợ”, ông Hải nói, và yêu cầu NHNN cần có cơ quan xử lý nhanh các tình huống như trên của các ngân hàng.

Ông Hải cũng thắc mắc về việc ngân hàng phải đảm bảo giám sát việc sử dụng đúng mục đích nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất. Ông đặt trường hợp, giả sử khi nguồn vốn quay vòng và doanh nghiệp sử dụng để dùng không đúng mục đích thì ai sẽ chịu trách nhiệm? Ông Hải nêu ví dụ, doanh nghiệp có thể mua hàng buổi sáng và bán buổi chiều sau đó nhận tiền về đem sử dụng cho mục đích khác thì ngân hàng làm thế nào để giám sát?!

Việc thẩm định mục đích sử dụng vốn của khách hàng như thế nào cũng là vấn đề được nhiều ngân hàng nêu ra. Bà Nguyễn Thị Kim Xuyến, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á, tỏ ra băn khoăn về việc ngân hàng phải xác định mục đích sử dụng vốn của khách hàng theo giấy đăng ký kinh doanh (để loại bỏ ngành nghề), hay theo phương án kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với các vấn đề trên, ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc NHNN, cho rằng tất cả đều phụ thuộc vào khả năng thẩm định các khoản vay của các ngân hàng, và chắc chắn là phải căn cứ trên phương án sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp hoạt động đa ngành. Ông cho biết thêm, Vụ Chính sách tiền tệ sẽ là đầu mối để giải quyết các vấn đề phát sinh; tuy nhiên mọi thắc mắc của các ngân hàng thì NHNN cũng cần có thời gian để giải quyết.

Đại diện một ngân hàng cổ phần nói với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online rằng việc hỗ trợ này sẽ rất khó khăn cho ngân hàng vì nếu sai sót trong giám sát việc sử dụng vốn vay thì sẽ bị NHNN truy cứu trách nhiệm, còn nếu cẩn thận dẫn đến hạn chế các khoản hỗ trợ lãi suất thì sẽ bị doanh nghiệp kiện.

Ngân hàng bị “giam” tiền

Theo hướng dẫn, hàng tháng các ngân hàng sẽ được trả tiền hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp từ NHNN và chỉ nhận được 80% tổng số tiền được hỗ trợ. Việc chuyển số lãi tiền vay đã hỗ trợ lãi suất còn lại trong năm 2009 được thực hiện sau khi nhận được báo cáo quyết toán về hỗ trợ lãi suất của ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, theo đại diện các ngân hàng, việc này sẽ gây thiệt thòi cho ngân hàng, vì ngoài các chi phí phát sinh thêm về giấy tờ, thủ tục thẩm định… thì một phần tiền lãi từ các khoản vay của ngân hàng lại bị giam trong vòng 8 tháng trong khi số tiền đó lẽ ra có thể dùng để xoay vòng tạo lợi nhuận.

Bà Xuyến, Ngân hàng Đông Á, cho rằng căn cứ theo tình hình dư nợ cho vay vốn lưu động tại Ngân hàng Đông Á khoảng 20.000 tỉ đồng thì 20% lãi suất này cuối năm sẽ là một con số khá đáng kể.

Kết thúc buổi giải đáp thắc mắc, hầu hết các ngân hàng cho biết sẽ mất nhiều thời gian để triển khai thực hiện việc hỗ trợ lãi suất. Trước hết, các ngân hàng cần họp nội bộ để thống nhất các đối tượng được hỗ trợ, sau đó mới triển khai đến toàn hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng đều nhận định trách nhiệm của mình sẽ nặng nề thêm là điều không tránh khỏi trong thời gian tới.

NHNN lập tổ công tác thực hiện việc hỗ trợ lãi suất

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định thành lập tổ công tác để tổ chức thực hiện việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức và cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh.

Theo quyết định này, tổ trưởng tổ công tác là ông Nguyễn Đồng Tiến, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước; các thành viên của tổ công tác gồm đại diện lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Tín dụng, Vụ Kế toán – Tài chính, Văn phòng, Thanh tra NHNN, Sở giao dịch NHNN và đại diện Bộ Tài chính.

Tổ công tác có nhiệm vụ giúp Thống đốc NHNN và các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức và cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Nhà nước bù chênh lệch lãi suất: Nên hay không? 02/03/2009

Banks to support interest rates for borrowers

VNBusinessNews
– The State Bank of Vietnam on February 4 and 5 will hold a meeting oncredit activities and instructing implementation of Decision 131/QD-TTgof the prime minister on supporting interest rates for bank loanborrowers who will use loans for business and production activities in HCMCity and Hanoi. The central bank on February 3 will issue acircular instructing compensation of interest rates for clients.

PhD.Cao Sy Kiem, member of the National Monetary Policy ConsultancyCouncil, said that Decision 131 clarifies the policy and ways ofinterest rate compensations. Accordingly, commercial bankswill meet demand on working capital for business and production inaccordance with the normal credit mechanism. Upon collecting loaninterest from clients, commercial banks will deduct interest which isequal to 4% a year of actual loans based on the real term incurred in2009. After that, the central bank will refund this deducted amount tocommercial banks. Thus, with the ceiling lending interest rate of 10.5%a year, the maximum actual interest rate that clients have to pay will
be 6.5%. The lending time that is entitled to the interest ratecompensation is eight months for credit signed and disbursed betweenFebruary 1 and December 31, 2009. Total amount set aside for creditsupport is about 17 trillion dong.

Under Decision 131,commercialbanks are required to submit applications and plans onsupporting interest rates to the central bank within the first 10 daysof February and commercial banks have to immediately support interestrates for borrowers. However, there has not yet been any circularinstructing the decision. (NLD)

BÙI KIẾN THÀNH

17/01/2009

phương án sử dụng khoản kích cầu đầu tư 17.000 tỷ đồng trong năm 2009vừa được thông qua, Chính phủ dự định sẽ dùng phần lớn số tiền này đểhỗ trợ 4% lãi suất vay vốn cho một số đối tượng doanh nghiệp, với mụcđích “duy trì sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, bảo đảm việclàm”.

Việc hạ thấp lãi suất vay vốn để doanh nghiệp duytrì và phát triển sản xuất kinh doanh là cần thiết, nhưng thực hiện mục
đích này bằng phương thức dùng tiền ngân sách bù chênh lệch giữa lãisuất ngân hàng và lãi suất doanh nghiệp vay vốn có phải là một giảipháp tốt nhất hay không thì theo người viết vẫn còn cần cân nhắc.

Ở các nước, việc hạ lãi suất doanh nghiệp vay vốn thường được thực hiệnqua chính sách tiền tệ, ít thấy có nước nào áp dụng phương thức nhànước bù chênh lệch lãi suất.

Từ Mỹ đến Nhật Bản và châu Âu, đểhỗtrợ doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, ngân hàng trungương thường hạ lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn cho ngânhàng thương mại, tạo điều kiện để ngân hàng thương mại cho doanhnghiệpvay với lãi suất thấp.

Nếu ngân hàng thương mại cần huy động vốnđể cho vay thì có thể chiết khấu các hợp đồng cho vay với ngân hàng
trung ương hoặc trực tiếp vay vốn từ ngân hàng trung ương.

Ngânhàng trung ương có đặc điểm là một định chế tài chính công quyền, đượcluật pháp ủy thác quyền phát hành tiền tệ, tín dụng, mà không phải đihuy động vốn từ trong nhân dân hay vay vốn từ bất cứ nguồn nào. Ngânhàng trung ương có quyền phát hành tiền nên không phải trả lãi suất đểhuy động vốn.

Tại Mỹ, lãi suất ngân hàng trung ương cấp vốn chongân hàng thương mại đã được hạ xuống còn 0% đến 0,25%. Tại Nhật, lãisuất ngân hàng trung ương chiết khấu và tái cấp vốn cho ngân hàngthương mại được hạ xuống còn 0,3%. Dựa trên lãi suất được ngân hàngtrung ương cấp vốn từ 0% đến 0,3%, ngân hàng thương mại có thể chodoanh nghiệp vay từ 3-4% mà không cần phải có sự can thiệp của chínhphủ hay hỗ trợ từ ngân sách.

Cần phân biệt chính sách tài khóavới chính sách tiền tệ. Điều tiết mức lãi suất ngân hàng là phạm vitrách nhiệm của chính sách tiền tệ, không phải là phạm vi can thiệp củachính phủ qua chính sách tài khóa.

Điều phối lãi suất, dunglượng và lưu lượng tiền tệ để hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển bềnvững và ổn định, và đồng thời kiềm chế không để xảy ra lạm phát haythiểu phát là trách nhiệm của chính sách tiền tệ mà cơ quan quản lí làngân hàng trung ương.

Trở lại với trường hợp của Việt Nam, nếu chính sách của lãnh đạo Đảng và Nhà nước là cần hạ lãi suất cho doanhnghiệp vay vốn, người viết cho rằng phương thức hợp lý và hữu hiệu nhấtlà điều chỉnh lãi suất ngân hàng trung ương – ở đây là Ngân hàng Nhànước – chiết khấu và tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại.

Nếu4-5% là định mức lãi suất cần thiết để doanh nghiệp có điều kiện duytrì và phát triển sản xuất kinh doanh thì ngân hàng trung ương có thểhạ lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn xuống mức từ 1 đến 2%. Không cầnphủ phải dùng ngân sách để hỗ trợ lãi suất qua phương thức “bùchênh lệch”.

Ngoài việc điều tiết lãi suất qua chính sách tiềntệ do ngân hàng trung ương quản lý là hợp lý, việc triển khai cũng sẽ
bảo đảm tính chất khách quan, nhanh gọn, và có thể tránh được nhữngnguy cơ tiêu cực liên quan đến việc các cơ quan hành chính giám định vàgiaiquyết các hồ sơ “xin” được hỗ trợ bù chênh lệch lãi suất.

Hơnnữa, trong khi chính sách tiền tệ hoàn toàn có thể giải quyết được việccung ứng vốn cho doanh nghiệp phát triển mà nhà nước không phải tốn kémchi phí “bù chênh lệch lãi suất”, việc áp dụng phương thức lấy tiềnngân sách để “hỗ trợ doanh nghiệp” trả lãi cho ngân hàng thương mại cóthể là một sự lãng phí, trong bối cảnh ngân sách còn đang thâm hụt.

Comments

Nguyễn Trung Hiếu19/01/2009

Theo y kiến của tôi, chính sách kích cầu do Chính phủ Việt Nam ban hành làcó sự tham khảo ý kiến của rất nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnhvực kinh tế.

Do đó, việc “bù lãi suất” cho vay doanh nghiệp làcó mục đích riêng của chính phủ, và điều đó đã được cân nhắc kĩ càng sovới hàng chục chính sách kích cầu khác được đưa ra thảo luận.

Theoquan điểm của tôi, việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay hạ lãisuất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn xuống còn 1-2% để mở rộng chovay thông qua việc phát hành tiền như ý kiến của tác giả là KHÔNG nên.

Lý do :

-Thứ nhất, lượng tiền mặt mà Ngân hàng Nhà nước cung ứng cho nền kinh tếtrong nhiều năm vừa qua tăng trưởng rất cao. Nếu so sánh với các nướctrong khu vực thì Việt Nam là nước có tốc độ tăng cung tiền cao nhất,trong khi % tăng GDP lại không tương xứng.

Đó là lý do tại saođầu năm 2008, lạm phát ở Việt Nam cao hơn nhiều so với nhiều quốc giatrên thế giới. Mặt khác, tuy hiện Việt Nam đang giai đoạn giảm phát,nhưng thực ra giá cả các mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm,thuốc men,… (quả thực tôi vẫn chưa thấy mặt hàng nào trong số mặthàng trên giảm giá, trái lại còn tăng cao hơn tháng trước) vẫn cao hơnnhiều so với cùng thời điểm năm 2007.

Do đó, việc tăng cung tiềnquá mức thông qua lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn còn 1-2%là nguy cơ làm lạm phát bùng phát trở lại.

– Thứ hai, lãi suấtchiết khấu và lãi tái cấp vốn phải đi cùng với lãi suất cơ bản, nghĩalà lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu từ 1-2% từ lãi suấtcơ bản sẽ tương ứng như vậy. Đây là việc không tưởng, vì lãi suất cơbản mà từ 1-2% thì tức là lãi suất trần sẽ là 1.5%-3% và lãi suất sànlà 0.5%-1%. Điều này có thành hiện thực được không??

– Thứ ba,bất kì chính sách kinh tế nào cũng có mặt lợi và mặt hại. Do đó, chúngta chỉ có thể đòi hỏi chính sách đó ở mức hợp lý nhất có thể, không nàocó 1 chính sách nào là vẹn toàn cả.

– Thứ tư, mỗi nước mỗi đặcđiểm riêng về nên kinh tế. Không nên cứng nhắc áp dụng lại các chínhsachkích cầu của các nước phát triển như Mĩ, châu Âu, Nhật,…

Vũ Việt Phương

Sử dụng ngân sách để bù lãi suất cho doanh nghiệp, có lẽ chính phủ muốn kết hợp ưu điểm của cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nếu sử dụng chính sách tài khóa để kích cầu, tức là vay tiền thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ, thì sẽ tạo sức ép làm tăng lãi suất, dẫn đến sự suy giảm đầu tư của các doanh nghiệp.
Còn nếu sử dụng chính sách tiền tệ, cắt giảm lãi suất để kích cầu, thì có nguy cơ kích hoạt lạm phát. Do đó, giải pháp dùng ngân sách bù lãi suất có tác dụng vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, vừa ngăn ngừa lạm phát trở lại.
Tuy nhiên, dù sử dụng biện pháp nào để kích thích sản xuất đi chăng nữa, thì hiệu quả chính sách chỉ có được nếu gói kích cầu có tác dụng lan tỏa, tức là sự gia tăng đầu tư tư nhân phải dẫn đến sự gia tăng chi tiêu của các hộ gia đình.
Trong tình hình hiện nay, nếu người dân vẫn bi quan với tình hình kinh tế, thì ngay cả khi thu nhập có tăng lên (do các doanh nghiệp thu hút thêm lao động để mở rộng sản xuất sau khi được vay vốn với lãi suất ưu đãi), thì người dân cũng không dám tiêu dùng nhiều hơn. Họ có thể cho rằng, sang năm tiếp theo, khi chính phủ không còn huy động được tiền để kích cầu nữa, thất nghiệp là không thể tránh khỏi. Theo tôi, trong năm 2009, các mặt hàng xa xỉ và lâu bền sẽ rất khó tiêu thụ. Nếu người dân có việc làm thu nhập nhờ gói kích cầu thì họ sẽ dùng để đầu cơ vàng hoặc ngoại tệ.

Tỷ giá có thể còn biến động  02/05/09

TBKTSG: Sự biến động của tỷ giá không thể chỉ nên đo lường bằng xuất khẩu. Những thông số khác liên quan đến cán cân thanh toán là không thể bỏ qua. Dưới góc độ công ty chứng khoán, Bản Việt nhìn nhận ra sao về dòng vốn đầu tư nước ngoài năm nay?

– Viện Tài chính Quốc tế cho biết năm 2008 khoảng 400 tỉ đô la Mỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được giải ngân vào các nước đang phát triển. Tỷ lệ FDI giải ngân vào Việt Nam chiếm 1-2,5% tổng nguồn vốn đầu tư vào các nước đang phát triển. Tỷ lệ giải ngân đạt cao nhất vào năm 1995, sau đó giảm nhanh chóng và giữ ở mức thấp năm 2006.

Năm ngoái tỷ lệ giải ngân vào Việt Nam đạt 2,2% tổng vốn đầu tư, khoảng 11 tỉ đô la Mỹ. Nếu lấy tỷ lệ bình quân FDI giải ngân vào Việt Nam là 1,5%, thì FDI năm 2009 dự đoán chừng 6 tỉ đô la Mỹ. Nếu lấy 2% thì được 8 tỉ đô la Mỹ. Dù lấy tỷ lệ nào, thì giải ngân FDI năm nay cũng giảm 3-5 tỉ đô la Mỹ so với năm ngoái.

TBKTSG: Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trước mắt có thể hứa hẹn một kết quả khả quan hơn không, thưa ông?

– Tôi nghĩ là không, bởi các tổ chức đầu tư đang trở nên rất thận trọng. Đầu năm 2008 công cụ bảo hiểm rủi ro tín dụng của thị trường Việt Nam (credit default swap – CDS) ổn định ở mức 1%, nhưng đến cuối năm đã tăng lên 4-5%. Nói cách khác đầu tư vào Việt Nam phải bù rủi ro và mức bù đã tăng lên thêm 3 điểm phần trăm. Vì vậy ngay cả khi chúng ta hoặc các quỹ nước ngoài huy động được vốn để bỏ vào Việt Nam, chi phí nguồn vốn này cao hơn nhiều so với trước.

TBKTSG: Thu hút vốn gián tiếp qua kênh chứng khoán đang khó khăn, nhưng trái phiếu chính phủ với độ an toàn cao có khả năng trở thành kênh dẫn vốn…

– Chúng tôi quan sát thấy khối ngoại vẫn đang bán ra trái phiếu và họ có thể chưa dừng lại. Đầu năm ngoái họ nắm trong tay 3 tỉ đô la Mỹ trái phiếu chính phủ Việt Nam, nay họ chỉ còn giữ 500 triệu đô la Mỹ. Không loại trừ khả năng họ bán ra đến hết.

Vì sao ư? Vì họ thực tế. Hiện tại lợi suất trái phiếu Việt Nam kỳ hạn 1-4 năm khoảng 8,5%, trong khi mức bù CDS 4-5%, mức bù rủi ro tỷ giá ước 3-5%. Nhìn sang Mỹ, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ loại năm năm đang là 2%. Bán trái phiếu Việt Nam, mua trái phiếu chính phủ Mỹ, cái nào chắc ăn hơn?

HẢI LÝ thực hiện

Không thể tránh khỏi tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

“Trước đây nhiều người vẫn hoài nghi liệu kinh tế Việt Nam có phải đối mặt với khủng hoảng toàn cầu không. Trong suy đoán của họ, bên cạnh nỗi lo về tương lai ảm đạm và sự sụp đổ của thị trường tài chính, vẫn còn những hy vọng và sự lạc quan về nền kinh tế. Trong nửa đầu năm 2008, gần một năm kể từ khi khủng hoảng nhà đất của Mỹ bùng nổ, hầu hết chúng ta đều quan tâm đến lạm phát cao của nền kinh tế, giá cổ phiếu giảm mạnh và những bất ổn đáng lo của hệ thống ngân hàng. Rồi FDI cam kết tăng kỷ lục, thị trường xuất khẩu được đa dạng hóa, GDP vẫn tăng trưởng 6,23%. Nhiều ý kiến cho rằng nền kinh tế sẽ phục hồi khi các vấn đề trong nước được giải quyết.

Ngay cả khi những ngân hàng đầu tư tên tuổi quốc tế lao đao, phá sản vào giữa tháng 9-2008, không ít người vẫn tiếp tục nghi ngờ về khả năng ảnh hưởng của khủng hoảng thế giới đến Việt Nam. Thứ nhất, khả năng tác động của thế giới đến Việt Nam có vẻ không cao. Thứ hai, sự liên thông của hệ thống ngân hàng và tài chính với thị trường chứng khoán phái sinh là không đáng kể. Cuối cùng, có lẽ chúng ta đã có nhiều bài học từ các nước đang phát triển trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Nhiều người tự tin về khả năng miễn nhiễm trước khủng hoảng của nền kinh tế.

Tuy nhiên từ tháng 10-2008 đến nay, sự lạc quan dường như không còn nữa. Kinh tế nội địa không thể tránh khỏi tác động từ kinh tế toàn cầu. Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu phản ánh những tin tức từ thị trường thế giới vào giá cổ phiếu. Chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, mức độ tương quan giữa VN-Index và chứng khoán thế giới tăng trên 50%. Thị trường tín dụng cũng trầm lắng khi ngân hàng e ngại cho vay vì sợ rủi ro. Tình hình có vẻ chưa thể sáng lên khi các tổ chức chuyển sang bán ròng cả cổ phiếu và trái phiếu. Từ lạm phát cao ngất ngưởng, chúng ta đột ngột phải đối mặt với nguy cơ thiểu phát. Đó là minh chứng rõ nhất cho tác động sâu của khủng hoảng toàn cầu đến kinh tế Việt Nam”.

Tô Hải, Tổng giám đốc VCSC

Jan 31, 2009

Subsidies, rate cut a double treat but firms seek more incentives

Businesses and experts said borrowing costs would come down to more affordable levels after recent moves by the government to subsidize interest rates and cut the benchmark rate, both effective today.

After the central bank removed its cap on interest charges for consumer loans, many commercial lenders

said they planned to launch various consumer credit products this month.

A new rule by the central bank, also effective today, allows banks to negotiate borrowing costs with clients. Banks can now set interest rates on consumer loans outside the ceiling rate, which is equivalent to 150% of the base rate regulated by the central bank.

DongA Bank CEO Tran Phuong Binh said the move was what commercial lenders had been waiting for.

As consumer loans and credit card loans are riskier than other kinds, interest rates need to be higher, and customers understand that, he said.

Right now the central bank still controls the ceiling rate. Once the economy is stable again, negotiable interest rates should apply to all kinds of loans, they said. (TN)

The categories of loan not subject to the rate support under Circular 02/2009/TT-NHNN issued on February 3

1. Long-term loans in Vietnam dong, short-, middle-, and long-term loans in foreign currency.

2. Short-term loans in Vietnam dong for sectors:

– Mining industry

– Finance, banking, and insurance operations including giving loans to invest in foreign countries, paying local and foreign debt.

– Operations relating to assets trading and consulting services.

– Operations relating to Government administration, national defense, organizations, and compulsory social insurance.

– Educational and training operations.

– Healthcare and relief operations.

– Cultural, sport, and entertainment operations.

– Services for individual and public including loans for consumption and loans via credit cards.

– Family services.

– International organizations’ operations.

3. Short-term loans in Vietnam dong to buy foreign currency to import consumer goods, including precious metals and stones, and under 12-seated cars.

4. Loans for investment and trade securities

5. Loans to land transaction. (SGT)

Cẩn trọng với báo cáo lợi nhuận ngân hàng

MẠC SAN 05/02/2009

Theo các phương tiện thông tin đại chúng, một số ngân hàng đã có kết quả lãi tạm tính (chưa kiểm toán) cho năm 2008 rất ấn tượng. Để xem được Video bạn cần phải cài Flash Player Video: Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế nói chung và ngành tài chính nói riêng, khi các ngân hàng quốc tế báo cáo các khoản thua lỗ nặng nề thì tại Việt Nam, các ngân hàng vẫn báo lãi với các con số lợi nhuận hết sức ấn tượng. Người viết xin đưa ra một cách nhìn đa chiều về báo cáo lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam, nhằm hướng người sử dụng thông tin tới một sự cẩn trọng cần thiết khi phân tích đầu tư. “Trứng vàng” từ kinh doanh trái phiếu Theo các phương tiện thông tin đại chúng, một số ngân hàng đã có kết quả lãi tạm tính (chưa kiểm toán) cho năm 2008 rất ấn tượng. Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) vượt lên dẫn đầu thị trường với số lợi nhuận trước thuế 3.352 tỷ đồng, tăng 300 tỷ so với 2007. Ngân hàng Đầu tư Phát triển (BIDV) 2.300 tỷ đồng, Ngân hàng Công Thương (VietinBank) 1.600 tỷ đồng, ACB 2.556 tỷ đồng, Techcombank 1.600 tỷ đồng, Ngân hàng Liên Việt mới thành lập lãi 444 tỷ đồng… Hầu hết các ngân hàng đều báo cáo các khoản lãi lớn từ kinh doanh trái phiếu năm 2008, một mảng kinh doanh được gọi là “gà đẻ trứng vàng”. Điều này hoàn toàn có thể nếu nhìn vào thực tế lợi suất trái phiếu trong năm lên tới trên 20%/năm do ảnh hưởng của lạm phát, tăng lãi suất cơ bản và làn sóng bán tháo của các nhà đầu tư nước ngoài. Lợi suất trái phiếu chính phủ có thời điểm lên cao hơn lãi suất huy động của ngân hàng là một điều bất hợp lý về khoa học rủi ro nhưng lại là cơ hội cho các ngân hàng. Các ngân hàng lớn với khả năng thanh khoản dồi dào là những ngân hàng tận dụng được cơ hội “ngàn vàng” này. Chỉ trong 2 tháng cuối năm, lãi suất cơ bản được cắt giảm liên tục từ 14%/năm về 8.5%/năm (hiện tại là 7%/năm), đã làm cho lợi suất trái phiếu trên thị trường giảm nhanh và mạnh. Đây chính là lúc các ngân hàng bán ra thu lợi nhuận để báo cáo cuối năm. “Đảo lợi suất” trái phiếu Trong thực tế, do xu thế lãi suất tiếp tục giảm trong những tháng đầu năm 2009 và nguồn thanh khoản khá dồi dào, việc bán trái phiếu của nhiều ngân hàng chỉ mang tính chất “hình thức”, nhằm hợp lý hóa các khoản lãi trái phiếu cho mục đích báo cáo tài chính. Sau khi thực hiện giao dịch bán, có khả năng các ngân hàng mua lại ngay trạng thái danh mục của mình nhằm đón đợi các quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản tiếp theo của Ngân hàng Nhà Nước trong 2009. Chỉ những ngân hàng nào khó khăn thanh khoản và không dự báo đúng xu hướng cắt giảm lãi suất tiếp theo mới bán trái phiếu mà không mua lại. Chính vì lý do này mà hoạt động mua bán trái phiếu cuối năm hết sức nhộn nhịp. Theo thống kê của HASTC và HOSE, khối lượng và giá trị giao dịch trái phiếu tăng đột biến trong tháng 12 (là tháng có giá trị giao dịch lớn nhất trong năm), trong khi giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài lại giảm. Về bản chất, các ngân hàng có thể đã thực hiện một việc đơn giản là “đảo lợi suất” (yield roll) trái phiếu để hợp lý hóa lợi nhuận. Có nhiều cách làm việc này, không ngoại trừ việc các ngân hàng có thể “hợp tác” với nhau để thực hiện việc đảo lợi suất trái phiếu này một cách dễ dàng thông qua các hợp đồng bán và hợp đồng mua lại. Trong trường hợp này, ngân hàng đối tác chỉ đóng vai trò “giúp bạn” hạch toán giao dịch. Hệ quả của màn ảo thuật “khắc xuất, khắc nhập” này là danh mục trái phiếu có lợi suất cao (15-24%/năm) mua trong năm được thay thế bằng danh mục trái phiếu có lợi suất thấp (8-10%/năm) mua cuối năm. Khoản lợi nhuận thu được là hoàn toàn “thật” xét về khía cạnh kinh tế cũng như kế toán. Nói một cách ví von thì đây là một ca ép gà đẻ non để lấy trứng vàng ra rồi cho ấp tiếp để hy vọng ra trứng bạc. Theo một bài báo trên tờ Đầu tư Chứng khoán, có ngân hàng chỉ cần thực hiện một lệnh bán trái phiếu cuối năm đã hạch toán 500 tỷ đồng vào lợi nhuận, bằng 1/3 lợi nhuận cả năm. Một số ngân hàng đã đạt đủ lợi nhuận để báo cáo sẽ không cần “đảo lợi suất” toàn bộ danh mục trái phiếu của mình mà có thể sẽ găm lại một phần làm của để dành cho 2009, một năm kinh doanh được dự báo cũng hết sức khó khăn. Như vậy, số lãi tiềm ẩn trong các danh mục trái phiếu của ngân hàng có thể vẫn chưa thể hiện hết. Với việc lãi suất cơ bản tiếp tục hạ xuống mức 7%/năm có hiệu lực từ ngày 1/2/2009 vừa qua, danh mục trái phiếu của các ngân hàng lại tiếp tục đẻ thêm “trứng bạc” cho những tháng đầu năm 2009. Hạn chế của các chuẩn mực kế toán? Câu hỏi đặt ra là tại sao ngân hàng phải thực hiện động tác “đảo lợi suất” trái phiếu này để báo cáo lãi? Điều này có thể giải thích do hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện chưa cho phép các ngân hàng “đánh giá lại” (mark to market) các tài sản tài chính. Do đó, động tác “đảo lợi suất” trái phiếu sẽ giúp ngân hàng biến lãi chưa thực hiện (unrealised gains) thành lãi thực hiện (realised gains) một cách hợp pháp. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (Ghi nhận và đánh giá các công cụ tài chính) hay chuẩn mực kế toán FAS 157 (Ghi nhận theo giá trị hợp lý) của Mỹ đều có những quy định về kế toán theo giá trị hợp lý (fair value acccounting) đối với các loại tài sản và công nợ tài chính. Việc này nhằm tăng cường tính cập nhật của thông tin kế toán cho quản trị rủi ro cũng như việc đưa ra các quyết định kinh doanh. Trong khi đó hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) chưa có các chuẩn mực tương đương. Tại Việt Nam, đầu tư trái phiếu vẫn được hạch toán theo nguyên tắc giá phí lịch sử mà chưa được phép đánh giá lại theo giá trị thị trường. Sự thiếu hụt này buộc các ngân hàng phải sáng tạo ra biện pháp “đảo lợi suất” nhằm hợp lý hóa lợi nhuận. Hệ quả của việc này là ngân hàng có thể điều chỉnh được lợi nhuận của mình theo mục tiêu của ban điều hành cho từng giai đoạn. Điểm bất cập thứ nhất đó là việc ngân hàng có quyền lựa chọn trái phiếu cần đảo mà không tiến hành đảo toàn bộ danh mục một cách thống nhất. Việc chọn các trái phiếu có lợi suất cao hơn lợi suất thị trường để đảo sẽ tạo ra các khoản lãi. Ngược lại, việc chọn các trái phiếu có lợi suất thấp hơn lợi suất thị trường để đảo có thể tạo ra các khoản lỗ. Tùy theo mục đích báo cáo, các ngân hàng sẽ lựa chọn một chiến lược đảo phù hợp. Với áp lực báo cáo lãi như 2008 thì có lẽ các trái phiếu lợi suất thấp sẽ không được đảo mà sẽ ghi nhận theo giá lịch sử. Về nguyên tắc, ngân hàng cần lập dự phòng cho các khoản mục này theo quy định của chuẩn mực VAS 02 về hàng tồn kho. Việc lựa chọn các khoản mục để hợp lý hóa theo hướng có lợi được gọi là hiện tượng “hái cherry” (cherry picking) trong kế toán. Một vấn đề rất quan trọng không thể nhìn được từ những con số lợi nhuận đẹp là sự tương quan giữa tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Với xu hướng lãi suất huy động tăng rất cao trong 2008, chắc chắn nhiều ngân hàng vẫn còn “ngậm đắng” các nguồn vốn huy động với lãi suất cao 15-20%/năm với các kỳ hạn khác nhau. Trong khi các tài sản có lợi suất cao được định giá lại một cách khá “tinh tế”, thay thế bằng các tài sản lợi suất thấp thì các khoản nguồn vốn huy động trả lãi cao lại không được định giá lại một cách tương tự. Điều này sẽ tạo ra một bảng cân đối có cơ cấu lệch lạc trong năm 2009. Để hiểu rõ điều này, chúng ta lấy một ví dụ đơn giản: một ngân hàng phát hành kỳ phiếu trong năm 2008 với mức lãi suất 18%/năm cho kỳ hạn 3 năm. Ngân hàng dùng đúng số tiền này đầu tư trái phiếu chính phủ lợi suất 20%/năm cùng kỳ hạn 3 năm. Cơ cấu tài sản, nguồn vốn này cho phép ngân hàng khai thác chênh lệch lợi suất 2%/năm. Đến cuối năm cả kỳ phiếu (nguồn vốn) và trái phiếu (tài sản) đều còn thời hạn trên 2 năm. Với lợi suất thị trường đối với kỳ hạn 2 năm còn 8-10%/năm thì việc đảo lợi suất trái phiếu sẽ tạo ra khoản lãi lớn. Tuy nhiên, chỉ đảo tài sản mà không đảo nguồn vốn sẽ cho phép ngân hàng báo lãi trên tài sản mà tránh báo lỗ trên nguồn vốn. Trong khi nhà đầu tư mua kỳ phiếu ngân hàng có thể bán lại kỳ phiếu này với mức giá cao hơn mệnh giá nhiều trên thị trường thì ngân hàng chỉ ghi nhận phần công nợ bằng mệnh giá phát hành. Đây chính là điểm bất cập thứ 2. Việc đảo lợi suất của tài sản mà không thực hiện cho nguồn vốn sẽ tạo ra sự méo mó trong cơ cấu bảng cân đối của ngân hàng. Trong ví dụ trên cơ cấu “lợi suất đầu tư 20% – lợi suất huy động 18%” (lãi 2%) được chuyển thành một cơ cấu mới “lợi suất đầu tư 9% – lợi suất huy động 18%” (lỗ 9%). Việc rút lãi 2008 có thể tạo ra các khoản lỗ trong năm 2009 và các năm sau đến khi kỳ phiếu đáo hạn. Việc sử dụng các kỹ thuật kế toán để điều chỉnh kết quả kinh doanh là vấn đề không mới trên thế giới cũng như Việt Nam. Năm 2007, khi thị trường cổ phiếu thăng hoa thì các ngân hàng và công ty chứng khoán Việt Nam cũng đồng loạt báo lãi nhờ nghệ thuật định giá lại giá cổ phiếu thông qua việc bán cổ phiếu hoặc đảo giá cổ phiếu (bán thu lãi rồi mua lại với giá vốn cao hơn). Dự phòng nợ xấu Đến thời điểm này thì các số liệu về lập dự phòng nợ xấu của các ngân hàng đều chưa được kiểm toán. Trong năm 2008, cùng với khó khăn của nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng cao thì rủi ro tín dụng đã tăng lên mức khá cao. Hơn nữa, với sự tăng trưởng tín dụng quá nóng trong thời gian ngắn cuối năm 2007, đặc biệt là đối với các loại hình cho vay mới như tín dụng tiêu dùng và tín dụng nhà ở thì các ngân hàng thương mại Việt Nam đều chưa có những số liệu lịch sử cũng như mô hình tin cậy trong việc xác định tổn thất nợ xấu. Việc đảo nợ, gia hạn nợ, giãn nợ, tái cơ cấu nợ, khoanh nợ có thể làm cho các số liệu dự phòng khó chính xác. Dự phòng tín dụng là một ước tính kế toán mang tính chủ quan cao và cũng là một “van” điều khiển lợi nhuận hiệu quả của các ngân hàng. Kinh nghiệm các ngân hàng quốc tế cho thấy các khoản lỗ lớn của họ trong năm qua chủ yếu do trích lập dự phòng một cách nghiêm túc như dự phòng rủi ro tín dụng, dự phòng liên quan đến vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff. Sự cẩn trọng hợp lý Việc các ngân hàng kinh doanh trái phiếu có lãi trong năm 2008 là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, việc sử dụng các kỹ thuật kế toán trong khi chuẩn mực kế toán của Việt Nam chưa hoàn chỉnh có thể giúp các ngân hàng đưa ra các con số lợi nhuận kế toán đẹp đẽ hơn cho năm 2008. Với việc nợ xấu tín dụng chưa thể xác định thì các con số dự phòng có thể cũng chưa phản ánh hoàn toàn đầy đủ. Các nhà đầu tư nên có sự cẩn trọng hợp lý khi phân tích đánh giá lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2008. Bài viết này chỉ mang tính chất phân tích chung mà không ám chỉ một ngân hàng cụ thể nào. Việc phân tích một ngân hàng cụ thể cần có các số liệu chi tiết về cơ cấu lợi suất của các danh mục tài sản và nguồn vốn cũng như tỷ trọng đầu tư trái phiếu trong tổng tài sản. Người viết cho rằng các ngân hàng mới thành lập với nguồn vốn cổ đông dồi dào sẽ có lợi thế lợi tận dụng cơ hội kinh doanh trái phiếu trong năm 2008 và việc đảo lợi suất không tạo ra những rủi ro của bảng cân đối trong 2009. Tác động đối với các ngân hàng khác có thể sẽ lớn hơn. Các nhà đầu tư cần chờ đợi thêm các xác nhận báo cáo kiểm toán trước khi có thể tin cậy các số liệu lợi nhuận công bố. Các nhà đầu tư cũng cần đọc các ý kiến không chấp thuận (qualification) đưa ra trong các báo cáo kiểm toán thay vì chỉ tập trung vào báo cáo tài chính. Các ngân hàng không nên tranh thủ các bất cập của hệ thống kế toán để điều chỉnh lợi nhuận theo các mục tiêu ngắn hạn. Một cơ chế quản trị doanh nghiệp (corporate governance) tốt sẽ có khả năng ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của mối quan hệ mâu thuẫn lợi ích truyền thống giữa ban điều hành – cổ đông, tạo ra lòng tin của công chúng và sự phát triển bền vững của ngân hàng. Bộ Tài chính và Hiệp hội Kế toán nên nghiên cứu hoàn chỉnh thêm hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) theo hướng phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), đặc biệt đối với kế toán các công cụ tài chính.

Comments

cổ phiếu

Khái niệm cơ bản về cổ phiếu

P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại. Đây là một trong những chỉ số phổ biến được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trước hết biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lời thu được từ cổ phiếu đó.Ví dụ, P/E = 25 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 25 đồng để thu được 1 đồng lãi từ cổ phiếu này. Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng của P/E là phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng cổ phiếu trong tương lai hơn là kết quả làm ăn đã qua. Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành, nếu chỉ số P/E của một công ty nào cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới. Một công ty có chỉ số P/E càng cao thì kỳ vọng của thị trường vào lợi nhuận của công ty càng cao, do đó thu hút được càng nhiều các nhà đầu tư. Còn ngược lại khi họ ít hoặc không kỳ vọng vào khả năng sinh lời lớn của công ty thì mức giá họ sẵn sàng bỏ ra khi mua cổ phiếu thấp, dẫn đến chỉ số P/E thấp, biểu hiện giá cổ phiếu này đang trên xu hướng giảm. Chỉ số P/E nên dùng để quyết định mua hay không mua một loại cổ phiếu chỉ sau khi đã đối chiếu giữa các công ty cùng ngành và quan trọng là sau khi đã theo dõi xu hướng chỉ số này trong một thời gian tương đối dài.

saga.vn

Hệ số thị giá/thu nhập cổ phần – Price/Earning per share (P/E)

Các nhà phân tích & đầu tư chứng khoán có khuynh hướng dự đoán triển vọng của công ty, do đó giá thị trường của cổ phiếu sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi xu hướng và thu nhập của mỗi cổ phiếu hiện tại. Việc đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập của cổ phiếu đó là chỉ số P/E.

Chỉ số P/E chỉ ra rằng: Nhà đầu tư đang mong muốn trả cho một đồng thu nhập thực sự của cổ phiếu là bao nhiêu.

Nhìn chung, nếu bạn càng chắc chắn về sự tiếp tục tăng trưởng của Công ty thì khả năng tăng giá cổ phiếu giao dịch tương lai càng cao và đương nhiên, bạn phải chấp nhận trả nhiều tiền cho mỗi đồng thu nhập cổ phiếu đó ở thời điểm hiện tại.

Bạn hãy tưởng tượng, một công ty cổ phần có khả năng tạo ra 36.000 đồng lợi nhuận trên mỗi cổ phần mà tại đó thư giá mỗi cổ phiếu là 120.000 đồng, thì khả năng sinh lợi thu hồi tối đa là 30%, một tỷ suất lợi nhuận thu hồi đầy sức thuyết phục so với việc bạn gởi tiền tiết kiệm hoặc đầu tư vào trái phiếu chính phủ hoặc công ty, và lúc đó bạn sẽ bị thôi thúc mua cổ phiếu này trong khi người sở hữu vẫn còn khuynh hướng nắm giữ chúng. Vì thế, giá bán cổ phiếu có khả năng được nâng lên đến mức mà người sở hữu cổ phiếu bị thuyết phục và chấp thuận bán.

Một loại chỉ số khác để đo lường, đánh giá giá cả của cổ phiếu bạn chọn đầu tư đó là hệ số thị giá/thư giá mỗi cổ phiếu.

Thư giá mỗi cổ phiếu là giá trị tài sản ròng trên sổ sách của công ty chia cho tổng số cổ phiếu đã phát hành.

Cũng như chỉ số P/E, hệ số thị giá với thư giá mỗi cổ phiếu thể hiện mối tương quan giữa giá cả thị trường và thư giá cổ phiếu trên cơ sở những tài sản đang sinh lợi hiện tại của công ty. Tuy nhiên, thư giá của công ty luôn có khả năng thay đổi bởi những thủ thuật trong kế toán như đã đề cập bên trên. Do đó, chỉ số thị giá/thư giá cổ phiếu có thể rất cao trên thực tế và tương tự, các cổ phiếu có chỉ số thị giá/thư giá có thể rất rẻ.

http://vnstockgame.aforumfree.com/fo…/topic-t10.htm

Theo quan điểm “bảo thủ”, P/E dưới 10 thì nên mua. Nếu đang nắm giữ cổ phiếu có mức P/E từ 10 – 12 lần thì không nên bán và có thể mua tiếp. P/E 12 – 18 có thể mua được khi thị trường đang trong giai đoạn ổn định theo hướng tốt. P/E từ 18 trở lên xem xét bán cổ phiếu. Tuy nhiên, với nhà đầu tư theo trường phái ‘tăng trưởng’, P/E có thể được chấp nhận cao hơn nếu tốc độ tăng lợi nhuận (E) cao.
Tính toán hệ số P/E thường trên cơ sở số liệu của công ty trong vòng một năm. Tuy nhiên, do lợi nhuận của công ty chịu tác động của nhiều yếu tố, nên có thể lên cao, xuống thấp bất thường, nên hệ số P/E cũng có thể thay đổi bất thường giữa các năm. Vì vậy, các nhà đầu tư thường không chỉ dựa vào duy nhất P/E trong một năm khi ra quyết định đầu tư mà còn xem xét cả P/E trong nhiều năm trước, hay so sánh P/E của công ty này với công ty khác trong cùng ngành hay trong cùng nền kinh tế.

http://vi.wikipedia.org/wiki/P/E

Quyền lựa chọn cổ phiếu (options) là quyền của các nhà đầu tư (nhưng không phải là nghĩa vụ) được mua hay bán một số lượng cổ phiếu xác định trước theo một giá đã xác định trước và thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu đó trên thị trường.

Có hai loại option là option bán và option mua.

Đối với option mua, người mua option sẽ trả cho người bán option một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người mua option sẽ có quyền được mua (nhưng không bắt buộc phải mua) một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hoá…) theo một mức giá đã được thoả thuận trước tại thời điểm đã xác định trong tương lai. Người bán option nhận được tiền từ người mua option nên họ có trách nhiệm phải bán một lượng chứng khoán nhất định theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai (hoặc được thực hiện trước ngày đó) khi người mua option muốn thực hiện cái quyền được mua.

Ví dụ: giá cổ phiếu của IBM trong thời điểm hiện tại là 80 USD/cổ phiếu, sau khi phân tích, bạn dự báo rằng giá sẽ tăng lên trong thời gian tới. Vậy nếu bạn muốn đầu tư 1.000 cổ phiếu của IBM bạn phải chi là 80.000 USD. Nhưng nếu một thời gian, cổ phiếu IBM giảm xuống chỉ còn 40 USD/cổ phiếu thì bạn sẽ mất trắng 40.000 USD. Trong trường hợp này, để hạn chế rủi ro và vẫn thực hiện theo dự báo, bạn nên đầu tư vào options, cụ thể là bạn đi mua option cổ phiếu IBM, giá thoả thuận trước (strike price) là 80 USD/cổ phiếu, thời gian là 2 tháng, số lượng 1.000 cổ phiếu với mức phí option là 2 USD/cổ phiếu. Trong thời gian này, nếu giá cổ phiếu IBM tăng trên 80 USD/cổ phiếu theo đúng dự báo, bạn có thể thực hiện quyền được mua chứng khoán của mình với giá thoả thuận trước là 80 USD/cổ phiếu và đem ra thị trường bán với giá 100 USD/cổ phiếu chẳng hạn, bạn sẽ có lợi nhuận là 20.000 USD, trừ đi chi phí 2 USD/cổ phiếu phí mua option, bạn sẽ có lợi nhuận 18.000 USD. Nhưng nếu giá cổ phiếu IBM không tăng lên theo dự đoán của bạn, nó giảm liên tục, cho tới ngày đến hạn trên hợp đồng giá vẫn giảm thì bạn có quyền không thực hiện việc chọn mua của mình và bạn chỉ lỗ tiền phí mua option mà thôi, tức là mất 2000 USD. Từ đó, chúng ta thấy rằng, người mua option chỉ chịu lỗ ở mức giới hạn, trong khi lợi nhuận thì rất lớn. Người bán option cũng có lợi nhuận thu được từ phí mua option.

Đối với option bán thì sao? Khi một nhà đầu tư lo lắng về giá chứng khoán sụt giảm, họ có thể sử dụng option bán để tự bảo vệ. Với 100 cổ phiếu của IBM trị giá 80 USD/cổ phiếu trong tay, bạn có thể mua option với một chút lệ phí nhất định để đảm bảo rằng trong ba tháng tới, bất kỳ lúc nào cũng có thể bán được 100 cổ phiếu đó với giá 80 USD/cổ phiếu. Do đó, nếu số cổ phần này bị mất giá thì bạn cũng không lo lắng vì mình đã có người cung cấp option bán bảo đảm mức giá cho mình. Người cung cấp option được hưởng lợi từ phí option.

Option được phát minh dựa trên yếu tố các nhà đầu tư ưa thích cảm giác an toàn khi họ chắc chắn họ sẽ được mua và bán với giá ấn định, họ thu lợi nhuận không cao nhưng bù lại sẽ rất ổn định. Đối tượng của option có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, ngoại hối, kim loại quý hay nông sản. Option có thể được mua bán trên thị trường tập trung như Thị trường quyền lựa chọn cổ phiếu Chicago – CBOE, thị trường hợp đồng tương lai quốc tế London – LIFFE hay các thị trường phi tập trung OTC.
Công cụ tài chính phái sinh


Các công cụ phái sinh chủ yếu được áp dụng trên thị trường tài chính thế giới hiện nay bao gồm: kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi và những “biến tướng” của các công cụ phổ biến nói trên. Nhận dạng để phân biệt cụ thể các công cụ tài chính phái sinh chủ chốt trên thị trường tài chính gồm:
1. Hợp đồng kỳ hạn: Đây là một công cụ phái sinh đơn giản, là thoả thuận/hợp đồng mua hoặc bán hàng hoá hay tài sản tài chính tại một thời điểm trong tương lai với mức giá xác định trước. Công cụ này là loại hợp đồng “song phương”, thực hiện vô điều kiện. Theo đó, hai bên phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ qui định trong hợp đồng. Hợp đồng kỳ hạn thường được giao dịch trên thị trường phi tập trung, không có một qui định/thể chế nào bắt buộc đối với các giao dịch giữa các tổ chức/cá nhân; Không thực hiện thanh toán bù trừ hàng ngày và giá trị khác “O” chỉ được hạch toán vào ngày đáo hạn cho bên thắng (+) và bên thua (-) nếu hợp đồng được thực hiện thành công.
2. Hợp đồng ương lai: Công cụ này tương tự như công cụ kỳ hạn nhưng đã khắc phục được rủi ro của chính công cụ phòng chống rủi ro có thể xẩy ra ở hợp đồng kỳ hạn (như mất khả năng thanh toán, “xù”, chi phí “tìm” đối tác cụ thể…). Theo dó, công cụ hợp đồng tương lai được chuẩn hoá cao hơn, giá cả, số lượng và các chi tiết của hợp đồng được đảm bảo bởi trung tâm thanh toán bù trừ, hoặc bởi một Định chế tài chính đóng vai trò này. Các hợp đồng được chuẩn hoá và các thành viên tham gia thị trường phải tuân thủ các qui định giới hạn về giá để hạn chế sự biến động mạnh gây bất ổn cho thị trường. Do hợp đồng được chuẩn hoá cao, các thành viên có thể ước lượng được khối lượng hàng hoá giao dịch nên đảm bảo tính thanh khoản của thị trường. Hầu hết các hợp đồng tương lai được thực hiện qua trung tâm thanh toán bù trừ và phải trả phí. Các bên tham gia phải có tiền đặt cọc/ký quĩ để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Bù lại, hai bên “mua” và “bán” hợp đồng không nhất thiết phải biết nhau (tiết kiệm được chi phí “tìm nhau”) mà chỉ cần trao đổi qua trung gian.
3. Hợp đồng quyền chọn: Là hợp đồng cho phép người mua quyền lựa chọn quyền (không phải nghĩa vụ) mua (call) hoặc quyền bán (put) một công cụ hoặc một tài sản gốc theo giá cụ thể – giá thực hiện vào một ngày cụ thể trong tương lai. Giá trả cho quyền này, ngoài giá chính thức chỉ biết được từ hiệu số rủi ro kỳ vọng trong hợp đồng xác định trước với rủi ro thực lúc đáo hạn thì người mua quyền còn phải trả trước phí đặt cọc cho người bán (premium). Phí đặt cọc, hay phí cuộc chơi chính là một bộ phận của giá để nhận ra năng lực dự báo rủi ro của người mua, do đó phí đặt cọc trở thành giới hạn thấp nhất của rủi ro nếu người mua quyền “thua cuộc” và từ chối thực hiện hợp đồng vào thời điểm nào đó trong giới hạn thời gian hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng quyền chọn chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình. Người mua quyền có thể: Thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không thực hiện quyền. Điều đáng chú ý là việc từ chối hay không từ chối quyền khi giá vào ngày đáo hạn cao (hay thấp) hơn giá trong hợp đồng sẽ được quyết định trên cơ sở mức độ chênh lệch giữa giá định trước với giá thực tế của sản phẩm chính ở ngày đáo hạn và quyền phí. Nghĩa là “giá của hợp đồng quyền chọn bằng chênh lệch giá giữa giá thực tế với giá trong hợp đồng “cộng” với phí mua quyền nếu người mua quyền thực hiện được quyền thành công theo hợp đồng, hoặc đơn giản chỉ là phí để “rút lui” không thực hiện hợp đồng. Cụ thể, trong khi người mua hợp đồng quyền chọn mua mong muốn giá của sản phẩm hợp đồng sẽ tăng lên trong ngày đáo hạn thì người mua hợp đồng lựa chọn bán lại hy vọng giá xuống, nếu cao hơn giá định trước họ sẽ từ chối quyền bán và chịu mất quyền phí.

4. Công cụ hoán đổi (SWAP:) Là việc mua và bán đồng thời tài sản gốc tương tự hoặc nghĩa vụ tương đương với số tiền vốn mà việc hoán đổi các giao dịch tài chính cho phép cả hai bên tham gia các điều kiện thuận lợi hơn mong muốn. Thực chất của hợp đồng này là hai bên thoả thuận trao đổi dòng tiền trong tương lai. Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi là giao dịch trên thị trường OTC và không có qui định chuẩn

Create a free website or blog at WordPress.com.